1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mô hình công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại xã đồng sơn, huyện hoành bồ, tỉnh quảng ninh

131 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tình hình như vậy đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cần nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện và tăng cường tính bền vững trong xây dựng, thực hiện các chương trình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

Nguyễn Huy Thông

MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI XÃ ĐỒNG SƠN, HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

Nguyễn Huy Thông

MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI XÃ ĐỒNG SƠN, HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội (Định hướng ứng dụng)

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Nguyễn Thị Thái Lan

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG

thạc sĩ khoa học

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tác giả, có sự hỗ trợ

từ giáo viên hướng dẫn là TS Nguyễn Thị Thái Lan Các nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu của đề tài là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

cứ công trình nào trước đây Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét và đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá, cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo

Nếu phát hiện có bất kỳ gian lận, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả khóa luận của mình

Tác giả luận án

Nguyễn Huy Thông

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Thái Lan, người

cô kính mến, vì đã hết lòng chỉ bảo, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận án này

Tác giả xin gửi lời tri ân sâu sắc tới các thầy, các cô, giảng viên của Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

đã tích cực giúp đỡ để tác giả được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện về thời gian để tôi hoàn thành tốt luận án của mình

Tác giả luận án Nguyễn Huy Thông

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng nghiên cứu 9

5 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 12

8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 13

9 Kết cấu của luận văn 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 14

1.1 Khái niệm công cụ 14

1.1.1 Khái niệm về nghèo, nghèo đa chiều, giảm nghèo bền vững 14

1.1.2 Khái niệm hộ nghèo và cách xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam 18

1.2 Mô hình công tác xã hội 23

1.2.1 Khái niệm mô hình 23

1.2.2 Khái niệm công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội, công tác xã hội trong giảm nghèo và mô hình công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững 23

1.3 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 28

1.3.1 Lý thuyết vai trò 28

1.3.2 Lý thuyết hệ thống 30

1.3.3 Thuyết nhu cầu của Maslow 31

1.4 Chính sách xã hội trong giảm nghèo bền vững 33

1.4.1 Chủ trương của Đảng, chính sách của Chính phủ về hỗ trợ giảm nghèo 33

1.4.2 Chính sách địa phương về hỗ trợ giảm nghèo 37

Tiểu kết chương 1 42

Trang 6

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI VIỆC GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI XÃ ĐỒNG SƠN, HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH 43

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 43

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và dân số xã Đồng Sơn,

huyện Hoành Bồ 43

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 44

2.2 Thực trạng nghèo tại xã Đồng Sơn giai đoạn 2013-2018 46

2.2.1 Nghèo về thu nhập 46

2.2.2 Nghèo về tiếp cận giáo dục 50

2.2.3 Nghèo về nước sạch và vệ sinh 51

2.2.4 Nghèo về chăm sóc y tế 52

2.3 Đánh giá mô hình công tác xã hội hỗ trợ giảm nghèo tại xã Đồng Sơn,

huyện Hoành Bồ 54

2.3.1 Hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức 54

2.3.2 Kết nối nguồn lực tiếp cận các chương trình, chính sách 59

2.3.3 Hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục 72

2.3.4 Hoạt động công tác xã hội về trợ giúp pháp lý 81

Tiểu kết chương 2 86

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP CỦA MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở XÃ ĐỒNG SƠN, HUYỆN HOÀNH BỔ, TỈNH QUẢNG NINH 87

3.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt độngcông tác xã hội với việc giảm nghèo

ở xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ 87

3.1.1 Về nhận thức, trách nhiệm và chỉ đạo điều hành trong công tác thực hiện các hoạt động công tác xã hội trong giảm nghèo 87

3.1.2 Sự bất cập trong thực hiện một số cơ chế, chính sách giảm nghèo 88

3.1.3 Nhận thức và năng lực tự vươn lên thoát nghèo của người dân

còn hạn chế 89

3.1.4 Thiếu đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội về giảm nghèo 90

Trang 7

3.2 Đề xuất cải thiện dịch vụ trợ giúp công tác xã hội 93

3.3 Đề xuất các giải pháp 95

3.3.1 Tăng cường hoạt động công tác xã hội về tuyên truyền, nâng cao

nhận thức cho hộ nghèo 95

3.3.2 Nâng cao hoạt động công tác xã hội về kết nối các nguồn lực

cho hộ nghèo 97

3.3.3 Nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác xã hội ở cấp huyện

và xã Đồng Sơn 98

3.3.4 Tiếp tục xây dựng và phát huy mô hình công tác xã hội đối với

người nghèo 100

Tiểu kết chương 3 102

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC 111

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghèo là vấn đề mang tính toàn cầu đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm giải quyết Ở Việt Nam, tình hình nghèo đói vẫn diễn ra phổ biến và phức tạp, đặc biệt khu vực miền núi và nông thôn chiếm tỷ lệ cao, có sự chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng và đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn đặt mục tiêu xóa đói, giảm nghèo lên hàng đầu, góp phần đem lại hiệu quả thiết thực cho người nghèo, ổn định thu nhập, nâng cao đời sống và tạo mọi điều kiện để đáp ứng đầy đủ nhu cầu và nguyện vọng của người nghèo, thực hiện tốt các mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc và Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) áp dụng 2015-2030 với 17 mục tiêu và 2 mục tiêu đầu

là "Xoá nghèo và Xoá đói" [47] (UN, 2015), hướng đến việc xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Tuy nhiên, công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, trong đó đặc biệt phải kể đến tính không bền vững của công tác giảm nghèo, các khu vực vùng sâu, vùng xa, thậm chí ngay tại thành thị cũng tồn tại những hộ nghèo

Quảng Ninh là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm khu vực phía bắc Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, trong quá trình tăng trưởng, Quảng Ninh còn nhiều xã nghèo, công tác xóa đói, giảm nghèo là công việc vô cùng khó khăn, cần sự lâu dài

và có những biện pháp thật sự hiệu quả Vì vậy, thực hiện công tác xã hội trong giảm nghèo nhằm mục tiêu tăng trưởng bền vững, khắc phục tình trạng tái nghèo đang trở thành vấn đề được Quảng Ninh quan tâm

Đồng Sơn là xã vùng cao của huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh là một trong những xã nghèo của cả nước, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn Xã Đồng Sơn có bốn thôn, mười sáu khe, bản, gồm 645 hộ, trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao, chiếm 98% Hiện nay, Đồng Sơn là khu vực gặp nhiều khó khăn đa chiều đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn gặp nhiều khó

Trang 9

khăn Phần đông người dân ở xã Đồng Sơn sống bằng nghề nông nghiệp, thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nên công tác hỗ trợ giảm nghèo là vấn đề cấp thiết và nan giải [26,tr.5]

Những năm gần đây, mặc dù lãnh đạo địa phương, cán bộ tổ chức đoàn thể đã không ngừng quan tâm, chỉ đạo, áp dụng thực hiện các chính sách, các chương trình

hỗ trợ giảm nghèo, song hiệu quả đạt được vẫn chưa cao, chưa giải quyết triệt để tình trạng nghèo tại xã

Với tình hình như vậy đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cần nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện và tăng cường tính bền vững trong xây dựng, thực hiện các chương trình, dự án, chính sách thông qua mô hình công tác xã hội hỗ trợ giảm nghèo, cũng như công tác triển khai, tổ chức thực hiện Bên cạnh đó, cần có những phân tích, đánh giá để tìm ra nguyên nhân, cũng như khắc phục những hạn chế trong quá trình thực hiện mô hình công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo để từ đó nâng cao tính bền vững của công cuộc hỗ trợ giảm nghèo tại Việt Nam Chính vì vậy,

tác giả lựa chọn đề tài “Mô hình công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu

