1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách an sinh xã hội ở tỉnh quảng bình hiện nay theo tư tưởng hồ chí minh

109 81 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong tiến trình đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam hi ện nay, việc thực hiê ̣n những giá trị trong di sản tư tư ởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRƯƠNG THỊ THU HÀ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI

Ở TỈNH QUẢNG BÌNH HIỆN NAY

THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRƯƠNG THỊ THU HÀ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI

Ở TỈNH QUẢNG BÌNH HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của riêng

Những trích dẫn đều được chú thích nguồn đầy đủ và rõ ràng Tôi xin hoàn toàn

chịu trách nhiệm về những thông tin, dữ liệu đã công bố trong luận văn này./

Hà Nội, ngày tháng 1 năm 2019

Tác giả

Trương Thị Thu Hà

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cám ơn Khoa Khoa học chính trị - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Trong quá trình học tập và nghiên cứu, Khoa và Nhà trường đã cho tôi nhiều kiến thức khoa học để nâng cao trình độ của mình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thế Phúc - Người đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này Thầy đã thường xuyên động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi, tiếp thêm cho tôi nghị lực và niềm tin để cố gắng tiếp tục học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin gửi lời tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè lời biết ơn sâu sắc đã cổ vũ, khích lệ, ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Trương Thị Thu Hà

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó

khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Chương trình 135

Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững Chương trình 30a

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và pha ̣m vi nghiên cứu 10

5 Cơ sở lý luâ ̣n, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Kết cấu luận văn 11

Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 12

1.1 Một số khái niê ̣m 12

1.1.1 Chính sách an sinh xã hội 12

1.1.2 Thư ̣c hiê ̣n chính sách an sinh xã hội 15

1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiê ̣n chính sách an sinh xã hội 17

1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò chính sách an sinh xã hội và thực hiê ̣n chính sách an sinh xã h ội 17

1.2.2 Quan điểm Hồ Chi ́ Minh về nguyên tắc và phương pháp thực hiê ̣n chính sách ASXH 27

1.2.3 Quan điểm Hồ Chi ́ Minh về thự c hiê ̣n chính sách ASXH trên m ột số lĩnh vực 36

1.3 Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện chính sách an sinh xã hội 44

1.3.1 Giá trị lý luận 45

1.3.2 Giá trị thực tiễn 46

Tiểu kết chương 1 48

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG BÌNH HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 49

2.1 Khái quát về đặc điểm chung của tỉnh Quảng Bình 49

2.1.1 Điều kiê ̣n tự nhiên và kinh tế – xã hội 49

Trang 7

2.1.2 Đặc điểm về xã hội , lịch sử và văn hóa 50

2.2 Thực tra ̣ng thực hiê ̣n chính sách ASXH ở tỉnh Quảng Bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh 51

2.2.1 Trong li ̃nh vực Bảo hiểm xã hội 52

2.2.2 Trong li ̃nh vực Bảo hiểm y tế 55

2.2.3 Trong li ̃nh vực cứu trợ xã hội 57

2.2.4 Trong li ̃nh vực ưu đãi xã hội đối với người có công 60

2.2.5 Trong li ̃nh vực xóa đói giảm nghèo 63

2.3 Những kết quả đa ̣t đươ ̣c trong thực hiê ̣n chính sách ASXH ở tỉnh Quảng Bình 64

2.3.1 Như ̃ng thành tựu đạt được 64

2.3.2 Như ̃ng hạn chế, tồn tại 67

2.3.3 Nguyên nhân như ̃ng hạn chế 69

2.4 Một số giải pháp thực hiện hiệu quả chính sách an sinh xã hội ở tỉnh Quảng Bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh 72

2.4.1 Đi ̣nh hướng hoàn thiê ̣n việc thực hiê ̣n chính sách an sinh xã hội ở tỉnh Quảng Bình hiện nay 72

2.4.2 Giải pháp khắc phục hạn chế, tồn tại trong việc thư ̣c hiê ̣n chính sách an sinh xã hội ở tỉnh Quảng Bình hiê ̣n nay theo tư tư ởng Hồ Chí Minh 73

Tiểu kết chương 2 90

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 100

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam hi ện nay, việc thực hiê ̣n những giá trị trong di sản tư tư ởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách ASXH nói riêng là rất cần thiết và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Bởi, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách ASXH mang một ý nghĩa cao c ả đó

là tất cả vì con người và chăm lo hạnh phúc con người Xuất phát từ triết lý nhân sinh, cho con người, vì con người, với tầm nhìn xa trông rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cống hiến trọn đời vì độc lập, tự do hạnh phúc của nhân dân, vì an sinh xã hội Trong bao nhiêu công việc bộn bề Bác dặn lại trước lúc đi xa thì đầu tiên là công việc đối với con người, từ các bà mẹ liệt sĩ, các gia đình thương binh…đến nạn nhân của xã hội cũ… đều được Bác quan tâm chu đáo Năm nay, đất nước ta kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Hồ Chí Minh (1969 - 2019), thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, các cấp, các ngành, các địa phương đang có những hoạt động, việc làm thiết thực học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Thực hiện chính sách ASXH cho người dân là quan điểm xuyên suốt, là cơ sở

để Đảng và Nhà nước hoạch định các chính sách trong những năm qua Đồng thời, đây là cơ sở quan trọng cho các địa phương triển khai thực hiện tốt ASXH cho người dân trong thực tiễn Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, với những thành tựu đạt được trên nhiều lĩnh vực đã làm thay đổi diện mạo của các địa phương, góp phần đưa vị thế Việt Nam lên tầm cao mới trong quan hệ quốc tế Cùng với quá trình đẩy mạnh tăng trưởng, phát triển kinh tế, các chương trình xóa đói giảm nghèo, trợ giúp những đối tượng yếu thế trong xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động, đã được triển khai mạnh mẽ trên toàn quốc Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy xã hội bộc lộ một số vấn đề nảy sinh: công tác xóa đói, giảm nghèo chưa thật sự bền vững, đời sống nhân dân chưa thực sự được nâng cao Vì thế, đây

là bài toán cần phải được giải quyết cho các địa phương trong cả nước với bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay

Trang 9

Tỉnh Quảng Bình là mô ̣t trong những tỉnh nghèo của cả nước với khí hâ ̣u khắc nghiê ̣t, cô ̣ng với hâ ̣u quả của chiến tranh tàn phá nă ̣ng nề Trong thời gian qua , Đảng bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình đã có nhiều nổ lực trong việc thực hiện chính sách ASXH cho người dân , đă ̣c biê ̣t là những đối tượng dễ bi ̣ tổn thương trong xã hô ̣i và đã đa ̣t được những k ết quả tích cực Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn, tồn ta ̣i phải tiếp tu ̣c xem xét , đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm để có định hướng và những giải pháp cụ thể trong thời gian tới để tạo điều kiện ổn định cuộc sống, tăng cường niềm tin cho người dân, đồng thời là cơ sở quan trọng trong việc giữ gìn ổn định chính trị, an ninh quốc phòng

Do đó, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách ASXH ở tỉnh Quảng Bình là việc làm cần thiết Đảng bộ và UBND tỉnh Quảng Bình cần xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu để khắc phục những tồn tại, hạn chế, là động lực để phát triển bền vững trong thời gian tới Hiện nay, nghiên cứu về lĩnh vực ASXH đã có nhiều công trình, bài báo, bài viết nghiên cứu về thực hiện chính sách ASXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh Tuy nhiên, ở tỉnh Quảng Bình chưa

đề cập đến vấn đề này Từ yêu cầu đó , tôi quyết định chọn đề tài: “Thực hiện chính

sách an sinh xã hội ở tỉnh Quảng Bình hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” để làm

đề tài Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh ho ̣c

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

An sinh xã hội là một vấn đề mới của Việt Nam, là mô ̣t trong những vấn đề quan tro ̣ng trong chiến lược phát triển của đất nước Vì vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực an sinh xã hội và được luận giải ở nhiều góc độ khác nhau

Có thể khái quát hệ thống công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, để giúp cho tác giả tránh sự trùng lặp ở góc độ tiếp cận

2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về lĩnh vực an sinh xã hội

Trong công trình “Xây dựng và hoàn thiê ̣n hê ̣ thống chính sách an sinh xã hội

ở Việt Nam” của Mai Ngọc Cường do Nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản năm

2009 Đây là mô ̣t trong những công trì nh đầu tiên ở Viê ̣t Nam đi sâu nghiên cứu về vấn đề ASXH trên quy mô toàn diê ̣n và rô ̣ng lớn Tác giả đã cung cấp một cách nhìn tổng quát về khái niệm , cấu trúc , nô ̣i dung của ASXH Chẳng ha ̣n , về khái

Trang 10

niê ̣m ASXH, tác giả cho rằng: ASXH là mô ̣t khái niê ̣m mở, có thể tiếp cận phạm trù này dưới hai góc độ theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rô ̣ng : ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được hưởng bình an , an ninh và an toàn

và an khang trong xã hô ̣i; Theo nghĩa he ̣p: ASXH là sự bảo đảm thu nhâ ̣p và mô ̣t số điều kiê ̣n thiết yếu cho cá nhân , gia đình và cả cô ̣ng đồng khi ho ̣ bi ̣ giảm hoă ̣c mất thu nhâ ̣p, mất khả năng lao đô ̣ng hoă ̣c mất viê ̣c làm ; cho những n gười già cô đơn , trẻ em mồ côi , người tàn tâ ̣t, những người yếu thế , người bi ̣ thiên tai di ̣ch ho ̣a Tác giả Mai Ngọc Cường ủng hộ cách tiếp cận theo nghĩa hẹp , vì theo tác giả , tiếp câ ̣n theo nghĩa he ̣p thì hợp với cách tiếp câ ̣n của Tổ chức Lao đô ̣ng quốc tế (ILO) Với kết cấu 3 chương, cuốn sách đã có cái nhìn tổng quát , đa diê ̣n về hê ̣ thống chính sách ASXH ở Việt Nam trong thời gian qua Sách cũng cấp nhiều số liệu và được phân tích că ̣n kẽ , đă ̣c biê ̣t đã đề xuất được hướng giải pháp nhằm hoàn thiê ̣n hê ̣ thống chính sách ASXH ở nước ta hiê ̣n nay

Công trình “An sinh xã hội ở Viê ̣t Nam hướng tới 2020” của tác giả Vũ Văn

Phúc chủ biên do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2012, đã tâ ̣p hợp các bài viết của các nhà quản lý , các chuyên gia nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực liên quan đến vấn đề ASXH Mỗi bài viết được tiếp câ ̣n từ các khía ca ̣nh khác nhau về chủ đề ASXH, nhưng đều khẳng đi ̣nh hê ̣ thống ASXH ở nước ta hướng tới mu ̣c tiêu góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân , bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước

