1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu lỗi phát âm của người thái lan học tiếng việt (trên cứ liệu cộng đồng người thái ở hà nội)

88 122 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thấy được sự cấp bách và cần thiết của việc nghiên cứu về các lỗi trong quá trình học tiếng Việt của người nước ngoài nói chung, chúng tôi lựa chọn những đề tài liên quan đến nghiên cứu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

DƯƠNG LÊ TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU LỖI PHÁT ÂM CỦA NGƯỜI THÁI LAN HỌC TIẾNG VIỆT (TRÊN CỨ LIỆU CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở HÀ NỘI)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học

Mã số: 60220240

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Ngọc Bình

Hà Nội - 2019

Trang 2

5.4 Thủ pháp phân tích lỗi của ngôn ngữ học ứng dụng 11

Trang 3

- 2 -

1.2.2.1 Đôi nét khái quát về khuynh hướng phân tích lỗi 16

1.2.2.3 Ý nghĩa của lỗi và việc phân tích lỗi 18

CHƯƠNG 2: LỖI PHÁT ÂM CỦA SINH VIÊN THÁI LAN KHI

2.1 Khái quát về đặc điểm ngữ âm tiếng Thái Lan và tiếng Việt 35 2.2 Các lỗi phát âm của sinh viên Thái Lan khi học tiếng Việt 47

2.2.1.1 Lỗi phát âm phụ âm đầu "x" /s/, "s" /ʂ/ và "d", "gi" /z/, “r” /ʐ/ 47 2.2.1.2 Lỗi phát âm phụ âm đầu "đ" /d/ 48 2.2.1.3 Lỗi phát âm phụ âm đầu "kh" /χ/ 48 2.2.1.4 Lỗi phát âm phụ âm đầu "v" /v/ 49 2.2.1.5 Lỗi phát âm phụ âm đầu "g", "gh" /ɣ/ 50

Trang 4

- 3 -

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHỈNH SỬA LỖI PHÁT ÂM CỦA SINH

3.2 Các giải pháp đối với lỗi phát âm của sinh viên Thái Lan 63 3.2.1 Khắc phục các lỗi phát âm bằng phương pháp miêu tả 63

3.2.2 Khắc phục các lỗi phát âm bằng việc sử dụng công cụ hỗ trợ 67 3.2.2.1 Ứng dụng sử dụng phần mềm học tiếng Việt của Rosetta Stone 67

PHỤ LỤC

Trang 5

- 4 -

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3: So sánh thanh điệu tiếng Thái Lan với tiếng Việt 40 Bảng 4: So sánh thanh điệu tiếng Thái Lan với tiếng Việt theo Pimsen

Buarapha

40

Bảng 7: Cách phát âm phụ âm đầu tiếng Thái Lan 42 - 44

Bảng 13: Bảng tổng hợp lỗi phát âm của sinh viên Thái Lan 57

Trang 6

- 5 -

DANH MỤC HÌNH

Hình 3: Biểu đồ mô tả thanh điệu tiếng Thái Lan 38

Trang 7

và hội nhập quốc tế Và có lẽ, một trong những chính sách được đặt lên hàng đầu là các chính sách về giáo dục Việc các trường đại học trong khối ASEAN liên kết với nhau, gửi sinh viên sang nước thành viên học tập và nghiên cứu là một trong những cách để thể hiện tình hữu nghị, ngoại giao giữa các nước, trong đó phải kể đến tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam - Thái Lan Để gia tăng tình hữu nghị giữa hai nước, việc cần phải tìm hiểu về ngôn ngữ và văn hóa của nhau là điều cần yếu Tuy nhiên, việc học thêm một ngoại ngữ mới là không hề đơn giản, nhất là học tiếng Việt Không cứ gì đối với sinh viên Thái Lan, mà bất kỳ người nước ngoài nào khi học tiếng Việt cũng sẽ vấp phải những cản trở mà ngôn ngữ này mang lại Cộng thêm sự ảnh hưởng từ ngôn ngữ mẹ đẻ của người học nên do đó, việc phát sinh ra các lỗi ngôn ngữ trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ là điều tất yếu

Thấy được sự cấp bách và cần thiết của việc nghiên cứu về các lỗi trong quá trình học tiếng Việt của người nước ngoài nói chung, chúng tôi lựa chọn những đề tài liên quan đến nghiên cứu lỗi trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (cụ thể ở đây là ngôn ngữ tiếng Việt) để giúp người học có thể thấy được rõ những lỗi hoặc những sai sót của mình trong quá trình học tiếng Việt Không chỉ dừng lại ở đó, thông qua nghiên cứu này, chúng tôi cũng muốn bắt đầu đi sâu hơn vào từng đối tượng cụ thể, theo từng nhóm người đến từ các nước khác nhau như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Lào,… và cụ thể trong luận văn này là của người Thái Lan Đồng thời, bằng những phương pháp, thủ pháp khác nhau, để đưa ra những kết luận

Trang 8

- 7 -

về sự giống, khác nhau giữa hai ngôn ngữ Việt và Thái, không chỉ giúp cho người học thấy được các lỗi mình thường gặp mà còn để giúp cho các giảng viên giảng dạy có được cái nhìn rõ nét về những thuận lợi cũng như khó khăn của người Thái Lan trong quá trình học tiếng Việt của mình Để từ đó, làm cơ sở để có thể thay đổi hoặc đưa ra các định hướng giảng dạy bằng những khả năng sư phạm riêng của mỗi người, trong việc truyền đạt ngôn ngữ tới người học, giúp nâng cao chất lượng đào tạo và giảng dạy

Trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, một trong những vấn đề quan trọng nhất mà bất kỳ ai, đối tượng nào khi muốn học cũng phải tìm hiểu, về vấn đề

về phát âm ngôn ngữ đó như thế nào Vì nó là nền tảng cho người học nhận biết được thế nào là âm chuẩn của ngôn ngữ mình đang học, giúp họ có thể phát âm chuẩn khi giao tiếp với người khác, phân biệt được các từ phát âm khác nhau ở đâu, cải thiện kỹ năng nghe hiểu của mình Do vậy, từ những lý do trên, đã thôi thúc chúng tôi muốn tìm hiểu, nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Nghiên cứu lỗi phát âm của người Thái Lan học tiếng Việt (trên cứ liệu cộng đồng người Thái ở Hà Nội)” nhằm chỉ ra những lỗi phát âm của người Thái Lan khi nói tiếng Việt, từ đó có thể đưa ra những biện pháp khắc phục Đồng thời, chúng tôi cũng mong muốn và hy vọng rằng sẽ góp phần nhỏ bé nào đó vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nói chung cũng như người Thái Lan nói riêng

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm: (1) Miêu tả và giải thích trên cơ sở khoa học lỗi ngữ

âm của người Thái Lan khi học tiếng Việt (2) Đưa ra một số giải pháp, cách khắc phục những lỗi phát âm tiếng Việt mà người Thái Lan hay gặp phải

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chủ yếu thu thập từ các cuộc đối thoại trực tiếp với các đối tượng được thu thập, ghi âm các cuộc đối thoại đó Ngoài ra, chúng tôi còn xây dựng những bảng từ

Trang 9

- 8 -

để từ đó làm cơ sở cho sinh viên Thái Lan luyện phát âm Qua đó, có thể giúp đánh giá một cách chi tiết nhất về các lỗi phát âm mà sinh viên Thái Lan mắc phải như: phụ âm đầu, phụ ấm cuối, thanh điệu, Hơn nữa, chúng tôi còn ghi âm lại các cuộc hội thoại mà các sinh viên Thái Lan trao đổi trên lớp học, hay trong những giờ nghỉ, giờ giải lao và cả những lúc nghỉ ngơi tại ký túc xá Không chỉ có vậy, chúng tôi còn thu thập tư liệu thông qua việc ghi chép mô phỏng lại các âm đọc của sinh viên Thái Lan trong quá trình phát âm tiếng Việt trong giờ học

Hiện nay, việc mắc các lỗi phát âm của sinh viên Thái Lan chủ yếu xảy ra ở một số phụ âm đầu, âm vần và âm cuối Vấn đề này tuy không quá nghiêm trọng, nhưng do người học đã hình thành thói quen phát âm sai ngay từ khi học, có thể do chủ quan từ phía người học hoặc do sự thiếu sót về kiến thức chuyên môn của người dạy, do đó việc sửa các lỗi phát âm này trở nên khó khăn hơn so với việc sửa ngay

từ khi người học bắt đầu học

Qua thực trạng trên, trong luận văn này, chúng tôi đề ra các giải pháp có thể phần nào khắc phục và ngăn chặn các lỗi phát âm tiếng Việt của sinh viên Thái Lan nói riêng và sinh viên nước ngoài nói chung Để từ đó, giúp cho người học có thể phát âm chính xác hơn và đạt được hiệu quả trong giao tiếp bằng tiếng Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các lỗi phát âm của người Thái Lan khi học tiếng Việt bao gồm các lỗi về phụ âm đầu, âm vần và âm cuối Luận văn lấy ngữ liệu của hệ thống ngữ âm tiếng Thái Lan làm gốc, sau đó đối chiếu với hệ thống ngữ âm tiếng Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình học một ngôn ngữ, người học có thể mắc rất nhiều lỗi trên nhiều phương diện như: lỗi ngữ âm, lỗi ngữ pháp, lỗi từ vựng, lỗi phong cách tu từ Tuy nhiên, do giới hạn của luận văn, nên chúng tôi chỉ đề cập đến lỗi ngữ âm