2 Tổng quan nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Những nghiên cứu trên thế giới trong những năm gần đây liên quan đến chủ

đề của nghiên cứu này tập trung vào những vấn đề chung về giảm nghèo, giảm nghèo bền vững và công tác xã hội với giảm nghèo

Những nghiên cứu về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

Các tác giả Tara Bedi, Aline Coundouel, Marcus Cox, Markus Goldstein,

Nigel Thornton (2006), “Beyond the number: understanding the institution for

monitoring poverty reductions strategies” (vượt quá số lượng: hiểu về cơ quan

giám sát các chiến lược giảm nghèo) [42], đã chỉ ra nền tảng của mối quan hệ trong việc tăng cường hệ thống chỉ dẫn chi tiết chiến lược giảm nghèo, qua đó xây dựng chính sách và đánh giá tác động của chính sách đối với các nước nghèo Phân tích thực tiễn chính sách và kết quả thu được ở một số nước Anbani, Bolivia, Guyana, Honduras

Trang 10

R.Ruben, J.Pender and A.Kuyvenhoven (2007), “Sustainable Poverty

Reduction in Less-Favoured Areas: Problem, Option and Strategies”, CAB

intenational,(Giảm nghèo bền vững tại những khu vực khó khăn: vấn đề, lựa chọn

và chiến lược) [44], đã được tập thể tác giả phân tích về thực trạng nghèo tại các khu vực khó khăn, cũng như đưa ra chiến lược giúp người nghèo vượt qua những khó khăn trong cuộc sống Đồng thời, cuốn sách cũng phân tích về nguồn sinh kế, cũng như an ninh lương thực là sự cần thiết nhằm thoát nghèo tại khu vực khó khăn

Thandika Mkandawire (2005), “Targeting and universalism in poverty

reduction”, United Nations Research Institute for Social Development, ( Mục tiêu

và phổ quát trong việc giảm nghèo) [43], đã phân tích lịch sử của nó, chính sách xã hội có liên quan đến việc liệu các nguyên tắc cốt lõi đằng sau cung cấp xã hội sẽ được phổ quát, hoặc chọn lọc thông qua mục tiêu Theo phổ quát, toàn bộ dân là người thụ hưởng các lợi ích xã hội như là một quyền cơ bản; trong khi đang nhắm mục tiêu, đủ điều kiện cho lợi ích xã hội liên quan đến một số loại phương tiện thử nghiệm để xác định liệu người dân đó có xứng đáng hưởng quyền đó không Các chính sách hầu như không bao giờ phổ quát hay hoàn toàn dựa trên mục tiêu

RemenyiJoe, Benjamin Quinones (2000), “Microfinance and Poverty

Alleviation: Case Studies from Asia and the Pacific”, Taylor and Francis press, (Vai

trò của quỹ tín dụng trong xóa đói giảm nghèo: nghiên cứu trường hợp ở Châu Thái Bình Dương) [45], đã chứng minh được mức tăng thu nhập từ những hộ được nhận vay vốn từ tín dụng nhỏ Tác giả đã đưa ra các phân tích trường hợp tại Indonesia, Bangladesh, cũng như phân tích về Ấn Độ để thấy được các hộ nghèo được vay ưu đãi tín dụng, đã có những lợi thế nhằm giảm nghèo trong cuộc sống

Á-Những nghiên cứu về công tác xã hội với giảm nghèo đã có những công trình nghiên cứu sau đây:

Tập thể tác giả David Cox Manohar Pawar (2003), “International Social Work:

issues, strategies and Programs”, New York press (Công tác xã hội quốc tế: các

vấn đề, chiến lược và các chương trình) [40], đã giới thiệu về lịch sử công tác xã hội quốc tế, hoàn cảnh ra đời công tác xã hội quốc tế, các chương trình công tác xã hội thực hiện, quyền hợp pháp được thực hiện công tác xã hội quốc tế, nâng cao trách

Trang 11

nhiệm thực hiện, phát triển cộng đồng Đồng thời, cuốn sách đưa ra chương trình và

kế hoạch phát triển ở địa phương nghèo, vùng nghèo ở đô thị Cuốn sách cũng đề cập đến vai trò của nhân viên thực hiện công tác xã hội trong giảm nghèo, đồng thời

đề cập đến những thách thức trong công tác xã hội trong giảm nghèo

Nghiên cứu về vai trò của công tác xã hội trong giảm nghèo, các tác giả Gid

G.Wairire, Agnes P.Zani, Mumbi Machera and Pius M.Mutie (2014), “The Role of

Social work in poverty reduction and realization of MDGs in Kenya”, University of

Nairobi Press (Vai trò của công tác xã hội trong giảm nghèo và thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ tại Kenya) [46] đã giới thiệu về vấn đề nghèo tại Kenya, cũng như mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo tại nước này Cuốn sách cũng đề cập đến khái niệm nghèo, các chương trình giảm nghèo, nhận thức về công tác xã hội trong giảm nghèo Cuốn sách đã cho thấy góc độ nghiên cứu trường hợp tại Kenya, tuy nhiên nghiên cứu này mang tính tổng quát của một nước, chưa đề cập đến các vùng nghèo tại Kenya

Trong cuốn “Poverty eradication and the role for social workers” ( Xóa đói

giảm nghèo và vai trò của nhân viên công tác xã hội) [1] đã chỉ ra rằng: trong thực

tế, tất cả các nơi trên thế giới, những người làm công tác xã hội lo ngại về đói nghèo

đã tăng lên, những nguồn lực thiếu là nguyên nhân đẩy con người vào đói nghèo Ở cấp vi mô của thực hành hàng ngày, các nhân viên xã hội làm việc để đối phó với đói nghèo, cũng với việc đánh giá rủi ro, làm việc một cách sáng tạo để giúp người dân hiểu được hoàn cảnh của mình và thay đổi hành vi và môi trường sống của họ Một vai trò quan trọng là phát triển cộng đồng, đòi hỏi kỹ năng phân tích cộng đồng, lập hế hoạch xã hội, tổ chức cộng đồng và hoạt động xã hội Phát triển cộng đồng đòi hỏi kỹ năng để thúc đẩy các cơ hội kinh tế cho người dân khu vực thông qua việc duy trì công nghiệp, phát triển doanh nghiệp địa phương, đào tạo việc làm Vào những lúc khó khăn, nhân viên xã hội đánh giá về rủi ro của các cá nhân và họ phải sử dụng khả năng và ảnh hưởng của họ để bảo vệ các nạn nhân của đói nghèo

Đó là điều cần thiết cho xóa đói giảm nghèo hiệu quả

Tác giả Julie Drolet (2016),“Social Development and Social work Perspectives

on Social Protection”, London and New York press, (Phát triển xã hội và bối cảnh

Trang 12

công tác xã hội về bảo trợ xã hội) [41] là tập hợp các bài viết về các vấn đề liên quan đến công tác xã hội, đó là các định nghĩa về bảo vệ xã hội, phát triển xã hội lịch sử và bối cảnh bảo vệ xã hội hiện tại: sự phát triển của sáng kiến bảo vệ tầng lớp xã hội; phục hồi và giảm sự bất bình đẳng trong xã hội, xóa đói giảm nghèo; bảo vệ xã hội và việc chống lại nghèo đói

Nguồn tư liệu nước ngoài về vấn đề giảm nghèo rất phong phú, các công trình nghiên cứu trên đóng góp khá nhiều vào cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo tại các nước trên thế giới, đặc biệt cho nghiên cứu tại Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu này có phạm vi nghiên cứu rộng, mang tầm vĩ mô, nhưng chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể về trường hợp giảm nghèo bền vững trong bối cảnh củaViệt Nam