Tác giả Lê Quốc Lý với công trình “Chính sách an sinh xã hội thực trạng và

giải pháp” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản 2014 gồm ba chương đươ ̣c

biên soa ̣n trên cơ sở các tư liê ̣u nghiên cứu , khảo sát, tổng kết thực tiễn viê ̣c thực hiê ̣n chính sách ASXH ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay Các tác giả phân tích giới thiệu quá trình hình thành khái niệm ASXH Theo tác giả khái quát thì đó là sự bảo đảm thu nhâ ̣p và đời sống cho các công nhân trong các trường hợp ho ̣ gă ̣p phải rủi ro hay khó khăn tro ng cuô ̣c sống , với phương thức hoa ̣t đô ̣ng là thông qua các biê ̣n pháp công cô ̣ng, nhằm ta ̣o ra sự “an sinh” cho mo ̣i thành viên trong xã hô ̣i Đồng thời tác giả nêu mục tiêu , quan điểm và giải pháp thực hiê ̣n hiê ̣u quả chính sách an sinh xã

hô ̣i ở Viê ̣t Nam đến năm 2020

Trang 11

Tác giả Nguyễn Văn Chiều trong công trình “Chính sách an sinh xã hội và vai

trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” do

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2014 Cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách ASXH; vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH; kinh nghiệm thực hiện chính sách ASXH của một số nước trên thế giới và thực trạng chính sách ASXH ở Việt Nam trong gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, đề xuất những phương hướng và giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay

Trong công trình “Chiến lươ ̣c an sinh xã hội 2011 – 2020” của Bô ̣ Lao đô ̣ng –

Thương binh và Xã hô ̣i xuất bản năm 2010 đã chỉ ra rằng , hê ̣ thống ASXH thời kỳ

2011 - 2020 gồm 3 tầng lướ i có khả năng hỗ trơ ̣ lẫn nhau hướng tới mu ̣c tiêu bảo đảm mức sống tối thiểu cho mo ̣i người dân , không để cho người dân bi ̣ bần cùng, bị

gạt ra bên lề xã hội gồm : Lưới thứ nhất: Phòng ngừa rủi ro, bao gồm chính sách hỗ

trơ ̣ người dân có viê ̣c làm, tạo thu nhập và tham gia thị trường lao động để chủ động phòng ngừa rủi ro về đời sống, sức khoẻ, sản xuất kinh doanh do biến động của môi

trường tự nhiên ; Lưới thứ hai : Giảm thiểu rủi ro , bao gồm nhóm chính sách bảo

hiểm xã hô ̣i , bảo hiểm y tế , bảo hiểm nông nghiệp để bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các biến cố trong đời sống , sứ c khoẻ, sản xuất kinh doanh và

môi trường tự nhiên ; Lưới thứ ba: Khắc phục rủi ro , bao gồm nhóm chính sách trợ

giúp xã hội , xoá đói giảm nghèo , tăng cường cơ hô ̣i tiếp câ ̣n các dịch vụ xã hội cơ bản để hỗ trợ người dân khắc phục các rủi ro không lường trước được hoặc vượt qua khả năng kiểm soát do các biến cố trong đời sống , sứ c khoẻ , sản xuất , kinh doanh và môi trường tự nhiên, bảo đảm điều kiê ̣n sống tối thiểu của người dân

Công trình “Thuâ ̣t ngữ an sinh xã hội Viê ̣t Nam " của Viện khoa họ c và Lao

đô ̣ng xã hô ̣i phối hợp với Dự án Hỗ trợ giảm nghèo ở Viê ̣t Nam , do Tổ chức hợp tác quốc tế Đức thực hiê ̣n dưới sự ủy quyền của Bô ̣ hợp tác kinh tế và phát triển Đức xây dựng , xuất bản 2011 Với gần 200 thuâ ̣t ngữ ASXH sắp xếp theo thứ tự ABC bằng tiếng Viê ̣t và bằng song ngữ Anh - Viê ̣t, cuốn sách không chỉ đem la ̣i sự thuâ ̣n tiê ̣n trong tra cứu mà còn giúp đô ̣c giả có mô ̣t cái nhìn tổng quát về mối liên hê ̣ giữa

Trang 12

các trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam cùng các chương trình , chính sách có liên quan thông qua sơ đồ về hệ thống an sinh xã hội

Đề tài khoa ho ̣c cấp Bô ̣ "Đảm bảo an sinh xã hộ i - Đi ̣nh hướng mô hình và

giải pháp", do Đă ̣ng Nguyên Anh chủ biên đã phân tích khái niê ̣m , các chức năng ,

cấu trúc và các nguyên tắc cơ bản của hê ̣ thống an sinh xã hô ̣i , tạo cơ sở lý luâ ̣n cho

đi ̣nh hướng mô hình và giải pháp ASXH ở Viê ̣t Nam Đề tài làm rõ những đă ̣c điểm chung và nét đă ̣c thù của từng mô hình, từ đó có thể gợi mở cho Viê ̣t Nam trong xây dựng hệ thống ASXH

Đề tài cấp Nhà nước: “Cơ sở khoa học của viê ̣c xây dựng sàn an sinh xã hội ở

Viê ̣t Nam giai đoạn 2011 – 2020”, mã số KX 02.07.11-15, do Viê ̣n Khoa ho ̣c Lao

đô ̣ng và Xã hô ̣i thực hiê ̣n , đã phân tích và thống nhất về cơ sở khoa ho ̣c của viê ̣c xây dựng sàn AS XH, các chính sách trong sàn ASXH Đây là cơ sở quan tro ̣ng góp phần xây dựng và hoàn thiê ̣n hê ̣ thống lý luâ ̣n về ASXH , vai trò của ASXH ở Viê ̣t Nam trong những năm tiếp theo

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Bình với công trìn h “Hoàn thiện an sinh

xã hội tại thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình” đã đánh giá thực tra ̣ng của chính

sách ASXH tại thành phố Đồng Hới như: Chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế; Cứu trợ xã hô ̣i ; Ưu đãi xã hô ̣i ; Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm mới; Chính sách ưu đãi người có công và các chính sách hỗ trợ , cứu trợ khác Sau khi phân tích đánh giá thực tra ̣ng tác giả đã tìm ra nguyên nhân và những ha ̣n chế cần k hắc phu ̣c ; từ đó , đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện ASXH tại thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình

Tác giả Mai Ngọc Anh với công trình “An sinh xã hội đối với nông dân trong

điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” gồm ba chương đã làm sáng rõ: Cơ sở lý

luận và thực tiễn của việc hoàn thiện hệ thống an sinh đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường; Tổng kết kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân một số nước trên thế giới, rút ra kinh nghiệm để vận dụng xây dựng hệ thống an sinh ở nước ta; Khái quát thực trạng hệ thống an sinh ở nước

ta, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của hệ thống ASXH đối với nông dân, đưa ra các biện pháp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân ở nước ta

Trang 13

Công trình “Chính sách an sinh xã hội và vai trò của Nhà nước trong đảm bảo

an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Chiều Trên

cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chính sách ASXH, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam Luận văn đã tập trung nghiên cứu nhằm khái quát hóa những nội dung cơ bản về ASXH, vai trò của Nhà nước trong thực hiện ASXH ở Việt Nam Đồng thời, tác giả đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm tăng cường vai trò của Nhà nước trong đảm bảo an sinh cho thời gian tới

Tác giả Lê Anh với công trình “Thực thi chính sách an sinh xã hội ở thành

phố Đà Nẵng hiê ̣n nay - Thực trạng và giải pháp” đã cung cấp mô ̣t cách nhìn về

thực thi ch ính sách trong chu trình chính sách công về phương diện thực thi chính sách và đánh giá kết quả Luâ ̣n án đã tâ ̣p trung phân tích , đánh giá về viê ̣c thực thi chính sách ASXH ở các nội dung cơ bản có tính "ưu trội" ở thành p hố Đà Nẵng : Chính sách ưu đãi, chính sách bảo trợ xã hội, chính sách xóa đói, giảm nghèo, chính sách bảo hiểm xã hội , bảo hiểm y tế Tác giả đã đánh giá một cách khách quan những kết quả đa ̣t được và những tồn ta ̣i trong viê ̣c thực thi chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiê ̣n chính sách ASXH

Trong thời gian qua, đã có rất nhiều bài báo, bài viết được đăng trên các tạp

chí khoa học trong nước và ngoài nước tập trung nghiên cứu về ASXH ; Chính sách bảo đảm ASXH ở Việt Nam

Tác giả Nguyễn Văn Chiều có bài viết “ Quan điểm của Đảng Cộng sản Viê ̣t

Nam về thực hiê ̣n an sinh xã hội trong thời kỳ đổi mới ” đăng trên Tạp chí Triết ho ̣c

Tác giả đã phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện ASXH qua các kỳ Đa ̣i hô ̣i từ 1986 đến nay trên ba phương diện : Tầm quan tro ̣ng của chính sách ASXH; Mục tiêu, nhiê ̣m vu ̣ thực hiê ̣n ASXH; phương thức thực hiện mục tiêu đảm bảo ASXH

Bài viết “Đảm bảo an sinh xã hội cho nông dân: những rào cản và thách thức

từ góc nhìn chính sách” do tác giả Nguyễn Hoài Sơn đăng trên Tạp chí Xã hội học,

số 2 (122), 2013 Tác giả đã nêu rõ những rào cản chính sách đối với việc thực hiện

Trang 14

chính sách ASXH đối với nông dân, đối tượng yếu thế và bị tổn thương nhiều nhất trong cuộc chiến kinh tế thị trường Thông qua đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp

để tạo ra một mang lưới an toàn nhằm tăng khả năng ứng phó trước các rủi ro và tạo tiền đề tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, đào tạo và y tế Tác giả Nguyễn Trọng Đàm - Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã

hội với bài viết “Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát

triển kinh tế xã hội” (2015), đã nêu rõ quan điểm, chủ trương của Đảng ta về

ASXH Tầm quan trọng của ASXH, thực hiện tốt chính sách ASXH là điều kiện để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ của dân, do dân, vì dân Đồng thời, chỉ rõ định hướng hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH trong thời gian tới

Bài viết “An sinh xã hội ở Việt Nam sau 30 năm đổi mới và định hướng đến

năm 2030” do tác giả Đặng Nguyên Anh trên Tạp chí Xã hội học, số 3 (130), 2015

Tác giả đã phân tích đặc điểm và thực trạng ASXH ở Việt Nam sau 30 năm đổi mới Việc xây dựng và thực hiện ASXH ở Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng như tạo thêm việc làm, đảm bảo thu nhập tối thiểu cho người dân, thành tích xóa đói giảm nghèo được công nhận, Nhờ vậy, tỉ lệ nghèo giảm nhanh, đối tượng tham gia và thụ hưởng các chính sách ASXH ngày càng mở rộng; năng lực người dân phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro để ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng tăng lên Bên cạnh những thành tựu đạt được , tác giả cũng chỉ rõ những hạn chế của công tác ASXH chưa thực hiện được, những khó khăn và thách thức mà Việt Nam gặp phải trong quá trình xây dựng và thực hiện công tác ASXH Điều quan trọng mà bài viết đề cập đến là định hướng ASXH đến năm 2030 trước sự thay đổi và ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường

Ngoài ra , còn có các bài viết của các tác giả như : Lê Thị Hoài Thu với bài

viết“Một số vấn đề lý luận về an sinh xã hội”, “Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội

trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường” của tác giả Nguyễn Hữu Dũng; Tác

giả Nguyễn Văn Tuân với bài “An sinh xã hội ở Việt Nam sau 30 năm đổi mới; Bài

viết“Nổ lực phấn đấu thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội” của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân; Bài viết “Vai trò của chính sách BHXH, BHYT đối với an sinh

xã hội của đất nước” của tác giả Nguyễn Thanh Bình,…

Trang 15

2.2 Nhóm công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách an sinh xã hội

Công trình của tác giả Lương Tuấn Anh “Tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động

an sinh xã hội”, đã trình bày tương đối có hệ thống những nội dung cơ bản của tư

tưởng Hồ Chí Minh về (khái niệm, nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển của

tư tưởng Hồ Chí Minh); Làm rõ khái niệm cấu trúc của ASXH, những đặc điểm về hoạt động ASXH ở nước ta Với kết cấu hai chương, 5 tiết: Chương 1: Nghiên cứu về nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh và an sinh xã hội ; Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về hoa ̣t động ASXH chia làm hai giai đoạn (trước và sau 1995) Điểm mấu chốt, dẫn đến hiệu quả của công trình, trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được, chưa đạt được trên những trụ cột của hệ thống ASXH, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị về sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ASXH trong thời gian tới