Trang 10

- 9 -

và chỉ giới hạn về lỗi ngữ âm của người Thái Lan khi học tiếng Việt Mặc dù, trong

đề tài luận văn chúng tôi đề cập đến việc khảo sát trên cứ liệu một số cộng đồng người Thái ở Hà Nội, nhưng trong quá trình thực hiện, chúng tôi giới hạn các cộng đồng ở đây là các cộng đồng sinh viên học tiếng Việt vì các cộng đồng người Thái ở

Hà Nội sinh sống và làm việc khá rải rác Và cụ thể nhóm cộng đồng sinh viên chúng tôi nghiên cứu ở đây là nhóm sinh viên Thái Lan đến từ trường Đại học Ubon Ratchathani đã đến học tiếng Việt tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

- Đại học Quốc gia Hà Nội trong hai năm 2017 và 2018

Số lượng sinh viên Thái Lan được thu thập trong hai năm là 34 sinh viên, đã được học tiếng Việt 3 năm tại Thái Lan và ở năm cuối cùng được gửi sang Việt Nam, theo học tiếng Việt tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Ngoài

ra còn có các cứ liệu thu thập bằng việc ghi chép mô phỏng các âm đọc thông qua quá trình giảng dạy 31 sinh viên Thái Lan đang học tiếng Việt (giọng Hà Nội) năm cuối tại trường Đại học Silpakorn, Thái Lan

4 Ý nghĩa của luận văn

4.1 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có ý nghĩa rất thực tế với việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ Luận văn giúp cho người Thái Lan biết được những lỗi hay gặp phải, nguyên nhân mắc lỗi để có thể tránh và khắc phục Điều này giúp nâng cao chất lượng học

và khả năng nói tiếng Việt của người Thái Lan trong quá trình học tiếng Việt của mình Bên cạnh đó luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các giảng viên giảng dạy tiếng Việt cho người Thái Lan nắm được những lỗi mà người học hay gặp phải, để

từ đó làm nền tảng cho việc giảng dạy, luyện tập và chỉnh sửa cho người học Đồng thời, luận văn này còn đóng góp một phần không nhỏ giúp cho các giảng viên giảng dạy có những định hướng chính xác trong việc biên soạn bài giảng một cách phù hợp, để giúp người Thái Lan tiếp thu nhanh và hiệu quả trong quá trình thụ đắc tiếng Việt

Trang 11

- 10 -

4.2 Ý nghĩa lý luận

- Việc nghiên cứu lỗi ngữ âm của người Thái Lan học tiếng Việt không chỉ vạch ra những chỗ sai, lệch chuẩn, những sự khác biệt về hệ thống ngữ âm giữa hai ngôn ngữ Việt - Thái, mà ở một khía cạnh khác nó còn có ý nghĩa như một định hướng về phương pháp luận trong việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ

- Việc khảo sát thực tế và định hướng khắc phục lỗi ngữ âm của người Thái Lanhọc tiếng Việt còn góp phần tìm tòi, phát hiện ra những phương pháp, chiến lược mà người Thái Lan đã sử dụng trong quá trình học tiếng Việt

- Ngoài ra luận văn còn đưa ra một số cơ sở lý luận về hệ thống tiếng Thái nhằm giúp người dạy nắm bắt được tình hình và chủ động hơn trong quá trình dạy cho người Thái Lan

5 Phương pháp/ thủ pháp nghiên cứu

Luận văn đã sử dụng một số phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau:

5.1 Thống kê

Từ những tài liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành thủ pháp thống kê để tổng hợp lại các lỗi ngữ âm của sinh viên Thái Lan khi phát âm tiếng Việt, để thấy được tần số sai của một từ là bao nhiêu lần, lỗi nào là lỗi thường xuyên và lỗi nào là ngẫu nhiên Chúng tôi chủ yếu tập trung vào những lỗi thường xuyên Đồng thời đưa ra một bảng thống kê về các lỗi mà sinh viên Thái Lan thường xuyên gặp phải trong quá trình học tiếng Việt

5.2 Miêu tả

Thủ pháp miêu tả chủ yếu để mô tả lỗi sai mà các sinh viên đã mắc phải, giúp cho người đọc có thể hiểu rõ về ngữ âm tiếng Việt chuẩn, những lỗi sai lệch chuẩn là như thế nào

Trang 12

- 11 -

5.3 Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng để so sánh về hệ thống âm vị giữa tiếng Việt và tiếng Thái Lan Từ đó thấy được những nét tương đồng cũng như khác biệt giữa hệ thống âm vị của tiếng Việt và tiếng Thái Đồng thời, kết quả của phương pháp này sẽ giúp người đọc thấy rõ hơn về nguyên nhân mà sinh viên Thái gặp phải trong quá trình học tiếng Việt

5.4 Thủ pháp phân tích lỗi của ngôn ngữ học ứng dụng

Thủ pháp giúp chúng tôi giải thích một cách chi tiết về những lỗi sai, sai ở đâu, sai chỗ nào, sai như thế nào và tại sao sai

6 Những điểm mới của luận văn

- Trước đây, đã từng có Luận án tiến sĩ “Phân tích tương phản hệ thống thanh điệu tiếng Thái Lan và tiếng Việt Ứng dụng sửa lỗi phát âm thanh điệu cho người Thái Lan học tiếng Việt” của Pimsen Buarapha Tuy nhiên Luận án chỉ đề cập đến việc phân tích đối chiếu, miêu tả hệ thống thanh điệu tiếng Việt (giọng Hà Nội) và tiếng Thái Lan (tiếng Thái Trung tâm - giọng Băng Cốc và tiếng Thái Đông Bắc - giọng Khon Kaen và Maha Sarakham) để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt Từ đó chỉ ra các nguyên nhân mắc lỗi phát âm thanh điệu tiếng Việt và cách khắc phục hiện tượng đó ở sinh viên Thái Lan khi học tiếng Việt Nhưng trong luận văn này, lần đầu tiên lỗi ngữ âm của người Thái Lan khi nói tiếng Việt được khảo sát một cách chi tiết dưới góc độ của lý luận phân tích lỗi hiện đại

- Cũng qua luận văn này, lần đầu tiên các phương pháp, thủ pháp xử lý lỗi ngữ âm cho người Thái Lan được đề cập đến Đồng thời, luận văn cũng đưa ra những giải thích một cách hệ thống về cơ sở lý luận về vấn đề lỗi của người học ngôn ngữ thứ hai theo cách nhìn nhận của ngôn ngữ học ứng dụng

Trang 13

- Chương II: Lỗi phát âm của sinh viên Thái Lan khi học tiếng Việt

- Chương III: Giải pháp chỉnh sửa lỗi phát âm của sinh viên Thái Lan khi học Tiếng Việt

- Kết luận

Trang 14

- 13 -

CHƯƠNG I:LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỖI NGỮ ÂM

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ đã được hình thành từ rất sớm

và có một bề dày lịch sử lâu dài, gắn liền với mối quan hệ ngoại giao giữa các nước với Việt Nam Những minh chứng rõ ràng nhất cho việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ là cách đây khoảng 100 năm Mặc dù, mãi đến năm 1984, phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh, sinh viên Việt Nam, mới có quyết định chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời, đưa môn phương pháp dạy tiếng Việt vào chương trình đào tạo giảng viên trong các trường cao đẳng và đại học sư phạm Tài liệu giảng dạy tiếng Việt được cho ra đời sớm nhất là cuốn “Manuel De Conversation France - Tonkinois” - “Sách dẫn đàng nói chuyện bằng tiếng Phalangsa và tiếng An Nam” do MM Bon (cố Bần) và Dronet (cố Ân) soạn năm

1889 [1, tr 77]

Trong ba thập kỷ gần đây có khá nhiều cuốn sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài như: “Speak Vietnamese” (1965) của Nguyễn Đình Hoà; “Tiếng Việt cho người nước ngoài” (1987, 2 tập) và (1991) của tác giả Bùi Phụng (chủ biên);

“Tiếng Việt cho người nước ngoài” (1994) của Nguyễn Anh Quế và năm 1995 của Mai Ngọc Chừ; “Tiếng Việt cho người Căm - Pu - Chia” (1989, 3 tập) của Nguyễn Thiện Nam; “Tiếng Việt cơ sở” (1996) của Vũ Văn Thi; “Thực hành tiếng Việt dành cho người nước ngoài” (1996) của Nguyễn Việt Hương; “Contemporary Vietnamese” (2000) của Ngô Như Bình Những cuốn sách này được coi là tài liệu hữu hiệu cho những người học tiếng Việt ngay từ bước cơ bản ban đầu [18]

Vào những năm 70, 80, 90 cũng đã xuất hiện những nghiên cứu về vấn đề dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ như: “Thông báo khoa học” (1975) của Khoa tiếng Việt, Đại học Tổng hợp Hà Nội; “Tiếng Việt như một ngoại ngữ” (1995),“Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” (1997) Về phương pháp dạy tiếng Việt, mãi đến những năm 90 mới có cuốn sách đầu tiên nghiên cứu vấn đề này: “Phương pháp dạy tiếng Việt ở tiểu học” của Lê Phương Nga và Nguyễn Trí (1997), “Phương pháp dạy học tiếng Việt” của Lê A, Nguyễn