2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Các nghiên cứu về giảm nghèo ở Việt Nam đã được thực hiện từ rất sớm, từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, gắn liền với việc thực hiện chính sách giảm nghèo Phần lớn các nghiên cứu định lượng, thậm chí thuần túy định lượng, không

có nhiều các nghiên cứu định tính trong lĩnh vực này Điển hình năm 1995, Cơ quan

hợp tác phát triển Thụy Điển (SIDA) có đưa ra nghiên cứu về “Vấn đề nghèo ở Việt

Nam” [4], đã phân tích sâu tình hình của các nhóm nghèo ở Việt Nam, đánh giá

những tác động của công cuộc đổi mới đến người nghèo gắn liên với các vấn đề y

tế, giáo dục, tín dụng đưa ra một số vấn đề có ý nghĩa chiến lược cần xem xét để nâng cao hiệu quả giảm nghèo ở Việt Nam

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã kết hợp với UNDP có báo cáo năm

2004 về Đánh giá Chương trình mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo và chương trình 135 Báo cáo tập trung vào một số chính sách như tín dụng, y tế, giáo dục, khuyến nông và định canh, định cư Đây là một báo cáo đánh giá tổng thể chương trình mặt trận quốc gia xóa đói giảm nghèo và chương trình 135 đã ghi nhận những thành tựu của cả hai chương trình Đồng thời cũng nêu bật những thách thức cần phải khắc phục của chương trình để có tác động tích cực, nhằm cải thiện chất lượng sống của người nghèo Đồng thời, báo cáo đã đưa ra các khuyến nghị về cải thiện cách thức xác định hộ nghèo, xác định những trọng điểm của chương trình [2, tr.19]

Trang 13

Do đặc trưng về yếu tố địa lý, cũng như các đặc trưng về dân tộc, điều kiện sản xuất nên các nghiên cứu về giảm nghèo phần nhiều được thực hiện ở khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số Điều này cũng phản ánh đặc điểm về đối tượng, địa bàn mà các chính sách giảm nghèo đang bao phủ Điển hình là các

nghiên cứu của UNDP về “Sáng kiến quản lý về giới và chính sách kinh tế ở Châu

Á và Thái Bình Dương: giới và đói nghèo”, năm 2012, do Trung tâm vùng Châu Á

và Thái Bình Dương xuất bản [7], đã giới thiệu những định nghĩa và thước đo về đói nghèo, sự tương tác về giới ảnh hưởng tới đói nghèo và mối liên hệ giữa chính sách việc làm, quan hệ giới và đói nghèo

Các nghiên cứu giảm nghèo có sự tham gia của người dân cũng không được thực hiện nhiều, đặc biệt là những nghiên cứu ở quy mô lớn.Thời gian gần đây, xu hướng lồng ghép gia tăng nghiên cứu định tính trong lĩnh vực giảm nghèo đã được chú trọng nhiều hơn, nhằm đánh giá toàn diện hơn về các chiều cạnh của vấn đề

nghèo Điển hình là các nghiên cứu của OXFAM về “Theo dõi nghèo đô thị theo

phương pháp cùng tham gia”, năm 2008 đến năm 2012 [34], tổng hợp về nghèo ở

đô thị, giới thiệu nhóm nghèo đô thị gồm nghèo bản xứ và người nhập cư; các thách thức giảm nghèo đô thị; phân tích các nhóm xã hội đặc thù dễ bị tổn thương Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ chọn Thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh làm địa điểm điều tra làm nghiên cứu cho tình trạng nghèo đô thị

Theo thời gian, xu hướng nghiên cứu về giảm nghèo cũng có sự thay đổi.Trước đó, phần lớn các nghiên cứu lại tập trung đánh giá kết quả và thực trạng giảm nghèo Hiện tại, các nghiên cứu thường tập trung nhiều hơn cho các vấn đề liên quan tới thách thức giảm nghèo, bao gồm các thách thức truyền thống và các thách thức mới như biến đổi khí hậu, khủng hoảng kinh tế Công bố điển hình của

Ngân hàng thế giới năm 2012 về “Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoàn thành:

thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới” [15],

đã chỉ ra thành tích tăng trưởng và giảm nghèo của Việt Nam, báo cáo thách thức giảm nghèo mới và cũ ở Việt Nam, cập nhật hệ thống theo dõi nghèo của Việt Nam

và thiết lập cơ sở thực tế về nghèo và người nghèo ở Việt Nam

Trang 14

Cách thức tiếp cận trong các nghiên cứu về giảm nghèo của các tổ chức cũng rất khác nhau Thông thường những nghiên cứu lớn về chính sách, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, các chương trình 134, chương trình 135 chủ yếu được thực hiện bởi các tổ chức như UNDP, WB Trong khi đó, với số đông các tổ chức còn lại, các nghiên cứu về giảm nghèo được thực hiện ở quy mô nhỏ hơn, cả

về đối tượng và phạm vi Khá nhiều nghiên cứu của các tổ chức mang tính nối tiếp nhau, cũng vì thế, trong một số trường hợp nhất định có thể nhận thấy được tính hệ thống trong các kết quả và các khuyến nghị từ các nghiên cứu này Ví dụ như từ năm 1995 đến nay, WB đều có các đánh giá nghèo, thường tương ứng với mỗi thời

kỳ phát triển của Việt Nam, như Đánh giá nghèo và Chiến lược giảm nghèo của Việt Nam năm 1995; Tấn công nghèo đói năm 2000; Giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu và thách thức năm 2010 Phần lớn các nghiên cứu và đánh giá nghèo này được sử dụng cho các hoạt động vận động và đối thoại chính sách

Tác giả Nguyễn Hải Hữu đã có bài nghiên cứu trên Tạp chí Cộng Sản số 86

về “Định hướng tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói ở nước ta” [10], đã khẳng

định nghèo đói là vấn đề toàn cầu Tại Việt Nam đã có những thành tựu trong lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội, làm cho bộ mặt của các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn đã thay đổi đáng kể, đời sống của đại đa số người dân được nâng cao Thành tựu xóa nghèo của nước ta không những thể hiện

sự cam kết chính trị mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước, mà còn tạo được những hình ảnh, vị thế tốt đẹp của nước ta trên trường quốc tế Cùng với những thành tựu đã đạt được, tác giả còn nêu lên những khó khăn trong quá trình triển khai chương trình xóa đói giảm nghèo không tránh khỏi những khó khăn, những mặt chưa đạt được, đòi hỏi phải có sự nỗ lực giải quyết như nguồn kinh phí do trung ương bố trí còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được những mục tiêu đề ra, một số chính sách hỗ trợ chưa thật sự phù hợp với người nghèo, ảnh hưởng đến hiệu quả của chương trình Đồng thời, để thực hiện được mục tiêu của chương trình xóa đói, giảm nghèo, tác giả cũng nêu nên những giải pháp để thực hiện hiệu quả hơn công tác giảm nghèo

Ngoài ra, còn có những nghiên cứu của các thạc sĩ chuyên ngành công tác xã

hội về xóa đói, giảm nghèo, như Bùi Văn Dương (2014) về “Vai trò của công tác

Trang 15

xã hội trong xóa đói, giảm nghèo tại xã Hải Phong, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;

Nguyễn Thị Huệ (2016) về “ Hoạt động công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo

ở cộng đồng dân tộc Mông, tại xã Cán Chu Phìn, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang”;

Đinh Thị Nguyệt (2014) về “Vai trò công tác xã hội trong việc thực hiện chương

trình 135 tại huyện Kim Bôi- tỉnh Hòa Bình giai đoạn II (2006-2010)” đã nghiên

cứu sâu hơn về sự trợ giúp của công tác xã hội đối với các vùng sâu, vùng khó khăn của Việt Nam [16]

Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2016) cũng có bài nghiên cứu về “Vai trò của

công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững”[4]tại hội thảo công tác xã hội với

người nghèo từ lý luận đến thực tiễn, đã phân tích vai trò của công tác xã hội và làm

rõ khía canh lý luận của nghèo Tác giả đã phân tích sâu hơn về mục tiêu cụ thể của công tác xã hội nói chung và công tác xã hội với người nghèo nói riêng, các vấn đề

mà người nghèo đối mặt trong cuộc sống, từ đó ứng dụng các phương pháp công tác

xã hội nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói

Đối với những tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam cũng góp phần mang lại những thông tin hữu ích cho việc nghiên cứu luận văn này Số lượng sách, kỷ yếu hội thào là nền tảng cơ bản thúc đẩy những nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực này Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở góc độ cách tiếp cận về nghèo

đa chiều ở trẻ em, nghèo đa chiều ở đô thị

Các kết quả nghiên cứu về nghèo trong đề tài này cho thấy sự cần thiết phải nhìn nhận rộng hơn, sâu sắc hơn các mô hình công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo, nếu như Việt Nam muốn đạt các kết quả bền vững

Một trong những khó khăn điển hình của các nghiên cứu là sự thiếu hụt các thông tin liên quan đến vấn đề công tác xã hội của các chương trình, chính sách Các thông tin về tài chính, nguồn lực giảm nghèo thường chỉ được tìm thấy trong các đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình 135 nhưng hàm lượng thông tin không nhiều

Bên cạnh đó, cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào về mô hình công tác xã hội giảm nghèo bền vững tại xã Đồng Sơn Đây là một khoảng trống cần

được thực hiện nghiên cứu trong luận văn này

Trang 16

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài mô tả thực trạng vấn đề nghèo tại xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh để thấy rõ sự cần thiết có sự trợ giúp của công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững Bên cạnh đó, đề tài đánh giá mô hình hoạt động của công tác xã hội trong thúc đẩy hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại xã Đồng Sơn hiện nay từ

đó đưa ra các giải pháp thúc đẩy thực hiện mô hình công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện các nhiệm vụ sau:

+ Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác xã hội đối với giảm nghèo bền vững

+ Phân tích thực trạng nghèo và các hoạt động giảm nghèo tại xã Đồng Sơn từ năm 2013 đến năm 2018

+ Đánh giá các hoạt động mô hình công tác xã hội-phát triển cộng đồngtrong hỗ trợ giảm nghèo tại xã Đồng Sơn

+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình hoạt động công tác xã hội đối với người nghèo trên địa bàn Đồng Sơn và Đưa ra giải pháp nhằm nâng cao việc ứng dụng công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo tại xã Đồng Sơn

4 Đối tƣợng nghiên cứu

Mô hình (các hoạt động phát triển cộng đồng) công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo tại xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: nghiên cứu được tiến hành trên tại địa bàn xã Đồng

Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh

Phạm vi về thời gian nghiên cứu của đề tài: Tìm hiểu các hoạt động công tác xã

hội trong hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại xã Đồng Sơn trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2018 Nghiên cứu này được triển khai trong thời gian 8 tháng, từ tháng 8/2017 đến tháng 3/2018

Trang 17

Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung vào hoạt động phát triển cộng đồng của

công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững như sau: i) nâng cao nhận thức người dân; ii) kết nối các nguồn lực người dân tiếp cận với chương trình, chính sách; iii)

tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế, giáo dục; và iv) hỗ trợ pháp lý

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Đây là phương pháp thu thập thông tin và xem xét các thông tin sẵn có trong các tài liệu gốc, tài liệu thứ cấp, các bài nghiên cứu, các công trình khoa học liên quan đến mô hình công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo Các tài liệu gốc được tác giả nghiên cứu bao gồm các văn kiện của Đảng, Chính phủ về giảm nghèo như Nghị quyết số 89/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững thời

kỳ từ 2011 đến năm 2020, Nghị quyết số 76/2014/QH13 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020 Các tài liệu thứ cấp bao gồm các bài nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, cũng như các kỷ yếu hội thảo đã được tiến hành về mô hình công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo

Việc phân tích tài liệu cho phép học viên có các luận cứ khoa học, luận điểm chính xác, giải quyết hàng loạt các vấn đề nghiên cứu đã đề ra trong nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

6.2 Phương pháp quan sát

Tác giả sử dụng phương pháp quan sát nhằm mục đích thấy rõ diễn biến của tình trạng nghèo tại xã Đồng Sơn, thông qua cách sống, mức sống, sinh hoạt, các điều kiện sống xung quanh, phong tục tập quán, thái độ lao động của người dân tại xã này Phương pháp quan sát cũng được sử dụng khi phỏng vấn sâu, xem xét những biểu hiện cảm xúc của người dân Đồng Sơn khi chia sẻ các thông tin liên quan về

mô hình công tác xã hội được áp dụng tại xã Qua đó, thấy được tính khả thi và có những nhận xét đánh giá về quá trình làm việc của cán bộ làm công tác xã hội trên địa bàn Đồng Sơn Phương pháp này cũng được sử dụng nhằm ghi chép tình trạng nghèo và các mô hình công tác xã hội được áp dụng tại xã Đồng Sơn Qua đó, làm

rõ được tình hình thực tiễn về nghèo đa chiều của người dân đang sinh sống tại xã

và từ đó đưa ra những ý kiến khách quan sát với thực tế trên địa bàn

Trang 18

6.3 Phương pháp khảo sát

Phương pháp khảo sát 100 hộ gia đình nghèo trên tổng số 132 hộ nghèo (chiếm 75,76% tổng hộ nghèo) được tiến hành tại xã Đồng Sơn Tổng số hộ tham gia nghiên cứu đảm bảo tính đại diện cho các loại hình hộ gia đình nghèo, đại bàn khác nhau của nơi thực hiện nghiên cứu Thông các bảng khảo sát, tác giả thu thập thông tin từ cán bộ làm công tác xã hội và hộ nghèo nhằm tìm hiểu điều kiện sống, tình trạng nghèo và sự hỗ trợ của công tác xã hội đối với người dân tại khu vực này Đề tài đã thực hiện các khảo sát với những nội dung sau:

- Khảo sát tình trạng nghèo tại xã Đồng Sơn

- Khảo sát về thu nhập của hộ nghèo

- Khảo sát về việc người dân được tiếp cận thông tin, tuyên truyền

- Khảo sát về hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân xã Đồng Sơn

- Khảo sát về chính sách hỗ trợ giáo dục

- Khảo sát về chính sách vay vốn của người dân xã Đồng Sơn

- Khảo sát về hỗ trợ pháp lý tại xã Đồng Sơn

Để thực hiện phương pháp khảo sát, tác giả đã sử dụng các phiếu hỏi để khảo sát, đánh giá khách quan về thực trạng nghèo tại Đồng Sơn, cũng như hiệu quả của các mô hình công tác xã hội đã được áp dụng tại địa bàn này Từ những số liệu thu thập được, tác giả sử dụng phương pháp tính toán cơ bản theo công thức toán học với các phiếu điều tra Sau khi tiến hành phát phiếu hỏi, việc tổng hợp các đáp án

và xử lý số liệu sẽ được tiến hành theo công thức: số người lựa chọn đáp án là bao nhiêu phần trăm Phương pháp khảo sát rất quan trọng trong việc sử lý số liệu, vì có