Tác giả Vũ Thị Thúy với công trình“Vâ ̣n dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội và thực hiê ̣n an sinh xã hội ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay " Tác giả đã trình bày

khái quát những khái niệm cơ bản liên quan đến ASXH và nội dung cơ bản của hệ thống ASXH trong t ư tưởng Hồ Chí Minh Đặc biệt, tác giả cũng đã làm rõ thực trạng thực hiê ̣n ASXH ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay và đề xuất mô ̣t số giải pháp nhằm nâng cao viê ̣c thực hiê ̣n ASXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Bài viết “Những quan điểm lớn của Hồ Chí Minh về an sinh xã hội” trên trang

thông tin Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam đã chỉ rõ nguồn gốc và mục tiêu của chính sách ASXH là vì con người, đó cũng là mục tiêu xuyên suốt toàn bộ cuộc đời hoạt động của Người Chính sách ASXH phải chăm lo cho các tầng lớp nhân dân từ nông dân, công dân, thương nhân, công chức, binh lính đến thanh niên, trẻ em, phụ

nữ và những người yếu thế trong xã hội Bài viết còn đề cập đến mối quan hệ giữa chính sách ASXH và các chính sách khác như kinh tế, văn hóa,

Tác giả Chu Thi ̣ Diễm Hương - Trường Chính tri ̣ Tuyên Quang có bài viết với

nô ̣i dung “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề an sinh xã hội” đăng trên cổng thông

tin điê ̣n tử tỉnh Tuyên Quang Tác giả đã làm rõ mục tiêu chính sách ASXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề con người và chăm lo hạnh phúc vì con người Đảng

và Chính phủ cần phải có trách nhiệm chăm lo đến đến đời sống vật chất và tinh

Trang 16

thần của nhân dân Nhâ ̣n thức của Đảng và Nhà nước trong viê ̣c xây dựng và hoạch

đi ̣nh chính sách ASXH theo tư tưởng của Hồ Chí Minh

Bài viết Phạm Xuân Nam với nội dung “ Quan điểm Hồ Chí Minh và Đảng

Cộng sản Viê ̣t Nam về hê ̣ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ” trên Tạp chí Triết

học số 5 (276), tháng 5, 2014 Bài viết đã làm rõ nội dung quan điểm của Hồ Chí Minh về hê ̣ thống ASXH và phúc lợi xã hô ̣i là bô ̣ phâ ̣n không thể tách rời với hê ̣ quan điểm tổng quát của Hồ Chí Minh về con đường và mu ̣c tiêu của các h ma ̣ng Viê ̣t Nam trong thời đa ̣i ngày nay Luâ ̣n giải về hê ̣ thống ASXH ở ba khía ca ̣nh đó là: Phòng ngừa rủi ro thông qua việc bảo đảm những nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hô ̣i của người dân Quan điểm của Hồ Chí Minh về viê ̣c xã hô ̣i hóa trợ giúp

xã hội đối với từng giai cấp trong xã hội nhằm từng bước giảm thiểu rủi ro , khắc phục rủi ro Bài viết còn đề cập đến nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam (từ khi nước ta tiến hành công cuô ̣ c đổi mới đến Đa ̣i hô ̣i đa ̣i biểu toàn quốc lần thứ XI ) trong viê ̣c thực hiê ̣n chính sách ASXH và đề ra những nhâ ̣n đi ̣nh trong viê ̣c xây dựng hê ̣ thống ASXH toàn diê ̣n và vững ma ̣nh

Ngoài ra, có thể kể đến các công trình như “Hồ Chí Minh về vấn đề dân sinh” của Nguyễn Đình Hoà trên trang Tạp chí triết học , số 1 (212), 2009; “Tư tưởng Hồ

Chí Minh về công bằng và bình đẳng xã hội” của Nguyễn Minh Hoà (Tạp chí triết

học, số 10 (161), 2004; “Quan điể m Hồ Chí Minh về chính sách xã hội” của Nguyễn Thi ̣ Kim Dung

Như vâ ̣y, chúng ta có thể thấy rằng ASXH là một nội dung lớn được rất nhiều các học giả quan tâm và tiếp cận trên nhiều chiều khác nhau Các công trình nghiên cứu chủ yếu lý giải về nô ̣i dung chính sách ASXH trong hê ̣ thống chính sách xã hô ̣i

ở nước ta Tuy nhiên, rất ít đề tài, công trình nghiên cứu, chuyên đề, nghiên cứu mô ̣t cách toàn diện , đầy đủ về tư tưởng Hồ Chí Minh về ASXH Đa số các nghiên cứu chủ yếu dưới dạng bài viết ngắn hoặc chỉ đề cập một góc nhỏ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về ASXH Đặc biệt, chưa có công trình nào đi sâu nghiên việc vận dụng thực hiện chính sách ASXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách ASXH c ần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu để thấy được những giá trị tư tưởng của Người đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Trang 17

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ tư tưởng Hồ C hí Minh về chính sách ASXH mang bản chất khoa học , cách mạng và nhân văn

Sự vâ ̣n du ̣ng sáng ta ̣o của tỉnh Quảng Bình hiê ̣n nay trong thực hiê ̣n chính sách ASXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh

3.2 Nhiê ̣m vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất: Làm rõ lý luận về thực hiện chính sách ASXH , nội dung, nguyên tắc

thực hiện, phương pháp thực hiê ̣n chính sách ASXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ hai: Tổng hợp kết quả đa ̣ t được và đánh giá viê ̣c thực hiê ̣n chính sách ASXH ở tỉnh Quảng Bình trong thời gian từ 2010 đến 2017

Thứ ba: Trên cơ sở thực tra ̣ng , đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm

nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện chính sách ASXH ở tỉnh Quảng Bình hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Di sản của Hồ Chí Minh về chính sách xã hô ̣i

Chủ trương , đường lối của Tỉnh ủy tỉnh Quảng Bình trong viê ̣c thực hiê ̣n chính sách ASXH

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Quan điểm, nô ̣i dung của Hồ Chí Minh về chính sách ASXH

Nghiên cứu thực trạng thực hiê ̣n chính sách ASXH ở tỉnh Quảng Bình giai đoạn từ 2010 đến 2017

5 Cơ sơ ̉ lý luâ ̣n, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sơ ̉ lý luận, thực tiễn

Luâ ̣n văn dựa trên cơ s ở nền tảng các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, của Đảng Cộng sản, chủ trương, đường lối của tỉnh Quảng Bình v ề thực hiê ̣n chính sách ASXH

Trang 18

5.2 Phương pha ́ p nghiên cứu

Tác giả sử du ̣ng phương pháp luâ ̣n của chủ nghĩa duy vâ ̣t biê ̣n chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử ; ngoài ra, tác giả còn kết hợp các phương pháp khác như phân tích, tổng hơ ̣p, so sánh, thống kê, logic kết hợp li ̣ch sử, tổng kết thực tiễn

6 Đo ́ ng góp của luận văn

Thứ nhất, làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện chính sách ASXH đ ể khẳng định tính toàn diện và sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về ASXH

Thứ hai, làm rõ những thành công, hạn chế và lý giải nguyên nhân dẫn tới hạn

chế yếu kém trong quá trình thực hiê ̣n chính sách ASXH ở tỉnh Quảng Bình, từ đó

đề xuất một số phương hướng, giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả viê ̣c thực hiê ̣n chính sách ASXH

Thứ ba, kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho tỉnh Quảng

Bình trong quá trình thực hiê ̣n chính sách ASX H; phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu giảng dạy, các môn khoa học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

7 Kết cấu luâ ̣n văn

Ngoài phần mở đầu , kết luâ ̣n và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo, luâ ̣n văn gồm 2 chương, 7 tiết

Trang 19

Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1.1 Mô ̣t số khái niê ̣m

1.1.1 Chính sách an sinh xã hội

1.1.1.1 Khái niệm an sinh xã hô ̣i

Khái niệm ASXH ra đời từ cuối thế kỷ XIX ở các nước công nghiệp phát triển Hiện nay, ASXH đã phát triển rộng khắp toàn cầu, được các quốc gia trên thế giới tiếp cận và từng bước tiến hành thực hiện một cách phù hợp theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội Vì vậy, khái niệm ASXH có nhiều cách hiểu khác nhau dưới nhiều phương diện tiếp cận, nhìn nhận, đánh giá khác nhau

Theo quan niệm của Ngân hàng thế giới (WB) ASXH là biê ̣n pháp công cô ̣ng nhằm giúp cho các cá nhân , hô ̣ gia đình và cô ̣ng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác đô ̣ng đến thu nhâ ̣p nhằm giảm tính dễ bi ̣ tổn thương và những bấp bênh thu nhâ ̣p Quan niê ̣m này nhấn ma ̣nh đến các giải pháp kiềm chế nguy cơ làm giảm thu nhâ ̣p của cá nhân, gia đình và cô ̣ng đồng

Theo tổ chức Lao đô ̣ng quốc tế (ILO) ASXH là sự cung cấp phúc lợi cho các

hô ̣ gia đình và các cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoă ̣c tâ ̣p thể nhằm ngăn chă ̣n sự suy giảm mức sống hoă ̣c cải thiê ̣n mức sống thấp Quan niệm này nhấ n mạnh khía cạnh phân phối phúc lợi , bảo hiểm và mở rộng việc làm cho những đối tươ ̣ng ở khu vực kinh tế không chính thức

Ngân hàng Phát triển Châu Á (AĐB) cũng quan niệm ASXH là “mô ̣t hê ̣ thống chính sách công nhằm giảm nh ẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các

hô ̣ gia đình và các cá nhân Quan niê ̣m này nhấn ma ̣nh vai trò của Nhà nước trong viê ̣c đảm bảo ASXH, giảm nhẹ những tác động những bất lợi đến các cá nhân và hộ gia đình” [22, tr.18]

Ở Việt Nam, mặc dù ASXH là một vấn đề mới mẻ nhưng cũng đã dành được

sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này

Theo tác giả Hoàng Chí Bảo: “ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người,

từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã

Trang 20

hội ASXH là những bảo đảm cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách” [8, tr 18]

Trong Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTƯ khóa XI khái niệm ASXH là “Hệ thống các chính sách

và chương trình do Nhà nước và các đối tác xã hội thực hiện nhằm bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, sức khỏe và các phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực của cá nhân,

hộ gia đình và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế dẫn đến giảm hoặc bị mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản” [19, tr.2] Trong cuốn Tìm hiểu mô ̣t số thuâ ̣t ngữ Văn kiê ̣n Đa ̣i hô ̣i Đa ̣i biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng thì ASXH được quan niệm là “Một hệ thống chính sá ch và giải pháp nhằm bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác

đô ̣ng bất thường về kinh tế , xã hội, môi trường và không ngừng nâng cao đời sống

vâ ̣t chất và tinh thần cho nhân dân” [68, tr.18]