Trang 15

- 14 -

Quang Ninh, Bùi Minh Toán (1999) Hầu hết những nghiên cứu trên đều tập trung trình bày những quan điểm, cảm nghĩ của người nghiên cứu về vấn đề dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ đưa ra những cách thức, phương pháp được đúc kết từ những nghiên cứu, những kinh nghiệm thực tế trong việc dạy và học tiếng Việt [18] Ngoài ra khoảng 20 năm trở lại đây cũng có một số nghiên cứu về lỗi của người nước ngoài khi học tiếng Việt như: Luận văn thạc sĩ “Xem xét cách diễn đạt câu tiếng Việt của người nước ngoài khi học tiếng Việt” của Đỗ Thị Thu (1997); Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu các dạng lỗi phát âm tiếng Việt của sinh viên nói tiếng Anh” của Nguyễn Văn Phúc (1999), hay “Một vài nhận xét và lý giải về lỗi dùng từ Hán Việt của người Nhật Bản” của Nguyễn Thiện Nam (1995); luận án tiến sĩ

“Khảo sát lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người nước ngoài và những vấn đề liên quan”của Nguyễn Thiện Nam (2001) [16] Gần đây hơn nữa, có thể kể đến như: Luận văn thạc sĩ “Khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt và cách khắc phục” của Đào Thị Thanh Huyền (2008), Luận văn Thạc sĩ "Khảo sát lỗi sử dụng từ ngữ của học viên Trung Quốc học tiếng Việt" của Lê Thị Nguyệt Minh (2012), Luận văn Thạc sĩ "Khảo sát lỗi ngữ pháp trong sử dụng tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc tại một số trường đại học ở Hà Nội" của Vũ Hoàng Phương Loan (2015), Luận văn Thạc sĩ "Lỗi sử dụng một số hành vi ngôn ngữ của học viên Lào học tiếng Việt (Tại Đoàn 871 - TCCT)" của Hứa Thị Chính (2016), Luận văn thạc sĩ “Bước đầu khảo sát lỗi ngữ âm của người Lào học tiếng Việt” của Soudchai Simmalavong (2016) hay Luận văn thạc sĩ “Thực trạng dạy và học tiếng Việt của cộng đồng người Hàn phía Bắc Việt Nam” của Trương Thị Ánh Hồng (2017)

Từ đây, chúng ta có thể thấy rằng có rất ít các đề tài nghiên cứu về lỗi khi học tiếng Việt của người nước ngoài mà đặc biệt là lỗi ngữ âm của người học Không chỉ có vậy, hiện nay, số lượng người nước ngoài từ khắp các quốc gia muốn học tiếng Việt đang ngày một gia tăng do Việt Nam là một quốc gia đang ngày một phát triển, mở rộng và kêu gọi đầu tư từ trong và ngoài nước Do đó, việc cần có nhiều hơn những nghiên cứu đa dạng hơn về các lỗi của người học đến từ các quốc gia khác nhau Điều này sẽ góp phần không nhỏ vào việc đa dạng hóa các tài liệu

Trang 16

1.2 Khái niệm về “lỗi”

“Lỗi của người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ) là hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hoạt động nói năng…) bằng cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc cho là chưa đầy đủ”

Ở đây, các nhà ngôn ngữ học ứng dụng đã đưa ra sự phân biệt giữa hai khái niệm “lỗi” và “sai sót” Cụ thể, họ cho rằng “lỗi” là do người học chưa có hiểu biết đầy đủ; còn “sai sót” là do người học thiếu chú ý trong quá trình học tập, mang tính chất của chủ quan, cảm tính hoặc do “trượt giọng” hoặc do “nhỡ viết” một cách ngẫu nhiên trong sự thể hiện ngôn ngữ (language performance) Những “sai sót” nêu trên đều dễ dàng xảy ra không chỉ ở người học ngôn ngữ thứ hai, mà kể cả người bản địa cũng xuất hiện Đối với người bản ngữ, “sai sót” thể hiện rõ nét hơn cả; là ở trẻ em đang học nói tiếng mẹ đẻ, còn đối với người học “sai sót” thể hiện rõ nhất trong quá trình sản sinh lời nói Tuy nhiên, ở người bản ngữ, họ có thể tự phát hiện và tự sửa được những “sai sót” đó; nhưng ở người học ngôn ngữ thứ hai thì

Trang 17

- 16 -

“sai sót” này không phải kết quả của sự kém cỏi (deficiency) hay năng lực (competence) mà là kết quả của một sự chưa hoàn hảo nhất thời trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ của người bản địa Trong cuốn 777 Khái niệm Ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp phân biệt: “lỗi” xuất hiện khi một đơn vị ngôn ngữ được sử dụng như là kết quả học tập còn thiếu sót hoặc chưa đầy đủ thì học viên được coi là phạm lỗi Lỗi là hình thức không đúng về ngữ pháp [9, tr 245-246]; còn “sai sót” xuất hiện khi ngôn ngữ đúng về ngữ pháp nhưng không thích hợp trong một ngôn cảnh giao tiếp Trong khi các lỗi luôn luôn đi với những người học ngôn ngữ thì những lầm lẫn, sai sót cũng có thể có ở những người bản ngữ [9,tr 233] Mặc dù vậy, tính đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một công trình khoa học nào chứng minh để phân loại rõ ràng giữa hai khái niệm “lỗi” và “sai sót”, mà người ta chỉ dựa vào tính thường xuyên (regularity) của hai khái niệm này Nếu như ở khái niệm “lỗi” tính thường xuyên, của chúng xuất hiện lặp đi lặp lại một cách thường xuyên thì ở khái niệm “sai sót” tính thường xuyên của chúng xuất hiện một cách hoàn toàn ngẫu nhiên Cụ thể hơn, như W.T Little Wood đưa ra nhận định rằng: “Tiêu chí đáng tin cậy nhất mà một “lỗi” phản ánh hệ thống chiều sâu của người học là khi nó xuất hiện đều đặn trong lời nói của người học” [35, tr 31-32] Và cũng ngay sau đó, ông cũng tái khẳng định rằng: “Bất cứ cố gắng nào muốn vạch một đường ranh giới dứt khoát giữa “lỗi” và “sai sót” dường như đều không thành công” [35, tr 32] Chính

từ các lý lẽ nêu trên và giới hạn của phạm vi luận văn, chúng tôi sẽ không bàn đến những “sai sót” mang tính ngẫu nhiên, mà chỉ tập trung bàn đến những “lỗi” thường xuyên gặp phải của sinh viên Thái Lan trong quá trình thụ đắc tiếng Việt

1.2.2 Khuynh hướng phân tích lỗi

1.2.2.1 Đôi nét khái quát về khuynh hướng phân tích lỗi

Tất cả các công trình nghiên cứu đề cập đến lỗi thường đi theo hai khuynh hướng chính:

- Hướng phân tích đối chiếu (contrastive analysis)

- Hướng phân tích lỗi (error analysis)

Trang 18

- Sự chuyển di ngôn ngữ (Language transfer)

- Sự chuyển di giảng dạy (Transfer of training)

- Những chiến lược học ngôn ngữ thứ hai (Strategies of second language learning)

- Những chiến lược giao tiếp ngôn ngữ thứ hai (Strategies of second language communication)

- Sự vượt tuyến ngữ liệu ngôn ngữ đích (Overgeneralization of TL linguistics) [39]

Trang 19

- 18 -

Có thể nói, những đặc trưng trên cũng chính là những vấn đề chính sinh ra lỗi của người học, tuy nhiên Selinker muốn tránh thuật ngữ “lỗi” (error), một thuật ngữ vẫn còn đang gây ra những tranh luận, do vậy một thuật ngữ mới đã được ra đời

1.2.2.2 Mục đích của phân tích lỗi

Trong một bài báo của Pit Corder, ông đã chỉ ra sự phân biệt giữa mục đích

lý thuyết và mục đích thực tiễn của phân tích lỗi Ông cho rằng phân tích lỗi không chỉ quan tâm đến mục đích ứng dụng của nó, tức là chỉ đơn thuần quan tâm đến việc tìm lỗi và chữa lỗi, mà còn phải quan tâm đến mục đích lý thuyết của nó là giải thích cơ chế thể hiện ngôn ngữ của người học [27] Nói một cách cụ thể khác, mục đích này nghiên cứu đến các chiến lược học và những giả thuyết mà người học đã

sử dụng để tạo ra ngôn ngữ riêng của mình - ngôn ngữ trung gian

1.2.2.3 Ý nghĩa của lỗi và việc phân tích lỗi

Vấn đề lỗi được Pit Corder nhìn nhận ở một góc độ khá mới mẻ Ông cho rằng có những sự giống nhau giữa chiến lược mà trẻ học tiếng mẹ đẻ với người học ngôn ngữ thứ hai Theo ông thì không có từ “lỗi” (error) trong ngôn ngữ của trẻ em

ở giai đoạn trẻ học nói tiếng mẹ đẻ vì ngôn ngữ mà trẻ tạo ra cũng có hệ thống và quy tắc riêng Vì thế theo ông, lỗi của việc học ngôn ngữ thứ hai không những là không tránh khỏi mà là một bộ phận cần thiết của tiến trình học ngôn ngữ đích Lỗi của người học ngôn ngữ đích là những chứng cứ hiển nhiên về hệ thống mà người học đang sử dụng ở một thời điểm trong tiến trình học [26, tr 79] Lê Quang Thiêm cũng đã từng nhận định: “Lỗi học và dùng loại từ là tài liệu thô rất quý về nhiều mặt mà ta cần thu thập, hệ thống hoá và phân tích nghiên cứu Thiếu nó chúng ta không thể có được một cách hiểu đầy đủ về những tiến bộ xảy ra trong cảm thức ngôn ngữ của người học tiếng” [19, tr 79]