độ chính xác cao và đòi hỏi phải có sự cẩn thận trong tính toán

6.4 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu ghi lại câu chuyện điển hình: Phỏng vấn sâu một số

hộ nghèo điển hình tại tổ dân phố/thôn/xóm và một số người thuộc nhóm xã hội đặc thù tại mỗi phường/xã để hiểu sâu hơn quan niệm về nghèo, điều kiện sống, tình trạng dễ bị tổn thương, cách chống đỡ vượt qua khó khăn và phản hồi về chính

Trang 19

sách.Phương pháp phỏng vấn sâu được tiến hành đối với người dân sống tại Đồng Sơn, cũng như các cán bộ phụ trách về công tác xã hội như Phòng Lao Động- Thương binh và Xã hội và đoàn thể, hội phụ nữ, trạm y tế Số lượng khách thể tham gia vàophỏng vấn sâu là 25 người để làm rõ hiệu quả của mô hình công tác xã hội, từ đó có những đánh giá về công tác xã hội tại địa bàn này Các câu hỏi phỏng vấn sâu chủ yếu tập trung vào tìm hiểu về những cách tiếp cận chính sách, chương trình và dự án của mô hình công tác xã hội, những vướng mắc trong việc thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn Đồng Sơn

7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu:

Thực trạng nghèo tại xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh hiện nay như thế nào?

Có những hoạt động gì trong mô hình công tác xã hội nào đang được thực hiện trong hỗ trợ giảm nghèo nào hiện đang được thực hiện tại xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh?

Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thực hiện mô hình công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững ?

Có những giải pháp nào thúc đẩy mô hìnhcông tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại xã Đồng Sơn?

Giả thuyết nghiên cứu:

- Mô hình công tác xã hội: các hoạt động phát triển cộng đồng có thể hỗ trợ hữu hiệu trong giảm nghèo bền vững thông qua các hoạt động nâng cao nhận thức, kết nối cộng đồng, huy động các nguồn lực hỗ trợ

- Khi thực hiện mô hình công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại Đồng Sơn, các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình công tác xã hội tại đây có giúp người dân vượt qua những khó khăn và vươn lên thoát nghèo hay không?

- Những giải pháp được nghiên cứu đưa ra đã thúc đẩy công tác giảm nghèo, nhưng cần thực hiện triệt để hơn các giải pháp này?

Trang 20

8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Đề tài nghiên cứu “Mô hình công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo bền vững

tại xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh” vừa có tính lý luận và thực tiễn

Về mặt lý luận, nghiên cứu khái quát hoá được hệ thống lý luận về giảm nghèo bền vững, mô hình công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững, góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết về mô hình công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại một xã miền núi khó khăn như xã Đồng Sơn

Bên cạnh đó, nghiên cứu của đề tài góp phần tăng cường thông tin, bổ sung

cơ sở dữ liệu về mô hình công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu góp phần tiếp tục trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm về mô hình công tác xã hội tại xã Đồng Sơn

Về mặt thực tiễn, các ý kiến, kết luận được trình bày trong luận văn làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng các chính sách về giảm nghèo bền vững, và đặc biệt là với địa phương nhằm hỗ trợ cho xã nghèo Đồng Sơn Hơn nữa, kết quả nghiên cứu của đề tài này nhằm giúp cho các cán bộ làm công tác xã hội học trong giảm nghèo bền vững có những biện pháp thiết thực thúc đẩy công tác giảm nghèo ngày càng tốt hơn

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác xã hội đối với giảm nghèo bền vững

Chương 2 Đánh giá các hoạt động của mô hình công tác xã hội trong phát triển cộng đồng đối với việc giảm nghèo bền vững tại xã Đồng Sơn, huyện Hoành

Bồ, tỉnh Quảng Ninh

Chương 3 Giải pháp của mô hình công tác xã hội đối với giảm nghèo bền vũng ở xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh

Trang 21

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI

ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

1.1 Khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm về nghèo, nghèo đa chiều, giảm nghèo bền vững

1.1.1.1 Khái niệm về nghèo

Hiện nay có nhiều quan niệm về nghèo được các quốc gia thừa nhận Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không

có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng

và những phong tục được xã hội thừa nhận [8, tr.7]

Trong Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, tổ chức tại Copenhagen ở Đan Mạch năm 1995 đã đưa định nghĩa cụ thể hơn về nghèo là tất cả những ai mà có thu nhập thấp hơn dưới 1USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại [8, tr.7]

Ngoài ra, cũng có quan niện khác về nghèo mang tính kinh điển và triết lý của chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), ông Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ, đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1998: để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn [8, tr.8]

Trong tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của tổ chức quốc tế Liên Hợp quốc (UN) thông qua năm 2007, mục tiêu đầu tiên đó là triệt để loại trừ tình trạng nghèo và thiếu ăn Theo đó, nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được

đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình

và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc

Trang 22

trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn [11] Hòa bình và an ninh sẽ có nhiều khả năng trở thành hiện thực hơn khi con người thoát khỏi nghèo đói, cũng như được tiếp cận với giáo dục, các dịch vụ chăm sóc sức khỏa có chất lượng và có cơ hội bình đẳng

Ở nước ta, căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dân, khái niệm nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện [8]

Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống

Tóm lại, theo tác giả của luận văn, khái niệm nghèo được hiểu là tình trạng

một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của địa phương

1.1.1.2 Khái niệm nghèo đa chiều

Giống như quá trình phát triển, nghèo đói là một khái niệm đa chiều Trong cùng một thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau,

có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc điện thắp sáng Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người

Đo lường nghèo đa chiều ngày càng được quan tâm rộng rãi trên thế giới Điển hình là Báo cáo Phát triển con người của UNDP năm 2010 đã sử dụng chỉ số nghèo đa chiều-MPI để bổ sung cho cách đo lường nghèo đơn chiều theo thu nhập/chi tiêu MPI được tính toán cho 104 quốc gia dựa trên ba chiều là giáo dục, y

tế và mức sống, gồm mười chỉ tiêu phụ gắn với các Mục tiêu Phát triển thiên niên

kỷ của Liên Hợp quốc [7]

Trang 23

Đối với Việt Nam, khái niệm nghèo đa chiều được đề cập chính thức trong đường lối, chủ trương của Đảng từ năm 2013 tại Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, cách tiếp cận nghèo đa chiều cũng dựa trên cách tiếp cận của thế giới nhưng có những điểm cần lưu ý trong quá trình vận dụng để đánh giá, đo lường nghèo đa chiều Thời gian qua, chuẩn nghèo, tỷ lệ nghèo và xác định đối tượng nghèo ở Việt Nam hoàn toàn dựa vào các tiêu chí thu nhập, trong đó chuẩn nghèo được xác định theo phương pháp “chi phí cho các nhu cầu cơ bản” Các nhu cầu cơ bản bao gồm chi cho nhu cầu tối thiểu về lương thực/thực phẩm và chi cho những nhu cầu phi lương thực/thực phẩm thiết yếu (giáo dục, y tế, nhà ở ) Cách tiếp cận theo thu nhập này không phù hợp với tính đa chiều của nghèo đói, bởi vì: Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội, v.v ) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường, đường xá và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế/giáo dục công v.v ) Thứ hai, với các hộ có có thu nhập trên chuẩn nghèo thì trong một số trường hợp thu nhập đó sẽ không được chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu; vì những lý do như không tiếp cận được dịch vụ tại nơi sinh sống, hoặc thay vì chi tiêu cho giáo dục hoặc y tế, thu nhập có thể bị chi cho thuốc lá, bia rượu và các mục đích khác Đặc biệt, khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp vào năm 2010 với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa và di cư rất nhanh, phương pháp này càng bộc lộ nhiều hạn chế