Như vâ ̣y, ASXH là mô ̣t lĩnh vực rô ̣ng lớn , phức ta ̣p, khó có thể đưa ra một

đi ̣nh nghĩa đáp ứng được tất cả các nô ̣i dung trong điều kiê ̣n kinh tế , xã hội, chính trị, truyền thống dân tô ̣c , tôn giáo ở mỗi nước khác nhau hoă ̣c trong cá c giai đoa ̣n lịch sử ở từng nước Dựa trên các cơ sở quan ni ệm của các nghiên cứu trên , theo tác

giả: ASXH là sự can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các biện pháp kinh tế để

hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, đảm bảo chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con ASXH được thể hiện thông qua hệ thống chính sách BHXH, BHYT, XĐGN, CTXH và ƯĐXH

Mục đích của ASXH là “tạo ra những mạng lưới bảo vệ an toàn cho mọi thành viên trong cô ̣ng đồng xã hô ̣i trước những rủi ro của cuô ̣c sống Bản chất của ASXH

là đảm bảo thu nhập và đời sống cho c ác công dân trong xã hội , vì thế nó mang tính

xã hội và nhân văn sâu sắc Đối tượng của ASXH là những thành viên trong cộng đồng trước những rủi ro trong cuô ̣c sống do những tác đô ̣ng bất thường về kinh tế ,

Trang 21

xã hội , môi trườn g - đă ̣c biê ̣t là những nhóm bi ̣ tổn thương , người nghèo , vùng nghèo, vùng dân tộc , miền núi , nông thôn Phương thức hoa ̣t đô ̣ng của ASXH là thông qua các chính sách , biê ̣n pháp của Nhà nước và cô ̣ng đồng xã hô ̣i trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đa ̣o, trụ cô ̣t” [68, tr 18 - 19]

1.1.1.2 Khái niệm chính sách an sinh xa ̃ hội

Chính sách xã hội là “một loại hình chính sách được thể chế hóa bằng pháp luật Nhà nước, là hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng, biện pháp để giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra trong một thời gian, không gian nhất định, trước hết

là những vấn đề xã hội liên quan đến đời sống con người theo nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm góp phần ổn định và phát triển đất nước Chính sách xã hội

cơ bản gồm các chính sách dân số, chính sách gia đình, chính sách sức khỏe, chính sách giai cấp, chính sách an sinh xã hội” [24, tr 18]

Ở một khía cạnh khác có thể hiểu: “Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế, khắc phục rủi ro, đảm bảo an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội [70, tr.14] Tương tự như vậy, chính sách ASXH là “những biện pháp bảo vệ của Nhà nước nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục những rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thất nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì nguyên nhân khách quan khác thông qua các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội” [27, tr 18]

Từ sự phân tích trên chúng ta có thể hiểu, chính sách ASXH là hệ thống các chính sách can thiệp của Nhà nước và sự hỗ trợ của tổ chức hay tư nhân nhằm giảm mức đô ̣ nghèo và tổn thương , nâng cao năng lực tự vê ̣ của người dân và cô ̣ng đồng trước những rủi ro hay nguy cơ giảm , mất thu nhâ ̣p, bảo đảm ổn định , phát triển và công bằng xã hô ̣i

Chính sách ASXH có hai chức năng cơ b ản: Thứ nhất, đảm bảo an toàn cho mọi thành viên trong xã hội ở mức tối thiểu về thu nhập , dịch vụ y tế và xã hội để cho phép ho ̣ sống mô ̣t cuô ̣c sống xã hô ̣i có ý nghĩa Thứ hai, duy trì thu nhâ ̣p , khi các thành viên xã hô ̣i đang hoa ̣t đô ̣ng kinh tế hoă ̣c mo ̣i công dân khi nghỉ hưu , cho

Trang 22

phép họ duy trì được mức sống hiện tại trong các trường hợp thất nghiệp , ốm đau, thai sản, tuổi già, tàn tật, mà không có khả năng tạo thu nhập

Các hoạt động ASXH tập trung vào ba lĩnh vực chủ yếu: phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro trên cơ sở bốn trụ cột kinh tế là: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hô ̣i , xóa đói giảm nghèo

1.1.2 Thư ̣c hiê ̣n chính sách an sinh xã hội

1.1.2.1 Thư ̣c hiê ̣n chính sách

Thực hiê ̣n chính sách được hiểu là “quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoa ̣t đô ̣ng có tổ chức trong bô ̣ máy Nhà nước , nhằm hiê ̣n thực hóa những mu ̣c tiêu mà chính sách đề ra ; là toàn bộ quá trình hoạt

đô ̣ng của chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiê ̣n thực hóa nô ̣i dung chính sách một cách có hiệu quả” [40, tr 127]

Vì vậy, tầm quan tro ̣ng của thực hiê ̣n chính sách chính là để giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hô ̣i đă ̣t ra Nếu thiếu công đoa ̣n này thì chu trình chính sách không thể tồn ta ̣i ; nếu không có quá trình thực hiê ̣n chính sách với những kết quả thì những chủ trương , chính sách chỉ là khẩu hiệu Nếu công tác tổ chức thực hiê ̣n chính sách không tốt sẽ dẫn đến thiếu lòng tin Quá trình thực hiện chính sách sẽ góp phần hoàn chỉnh, bổ sung chính sách và hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu cuô ̣c sống

Thực hiê ̣n chính sách gồm có các bước cơ bản : “Xây dựng kế hoa ̣ch triển khai thực hiê ̣n chính sách ; Phổ biến tuyên truyền chính sách ; Phân công phối hợp chính sách; Duy trì chính sách ; Điều chỉnh chính sách ; Theo dõi, đôn đốc viê ̣c thực hiê ̣n chính sách; Đánh giá tổng kết kinh nghiê ̣m” [40, tr.131]

Như vâ ̣y, thực hiê ̣n chính sách là quá trình biến các chủ trương, chính sách của Nhà nước triển khai vào thực tiễn nhằm hiện thự c hóa các mu ̣c tiêu cu ̣ thể để đa ̣t đươ ̣c hiê ̣u quả cao nhất mà chính sách đã đề ra

1.1.2.2 Thư ̣c hiê ̣n chính sách an sinh xã hội

Thực hiê ̣n chính sách ASXH là “quá trình biến các chủ trương, phương hướng

và biện pháp liên quan đến hệ thống ASXH thành những kết quả trên thực tế thông

Trang 23

qua các hoa ̣t đô ̣ng có tổ chức trong bô ̣ máy Nhà nước và sự tham gia rô ̣ng rãi của các tổ chức, đơn vi ̣, gia đình, cá nhân và toàn xã hội , nhằm hiê ̣n thực hóa mu ̣c tiêu

mà chính sách đã đề ra Đó là quá trình triển khai hê ̣ thống chính sách ASXH vào thực tiễn bằng những công cu ̣ , bô ̣ máy của nhà nước nhằm hiê ̣n thực hóa mu ̣c tiêu phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro đối với cộng đồng dân cư ” [49, tr 44] Viê ̣c thực hiê ̣n chính sách ASXH phu ̣ thuô ̣c vào các bô ̣ phâ ̣n (cơ quan Nhà nước hoa ̣ch đi ̣nh chính sách ASXH, cơ quan chấp hành thực hiê ̣n chính sách ASXH,

cô ̣ng đồng tham gia hoa ̣t đô ̣ng ASXH , đối tượng thu ̣ hưởng chính sách ASXH ) và các bước cơ bản trong thực hiện chính sách Viê ̣c thực hiê ̣n chính sách ASXH được xem xét ở cấp đô ̣ chủ thể thực thi : Chính sách ASXH được c ấp trung ương hoạch

đi ̣nh (chính sách quốc gia ), cấp thực hiê ̣n chính sách ASXH đó là chính quyền đi ̣a phương các cấp Trên cơ sở chính sách quốc gia , chính quyền địa phương các cấp trên cơ sở điều kiê ̣n đă ̣c thù của đi ̣a phương , tiếp tu ̣c thể chế hóa chính sách quốc gia thông qua viê ̣c ban hành các quyết đi ̣nh , kế hoa ̣ch, chương trình (chương trình

đi ̣a phương) và tổ chức thực hiện để hiện thực hóa các chính sách nói trên Vì thế, trong tính tương đối, có thể coi thực hiện chính sách ASXH của một tỉnh , thành phố chỉ là một khâu trong chu trình chính sách (hoạch định, thực thi, đánh giá kết quả ) vừa có thể coi viê ̣c thực hiê ̣n đó hàm nghĩa cả chu trình chính sách (chính sách địa phương) với cả 3 bước (hoạch định, thực thi và đánh giá kết quả)

“Nhà nước là chủ thể ban hành và cũng là chủ thể đóng vai trò chủ đạo trong viê ̣c tổ chức thực hiê ̣n chính sách ASXH Nhà nước ở đây được h iểu là cơ quan có thẩm quyền trong bô ̣ máy nhà nước , bao gồm Quốc hô ̣i , Chính phủ, các Bộ, chính quyền đi ̣a phương các cấp Ngoài ra, các tổ chức ngoài nhà nước như Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính tri ̣ xã hô ̣i và c ác tổ chức xã hội (tình nguyện , thiê ̣n nguyê ̣n, từ thiê ̣n vì cô ̣ng đồng, ) và cộng đồng dân cư cũng đóng vài trò quan trọng trong góp phần hiê ̣n thực hóa các chính sách ASXH do nhà nước , chính quyền ban hành Nghĩa là Nhà nước đóng vai trò chủ đa ̣o , đồng thời huy đô ̣ng sự tham gia

rô ̣ng rãi mo ̣i tổ chức , đơn vi ̣, gia đình, cá nhân và toàn xã hội ; xây dựng hê ̣ thống ASXH đa da ̣ng , đa tầng hướng tới bao phủ toàn dân , nâng cao năng lực tự an sinh của người dân và cô ̣ng đồng” [68, tr 19]

Trang 24

Đối tượng của chính sách ASXH là “mọi người dân, kể cả những người trong đối tươ ̣ng lao đô ̣ng, người chưa đến tuổi lao đô ̣ng và hết tuổi lao đô ̣ng trong đó bao gồm đối tươ ̣ng của chính sác h xã hô ̣i là người nghèo thành thi ̣ và nông thôn , phụ nữ, trẻ em và thanh niên , người tàn tâ ̣t và dân tô ̣c thiểu số ” [22, tr 22] Trong chính

sách ASXH có hai đối tượng tham gia đó là: Thứ nhất, các đối tượng tham gia chính

sách ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng Đối tượng này là người lao động gặp rủi

ro và khó khăn do nhưng nguyên nhân ốm đau , thai sản, mất sức lao đô ̣ng , tuổi già phải đối mặt với những khó khăn do bị “mất hoặc suy giảm nghiêm trọ ng thu nhâ ̣p” Những người này phải đóng góp mô ̣t khoản tiền quỹ vào suốt thời gian làm

viê ̣c với mô ̣t tỷ lê ̣ nhất đi ̣nh Thứ hai, những đối tượng tham gia vào chương trình