Theo Pit Corder, phân tích lỗi là việc phân tích và nghiên cứu các lỗi do người học ngôn ngữ gây ra [29, tr 80] Nói cách khác phân tích lỗi là thủ thuật do

Trang 20

- 19 -

các nhà nghiên cứu và giáo viên sử dụng Nó bao gồm việc thu thập các mẫu ngôn ngữ của người học, xác định lỗi trong các mẫu, miêu tả lỗi, phân loại lỗi và đánh giá mức độ nghiêm trọng của lỗi Nguyễn Thiện Nam đã đưa ra ba ý nghĩa của việc phân tích lỗi [16, tr 16] như sau:

- Lỗi có thể cho giảng viên viên biết được trình độ của người học, do vậy giảng viên có thể biết được người học cần phải học cái gì Điều này liên quan đến việc biên soạn chương trình học, tài liệu giảng dạy, bài luyện…

- Lỗi có thể cung cấp cho nhà nghiên cứu những chứng cứ về việc ngôn ngữ

đã được học như thế nào, người học đã sử dụng những biện pháp và chiến lược gì trong quá trình khám phá ngôn ngữ

- Lỗi là một điều tất yếu, không thể thiếu đối với bản thân người học, bởi vì chúng ta có thể coi việc mắc lỗi là phương cách mà người học sử dụng để học

Đó là cái cách mà người học thử nghiệm những sáng tạo, phiêu lưu, những giả thuyết của mình về ngôn ngữ mà mình học Như vậy, mắc lỗi là một chiến lược học, không chỉ có ở trẻ học ngôn ngữ thứ nhất mà còn cả ở người lớn khi học ngôn ngữ thứ hai

Do vậy, kết quả của phân tích lỗi có ý nghĩa quan trọng đối với lý luận ngôn ngữ Ngôn ngữ học tâm lý tiên đoán tiếng mẹ đẻ ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới việc học ngôn ngữ thứ hai Phân tích lỗi có thể đem đến một số chứng cứ để bác

bỏ hay ủng hộ tiên đoán này Như vậy, phân tích lỗi là một bộ phận của phương pháp luận nghiên cứu việc học ngôn ngữ thứ hai

1.2.3 Các nguyên nhân gây lỗi

Theo quan điểm của phân tích lỗi hiện đại, lỗi là kết quả của các chiến lược

mà người học áp dụng để thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Hai trong số những chiến lược được áp dụng nhiều nhất có thể nói đến đó là: chiến lược học (Learning strategies)

và chiến lược giao tiếp (Communication strategies)

1.1.3.1 Chiến lược học

Chiến lược học mà người học thường sử dụng là chuyển di và vượt tuyến

Trang 21

- 20 -

a Chuyển di (Transfer)

Chuyển di là chiến lược mà người học áp dụng những tri thức có sẵn về ngôn ngữ nguồn vào việc hình thành những giả thuyết về ngôn ngữ đích Có hai dạng chuyển di thường gặp:

- Chuyển di tích cực (Positive transfer) là nhờ vào sự giống nhau giữa ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai mà việc học ngôn ngữ thứ hai sẽ dễ dàng hơn Ví dụ như tiếng Thái Lan và tiếng Việt có nhiều điểm giống nhau, cùng là ngôn ngữ có thanh điệu, có nhiều chữ cái phiên âm giống nhau, nên sẽ giúp cho các sinh viên Thái tiếp cận tiếng Việt dễ dàng hơn Như Pit Corder cho rằng: “Ngôn ngữ thứ nhất cung cấp một loạt những khả năng khá khoa học và phong phú” [30, tr 80]

- Chuyển di tiêu cực (Negative transfer) là việc áp dụng những mẫu, quy tắc của ngôn ngữ mẹ đẻ để tạo nên những câu nói mới, những kết cấu câu mới cho ngôn ngữ thứ hai nhưng lại không đúng và không phù hợp với ngôn ngữ thứ hai Ví dụ: Trong tiếng Thái Lan không có thanh điệu ngã, nên khi học tiếng Việt, các sinh viên Thái sẽ phát âm những từ có thanh điệu này thành thanh điệu sắc, như: “Vũ trường” sẽ thành “Vú trường”

b Vượt tuyến (Overgeneralization)

Vượt tuyến cũng mang đặc điểm giống với chuyển di ở việc người học đều

sử dụng những tri thức mà họ đã biết để tạo lập những kinh nghiệm mới Nhưng khác ở chỗ, chuyển di, người học sử dụng kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ như là một phương tiện để cấu trúc ngôn ngữ; còn vượt tuyến, người học sử dụng những tri thức đã có về ngôn ngữ đích hoặc suy đoán trong quá trình tri nhận ngôn ngữ như là một phương tiện dùng để phát triển năng lực ngôn ngữ đích của bản thân Có thể nói, vượt tuyến chính là chiến lược mà người học đã mở rộng những tri thức về ngôn ngữ thứ hai của mình ra ngoài phạm vi cho phép

1.2.3.2 Chiến lược giao tiếp

Chiến lược giao tiếp là cách mà người học thường áp dụng khi chưa có đầy

đủ tri thức cần thiết Để cố gắng tham gia một cách tích cực vào các cuộc đối thoại,

Trang 22

- 21 -

người học thường cố nói dù là nói sai một vài từ nhưng vẫn đáp ứng được hiệu quả của quá trình giao tiếp đó

Ví dụ: Sinh viên Thái Lan thường rất khó phát âm các từ có nguyên âm “ô”,

và thường phát âm thành nguyên âm đôi “ôô” hoặc thành “o” Như trong câu:

“Chúng em khôông biết ạ!”/ “Chúng em khong biết ạ!” (Chúng em không biết ạ!)

Những lỗi nảy sinh trong quá trình giao tiếp, có thể coi gần với lỗi thể hiện (performance error) Do nhu cầu giao tiếp tức thời, nhưng trình độ, năng lực bản thân còn hạn chế, nên đã làm xuất hiện những lỗi phát âm trong quá trình giao tiếp

1.2.4 Phân loại lỗi

Có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại lỗi, có thể kể đến một số tiêu chí như sau:

- Theo góc độ miêu tả (Descriptive taxonomy) của Dulay, M Burt và S Krashen, thì phân loại lỗi thành hai dạng [31]:

+ Lỗi theo góc độ ngôn ngữ học (Linguistic category)

+ Lỗi ở cấu trúc bề mặt (Surface structure)

- James [33] phân loại lỗi theo ba tiêu chí bao gồm: thể thức/phương thức (modality), phương tiện (medium), và trình độ (level)

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng cách phân loại lỗi của J C Richard [38, tr 80], gồm hai loại lỗi cơ bản là:

+ Lỗi giao thoa (Interlingual error)

+ Lỗi tự ngữ đích (Intralingual error)

Lỗi giao thoa là lỗi được tạo ra do người sử dụng những tri thức của tiếng mẹ

đẻ, để áp dụng vào ngôn ngữ đích Kết quả là hiện tượng chuyển di ngôn ngữ xuất hiện và kéo theo là lỗi giao thoa tiếng mẹ đẻ xuất hiện

Lỗi tự ngữ đích là lỗi nảy sinh trong bản thân ngôn ngữ đang được học, không liên quan đến tiếng mẹ đẻ Nói một cách rõ hơn, lỗi này được tạo ra do người học sử dụng những tri thức đã biết về ngôn ngữ đích, để tạo ra những sản phẩm

Trang 23

- 22 -

ngôn ngữ mới Những lỗi này rất thường xuyên xảy ra, không kể đến phông ngôn ngữ (Language background) của người học

1.3 Quan niệm về ngữ âm và ngữ âm tiếng Việt

1.3.1 Quan niệm về ngữ âm

1.3.1.1 Ngôn ngữ và âm thanh của ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một hệ thống âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản

và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người, đồng thời ngôn ngữ cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa - lịch sử

từ thế hệ này sang thế hệ khác Cái ngôn ngữ dùng để giao tiếp và truyền đạt tư tưởng ấy, ngay từ đầu đã là ngôn ngữ thành tiếng, ngôn ngữ âm thanh Các nhà khoa học gọi mặt âm thanh của ngôn ngữ là ngữ âm Mặt âm thanh làm nên tính chất hiện thực của ngôn ngữ, nhờ có nó mà ngôn ngữ mới được xác lập, tồn tại và phát triển, đồng thời có thể được lưu giữ và truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác Nhờ có cái vỏ vật chất là âm thanh nên trẻ em mới hấp thụ được ngôn ngữ Quá trình học nói ở trẻ em là sự nhấn mạnh một cách chính đáng tính chất âm thanh của ngôn ngữ

Mặt âm thanh là một thuộc tính không thể tách rời của tất cả các sinh ngữ hiện đang tồn tại Trước đây, một số nhà ngôn ngữ học đã từng cho rằng âm thanh

là một thuộc tính không quan trọng của ngôn ngữ; ngôn ngữ có thể tồn tại dưới bất

kì hình thức nào cũng được N.Y.Marr khẳng định, trước khi có ngôn ngữ bằng âm thanh đã có một ngôn ngữ bằng tay, ngôn ngữ bằng động tác Ngay cả F.de Saussure cũng cho rằng: “Ngôn ngữ là một sự ước định và bản chất phù hiệu ước định thì thế nào cũng được Cho nên vấn đề bộ máy phát âm là một vấn đề thứ yếu trong các vấn đề ngôn ngữ” [3, tr 35] Quan điểm của F.de Saussure được các nhà kết cấu luận hiện đại tán đồng; họ cho rằng ngôn ngữ không hề có một cơ sở vật chất nào hết, rằng trong ngôn ngữ chỉ có những sự khu biệt mà thôi Xét về mặt âm học, âm thanh của ngôn ngữ cũng giống như tất cả các âm thanh khác trong tự nhiên, vốn là những sự chấn động của các phần tử không khí, bắt nguồn từ sự chấn