Như vậy, nghèo đa chiều là cách tiếp cận mới nhằm hạn chế việc bỏ sót những đối tượng tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại nghèo về các chiều cạnh khác Thay vì xem xét nghèo thu nhập, những ai không được khám chữa bệnh, không được đến trường, không được tiếp cận thông tin cũng được xác định là nghèo Cái nghèo gắn liền với sự thiếu thốn thu nhập/chi tiêu mà còn là việc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản khác

Bên cạnh đó, cụm từ “xóa đói giảm nghèo”, “xóa đói giáp hạt” trước đây được thay bằng “giảm nghèo bền vững [12]

Trang 24

1.1.1.3 Khái niệm giảm nghèo, giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo là tổng thể các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thực hiện mục đích hỗ trợ những điều kiện cơ bản (như ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, tiếp xúc văn hóa, xã hội ) để cho người nghèo có thể tồn tại và phát triển để dần đạt đến mức trung bình như các thành viên khác trong cộng đồng [15]

Như vậy, giảm nghèo không chỉ là đủ ăn, đủ nhu cầu tối thiểu, giảm nghèo còn được hiểu rộng hơn là sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập, phương thức kiếm sống hoặc tồn tại, bảo đảm chi những lúc khó khăn, cải thiện khả năng thành công của cá nhân, chuẩn bị cho thế hệ sau, thúc đẩy việc thành lập kế hoạch và đầu tư dài hạn cho tương lai, tạo ra ích lợi cho cá nhân trong suy nghĩ và hành động tập thể để đạt được các tài sản khác

Giảm nghèo bền vững là một trong những biện pháp cơ bản để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông tôn, giữa các vùng, các dân tộc

và các nhóm dân cư [36, tr.20] Đây là nội dung xuyên suốt để Đảng ta kiên quyết, kiên trì thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo Tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, tư tưởng: “Công bằng xã hội thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất, lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, cũng như ở điều kiện phát triển năng lực của mọi thành viên trong cộng đồng” [36, tr.24], đã trở thành căn cứ lý luận để Đảng ta lãnh đạo công cuộc xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp xây dựng đất nước Đến Đại hội X, Đảng khẳng định: “càng đi vào kinh tế thị trường, càng phải chăm lo tốt hơn phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phát triển giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe nhân dân” [35, tr.182] Đây chính là quyết tâm, là lời hứa của Đảng Cộng sản Việt Nam với nhân dân về mục tiêu của Đảng

Từ năm 2016-2020, Việt Nam bắt đầu chuyển sang giai đoạn mới, hướng tới giảm nghèo bền vững, tiếp cận đa chiều theo xu hướng chung của các nước trên thế

Trang 25

giới Đây là phương pháp tiếp cận mới, tiến bộ hơn, có tính nhân văn, tác động toàn diện hơn đến người nghèo Theo đó, giảm nghèo bền vững là một trong những trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2011-2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư [6]

1.1.2 Khái niệm hộ nghèo và cách xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam

Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện

Theo Ngân hàng thế giới khuyến nghị tính chuẩn nghèo theo bốn nhóm nước

là chậm phát triển, đang phát triển, phát triển và các nước công nghiệp phát triển [5]:

- Đối với các nước chậm phát triển: các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0,5 USD/ngày

- Đối với nước đang phát triển là 1 USD - 2USD/ngày

- Các nước Châu Âu là 4 USD/ngày

- Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày

(chuẩn đô la Mỹ nêu trên là tính theo sức mua tương đương, đối với nước ta 1 USD tương đương với 2800 đồng với thời điểm năm 2004)

Ở Việt Nam, việc xác định chuẩn nghèo rất quan trọng trong việc thực hiện

mô hình công tác xã hội Theo đó, chuẩn nghèo là thước đo (hay tiêu chí) nhằm xác định ai là người nghèo (hoặc không nghèo) để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của nhà nước; nhằm bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo

Hiện nay, Việt Nam đã, đang tồn tại hai chuẩn nghèo, một chuẩn nghèo chính thức của Chính phủ và một chuẩn nghèo được thiết kế bởi Tổng cục Thống kê của Ngân hàng Thế giới phục vụ cho các hoạt động theo dõi và đánh giá nghèo Trong nghiên cứu đề tài này, tác giả áp dụng chuẩn nghèo của chính phủ Chuẩn

Trang 26

nghèo chính thức xây dựng và được điều chỉnh qua các giai đoạn khác nhau để phù hợp với bối cảnh phát triển mới của Việt Nam Thông thường, thời gian điều chỉnh chuẩn nghèo chính thức là 5 năm, do gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Từ sau năm 2005, chuẩn nghèo được tính bằng tiền dựa trên cách tính toán các chi phí cho nhu cầu cơ bản Căn cứ vào mức sống thực tế các địa phương, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, từ năm 1993 đến năm 2017, Chính phủ đã công bố chuẩn nghèo như sau [5, tr.22]:

Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ năm 1993 đến 1995: Chuẩn nghèo theo nhu

cầu cơ bản của Việt Nam, được thống nhất vào đầu thập kỷ 90 đã đưa ra các tiêu chí xác định và thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống của người dân Theo đó, đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung, bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm

Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn, mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế thế giới xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm

Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm, ta có đường đói nghèo chung

Căn cứ vào quy mô, tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính và mức sống thực tế của người dân, chuẩn nghèo được xác định như sau:

+ Hộ đói là bình quân thu nhập đầu người quy theo gạo/tháng dưới 13 kg đối với thành thị, dưới 8kg đối với khu vực nông thôn

+ Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người quy theo gạo/tháng dưới 20kg đối với thành thị, dưới 15kg đối với khu vực nông thôn

Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ năm 1995-1997:

+ Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy

ra gạo dưới 13kg, tính cho mọi vùng

Trang 27

+ Hộ nghèo là hộ có thu nhập ở vùng nông thôn, miền núi, hải đảo dưới 15kg/người; vùng nông thôn, đồng bằng, trung du dưới 20kg/người/tháng; vùng thành thị dưới 25kg/người/tháng

Giai đoạn thứ ba bắt đầu từ năm 1998 đến 2000: Theo Công văn số

1751/LĐTBXH ngày 20/5/1997, quy định:

+ Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy

ra gạo dưới 13kg, tương đương 45 ngàn đồng, tính cho mọi vùng

+ Hộ nghèo là hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới 15 kg/người/tháng (tương đương 55 ngàn đồng); vùng nông thôn, đồng bằng, trung du dưới 20kg/người/tháng (tương đương 70 ngàn đồng); vùng thành thị dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90 ngàn đồng)

Giai đoạn thứ tư, bắt đầu từ năm 2001 đến năm 2005: Theo Quyết định số

1143/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000 về việc điều chỉnh chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001-2005: chuẩn nghèo đối với vùng nông thôn miền núi, hải đảo là 80.000 đồng/người/tháng; Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng; Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng [3, tr.1]

Trong các giai đoạn này, chuẩn nghèo được áp dụng cho ba khu vực là: nông thôn miền núi, nông thôn đồng bằng và thành thị

Giai đoạn thứ năm bắt đầu từ năm 2006 đến năm 2010: Theo Quyết định của

Thủ tướng Chính phủ số 170/2005/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 ngày 08 tháng 07 năm 2005, việc xác định chuẩn nghèo mới theo nguyên tắc toàn diện hơn, công bằng hơn, bền vững và hội nhập cũng như

sự cần thiết nêu trên đòi hỏi chuẩn nghèo trong giai đoạn mới (2006-2010) phải nâng dần để phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức sống của dân cư và từng bước hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới Khi tính toán chuẩn nghèo cho cả giai đoạn 2006 - 2010 cũng đã xem xét đến các yếu tố: trượt giá (ước tính trung bình hàng năm cả giai đoạn 7-8%); tăng trưởng kinh tế (7,5 -8%/năm); tăng tiền lương (khoảng 10 - 20%)