ASXH theo nguyên tắc trơ ̣ giúp Theo Tổ chức Lao đô ̣ng quốc tế tại các nước phát triển, ASXH cung cấp chăm sóc y tế và trợ giúp những gia đình có na ̣n nhân là trẻ

em Đối với các nước đang phát triển , đối tượng giúp đỡ rô ̣ng rãi hơn , bao gồm : nhóm dân tộc thiểu số, những người nghèo đói liên miên, những đối tượng dễ bi ̣ tổn thương (người già cô đơn, người tàn tâ ̣t, trẻ em mồ côi), những người thiê ̣t ha ̣i trước ảnh hưởng đột xuất của th iên tai và xã hô ̣i Ở nước ta, thực hiê ̣n chính sách ASXH còn ba o gồm chính sách đối với người có công với cách ma ̣ng , gia đình liê ̣t sĩ , thương binh, bê ̣nh binh Về thực chất, đây là hình thức trợ giúp đă ̣c biê ̣t đối với các đối tươ ̣ng là na ̣n nhân của chiến tranh [22, tr 28 - 31]

Như vâ ̣y , thực hiê ̣n chính sách ASXH là quá trình hiê ̣n thực hóa các chủ trương, chính sách của các cơ quan có thẩm qu yền trong bô ̣ máy nhà nước được triển khai trong thực tiễn thông qua hê ̣ thống chính sách ASXH (BHXH, BHYT, CTXH, ƯĐXH đối với NCC, XĐGN) nhằm phòng ngừa , hạn chế rủi ro cho người dân khi gă ̣p những khó khăn của cuô ̣c sống

1.2 Nô ̣i dung tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiê ̣n chính sách an sinh xã hội

1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò chính sách an sinh xã hội và thực hiện chính sách an sinh xã hội

Cuô ̣c đời hoa ̣t đô ̣ng của Hồ Chí Minh luôn hướng tới là “đất nước được độc lập, tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [53, tr.187], mong muốn này đã trở thành một mối quan tâm trăn trở, một nỗi niềm day

Trang 25

dứt trong tâm trí của Người Để rồi từ đó trở thành những hành động cụ thể, những việc làm thiết thực và sâu xa hơn nữa là trở thành những chủ trương, chính sách, đường lối sáng suốt, đúng đắn có sức mạnh và tác dụng thần kỳ đưa sự nghiệp cách mạng, toàn thể đất nước vượt qua những thử thách cam go trong những thời điểm hiểm nghèo , vững bước tiến vào kỷ nguyên tươi sáng Đó là tư tưởng xuyên suốt đến ngày nay , phản ánh những nhu cầu tối thiểu mà mỗi người Viê ̣t Nam cần được đáp ứng Là sơ khởi, nền móng cho việc hình thành hê ̣ thống chính sách ASXH của Viê ̣t Nam sau này

Sinh thời, Hồ Chí Minh chưa đề cập trực tiếp trong các bài viết, bài phát biểu của mình về “an sinh xã hô ̣i” hay đưa ra mô ̣t khái niê ̣m , mô ̣t đi ̣nh nghĩa về “chính sách an sinh xã hội” Nhưng chúng ta đều thấy rằng , hầu hết các bài nói , bài viết và hành động của Người đều thấm đượm tư tưởng vì cuộc sống tự do , ấm no , hạnh phúc của nhân dân Đây là triết lý hành đô ̣ng trong toàn bô ̣ cuô ̣c đời đấu tranh cách mạng không mệt mỏi và cũng là điểm xuất phát hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách ASXH

Trong chương trình Viê ̣t Minh, Người đã đề ra mười chính sách xã hội đối với tầng lớp nhân dân, trong đó có chính sách trực tiếp đề câ ̣p đến ASXH:

“Công nhân ngày làm viê ̣c 8 giờ Đi ̣nh tiền lương tối thiểu Cứu tế thất nghiê ̣p

Xã hội bảo hiểm ( ) Công nhân già có l ương hưu trí Nông dân: Ai cũng có ruô ̣ng cày Giảm địa tô Cứu tế nông dân trong những năm mất mùa Binh lính Hâ ̣u đãi binh lính có công giữ gìn Tổ quốc và phu ̣ cấp gia đình binh lính đầy đủ Học sinh:

Bỏ học phí Mở thêm trường ho ̣c Giúp đỡ học trò nghèo Người già và tàn tâ ̣t Được chính phủ chăm nom và cấp dưỡng” [52, tr 242] Rõ ràng những chủ trương cốt lõi trong chương trình Viê ̣t Minh là những quan điểm đi ̣nh hướng cho viê ̣c xây dựng và thực hiê ̣n chính sách ASXH

Hồ Chí Minh đã đề xướng các hoa ̣t đô ̣ng cứu trợ xã hô ̣i với tính cách là mô ̣t phong trào phúc lợi khi kêu go ̣i nhân dân cả nước quyên góp giúp đỡ người nghèo

Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng : “Lúc chúng ta nâng bát cơm , nghĩ đến kẻ nghèo khổ , chúng ta không khỏi động lòng Vâ ̣y tôi xin đề nghi ̣ đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước : Cứ 10 ngày nhịn ăn một ăn một bữa , mỗi tháng nhi ̣n ăn ba bữa

Trang 26

Đem ga ̣o đó (mỗi bữa b ơ) để cứu dân nghèo Như vâ ̣y, những người nghèo sẽ có bữa rau, bữa cháo để mùa lúa năm sau, khỏi đến nổi chết đói” [53, tr 33]

Trong tác phẩm “Đườ ng Cách mê ̣nh” , đươ ̣c xuất bản năm 1927, khi nói về Công hô ̣i, Người đã viết: “La ̣i có bất thường phí để dành lúc bãi công hoă ̣c giúp các

hô ̣i khác bãi công , hoă ̣c giúp đỡ người mất viê ̣c làm , khi ốm đau tai na ̣n , hoă ̣c làm những viê ̣c công ích” [51, tr 335] Đây là ý tưởng manh nha về bảo hiểm xã hô ̣i , bảo hiểm y tế , an sinh xã hô ̣i Ngay sau khi giành chính quyền , đứng đầu nhà nước Viê ̣t Nam dân chủ cô ̣ng hòa , Hồ Chí Minh đă ̣c biê ̣t quan tâm đến viê ̣c xây dựng và ban hành các văn bản pháp luâ ̣t liên quan đến chính sách xã hô ̣i , trong đó quy đi ̣nh những người già, người tàn tâ ̣t không viê ̣c làm thì được giúp đỡ Trong giai đoa ̣n từ năm 1947 đến những năm 50 của thế kỷ XX , Hồ Chí Minh đã chỉ đa ̣o viê ̣c soa ̣n thảo, ban hành mô ̣t loa ̣t chính sách , chế đô ̣ liên q uan đến cán bô ̣, công chức, người lao đô ̣ng như c hế đô ̣ tiền lương , phụ phí, trợ cấp bảo hiểm xã hô ̣i đối với cán bô ̣ , công chức, viên chức; chế đô ̣ đãi ngô ̣ quân nhân Trong những năm 60 của thế kỷ

XX, khi tổ chứ c công đoàn phá t triển, chế đô ̣ bảo hiểm xã hô ̣i , chế đô ̣ thai sản ốm đau, tai na ̣n lao đô ̣ng , bê ̣nh nghề nghiê ̣p , chế đô ̣ với người có công được Hồ Chí Minh rất quan tâm chỉ đa ̣o , ban hành Đây là những yếu tố nền tảng của chính sách Bảo hiểm xã hô ̣i

Không chỉ phát đô ̣ng phong trào CTXH Hồ Chí Minh còn ta ̣o dựng từng bước

cả một hệ thống chính sách CTXH cụ thể, phù hợp với các nhóm xã hội Chẳng ha ̣n đối với người già, người đau ốm, trẻ em, phụ nữ thai sản, Hồ Chí Minh chỉ thi ̣: “Về

xã hội, thiết lâ ̣p nhà dưỡng lão , nhà trẻ, mở nhiều nhà thương , cứu tế những người thất nghiê ̣p, cấm chỉ bán dâm, lâ ̣p nhà hô ̣ sinh” [53, tr.138]

Hồ Chí Minh là người phát đô ̣ng phong trào “Đón thương binh về làng nuôi dưỡng và chăm sóc” Điều này không chỉ thể hiê ̣n tấm lòng nhân ái , quan tâm đến con người mà còn thể hiê ̣n rõ quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về xã hô ̣i hóa chính sách trợ giúp xã hội nhằm từng bướ c giảm thiểu rủi ro và khắc phu ̣c rủi ro đối với người có công với đất nước

Cho đến những năm tháng cuối đời, trong tư duy và hành động, Hồ Chí Minh luôn mong muốn kiến thiết đất nước giàu đẹp, người dân được ấm no, hạnh phúc

Trang 27

Di chúc là lời căn dặn cuối cùng của Người và cũng là lời di huấn đầy trách nhiệm

cho Đảng, Nhà nước học tập, triển khai và thực hiện về những vấn đề về chính sách ASXH Hồ Chí Minh căn dă ̣n: “Đối với những người đã dũng cảm hi sinh mô ̣t phần xương máu của mình, Đảng và Chính phủ phải tìm mo ̣i cách làm cho ho ̣ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở rô ̣ng lớp da ̣y nghề thích hợp với mỗi người để ho ̣

có thể dần dần “tự lực cánh sinh” Đối với cha mẹ , vơ ̣ con (của thương binh và liê ̣t sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương phải giúp đỡ họ

có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để ho ̣ đói rét” [64, tr 616]

Đây là mô ̣t trong những chính sách ƯĐXH đối với những NCC với đất nước, thể hiê ̣n mu ̣c tiêu cao cả là đền ơn đáp nghĩa đối với sự hi sinh , công lao đă ̣c biê ̣t đối với những người có công với cách ma ̣ng , thể hiê ̣n tính nhân văn cao cả của chế

đô ̣ xã hô ̣i

Có thể nói, ASXH là một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất mà Hồ Chí Minh đã dành toàn bộ tâm lực, trí lực và khát vọng để xây dựng và triển khai trong thực tiễn Tư tưởng này đươ ̣c hình thành và gắn liền với từng giai đoạn cách mạng của dân tộc và cuộc đời Hồ Chí Minh Với tư cách là người đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm đặc biệt đến xây dựng các chính sách ASXH , xem đó là mu ̣c đích của mo ̣i đường lối, chính sách nhằm đem lại cuộc sống ấm no , tự do, hạnh phúc và bìn h đẳng cho toàn thể đồng bào Nội dung của chính sách ASXH được Người từng bước triển khai phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam

Như vậy, Hồ Chí Minh là người đề xướng và đă ̣c nền móng cho viê ̣c thực hiê ̣n chính sách ASXH Đó không chỉ là là những quan niệm thông thường mà là cả một

hệ thống tư tưởng các luận điểm sâu sắc, thấm đượm tính nhân văn cao cả, tất cả vì con người của Hồ Chí Minh

Bở i, Hồ Chí Minh hiểu chính sách ASXH có vi ̣ trí và vai trò rất lớn đối với sự phát triển và ổn định đất nước Chính vì lẽ đó mà chính sách ASXH luôn được Đảng

và Nhà nước ta quan tâm , vâ ̣n du ̣ng để hướng tới mô ̣t nước Viê ̣t Nam “Dân giàu , nước ma ̣nh, dân chủ, công bằng, văn minh” theo đi ̣nh hướng xã hô ̣i chủ nghĩa

Từ khái niệm trên, chúng ta thấy rằng, chính sách ASXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các nội dung cơ bản như sau:

Trang 28

Một là, đối tượng hưởng thụ chính sách ASXH

Theo Hồ Chí Minh đối tượng thụ hưởng chính sách ASXH rất đa dạng, bao gồm mọi đối tượng, giai cấp, tầng lớp trong xã hội Trong đó, đối tượng cần đặc biệt quan tâm là phụ nữ, trẻ em, gia đình có công với cách mạng, bởi theo Hồ Chí Minh, đây là những đối tượng yếu thế nhất trong xã hội, chịu nhiều áp lực và bất công Chính sách ASXH sẽ giúp các đối tượng, đặc biệt đối tượng yếu thế trong xã hội vượt qua những khó khăn, vươn lên trong cuộc sống

Hai là, chính sách ASXH là vấn đề cơ bản, xuyên suốt có vị trí và vai trò to

lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh Là bộ phận cấu thành đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, hướng đến các vấn đề liên quan đến người dân, nhằm nâng cao đời sống mọi mặt và đảm bảo quyền cơ bản cho nhân dân

Ba là, Hồ Chí Minh là người đặt nền tảng hình thành đường lối, chủ trương

của Đảng, Nhà nước về hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam như: Bảo hiểm xã

hô ̣i, bảo hiểm y tế, cứu trợ xã hô ̣i, ưu đãi xã hô ̣i, xóa đói giảm nghèo

Từ nhận thức đó mà Người đặt biệt chú trọng đến việc thực hiện chính sách ASXH nhằm phòng ngừa khó khăn và rủi ro trong cuộc sống của nhân dân để nâng cao đời sống mọi mặt và đảm bảo quyền lợi cơ bản của nhân dân

Thực hiê ̣n chính sách ASXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh là quá trình triển khai

chính sách ASXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tế thông qua hoa ̣t đô ̣ng có tổ chức của bô ̣ máy nhà nước , sự tham gia rô ̣ng rãi các tổ chức , đơn vi ̣, gia đình, cá nhân và toàn xã hô ̣i, nhằm hiê ̣n thực hóa mu ̣c tiêu chính sách đã đă ̣t ra vì con người

và chăm lo hạnh phúc của con người

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh , Đảng và Nhà nước là chủ thể lãnh đạo, hoạch định, quản lý việc thực hiện chính sách xã hội Đảng Cô ̣ng sản Việt Nam có vị trí vai trò rất lớn, Đảng lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam đấu tranh giành lại nền độc lập dân tộc, xây dựng đất nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh

Hồ Chí Minh viết: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” [51, tr 289]

Trang 29

Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò “người cầm lái” con thuyền cách mạng,

là cơ quan đề ra chính sách chung cho cả nước Đặc biệt, khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền thì thông qua sự cầm quyền , Đảng thực hiê ̣n sự lãnh đa ̣o của mình đối với toàn xã hô ̣i và chịu trách nhiệm trước toàn xã hội Đảng lãnh đa ̣o Nhà nước và

Mă ̣t trâ ̣n tổ chức chính tri ̣ - xã hội trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước nói chung và trong thực hiê ̣n c hính sách ASXH nói riêng Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng với tư cách là người lãnh đạo, phải “một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc và nhân dân” Trong quan hệ Đảng và nhân dân: Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của Đảng cầm quyền Người đòi hỏi: Đảng phải là đạo đức, là văn minh, là người lãnh đạo, đồng thời là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, phải giữ mối quan hệ máu thịt với nhân dân Người giải thích: Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng

Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng viê ̣c hoạch định chính sách , thể chế hóa định hướng, đường lối của Đảng bằng Hiến pháp, pháp luật để Nhà nước thực hiê ̣n Nhà nước là chủ thể ban hành chính sách ASXH, ngoài ra còn có các tổ chức tư nhân, các đoàn thể chính trị - xã hội, cũng như các cơ quan trong bộ máy nhà nước để tổ chức thực hiện Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, bao gồm Quốc hội, các bộ, chính quyền địa phương các cấp Để thực hiện tốt vai trò “là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân” [64, tr 622], Đảng cần đề ra đường lối, chủ trương, chính sách xã hội đúng đắn, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân Đảng phải là công bộc của nhân dân, mục đích hoạt động của Đảng là phục vụ nhân dân, đem lại quyền lợi cho nhân dân

Từ quan điểm “lấy dân làm gốc” thì Nhà nước là của dân, do dân và vì dân,

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Mỗi một chính sách của chúng ta phải dựa vào ý kiến, kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng Mà muốn hiểu biết, học hỏi dân chúng thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm phải khiêm tốn

và chịu khó Nếu không vậy thì dân chúng không nghe chúng ta Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên” [54, tr 333]

Trang 30

Vì vậy, Người còn khẳng định: “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng… Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”[54, tr 113]

Với vai trò là chủ thể lãnh đạo và quản lý xã hội, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng

và Nhà nước ta phải có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Người chỉ rõ: “Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ,… Cho nên Đảng ta vĩ đại

vì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta” [61, tr 402] Người còn nhấn mạnh: “Dân không đủ muối, Đảng phải lo Dân không

có gạo ăn đủ no, dân không có vải mặc đủ ấm, Đảng phải lo,… Ngay đến cả tương,

cà, mắm, muối của dân, Đảng đều phải lo” [62, tr 272] Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn nhắc nhở chủ thể quản lý phải kiên trì, thận trọng trước vấn đề hoạch định và đưa chính sách ASXH vào cuộc sống Người nói: “Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm mà làm được hết… Việc

gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh” [53, tr

64 - 65] Vấn đề hoạch định và thực thi chính sách xã hội vào cuộc sống phản ánh tính đúng đắn hay sai lầm, thành công hay thất bại phụ thuộc rất lớn vào vai trò, trách nhiệm, năng lực và tư cách của chủ thể quản lý Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của Đảng cầm quyền

Theo đó, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi Song từ nguồn gốc đi đến thắng lợi thực sự, còn phải tổ chức, phải đấu tranh Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do ở cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” [54, tr 636]

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh cơ quan được nhắc đến nhiều và có vai trò quyết định rất lớn đến thành công trong thực hiê ̣n chính sách ASXH cho người dân là tổ chức Công đoàn Hồ Chí Minh đã viết : “Mục đích của Công đoàn là phải cải thiê ̣n dần đời sống công nhân , nâng cao đời sống vâ ̣t chất và văn hóa cho gia i cấp công

Trang 31

nhân nói riêng và của công dân nói chung” [62, tr 477] “Công đoàn sẽ chăm lo các chế độ (ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; mất sức lao động) Còn

Bộ Nội vụ nay là Bộ Lao động Thương binh và xã hội chăm lo hưu trí và tử tuất” [62,

tr 482] Khẳng định vai trò to lớn của Công đoàn, năm 1957, Hồ Chí Minh đã ký Sắc

lệnh ban hành luật Công đoàn và đã giao cho tổ chức Công đoàn quyền quản lý, điều

hành Quỹ Bảo hiểm xã hội, một mảng rất quan trọng để thực hiện an sinh cho mọi người dân trong xã hội Ngoài ra, còn có sự tham gia của các cá nhân, tổ chức đóng góp, ủng hộ góp phần thực hiện hiệu quả chính sách ASXH Tiêu biểu là gia đình ông Trịnh Văn Bô là một trong những gia đình đã có công rất lớn để giải quyết những khó khăn tài chính sau cách mạng tháng Tám Với triết lý kinh doanh "Buôn bán 10 đồng thì giữ lại 7 đồng, còn lại giúp đỡ người nghèo và làm việc phúc đức" Theo đó, gia đình cụ dành rất nhiều tiền để đóng góp từ thiện, giúp đỡ người nghèo và lớn nhất là

hỗ trợ cho cách mạng và nền độc lập của đất nước

Mô ̣t bô ̣ phâ ̣n góp phần quan tro ̣ng thực hiê ̣n thành công chính sách ASXH đó

là đội ngũ cán bộ làm công tác liên quan đến chính sách ASXH, họ là người trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách ASXH Hồ Chí Min h đã nói : “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [54, tr 309] Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Như vậy, cán bộ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là người truyền đạt và tổ chức nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, đồng thời nắm bắt và phản hồi thông tin từ phía nhân dân để Đảng và Nhà nước có căn cứ hoạch định, điều chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách cho phù hợp Cán bộ là người có vai trò rất lớn quyết định đến hiệu quả trong thực hiện chính sách ASXH Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, những đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng, nhưng xuống các địa phương thì bị thực hiện sai lệch hoặc bị thực hiện không đến nơi đến chốn, đánh trống bỏ đùi Hồ Chí Minh

đã chỉ rõ nguyên nhân là do trách nhiệm và năng lực của những người thi hành chính sách, một điều rất đơn giản: “Tức là vô luận việc gì, đều do người ta làm ra,

và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả” [54, tr 281] Như vậy, những người cụ

Trang 32

thể điều hành và chỉ đạo chính sách ASXH ở cơ sở cũng quan liêu, không kiểm tra sát sao, mà cũng có thể do chủ quan, kế hoạch không ăn khớp với hoàn cảnh, lý thuyết áp dụng chéo chân, cốt thành tích cho xong chuyện, kết quả là công sức, tiền của, chất xám đổ vào đó đều phí phạm Cũng vì thế, nên Hồ Chí Minh căn dặn: “Bất

kỳ việc gì, chúng ta phải bắt đầu từ gốc, dần dần đến ngọn, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, chớ nên tham mau, tham nhiều trong cùng một lúc” [54, tr 281] Quan niệm trên cho thấy, để thực hiện chính sách ASXH hiệu quả, nhiệm vụ quan trọng

là cần giúp cho các đối tượng của chính sách xã hội hiểu biết về chính sách của Đảng và Chính phủ liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi của họ, khuyến khích họ đóng góp ý kiến vào xây dựng chính sách Do vậy, đội ngũ cán bộ làm công tác an sinh phải nghiên cứu thấm nhuần chính sách để giải thích, tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia thực hiện

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cán bộ phải yêu thương đội viên Đối với anh em

ốm yếu, thương tật, cán bộ phải trông nom, thăm hỏi Người đội trưởng, người chính trị viên phải là người chị, người bạn của đội viên Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ Cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán

bộ như ruột thịt Có như thế thì chỉ thị, mệnh lệnh và kế hoạch cấp trên đưa xuống, đội viên sẽ tích cực và triệt để thi hành [55, tr 457] Hồ Chí Minh yêu cầu: “Cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần chính sách ấy mà điều tra, nghiên cứu, hiểu suốt hoàn cảnh thiết thực của đơn vị mình, địa phương mình rồi đặt kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ thiết thực để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho mọi người hiểu thấu và ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như là của họ, rồi thi đua thực hiện đầy đủ chính sách ấy” [56, tr 344]

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh đã khẳng định thắng lợi của việc thực hiện chính sách ASXH còn tùy thuộc vào cán bộ tốt hay xấu, tức liên quan đến năng lực và tư cách của chủ thể quản lý xã hội Vì vậy, Hồ Chí Minh đã đề ra những yêu cầu, tiêu chuẩn cốt lõi của người cán bộ làm công tác ASXH, đó là vừa có đức, vừa có tài, vừa có năng lực và phẩm chất, kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, phải trung thành, tận tụy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, phải “hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân” [58, tr 511] Theo Ngườ i, đa ̣o đức là “cái

Trang 33

gốc” của mô ̣t chiến sĩ cách ma ̣ng Đức là gốc luôn làm cho tài năng phát triển Người làm cán bô ̣ công tác ASXH phải có mô ̣t đời tư trong sáng , phải là một tấm gương sáng trong cuô ̣c sống, đồng thời phải có năng lực lãnh đa ̣o , tổ chức thực hiê ̣n đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân Các chính sách ASXH của Đảng , Nhà nước muốn hiện thực hóa trong cuộc sống , ngoài yêu cầu chính sách đó phải đúng đắn , còn có việc phải tổ chức lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ra sức thực hiê ̣n thắng lợi , nghĩa là cán bộ phải “chuyên” , phải có