Trang 24

- 23 -

động của một vật thể đàn hồi nào đấy hoặc từ sự chấn động của luồng không khí chứa đựng trong một cái khoang rỗng Nhưng khác với các âm thanh khác, âm thanh ngôn ngữ chỉ có thể là những sự chấn động mà bộ máy thính giác của con người có thể cảm thụ được Âm thanh ngôn ngữ là âm thanh do bộ máy cấu tạo âm thanh của con người tạo ra, nó có nghĩa và được sử dụng làm phương tiện giao tiếp Như vậy, phương tiện giao tiếp ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng: Thứ nhất, đó là phương tiện giao tiếp ở dạng tiềm năng, tồn tại trong đầu óc của mỗi con người: ngôn ngữ Thứ hai, đó là phương tiện giao tiếp ở dạng hiện thực, cụ thể, sinh động, tồn tại trong thực tiễn của đời sống giao tiếp: lời nói - sản phẩm của hoạt động ngôn ngữ

Ngôn ngữ và âm thanh của ngôn ngữ (lời nói) là thống nhất nhưng không đồng nhất Trong cái chung và cái riêng, trong cái đồng nhất và khác biệt ấy, cái gì được gọi là ngữ âm? Với cách hiểu chung nhất, âm thanh là những sóng âm được truyền trong một môi trường nhất định, và thường là không khí Còn ngữ âm là âm thanh lời nói của con người hay còn gọi là âm thanh ngôn ngữ, nói cụ thể hơn là toàn bộ âm thanh ngôn ngữ và tất cả các quy luật, quy tắc kết hợp âm thanh, giọng điệu ở trong từ, trong câu của ngôn ngữ [15, tr 78]

1.3.1.2 Vai trò của âm thanh ngôn ngữ

Âm thanh tự nó không tạo nên ngôn ngữ, nhưng là chất liệu tất yếu của ngôn ngữ, làm nên tính hiện thực của ngôn ngữ Về mặt lí thuyết, tất cả các giác quan của con người đều có thể dùng để thu phát tin Nhưng thính giác có những ưu thế riêng,

có thể khắc phục các hạn chế của các giác quan khác Và thế là bộ máy phát âm của con người được lựa chọn để tạo ra âm thanh ngôn ngữ Ưu thế của âm thanh ngôn ngữ là có tính phân tiết cao, nghĩa là người ta có thể kết hợp một số lượng hữu hạn các yếu tố để mã hoá một khối lượng vô hạn các thông tin Mặt khác, âm thanh do

bộ máy phát âm của con người tạo ra nên hết sức tiện lợi, không gây cản trở gì hết, luôn luôn đi theo người sử dụng, khi cần là sử dụng được ngay Người nói có thể đồng thời dùng tai để kiểm tra âm thanh phát ra và dùng mắt để theo dõi phản ứng

Trang 25

- 24 -

của người nghe; nhờ vậy, hoạt động giao tiếp diễn ra dễ dàng, thông suốt trong mọi trường hợp Với những lí do trên, có thể khẳng định rằng, âm thanh ngôn ngữ là hình thức biểu đạt tất yếu của ngôn ngữ, là cái vỏ vật chất tiện lợi nhất của ngôn ngữ Dĩ nhiên, âm thanh ngôn ngữ chỉ là hình thức tồn tại tất yếu của các từ và các phương tiện ngữ pháp Do đó, về một phương diện nào đó, nếu coi ngôn ngữ bao gồm hai mặt: mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện, thì cũng có thể coi ngữ âm là mặt biểu hiện, còn từ vựng và ngữ pháp là mặt được biểu hiện của ngôn ngữ Bởi vậy, nghiên cứu ngữ âm là công việc đầu tiên và tất yếu đối với việc nghiên cứu bất

cứ ngôn ngữ nào

1.3.1.3 Cơ sở của ngữ âm

Âm thanh ngôn ngữ được xác lập từ cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội

a Cơ sở tự nhiên

Âm thanh ngôn ngữ có thể tiến hành nghiên cứu về bản chất âm học (cảm thụ - vật lí) và những phương thức cấu âm (nguồn gốc - sinh lí), tức là cơ sở tự nhiên Hai hướng nghiên cứu này, tuy có một tính chất độc lập nhất định nhưng không loại trừ nhau, bởi lẽ, một đặc trưng âm học nào đó chính là kết quả của một phương thức cấu âm nhất định Cơ sở tự nhiên của ngữ âm gồm mặt vật lí và mặt sinh lí

độ cao, độ mạnh, độ dài, âm sắc, v.v

- Cao độ (pitch)

Cao độ là độ cao/thấp của các đơn vị âm thanh Độ cao của âm thanh tuỳ thuộc vào sự chấn động nhanh hay chậm của các phần tử không khí trong một đơn

Trang 26

- 25 -

vị thời gian Hay nói cách khác, độ cao được xác định bằng tần số dao động của các sóng âm Tần số dao động của sóng âm được xác lập từ đặc trưng của vật liệu cấu tạo nên vật thể về các mặt:

+ Trọng lượng của vật thể (nó tỉ lệ nghịch với trọng lượng của vật thể; vật thể nặng thường dao động chậm hơn vật thể nhẹ)

+ Mức độ đàn hồi của chất liệu cấu tạo nên vật thể (nó tỉ lệ thuận với mức độ đàn hồi của vật thể, nghĩa là, khả năng đàn hồi của vật thể càng yếu thì số lượng dao động của vật thể đó trong một đơn vị thời gian nhất định càng ít, nên âm thanh phát

ra càng thấp, ngược lại, sức đàn hồi càng mạnh thì số chấn động càng nhiều, âm thanh phát ra càng cao)

+ Âm lượng (độ vang) phát ra do tác động giữa vật thể với môi trường (tức là hiện tượng cộng hưởng)

+ Hình dáng, kích cỡ của vật thể (vật thể có kích cỡ lớn thì âm lượng của nó càng nhỏ và được truyền chậm hơn so với vật thể bé hơn) Tần số dao động càng lớn (nghĩa là càng nhanh, càng nhiều) thì âm càng cao và ngược lại Đơn vị đo độ cao là hertz, viết tắt là Hz (Hz là đơn vị đo tần số, bằng một lần dao động đôi trong một giây Dao động đôi gồm những động tác ngả về cả hai phía hai bên điểm trung hoà rồi trở về điểm đó) Tai người có thể phân biệt độ cao từ 16 đến 20.000 Hz Chẳng hạn, trong tiếng Việt, các nguyên âm /i/, /u/, /ɯ/ có độ cao cao hơn các nguyên âm /e/, /o/, /a/

- Cường độ (intensity)

Cường độ là độ mạnh/yếu của các đơn vị âm thanh, tuỳ thuộc vào năng lượng được phát ra Hay nói cách khác, độ mạnh phụ thuộc vào biên độ dao động của các sóng âm trong không gian (tức khoảng cách từ điểm cao nhất và điểm thấp nhất của sóng âm) Biên độ (độ lan toả) càng lớn thì âm càng mạnh (to) và ngược lại Đồng thời, độ mạnh cũng lệ thuộc vào những điều kiện khí tượng: đại lượng của

áp lực không khí, độ ẩm và nhiệt độ của không khí Trong những điều kiện bình thường, độ mạnh của âm thanh tỉ lệ thuận với bình phương biên độ (chẳng hạn, một sợi dây đàn, nếu biên độ chấn động của dây càng rộng thì độ mạnh âm thanh từ dây

Trang 27

- 26 -

phát ra càng lớn) Độ mạnh của âm thanh còn lệ thuộc vào diện tích của vật thể phát

ra âm thanh (diện tích càng rộng thì âm thanh càng mạnh, tuy cùng một biên độ chấn động như cũ) Đơn vị đo độ mạnh là decibel, viết tắt dB Trong các ngôn ngữ, phụ âm phát ra bao giờ cũng mạnh hơn nguyên âm Đối với ngôn ngữ, độ mạnh âm thanh có một ý nghĩa khá quan trọng Trước hết, nó đảm bảo sự minh xác trong việc truyền đạt và tiếp thu lời nói, đó là điều có tính chất quyết định đối với ngôn ngữ với tư cách là phương tiện giao tiếp Thêm nữa, độ mạnh của âm thanh là cơ sở để tạo nên các loại trọng âm khác nhau

- Trường độ (length)

Trường độ là độ dài/ngắn của các đơn vị âm thanh Độ dài của âm thanh do thời gian chấn động của các phần tử không khí phát ra lâu hay mau quyết định Độ dài của âm thanh tạo nên sự tương phản giữa các bộ phận của lời nói Nó còn là yếu

tố tạo nên trọng âm, tạo nên sự đối lập giữa nguyên âm này với nguyên âm khác trong một số ngôn ngữ Chẳng hạn, trong tiếng Việt, /a/ trong cao dài hơn /ă/ trong cau, /ɤ/ trong cơm dài hơn /ɤ/ trong câm