Trang 28

Trong giai đoạn này chỉ xác định chuẩn nghèo cho hai khu vực là: nông thôn

và thành thị Việc áp dụng chung một chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn sẽ có lợi hơn cho người dân ở vùng miền núi bảo đảm công bằng hơn giữa các vùng và Nhà nước tập trung được nguồn lực cho vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao Việc sử dụng chuẩn nghèo cho hai khu vực thành thị và nông thôn cũng phù hợp với xu thế quốc tế

Chuẩn nghèo giai đoạn này được tính như sau: Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực nông thôn là dưới 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống; thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực thành thị là dưới 260.000 đồng/người/tháng (3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo [31, tr.1]

Giai đoạn thứ sáu, bắt đầu từ năm 2011 đến năm 2015 được quy định như

sau [32, tr.1]: Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 ngày 30-01-2011, Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo thu nhập mới cho giai đoạn 2011-2015 tăng gần gấp đôi so với chuẩn nghèo thu nhập cũ giai đoạn 2006-2010 Theo đó:

Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống

Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống

Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng

Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng

So với giai đoạn 2006-2010, mục tiêu về giảm nghèo trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 thậm chí còn cao hơn, mỗi năm giảm 2% riêng các khu vực nghèo nhất, tỷ lệ giảm nghèo mỗi năm là 4%

Giai đoạn thứ bảy, từ năm 2016 đến năm 2020, theo Quyết định của Thủ

tướng Chính phủ số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều ngày 19 tháng 11 năm 2015, chuẩn nghèo được xây dựng theo hướng kết hợp

Trang 29

cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở các tiêu chí về thu nhập, bao gồm chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập, mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ

xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin Trên cơ sở năm chiều cạnh nghèo, chuẩn nghèo được quy định như sau:

Hộ nghèo đối với khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí, đó

là có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt

từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí, đó là có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Hộ có mức sống trung bình khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng

Hộ có mức sống trung bình khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng

Quy mô giảm nghèo diễn ra ở tất cả các vùng miền, khu vực và các nhóm dân cư Tỷ lệ nghèo đô thị ở Việt Nam đã giảm từ 25,1% năm 1993, xuống còn 6,0% vào năm 2010 Quy mô giảm nghèo cũng diễn ra mạnh ở các vùng kinh tế, đặc biệt là ở các khu vực đồng bằng sông Hồng giảm gần sáu lần; Đông Nam Bộ giảm gần năm lần Các khu vực như Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên cũng đạt được tốc độ giảm nghèo tương đối nhanh

Trang 30

Như vậy, qua việc thay đổi chuẩn nghèo qua các giai đoạn phát triển có thể thấy những thay đổi đáng kể trong đời sống của người dân, không chỉ ở khía cạnh thu nhập, mà còn ở nhiều khía cạnh khác như tiếp cận các dịch vụ xã hội, cơ sở hạ tầng, các nguồn lực để thoát nghèo

1.2 Mô hình công tác xã hội

1.2.1 Khái niệm mô hình

Mô hình là một hình thức diễn đạt ngắn gọn các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng để nghiên cứu đối tượng

Mô hình được hiểu là vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu [9]

Mô hình được phân loại khác nhau Theo hình thức có công thức, đồ thị, sơ đồ Theo chức năng, có mô hình hệ thống, mô hình cấu trúc, mô hình logic, mô hình toán, mô hình công tác xã hội Trong đó, mô hình xã hội là một kiểu tương tác

xã hội, một cung cách ứng xử, một mẫu tương tác mà chủ thể xã hội bắt chước, học hỏi và tiến hành theo [1, tr.25-26]

1.2.2 Khái niệm công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội, công tác xã hội trong giảm nghèo và mô hình công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững

1.2.2.1 Khái niệm công tác xã hội

Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về công tác xã hội Theo Hiệp hội Quốc gia nhân viên công tác xã hội (NASW): công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996, p.5)

Theo Hiệp hội nhân viên công tác xã hội quốc tế thông qua tháng 7 năm

2000 tại Montreal, Canada (IFSW): nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề [31, tr.5]

Trang 31

Tại Đại hội của IFSW và IASSW tháng 7/2014 tại Melbourne, Australia đã đưa ra định nghĩa toàn cầu về nghề Công tác xã hội: “Công tác xã hội là một nghề dựa trên cơ sở thực hành trực tiếp và là một khoa học chuyên ngành nhằm thúc đẩy thay đổi và phát triển xã hội, gắn kết xã hội, trao quyền và giải phóng con người Nguyên tắc công bằng xã hội, quyền con người, trách nhiệm tập thể và tôn trọng sự

đa dạng là trung tâm của công tác xã hội Được củng cố bởi các lý thuyết công tác

xã hội, khoa học xã hội, nhân văn và kiến thức bản địa, công tác xã hội thực hành với con người và các thể chế để giải quyết những thách thức cuộc sống và nâng cao sức khỏe của cộng đồng” [4]

Theo Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ về công tác xã hội: công tác xã hội góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến [16, tr.25]

Như vậy, theo các quan niệm hiện nay, công tác xã hội vừa là khoa học ứng dụng để trợ giúp những nhóm yếu thế vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội Công tác xã hội được coi như là một môn khoa học, vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những nghiên cứu đã được chứng minh Công tác xã hội cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa

1.2.2.2 Khái niệm nhân viên công tác xã hội

Việc thực hiện các hoạt động công tác xã hội được nhân viên công tác xã hội tiến hành Theo Hiệp hội nhân viên công tác xã hội quốc tế-IFSW), nhân viên công tác xã hội là những người hoạt động trong nhiều lĩnh vực đào tạo chính quy và cả bán chuyên nghiệp, được trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội để trợ giúp các đối tượng, nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy

sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường, tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức, vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn

Trang 32

Nhân viên công tác xã hội là những nhà chuyên nghiệp làm chủ những nền tảng kiến thức cần thiết, có kỹ năng phát triển các kỹ năng cần thiết, tuân theo những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề công tác xã hội [4]

Trình độ tối thiểu quy định đối với nhân viên công tác xã hội ở những nước có nghề công tác xã hội phát triển như Mỹ, Anh, Canada, Australia, Philippines là phải tốt nghiệp đại học

1.2.2.3 Khái niệm công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững

Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách đời sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam đã cam kết Vì vậy, Nghị quyết

số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm

2011 đến năm 2020 đã đưa ra mục tiêu giảm nghèo bền vững và các chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung, trong đó có các mô hình như sau:

- Hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân

- Hỗ trợ về giáo dục và đào tạo

- Hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng

- Hỗ trợ về nhà ở

- Hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý

Để tạo sự chuyển biến mới trong công tác giảm nghèo, Nghị quyết này là cơ

sở để các cấp chính quyền cũng như các địa phương xây dựng mô hình công tác xã hội nhằm giúp đồng bào của mình thoát nghèo, vươn lên trong cuộc sống Qua nghị quyết này, tác giả lấy làm căn cứ để xây dựng hướng nghiên cứu phục vụ cho đề tài của mình

Theo tác giả luận văn, công tác xã hội trong giảm nghèo là tiến trình tổ chức, hoạt động của nhân viên công tác xã hội đối với người nghèo và cộng đồng của họ, bằng việc thúc đẩy nhận thức và tăng cường năng lực, khả năng tự vươn lên của người nghèo trong việc tìm ra nguyên nhân của sự nghèo, xác định ý thức, trách nhiệm, khả năng và tự lựa chọn giải pháp của bản thân và khai thác các yếu tố sẵn