“tài”, có năng lực, trí tuệ, chuyên môn để lãnh đa ̣o , thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣ cách ma ̣ng Ngoài ra, đối tượng quyết định đến thành bại của chính sách phải kể đến vai trò của nhân dân, quần chúng nhân dân lao động, họ không chỉ là đối tượng, lực lượng thực hiện mà còn trở thành mục tiêu và động lực của quá trình thực hiện Các chính sách ASXH phải xuất phát từ nhân dân, vì nhân dân Triết lý phát triển xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đạt đến chiều sâu nhất của chủ nghĩa nhân văn hành động khi lấy con người, mà trước hết là nhân dân lao động làm điểm trung tâm, nơi xuất phát và cũng là điểm cuối cùng của việc thực hiện chính sách ASXH Chỉ trên cơ sở nhận thức đúng quan điểm ấy thì Đảng và Nhà nước ta mới phát huy vai trò là chủ thể thực hiện chính sách xã hội

Ngoài ra, đối tượng quyết định đến thành bại của chính sách phải kể đến vai trò của nhân dân, quần chúng nhân dân lao động, họ không chỉ là đối tượng, lực lượng thực hiện mà còn trở thành mục tiêu và động lực của quá trình thực hiện Các chính sách ASXH phải xuất phát từ nhân dân, vì nhân dân Triết lý phát triển xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đạt đến chiều sâu nhất của chủ nghĩa nhân văn hành động khi lấy con người, mà trước hết là nhân dân lao động làm điểm trung tâm, nơi xuất phát và cũng là điểm cuối cùng của việc thực hiện chính sách ASXH Chỉ trên

cơ sở nhận thức đúng quan điểm ấy thì Đảng và Nhà nước ta mới phát huy vai trò là chủ thể thực hiện chính sách xã hội

Như vâ ̣y, trong tư tưở ng Hồ Chí Minh , Đảng và Nhà nước là cơ quan ho ạch định các chính sách nói chung, chính sách ASXH nói riêng Các tổ chức đoàn thể và

cá nhân, nhân dân lao động là lực lượng thực hiện, hiện thực hóa chủ trương , chính sách đã ban hành vào thực tiễn

Trang 34

Tuy nhiên, để vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường, đòi hỏi cơ quan hoạch định cần có một năng lực, phẩm chất chính trị và phải thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn, hoàn thiện nhằm nâng cao chuyên môn, phẩm chất chính trị để hoạch định những chính sách mang lại hiệu quả

1.2.2 Quan điểm Hồ Chi ́ Minh về nguyên tắc và phương pháp thực hiê ̣n chính sách ASXH

1.2.3.1 Nguyên tắc thực hiê ̣n

Thứ nhất, phát triển nền kinh tế - xã hội là cơ sở để xây dựng chính sách an sinh xã hội phù hợp với các đối tượng được hưởng

Trong các nhân tố góp phần thực hiê ̣n các chính sách ASXH , Hồ Chí Minh cho rằng, phát triển kinh tế là nhân tố có vị trí và vai trò quan trọng Người chỉ ra:

“Chúng ta tranh được tự do , đô ̣c lâ ̣p rồi mà dân cứ chết đói , chết rét, thì tự do , đô ̣

lâ ̣p, cungx không làm gì Dân chỉ biết giá tri ̣ của tự do , của độc lập khi dân được ăn

no, mặc đủ Chúng ta phải thực hiện ngay: 1 Làm cho dân có ăn 2 Làm cho dân có

mă ̣c 3 Làm cho dân có chổ ở 4 Làm cho dân có học hành Cái mục đích chúng ta

đi đến 4 điều đó Đi đến để nước ta xứng đáng với tự do , đô ̣c lâ ̣p và giúp sức được cho tư do, đô ̣c lâ ̣p” [53, tr 175]

“Đó chính là mu ̣c tiêu của viê ̣c xây dựng và phát triển kinh tế của chúng ta Để thực hiê ̣n mu ̣c tiêu trên đời đòi hỏi phải phát triển mô ̣t nền kinh tế toàn diê ̣n từ nông nghiê ̣p, công nghiê ̣p, thương nghiê ̣p tới phát triển di ̣ch vu ̣, mở rô ̣ng giao lưu kinh tế với các nước khác, trước hết là các nước anh em , phải phát triển kinh tế và văn hóa

và các chính sách phát triển và cải tạo kinh tế theo chủ nghĩa xã hội , các đạo luật về tự do, dân chủ, đó là những vấn đề quan tro ̣ng về quốc kế dân sinh” [6; tr 375] Đẩy mạnh tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc then chốt để khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, cải thiện đời sống nhân dân , là điều “cần thiết nhất

để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến dân lên chủ nghĩa xã hội” [59; tr 545] là

“làm cho đời sống đồng bào đi ̣a phương ngày càng khá hơn , cả về vật chất và tinh thần” [62, tr 225] Chỉ có như thế , chúng ta mới phát triển một cách chắc chắn , sự nghiê ̣p kháng chiến , kiến quốc mới thắng lợi Đồng thời, cần nhâ ̣n thức rằng nền kinh tế xã hô ̣i chủ nghĩa trước hết là mô ̣t nền kinh tế có kế hoa ̣ch Tức là: “Khi đă ̣t

Trang 35

kế hoạch phải nhìn xa Có nhìn xa mới có quyết định đúng đắn thời kỳ nào công viê ̣c gì là chính Phải thấy rộng Có thấy rộng mới sắp đặt các ngành hoạt động một cách cân đối Khi đi vào thực hiê ̣n thì mỗi ngành , mỗi nghề phải rất tỉ mỉ , chu đáo, thâ ̣t sát với mỗi cơ sở Đó là mô ̣t bô ̣ ba để hoàn thành tốt kế hoa ̣ch” [63, tr 462] Như vâ ̣y, mô ̣t trong những đă ̣c điểm cơ bản của chính sách ASXH là sự thống nhất biê ̣n chứng với chính sách kinh t ế Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiê ̣n chính sách ASXH và ngược la ̣i, sự công bằng và tiến bô ̣ được thực hiê ̣n qua chính sách ASXH ta ̣o ra đô ̣ng lực ma ̣nh mẽ để thực hiê ̣n các mu ̣c tiêu kinh tế nhằm thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân về đời sống vâ ̣t chất và văn hóa Chính sách ASXH đúng là một động lực quan trọng của phát triển sản xuất, tiến bô ̣ xã hô ̣i, vừa giúp củng cố và phát triển những giai c ấp cơ bản như công nhân, nông dân, vừa quan tâm thích đáng đến lợi ích và phát huy tiềm năng tất cả tầng lớp xã hô ̣i

Thứ hai, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng, thực hiê ̣n chính sách ASXH

Để nhân dân hăng hái tham gia ngày một nhiều hơn vào phong trào chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, Hồ Chí Minh đòi hỏi Đảng phải thật sự mở rộng dân chủ Tính dân chủ rộng rãi trong cuộc đấu tranh là nhân tố tạo nên sự thắng lợi,

là động lực căn bản sâu xa thúc đẩy sự phát triển kinh tế và đi tới thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Bản thân tệ nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, là biểu hiện trực tiếp của tình trạng thoái hóa trong đạo đức con người Việc đấu tranh chống các tệ nạn này đòi hỏi phải động viên quần chúng, thực hành dân chủ, mở rộng mọi quyền dân chủ cho quần chúng nhân dân, lôi cuốn rộng rãi mọi người vào các phong trào hành động cách mạng, tự phê bình và phê bình Nhân dân là người làm chủ, kiểm tra giám sát việc thực hiện các chính sách Vì vậy, thực hành dân chủ là giải phát căn bản nhất để nhanh chóng phát hiện và xử lý đúng mức các căn bệnh nguy hiểm

đó Hồ Chí Minh khẳng định:

“Trong mọi công việc, ngay từ khi lập kế hoạch và suốt cả thời gian thực hiện, phải mạnh dạn phát động quần chúng, làm cho mọi người thấm nhuần tinh thần làm chủ tập thể Quần chúng thật sự có quyền dân chủ và cán bộ, đảng viên, đoàn viên

Trang 36

phải xung phong gương mẫu, thì chắc chắn ngăn ngừa được những tệ quan liêu, mệnh lệnh, lãng phí, tham ô [56, tr 235 - 236]

Phê bình và tự phê bình trong cán bộ, đảng viên và quần chúng là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người, đó cũng chính là thực hành dân chủ Phong trào tự phê bình và phê bình thực hiện “phải có trọng tâm, phải từng bước, phải nắm vững vào sâu Phải từ cấp trên đến cấp dưới, từ bộ phận chính đến bộ phận phụ” [56, tr 360]

Hồ Chí Minh đặt ra nguyên tắc tự phê bình và phê bình là phải dựa vào sự thực, phải đào tận gốc rễ những khuyết điểm, không chê giấu, tô vẽ, không nên nói việc nhỏ, bỏ việc lớn, nói việc cũ quên việc mới Vấn đề đặt ra để tự phê bình và phê bình không thể chung chung, đại khái mà phải trả lời trực tiếp những câu hỏi: Mình

có tham ô không? có ăn bớt của công cho riêng đơn vị mình không? có phô trương, lãng phí của công và sức lực nhân dân không? có coi khinh xa rời quần chúng không? Trong phong trào này, đòi hỏi các cán bộ cấp; phải tự cải tạo lòng mình, giữ

tư tưởng trong sạch, lập trường vững, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân thì sẽ tránh được nhiều khuyết điểm Theo Hồ Chí Minh nếu cán bộ “Đè nén phê bình, hoặc phớt phê bình, cũng là tội lỗi” [57, tr 140] Phải tăng cường phê bình và tự phê bình Phải quản lý kiểm tra, đôn đốc từ nhiều phía đối với cán bộ, từ cấp trên, từ đồng cấp, cho đến từ dưới và đặc biệt từ quần chúng nhân dân

Thứ ba, chính sách an sinh xã hộ i phải được luật hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng

Theo Hồ Chí Minh , để thực hiện chính sách ASXH phải xây dựng được Nhà nước thâ ̣t sự của dân, do dân và vì dân , quản lý xã hội bằng pháp luật Nghĩa là các chính sách ASXH phải được thể chế thành pháp luật và các chính sách của Nhà nước Trong bản yêu sách của nhân dân An Nam mà Hồ Chí Minh đã thay mă ̣t

những người Viê ̣t Nam yêu nước ở Pháp ký tên gửi đến hô ̣i nghi ̣ Véc xây nhâ ̣n mạnh đến yếu tố pháp luâ ̣t của mô ̣t nhà nước pháp quyền:

“Bảy xin Hiến pháp ban hành Trăm đều phải có thần linh pháp quyền” [50, tr 473]

Theo Hồ Chí Minh , mô ̣t Nhà nước dân chủ , đảm bảo được công bằng trong thực hiê ̣n chín h sách ASXH phải có hiến pháp , phải có hệ thống pháp luật đầy đủ ,

Trang 37

mọi hoạt động của Nhà nước phải tuân thủ theo đúng Hiến pháp và pháp luật Nhà nước phải thực hiê ̣n dân chủ với nhân dân , tôn tro ̣ng và bảo đảm quyền con người, quyền công nhân Đảng đề ra chủ trương , đường lối và Nhà nước cu ̣ thể hóa chủ trương đường lối đó thành luâ ̣t , lê ̣nh, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện những chính sách đề ra