- Âm sắc (timbre)

Âm sắc là vẻ riêng của các đơn vị âm thanh Âm sắc được xác định bởi ba yếu tố: vật thể phát âm, phương pháp phát âm và hộp cộng hưởng Vật thể phát âm khác nhau, ta có các âm khác nhau Chẳng hạn: đàn ghi ta và đàn đá, dây đàn bằng

tơ và bằng thép, v.v Phương pháp phát âm làm cho vật thể chấn động khác nhau, nên âm phát ra cũng khác nhau Chẳng hạn, dùng phím nhựa gẩy (gẩy ghi ta) và dùng dây cung kéo trên dây (kéo nhị) Tính chất phức hợp của âm thanh còn do hiện tượng cộng minh gây nên Trong sự hình thành của một âm sắc, đóng vai trò quyết định là hiện tượng cộng minh Hiện tượng cộng minh là khi vật chấn động sẽ có khả năng hấp thụ sự chấn động của các khoảng rỗng, tức là các hộp cộng hưởng (các khoảng rỗng này tự nó vốn không phát ra âm thanh mà chỉ vang lên do hiện tượng cộng minh), nhờ vậy, chính các hộp cộng hưởng cũng góp phần tạo nên âm thanh Bầu đàn (ghi ta), ống sáo, thanh hầu, khoang miệng, khoang mũi đều là những hộp cộng hưởng để xác định âm sắc Trong ngôn ngữ, sắc thái đặc thù của mỗi âm thanh

Trang 28

- 27 -

được tạo nên bởi các hộp cộng hưởng mũi, miệng, thanh hầu Chẳng hạn, các nguyên âm có tiếng thanh, còn các phụ âm thường có nhiều tiếng ồn (tiếng động)

Sự khác nhau về âm sắc chính là cơ sở của sự khác nhau giữa các nguyên âm

*Mặt sinh lí (nguồn gốc - cấu âm)

Âm thanh ngôn ngữ do bộ máy phát âm của con người cùng với hoạt động của nó tạo nên Bộ máy phát âm là những bộ phận của cơ thể được dùng với chức năng thứ hai là tạo ra các âm của ngôn ngữ Bộ máy phát âm gồm có cơ quan hô hấp, thanh hầu và các khoang (khoang mũi, khoang miệng, khoang yết hầu)

- Cơ quan hô hấp (initiator)

Cơ quan hô hấp, không trực tiếp tham gia vào việc cấu tạo âm thanh mà chỉ cung cấp vật liệu không khí, tức là cái khởi phát luồng hơi Muốn tạo ra một âm, trước hết phải có luồng hơi Trong phần lớn các ngôn ngữ, luồng hơi được tạo ra từ

cơ quan hô hấp (Luồng hơi cũng có thể được tạo ra từ nguồn và hướng khác Chẳng hạn, tiếng Sindhi - một ngôn ngữ ở Ấn Độ và Pakistan đã dùng hơi từ họng đẩy thanh quản xuống, làm cho luồng hơi bị hút vào miệng, như thế các âm khép được tạo ra) Cơ quan hô hấp gồm có phổi, hai lá phổi và khí quản Phổi là bộ phận gồm

vô số những cái bọng hơi rất nhỏ, xung quanh có một màng lưới ti vi huyết quản Hai lá phổi hợp nhau lại ở gốc khí quản Lá phổi có một bộ cơ nhẵn cho phép nó co bóp Khí quản là một cái ống do những miếng xương sụn hình bán nguyệt áp sát vào nhau mà thành Hai lá phổi là nơi chứa nguồn năng lượng không khí (hơi) cần thiết cho sự phát âm Cơ sở tạo nên âm thanh là luồng không khí từ phổi đi ra, cùng với sự điều khiển của thần kinh làm dây thanh rung động (mở ra khép vào), tiếp đó,

cọ xát vào các bộ phận phát âm ở khoang miệng và khoang mũi tạo nên những âm thanh

- Thanh hầu (larynx)

+ Thanh hầu là một ống rỗng, giống như chiếc hộp gồm bốn mảnh sụn ghép lại Đó là cơ quan phát ra âm thanh Thực chất, thanh hầu có một cơ cấu rất phức tạp Sườn của nó gồm một loạt xương sụn (cartilage) nối liền với nhau bằng những

cơ thịt và gân Phía dưới thanh hầu có xương sụn hình nhẫn (cricoid) gắn vào khâu

Trang 29

- 28 -

trên của khí quản cả bốn phía Phía trên xương sụn hình nhẫn là xương sụn hình giáp (thyroid), gồm có hai mảng hình tứ giác không đều gắn chặt với nhau ở phía trước làm thành một góc 900 ở đàn ông và 1200 ở đàn bà Ở đàn ông, phần trên của góc này lồi ra thành quả táo Adam (cuống họng) Phía sau mỗi mảng xương sụn nói trên có hai khúc lồi lên và lồi xuống gọi là sừng (horns) Hai sừng trên (vốn dài hơn) có những sợi gân nối liền với xương dưới lưỡi, hai sừng dưới (ngắn hơn) ăn khớp với phần dưới của mặt nhẫn xương sụn hình nhẫn Ngoài ra, toàn bộ rìa trên của xương sụn hình giáp có một cái màng nối liền với xương gốc lưỡi, còn toàn bộ rìa dưới cũng có một cái màng như thế nối liền với xương sụn hình nhẫn Nhờ đó, khí quản cùng với thanh hầu làm thành một cái ống phần trên rộng ra Sự cử động của toàn bộ thanh hầu, cũng như sự tiếp xúc giữa phần trước của xương sụn hình giáp và xương sụn hình nhẫn là do hệ thống cơ thịt bên ngoài của thanh hầu bảo đảm Giữa thanh hầu có hai tổ chức cơ (hai màng mỏng) nằm sóng đôi có thể rung động, mở ra hay khép vào Khi luồng hơi đi ra làm cho hai tổ chức cơ này rung động, mở ra hay khép vào, căng lên hay chùng xuống tuỳ thuộc vào âm được phát

ra, đó là dây thanh Luồng hơi từ phổi đi ra tạo những rung động ở dây thanh tạo nên âm thanh Âm thanh này nhận thêm sự cộng hưởng của thanh hầu, làm cho âm thanh được thể hiện to hơn Như vậy, thanh hầu là hộp cộng hưởng đầu tiên của bộ máy phát âm

+ Dây thanh (vocal cords), thực tế là hai nếp gấp của một cái màng cố định ở phía trước nhưng có thể chuyển động ngang ở phía sau Khoảng cách giữa hai dây thanh do thanh môn (glottis) quy định Khi dây thanh bị đóng kín đến mức luồng hơi từ phổi ra bị chặn lại và áp suất của luồng hơi phía sau được tạo ra, hiện tượng này được gọi là tắc họng Các âm không thể nghe thấy, nhưng nó có hiệu quả đối với các ngữ đoạn xung quanh Trong một số ngôn ngữ, tắc họng là phương thức tạo nên một số âm trong hệ thống âm Khi dây thanh khép lại đến mức có một khe hở hẹp giữa chúng thì áp lực của luồng hơi sẽ làm cho dây thanh rung, tức là chúng mở

hé ra rồi khép lại, rồi tiếp tục mở ra khép lại như thế làm cho luồng hơi từ phổi ra ngoài thành từng đợt, cách nhau đều đặn, tạo nên sóng âm Những âm được tạo ra

Trang 30

- 29 -

như thế gọi là âm hữu thanh Độ cao của âm phụ thuộc vào tốc độ rung của dây thanh; tốc độ rung lại do độ dài của dây thanh quy định Ở đàn ông, dây thanh dài hơn ở phụ nữ, vì thế, các âm do đàn ông tạo ra thấp hơn đàn bà Khi dây thanh mở rộng như trong hơi thở bình thường, lúc không nói năng thì luồng hơi thoát qua thanh môn tự do và tạo ra một âm yếu ớt Âm này sẽ trở nên nghe được nếu chúng

ta thở qua miệng với một cường độ nhất định Trong ngữ âm học, âm này được kí hiệu là /h/ Khi cấu âm, nếu dây thanh không rung thì kết quả sẽ cho một âm, được gọi là âm vô thanh

- Các khoang (khoảng rỗng)

Khoang là các khoảng rỗng ở họng, ở miệng và ở mũi Khoang họng (thanh hầu) giăng ra từ nắp họng đến sau khoang mũi và dùng như cái hộp chứa hơi; hơi này có thể rung động hòa theo sự rung động của dây thanh Khoang họng có thể thay đổi kích thước nhờ nâng thanh quản lên, hoặc nâng ngạc mềm lên Cũng như khoang họng, khoang miệng và khoang mũi cũng là những hộp (khoang) cộng hưởng của bộ máy phát âm Khoang miệng là hộp cộng hưởng quan trọng nhất Chính ở đây, những sự khu biệt về cấu âm được thể hiện Khoang miệng cùng với các bộ phận và hoạt động của nó gồm môi, răng, lợi, ngạc cứng, ngạc mềm, lưỡi (đầu lưỡi, giữa lưỡi, cuối lưỡi), lưỡi con, nắp họng tạo hình dáng và thể tích khoang miệng khác nhau, tức là tạo các hộp (khoang) cộng hưởng khác nhau, cho ta các âm thanh khác nhau Nếu không có các hộp cộng hưởng thì dây thanh cũng giống như những dây của đàn (ghita, piano, v.v.) nếu không có hộp đàn sẽ chỉ tạo ra những âm rất nhỏ

Khi phát âm, luồng hơi có thể đi ra đằng mũi và khoang mũi trở thành hộp cộng hưởng để tạo các âm mũi (nasals) Có thể hình dung bộ máy phát âm của con người bằng sơ đồ sau đây:

Trang 31

- 30 -

b Cơ sở xã hội

Trong khi phát âm, có thể có sự khác nhau chút ít ở những người nói nhưng không phải vì thế mà người ta không hiểu được nhau Bởi vì, trong cách phát âm của mỗi người vẫn có những nét chung Đó chính là cơ sở xã hội của ngữ âm Nói đến cơ sở xã hội của ngữ âm là nói đến chức năng xã hội của nó Âm thanh, tự bản

Hình 2 Sơ đồ bộ máy cấu âm của con người

Hình 1 Sơ đồ thanh quản

Trang 32

- 31 -

thân nó không mang ý nghĩa gì cả Nhưng khi một đơn vị âm thanh nào đó được một cộng đồng lựa chọn, xác lập làm hình thức biểu đạt cho những đơn vị mang nghĩa trong một ngôn ngữ, dùng để giao tiếp thì sẽ trở thành những đơn vị âm thanh ngôn ngữ Mặt xã hội của ngữ âm, làm cho mỗi người nói một ngôn ngữ nào đó nhận ra sự khác nhau giữa các đơn vị âm thanh của ngôn ngữ đó, đồng thời luôn có

ý thức và thói quen phân biệt sự khác nhau đó, một sự khác nhau có tính chất chức năng - chức năng giao tiếp

- phụ âm (consonant) là sự phân chia bằng trực giác cơ bản nhất để phân loại ngữ

âm Nếu luồng hơi từ phổi lên qua thanh hầu và thoát ra ngoài một cách tự do, có một âm hưởng “êm ái” và “dễ nghe”, mà đặc trưng âm học của nó là có tần số xác định, có đường cong biểu diễn tuần hoàn được gọi là tiếng thanh, đây cũng đồng thời là bản chất âm học của nguyên âm Và ngược lại, nếu luồng hơi từ phổi đi lên, qua thanh hầu, rồi thoát ra ngoài gặp một sự cản trở, như sự thu hẹp khe hở của dây thanh, sự tiếp xúc của đầu lưỡi với răng, sự khép chặt của hai môi, nó phỉa lách qua khe hở hoặc phá vỡ sự cản trở thì nó sẽ tạo nên một tiếng cọ xát Những tiếng này không “dễ nghe”, có tần số không ổn định, được biểu diễn bằng những đường cong không tuần hoàn thì được gọi là tiếng động Phương thức cấu tạo cơ bản của các phụ âm trong mọi ngôn ngữ đều mang bản chất của tiếng động [20, tr 27- 28]

1.3.2 Ngữ âm tiếng Việt với việc học tiếng

1.3.2.1 Nét đặc thù của ngữ âm tiếng Việt

Trang 33

- 32 -

Các ngôn ngữ trên thế giới được chia ra làm 4 kiểu loại hình: loại hình ngôn ngữ hòa kết (khuất chiết), loại hình chắp dính (niêm kết), loại hình hỗn nhập (đa tổng hợp) và loại hình ngôn ngữ đơn lập Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, tức là mỗi một tiếng (âm tiết) được phát âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết Đặc điểm này thể hiện rõ rệt ở mặt ngữ âm

Trong tiếng Việt, có một loại đơn vị xưa nay ta thường quen gọi là “tiếng”,

“tiếng một” hay là “chữ”, ví dụ: đi, học, ăn, nói, và, nhưng, đã, đang, thiên, sơn, bất Gọi loại đơn vị này là “tiếng” tức là căn cứ vào ngữ âm (mặt nghe được), gọi

là “chữ” tức là căn cứ vào văn tự (mặt thấy được) Cái thấy được là ký hiệu để ghi lại cái nghe được [5, tr 77]

a Về phương diện phát âm của tiếng, mỗi tiếng bao giờ cũng phát ra bằng một hơi, tương ứng với một đợt căng cơ thịt bộ máy phát âm, tương ứng với một lần tăng - giảm độ vang, và mang một thanh điệu nhất định - “tiếng” tức là âm tiết

b Về mặt chữ viết, từ chữ Nôm trước kia cho đến chữ Quốc ngữ hiện nay, mỗi tiếng bao giờ cũng viết rời ra thành từng chữ một Đối với người học tiếng Việt, khi đứng trước một câu văn hay câu thơ, muốn xác định có bao nhiêu tiếng là điều không khó Sự tương ứng giữa tiếng và chữ khiến cho việc học tiếng Việt dễ dàng hơn

c Về phương diện âm vị học của tiếng, hệ thống âm vị tiếng Việt phong phú

và có tính cân đối, tạo ra tiềm năng to lớn của ngữ âm tiếng Việt trong việc thể hiện các đơn vị có nghĩa Tiếng Việt có 5 hệ thống âm vị (chứ không phải là 2 như ngôn ngữ Ấn - Âu), tương ứng với 5 thành tố trong âm tiết tiếng Việt: âm đầu, âm đệm,

âm chính, âm cuối và thanh điệu Số lượng âm vị nhiều hơn, không làm cho cấu trúc âm tiết tiếng Việt phức tạp hơn mà ngược lại, do vị trí và chức năng của các thành tố trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt mang tính ổn định cao, nên cấu trúc nội bộ của âm tiết tiếng Việt rất rõ ràng Cấu trúc ổn định, rõ ràng này khiến cho việc dạy cho người học tiếng Việt tập đánh vần, ghép vần, nhận diện một âm tiết (tiếng) rất

dễ dàng

Trang 34

- 33 -

Đặc điểm cấu tạo ngữ âm của âm tiết tiếng Việt (tiếng) cũng là cơ sở để tạo nên nhạc điệu cho câu thơ, câu văn xuôi tiếng Việt Khi tạo câu, tạo lời, người Việt rất chú ý đến sự hài hòa về ngữ âm, tạo nên một sự trầm bổng, nhịp nhàng Sự phối hợp của âm đầu, vần và đặc biệt là thanh điệu của các âm tiết trong câu, làm cho câu văn êm ái là một tác dụng quan trọng về hình thức của các thành tố trong âm tiết Quan trọng hơn nữa là sự phối hợp ngữ âm (mà cụ thể là vần và nhịp) còn tạo nên một tác dụng nhất định về nghĩa trong một hoàn cảnh nhất định Những nét đặc sắc về ngữ âm của tiếng Việt, đã được người Việt không ngừng khai thác trong quá trình sử dụng Nếu khai thác được mặt này, người học tiếng Việt có thể không chỉ nói đúng mà còn nói hay nữa

1.3.2.2 Khó khăn khi học tiếng Việt

Tiếng Việt có những nét đặc thù riêng biệt, vì vậy, đây cũng là một ngôn ngữ không dễ cho các sinh viên nước ngoài muốn tìm hiểu về ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam Đối với người nước ngoài, cái khó nhất của việc học nói tiếng Việt là học phát âm đúng thanh điệu Tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ có thanh điệu Không chỉ với người nói tiếng Anh, Pháp (các ngôn ngữ không thanh điệu), việc học thanh điệu tiếng Việt đã là rất khó, mà kể cả ngay cả đối với người nói tiếng Thái Lan (các ngôn ngữ có thanh điệu) thì việc nói đúng thanh điệu tiếng Việt, cũng gặp tương đối nhiều khó khăn Nguyên nhân nằm ở tiếng Việt có đến tận 6 thanh điệu, trong khi tiếng Thái có 5 thanh (số lượng thanh điệu gần bằng với tiếng Việt) nhưng tính chất của các thanh điệu cũng không tương đương Trong tiếng Việt khi một từ

đi với mỗi thanh điệu khác nhau thì nghĩa của từ đó đã thay đổi sang một nghĩa khác Ví dụ: từ ca /ka1/ là một danh từ chỉ cái dùng để đựng nước (cái ca), nhưng khi đi với thanh điệu sắc là cá /ka5/ thì nghĩa của từ này lại là một danh từ chỉ tên một loài vật (con cá) Chính từ những lý do này, mà một lần nữa, có thể khẳng định rằng thanh điệu thật là quan trọng!

Thứ hai, khi xét trên phương diện ngữ âm là việc ghi nhớ các yếu tố bất cập của chính tả tiếng Việt Mặc dù chữ Quốc ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ tiên tiến

Trang 35

- 34 -

nhất hiện nay, nhưng chúng ta cũng thấy rằng chữ Quốc ngữ là thứ chữ được đặt ra vào thời kì mà ngôn ngữ học chưa phát triển, đặc biệt là chưa có khoa âm vị học, cho nên nó còn có một số điểm bất hợp lí Cụ thể là:

- Không bảo đảm sự tương ứng một đối một giữa âm và chữ Ví dụ: Âm vị /k/ được ghi bằng một trong ba con chữ: c, k, q (cá, kể, quả); con chữ “g” hoặc “gh” dùng để ghi một âm vị là /ɣ/ (gà /ɣa2/, gốc /ɣok5/, ghê /ɣe1/ )

- Có nhóm hai ba con chữ dùng để ghi một âm vị đơn, như con chữ “ng” và

“ngh” đều được ghi chung một âm vị là /ŋ/

Những nhược điểm đó cũng ít nhiều gây khó khăn cho việc học tiếng Việt Trong luận văn này, chúng tôi coi lỗi phát âm tiếng Việt của người Thái Lan là tất

cả những cách phát âm sai về từng âm tiết: phụ âm đầu, phụ âm cuối, nguyên âm đơn, nguyên âm đôi, và cả thanh điệu Trong chương tiếp theo, người viết sẽ trình bày chi tiết, đồng thời đưa ra các ví dụ cụ thể về các lỗi phát âm sai tiếng Việt, mà người Thái Lan hay mắc phải

Trang 36

- 35 - Bảng 2 Lược đồ mô tả âm tiết tiếng Việt

CHƯƠNG 2: LỖI PHÁT ÂM CỦA SINH VIÊN THÁI LAN KHI HỌC TIẾNG VIỆT

2.1 Khái quát về đặc điểm ngữ âm tiếng Thái Lan và tiếng Việt

a Tiếng Thái Lan và tiếng Việt là hai ngôn ngữ có chung loại hình ngôn ngữ (type of language) là ngôn ngữ đơn lập (isolating language), đều không có biến đổi

về hình thái như các ngôn ngữ biến hình như: tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Ả-rập… Ngoài ra, cả hai ngôn ngữ này đều là các ngôn ngữ đơn âm tiết tính triệt để và có thanh điệu

Ví dụ: คุณช่วยอะไรฉันหน่อยได้ไหมคะ?