Chính vì vậy , ngay khi đo ̣c Tyên n gôn đô ̣c lâ ̣p , trong phiên ho ̣p đầu tiên của Chính phủ lâm thời , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ngay vấn đề phải ban hành Hiến pháp dân chủ Là người sáng lập Nhà nước dân chủ mới , Hồ Chí Minh là người có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp Trên cương vi ̣ là chủ ti ̣ch nước , Người đã hai lần đứng đầu Ủy ban soa ̣n thảo Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959, đã ký công bố 16 đa ̣o luâ ̣t, 613 sắc lê ̣nh và nhiều văn bản khác dưới luâ ̣t

Cùng với viê ̣c chỉ đa ̣o xây dựng hê ̣ thống luâ ̣t pháp dân chủ ở nước ta , Hồ Chí Minh quan tâm tới viê ̣c giáo du ̣c đa ̣o đức và giáo du ̣c pháp luâ ̣t Người luôn chỉ đa ̣o viê ̣c phổ biến , tuyên truyền , giáo dục, giải thích luật pháp , hướng dẫn thi hành và thực hiê ̣n pháp luâ ̣t cho nhân dân , hướng dẫn nhân dân đấu tranh bảo vê ̣ pháp luâ ̣t , tăng cường pháp chế Đồng thời, Người yêu cầu các cơ quan Nhà nước phải gương mẫu trong chấp hành hiến pháp và pháp luâ ̣t

Vì vậy, chính sách ASXH mà Hồ Chí Minh đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp mang giá trị pháp lý cao nh ất và được ban hành bằng các sắc lê ̣nh c ụ thể như một sự hướng dẫn đầy đủ , chi tiết về quá trình triển khai, thực hiện các chính sách ASXH Đó cũng là căn cứ thể hiện những quan điểm cơ bản cao nhất của một nhà nước dân chủ, Nhà nước luôn lấy mục đích vì nhân dân làm mục đích cao nhất Là cơ sở pháp lý cho viê ̣c đảm bảo thực hiê ̣n quyền được hưởng ASXH của mo ̣i tần g lớp trong xã hô ̣i Là cơ sở để khẳng định tính giá trị và quyền an sinh của con người

Thứ tư, nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong thực hiện chính sách an sinh xã hội

Suốt cuô ̣c đời hoa ̣t đô ̣ng cách ma ̣ng của Hồ Chí Minh luôn vì mô ̣t mu ̣c đí ch cao cả là “vì dân” , nên mo ̣i chính sách của Đảng và Nhà nước luôn thực hiê ̣n đúng theo phương châm “Viê ̣c gì có lợi cho dân , ta phải hết sức làm Viê ̣c gì có ha ̣i cho dân, ta phải hết sức tránh” [52, tr 51] Chính sách ASXH m à Hồ Chí Minh xây dựng trong suốt quá trình hoa ̣t đô ̣ng của mình đó là xây dựng mô ̣t hê ̣ thống chính

Trang 38

sách ASXH luôn đ ảm bảo lơ ̣i ích cho nhân dân Trong xây dựng chính sách cũng như thực hiện cần nắm triết lý vì dân, luôn lấy dân làm điểm tựa, điểm xuất phát Vì

vâ ̣y, chính sách ASXH mà Ngư ời xây dựng là chăm lo cho tất cả các tầng lớp nhân dân từ nông dân, công nhân, thương nhân, công chức, binh lính đến thanh niên, người già và trẻ nhỏ Đặc biệt, trong tư tưởng Hồ Chí Minh , nhóm đối tượng được

đă ̣c biê ̣t quan tâm là người nghèo , đối tượng dễ bi ̣ tổn thương , phụ nữ, trẻ em, gia đình có công với cách ma ̣ng , đây là những đối tượng yếu thế nhất trong xã hô ̣i , chịu nhiều áp lực , bất công nhất Chính sách ASXH sẽ tạo cho những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn những người khác có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những “rủi ro xã hội”, những “biến cố” có cơ h ội phát triển, hòa nhập cộng đồng Vì vậy, trong thực hiê ̣n ph ải công bằng Tất cả các thành viên trong xã hội, dù khác nhau về dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội nhưng phải luôn được đảm bảo để phát huy đầy đủ những khả năng của mình và được hưởng tất

cả các chính sách của Nhà nước

Dưới chế độ dân chủ mới ở Việt Nam, đứng trên lập trường giai cấp công nhân, mục đích của chính sách xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ vì lợi ích của giai cấp công nhân, mà cả lợi ích của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam Không có gì khó khăn khi nêu khẩu hiệu “vì hạnh phúc nhân dân”, “vì hạnh phúc con người” cho bất kỳ kế hoạch, chủ trương nào Hồ Chí Minh luôn đề cao nguyên tắc toàn dân để luôn tạo ra sự công bằng trong xã hội , để hạn chế những tiêu cực và phòng chống căn bê ̣nh tham ô , tham nhũng, lãng phí, quan liêu trong thực hiê ̣n chính sách ASXH Hồ Chí Minh cảnh báo về nguy cơ cán bô ̣ , đảng viên

xa rời quần chúng và có những hành đô ̣ng trái với lợi ích của nhân dân , Hồ Chí Minh đã nói: “Về viê ̣c Chính phủ liêm khiết, thì Chính phủ hiện thời đã rất cố gắng liêm khiết lắm Nhưng trong Chính phủ đã hết sức làm gương Và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị Những kẻ ăn hối lô ̣, đã tri ̣ và sẽ tri ̣ cho kỳ hết” [65, tr 158]

1.2.3.2 Phương pha ́ p thực hiê ̣n

Thực hiê ̣n chính sách ASXH là cách thức và biê ̣n pháp tiến hành để đạt được mục tiêu mà chính sách ASXH đã đặt ra nhằm khắc phu ̣c , hạn chế rủi ro cho nhân

Trang 39

dân khi gă ̣p phải những khó khăn Vì thế, để đạt hiệu quả cao Hồ Chí Minh đã triển khai bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau, tùy thuộc vào từng giai đoạn và từng đối tượng cu ̣ thể

Thứ nhất, tuyên truyền, hướng dẫn ngươ ̀ i dân thực hiê ̣n c hính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước

Trong tất cả các công việc, đặc biệt là trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách ASXH, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc làm tốt công tác tuyên truyền: “Tuyên truyền là đem việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại” [63, tr 159], để quần chúng hiểu được đường lối chính sách của Đảng, của Chính phủ, từ đó tự giác tham gia công việc cách mạng

Theo Hồ Chí Minh, cán bộ tuyên truyền cần xác định rõ nội dung, đối tượng, mục đích và phương pháp: “Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào” [63, tr 159] Việc nắm vững tuyên truyền rất quan trọng vì tùy theo từng đối tượng, trình độ mà chọn phương pháp tuyên truyền, mỗi đối tượng có một cách tuyên truyền khác nhau Tuyên truyền cho đồng bào miền núi khác, đồng bào miền xuôi khác, thậm chí có khi cùng là một tỉnh miền núi nhưng “một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo, thì tuyên truyền huấn luyện cho đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác, phải có sự thay đổi cho thích hợp” [63, tr 159] Đối với mỗi đối tượng, Người yêu cầu phải có phương thức tuyên truyền thích hợp và phải chú trọng ưu tiên cho đối tượng có trình độ nhận thức và văn hóa thấp vì đồng bào có trình độ thấp đã hiểu thì các đối tượng khác đều nắm bắt được Riêng đồng bào miền núi, Hồ Chí Minh nhấn mạnh yếu tố ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo: “Một là gì, hai là gì, rồi ba, bốn, năm là gì? Làm thế nào? [63, tr 160] và “không nói trên trời dưới đất, nào là khách quan, chủ quan, nào tích cực và tiêu cực, không đâu vào đâu cả” [63, tr 161] Như vậy, để làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ về chính sách ASXH cho quần chúng hiểu thì tuyên truyền phải có tính chất quần chúng “Không nên lúc nào cũng trích Các Mác, cũng trích Lênin, làm cho đồng bào khó hiểu Nói thế nào cho đồng bào hiểu được, đồng bào làm được Nói

Trang 40

thiết thực, nói đúng lúc, đúng chổ” [63, tr 161] thì cũng không bằng “nói dễ hiểu, thiết thực, người ta dễ hiểu và làm được” [63, tr 161]

Để nâng cao hiệu quả tuyên truyền, bên cạnh xác định nội dung, đối tượng mục đích và phương pháp, Hồ Chí Minh còn đề cập đến vai trò có ý nghĩa quyết định của người tuyên truyền Người quan niệm tuyên truyền cách mạng là hoạt

động thống nhất trên ba mặt: Thứ nhất, nhận thức về mục đích và vai trò của tuyên truyền Thứ hai, phương pháp tuyên truyền Thứ ba, yêu cầu đối với người làm công

tác tuyên truyền Cả ba mặt luôn thống nhất với nhau, liên hệ tác động qua lại với nhau, trong đó nhận thức mục đích đóng vai trò chủ đạo, chi phối trực tiếp đến mọi phương pháp tuyên truyền Quá trình nhận thức đến phương pháp tuyên truyền đều thông qua con người cụ thể, do đó người tuyên truyền là yếu tố có ý nghĩa quyết định Vậy cán bộ tuyên truyền chính sách ASXH là những ai Nói về lực lượng này,

Hồ Chí Minh cho rằng, chỉ cán bộ làm công tác tuyên truyền mà bộ đội, công an, công nhân trong công trường, nông trường, y tế, giáo viên và tất cả cán bộ các ngành phải thấy rằng mỗi người đều là người tuyên truyền chính sách ASXH của Đảng, của Nhà nước Về phẩm chất của cán bộ tuyên truyền chính sách ASXH ở cơ

sở, Hồ Chí Minh đòi hỏi ý thức trách nhiệm và tinh thần chủ động trong công việc:

“ Các chú cần tự hỏi, tự trả lời Chứ không phải chờ trên gửi tài liệu xuống, rồi theo một, hai, ba, bốn mà làm Không phải trung ương bảo làm, tỉnh bảo làm, thì tôi làm” [63, tr 159] Ngoài ra, người cán bộ tuyên truyền chính sách ASXH còn phải là người có đạo đức cách mạng trong sáng, phải có tình yêu thương và nhiệt tình cách mạng Lý tưởng cao đẹp ấy sẽ là ngọn đèn soi đường dẫn lối, nhắc nhở cán bộ trong việc làm không chỉ dừng lại ở việc biết làm tròn trách nhiệm, mà còn cần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Ngoài ra, tuyên truyền thực hiện chính sách ASXH không chỉ d ừng ở khẩu hiê ̣u, lý luận suông mà Hồ Chí Minh còn triển khai bằng hành độ ng, những viê ̣c làm

cụ thể Đó là phương pháp “nêu gương” mà Hồ Chí Minh là người tiên phong khi

đề ra những chính sách Người tiên phong trong phong trào tiết kiê ̣m ga ̣o , xung phong góp chiếc áo lụa, một tháng lương và tiền ăn một bữa của Người và của tất cả các nhân viên để tặng thương binh, Hồ Chí Minh đã viết: “Vấn đề là ở chổ lời nói phải đi đôi với việc làm Bằng chính đời sống và mức sống cụ thể của mình, nhân

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w