/Khun chuay arai chẳn noi dai máy khá?/

Nghĩa tiếng Việt: Phiền bạn giúp tôi một chút được không?

b Âm tiết (syllable) tiếng Thái Lan cũng có một cấu trúc chặt chẽ như trong tiếng Việt Đó là cấu trúc được tạo thành bởi các phụ âm và nguyên âm kèm theo thanh điệu Trong đó, các nguyên âm (vowel) đóng một vai trò vô cùng quan trọng

và không thể thiếu trong âm tiết tiếng Thái Lan Các phụ âm (consonant) vừa có thể mang vai trò của một phụ âm đầu, vừa có thể mang vai trò của một phụ âm cuối còn thanh điệu có vị trí bao trùm lên toàn bộ âm tiết Có thể hình dung cấu trúc âm tiết tiếng Thái Lan được Nguyễn Tương Lai (2007) mô tả như sau [13, tr 93]:

Thanh điệu

Bảng 1 Lược đồ mô tả âm tiết tiếng Thái Lan Còn trong tiếng Việt, mô hình âm tiết tiếng Việt được Đoàn Thiện Thuật (1976) mô tả theo lược đồ sau [20, tr 83]:

Thanh điệu

Trang 37

- 36 -

c Như đã nói ở trên, với đặc trưng là ngôn ngữ đơn âm tiết tính nên vai trò của âm tiết tiếng Thái là vô cùng quan trọng và đặc biệt cũng giống như tiếng Việt Tuy nhiên, tiếng Thái Lan lại chịu ảnh hưởng nhiều bởi tiếng Pali, Sanskrit (vốn là các ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ biến hình) và tiếng Khơ-me (vốn là ngôn ngữ đa âm tiết) Vì vậy mà trong âm tiết Thái Lan cũng xuất hiện một số hiện tượng gần với hiện tượng nối âm Ví dụ như trong từ “con ve sầu”: จักจัน (nếu đọc theo chữ viết sẽ đọc là [chặk chằn] nhưng đọc đúng thì phải là [chặk ka chằn] Cụ thể hơn, tức là âm cuối [-k] của âm tiết đầu tiên phải đọc nối liền với nguyên âm [a] của âm tiết thứ hai, tạo thành một âm lướt [ka] nối liền giữa hai âm tiết

d Sự giống nhau về mô hình cấu trúc và kiểu các thành tố cấu tạo âm tiết giữa hai ngôn ngữ này cũng rất thuận lợi trong việc phân xuất các đại lượng ngữ âm khác nhau trong cấu tạo âm tiết Cả hai ngôn ngữ này, đều có thể dễ dàng phân xuất

ra các yếu tố âm vị học rất rõ ràng như: thanh điệu, âm đầu và vần Trong đó thanh điệu là một âm vị siêu đoạn tính và là một đại lượng tương đối độc lập, bao trùm cả

âm tiết Về các yếu tố ngữ âm trong cấu trúc vần của tiếng Thái Lan, có thể chia thành hai bộ phận cơ bản là: âm chính (âm gốc tiếng Thái) và âm cuối Tuy nhiên, riêng trong phần vần của âm tiết tiếng Việt, còn có thể phân xuất ra một yếu tố âm thanh có mặt trong khá nhiều âm tiết, gọi là âm đệm Âm đệm có thể được coi là bước trung chuyển từ âm đầu sang phần vần của âm tiết, nhưng không thể coi đó như là một đơn vị ngữ âm đoạn tính nằm sau âm đầu và trước phần vần trong âm tiết tiếng Việt [2]

e Giống như tiếng Việt, tiếng Thái Lan cũng là một ngôn ngữ có nhiều thanh điệu (tone) và mang vai trò trong việc khu biệt các nghĩa của từ Xét trên phương diện âm vị học thì tiếng Thái Lan có tất cả 5 thanh điệu, được đặt tên như sau: Thanh “Xả-măn”, Thanh “Ệk”, Thanh “Thô”, Thanh “Tri” và Thanh “Chặt-ta-wa” Các thanh điệu tiếng này được Nguyễn Tương Lai, khu biệt như sau [13, tr 83]:

- Thanh Xả-măn là thanh trung, bằng phẳng, không đổi hướng, không tắc thanh quản

Trang 38

- 37 -

- Thanh Ệk là thanh thấp, bằng phẳng, không đổi hướng, không tắc thanh quản

- Thanh Thô là thanh cao, không bằng phẳng, đổi hướng, có tắc thanh quản

- Thanh Tri là thanh cao, bằng phẳng, không đổi hướng, không tắc thanh quản

- Thanh Chặt-ta-wa là thanh thấp, không bằng phẳng, đổi hướng, có tắc thanh quản

Như vậy, hai tiêu chí rất quan trọng và không thể thiếu được trong việc tham gia khu biệt các thanh điệu đó là cao độ và đường nét Còn tiêu chí tắc thanh quản chỉ là tiêu chí chất giọng và có tính chất bổ sung

Tuy nhiên, xét về mặt ngữ âm, thanh điệu tiếng Thái Lan còn có hai biến thể đặc biệt khác đó là thanh Ệk biến thể và thanh Tri biến thể Hai thanh điệu biến thể này chỉ xuất hiện ở bối cảnh đi cùng với các phụ âm cuối /p/, /t/, /k/ và /Ɂ/ Về cấu

âm, hai thanh này được cấu âm chỉ bằng khoảng 3/4 trường độ của thanh Ệk bình thường và thanh Tri bình thường Đồng thời chúng có sự thay đổi về chất giọng, từ chỗ hai thanh Ệk bình thường và thanh Tri bình thường, không có yếu tố tắc thanh quản chuyển sang mang yếu tố thanh quản, do có sự ngừng ngắt đột ngột nên đã có hiện tượng tắc thanh hầu mạnh ở cuối âm tiết Hai thanh điệu biến được Nguyễn Tương Lai, mô tả như sau [13, tr 88, 89]:

- Thanh Ệk biến thể có đường nét cấu âm ở nửa thời gian đầu trùng với thanh

Ệk bình thường nhưng sau đó đi chúc xuống và ngừng đột ngột ở cao độ thấp Đặc điểm ngữ âm học của thanh này tương tự với thanh nặng của tiếng Việt

- Còn thanh Tri biến thể có đường nét cấu âm ở nửa thời gian đầu trùng với thanh Tri bình thường, nhưng sau đó đi vút lên trên và ngừng đột ngột ở cao độ cao

Biểu đồ mô tả thanh điệu tiếng Thái Lan được thể hiện một cách tổng thể như sau [13, tr 90]:

Trang 39

- 38 -

Tương tự, trong tiếng Việt có 6 thanh điệu, được đặt tên như sau: Thanh ngang, Thanh huyền, Thanh ngã, Thanh hỏi, Thanh sắc và Thanh nặng Các thanh điệu tiếng Việt được mô tả như sau [15, tr 97 - 98]:

- Thanh ngang: có đường nét bằng phẳng, đồng đều từ đầu tới cuối Đây là một thanh cao

- Thanh huyền: có đường nét bằng phẳng đi xuống thoai thoải là một thanh thấp

- Thanh ngã: có đường nét không bằng phẳng, xuất phát từ âm vực thấp, hơi

đi lên, đến giữa chừng lại đi xuống, dốc đứng trong một thời gian ngắn, sau đó lại đột ngột vút lên và kết thúc ở một cao độ lớn; đây là một thanh cao

- Thanh hỏi: có đường nét cong như một vòng cung, xuất phát từ một cao độ thấp hơn thanh huyền, rồi đi xuống dần, đến giữa chừng lại đi lên và kết thúc ở cao

độ gần bằng lúc xuất phát, cho nên đây là một thanh thấp

- Thanh sắc: bắt đầu từ một cao độ thấp hơn thanh ngang, rồi đi vút lên, kết thúc ở cao độ lớn nhất Thanh này có một biến thể gọi là thanh sắc nhập, chỉ xuất

Hình 3 Biểu đồ mô tả thanh điệu tiếng Thái Lan

Trang 40

Biểu đồ mô tả tổng hợp các thanh điệu tiếng Việt, được thể hiện theo biểu đồ sau [15, tr 99]:

Hình 4 Biểu đồ mô tả thanh điệu tiếng Việt

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w