Trang 33

sàng giúp đỡ của cộng đồng để thoát nghèo Mặt khác, nhân viên xã hội phải huy động tài nguyên, tính sẵn sàng của cộng đồng giúp đỡ người nghèo thoát nghèo, tạo

ra sự hài hòa của quan hệ giữa người nghèo với cộng đồng [1, tr18]

Công tác xã hội có trọng trách chuyển tải và thực hiện nội dung của các chính sách xã hội đến các cá nhân, các cộng đồng là đối tượng của chính sách Những người làm Công tác xã hội có thể tư vấn cho các cấp chính quyền về việc thực thi các chính sách xã hội đã ban hành, kiểm tra tiến độ thực thi đó nhằm đảm bảo cho các đối tượng của chính sách được thụ hưởng tốt

Công tác xã hội phải giúp cho con người nâng cao năng lực giải quyết những công việc trong cuộc sống mà họ phải thực hiện Những công việc ấy có thể là vay vốn sản xuất, tìm kiếm việc làm để giảm nghèo, trợ cấp khó khăn, bảo hiểm xã hội, chế độ hưu trí… Sự hỗ trợ của Công tác xã hội không chỉ giúp cho chính sách xã hội, trong đó có giảm nghèo được thực hiện đúng đối tượng, mà còn giúp cho đối tượng chính sách có năng lực vươn lên để sống tốt hơn sau khi được chính sách tác động

Công tác xã hội tạo ra sự liên kết giữa người thụ hưởng chính sách với hệ thống cung ứng dịch vụ, tạo ra các cơ hội để đối tượng của chính sách tiếp cận với

hệ thống nguồn lực, bao gồm những nguồn lực chính thức và nguồn lực không chính thức (những nguồn lực theo những quy định của nhà nước và những nguồn lực hình thành phi chính phủ và tư nhân khác) [1, tr.24]

Công tác xã hội có nhiệm vụ góp phần vào đổi mới hoặc bổ sung cho chính sách xã hội Trong quá trình chuyển tải chính sách xã hội đến đối tượng, nhân viên Công tác xã hội có điều kiện để hiểu biết mức độ đáp ứng nhu cầu của chính sách

xã hội đến với đối tượng cụ thể được thụ hưởng chính sách

1.2.2.4 Khái niệm mô hình công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững

Trong đề tài này, mô hình công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững được hiểulà các hoạt động phát triển cộng đồng nhằm hướng tới việc hỗ trợ người nghèo

có thêm nguồn lực cải thiện hoàn cảnh sống, vươn lên thoát khỏi khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nhóm dân cư và tập hợp các hoạt động đó hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ gắn liền với

vị thế là tổ chức chính trị-xã hội của ngành công tác xã hội

Trang 34

Các hoạt động của mô hình công tác xã hội trong phát triển cộng đồng gồm: Thứ nhất, hoạt động công tác xã hội về tuyên truyền nâng cao nhận thức của

cá nhân, hộ, nhóm và cộng đồng nghèo Đây là một tiến trình tương tác nhằm giúp người nghèo hiểu được vấn đề của mình và khơi dậy tiềm năng để thân chủ tự quyết vấn đề của mình Công tác xã hội sẽ là nhịp cầu nối người dân nghèo với cán bộ để cán bộ hiểu và sát cánh cùng người dân và chính quyền giảm nghèo bền vững

Thứ hai, hoạt động công tác xã hội về kết nối các nguồn lực để người dân tiếp cận với các chương trình, chính sách Đây là một hoạt động quan trọng của nhân viên xã hội với tư cách là người trung gian, kết nối người nghèo với các nguồn lực cần thiết, như tham gia vào các chương trình giảm nghèo bền vững của địa phương, đánh giá nhu cầu và tìm kiếm, khai thác các tiềm năng nội lực (nhân công, nghề truyền thống, sản xuất và chế biến đặc sản địa phương, ) kết hợp với các chương trình, dự án bên ngoài thực hiện sinh kế bền vững

Thứ ba, hoạt động công tác xã hội về tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục

Thứ tư là hoạt động công tác xã hội về trợ giúp pháp lý Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của luật, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật [8, tr23]

Như vậy, bốn hoạt động cụ thể của mô hình của công tác xã hội với hộ nghèo bền vững nhằm giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực để thoát nghèo bền vững, giúp họ đối mặt, vượt qua những rủi ro như thất học, thiếu việc làm, thiếu vốn Bên cạnh đó, còn thúc đẩy các điều kiện xã hội để cá nhân, gia đình nghèo tiếp cận được các chính sách, nguồn lực xã hội, đáp ứng nhu cầu cơ bản Công tác xã hội với người nghèo, vì thế, nên là hoạt động trợ giúp chuyên nghiệp nhằm nâng cao năng lực, chức năng xã hội của người nghèo, tiếp cận các chính sách liên quan tới nghèo đói; huy động các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng nghèo giải quyết vấn đề nghèo đói và hướng tới bảo đảm an sinh

xã hội [1, tr.25]

Trang 35

1.3 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.3.1 Lý thuyết vai trò

Vai trò là một thuật ngữ ra đời trong khoảng thời gian, từ năm 1920 đến năm

1930 Cụm từ này trở nên nổi bật hơn trong các diễn ngôn xã hội học thông qua các công trình lý thuyết của George Herbert Mead, Jacob L.Moreno và Linton Hai trong số các khái niệm của Mead về tâm trí và bản thân chính là tiền đề cho lý thuyết vai trò [1, tr.25]

Trong xã hội, vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho mỗi chức vị của con người Theo đó, mỗi người không chỉ đảm nhận một vai trò, mà thường đảm nhận nhiều vai trò khác nhau Các vai trò không được tổ chức

và vận dụng logic, hài hòa sẽ dẫn đến các xung đột vai trò, căng thẳng vai trò hoặc biến đổi vai trò Những đòi hỏi quan trọng nhất đối với vai trò không chỉ là thực hiện các vai trò, mà còn thể hiện vai trò đó có liên quan đến sự mong đợi, kỳ vọng, chuẩn mực, quy ước xã hội hay không

Có hai loại vai trò khác nhau là vai trò hiện và vai trò ẩn Vai trò hiện là vai trò bên ngoài, mọi người có thể thấy được Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ ra bên ngoài

Thuyết vai trò được đánh giá là phương pháp tiếp cận hiệu quả đối với việc hiểu biết của con người và xã hội Vì vậy, có rất nhiều khái niệm liên quan được đề cập đến, như mơ hồ trong vai trò, xung đột vai trò, thể hiện vai trò, ý thức về vai trò

Hành vi cá nhân là các hoạt động để thể hiện vai trò, vị trí của một cá nhân Khi vai trò phù hợp với khả năng của cá nhân, người đã đảm trách tốt vai trò được phân công Thuyết vai trò cho rằng muốn thay đổi hành vi một cá nhân, cần tạo cơ hội cho họ thay đổi vai trò Công tác xã hội vận dụng quan điểm đó, cùng với các phương pháp tiếp cận khác để thực hiện can thiệp cho đối tượng của mình

Ứng dụng thuyết vai trò xã hội trong nghiên cứu:

Trong luận văn này, tác giả sử dụng lý thuyết vai trò để đánh giá vai trò của nhân viên thực hiện công tác xã hội trong việc tác động đến sự thay đổi của người nghèo tại xã Đồng Sơn

Trang 36

Mô hình công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo được thể hiện dưới nhiều hình thức, nhằm vào vô số các tương tác phức hợp giữa con người và môi trường của họ Mục đích của công tác xã hội với người nghèo nhằm giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực để thoát nghèo bền vững, giúp họ có khả năng giải quyết các vấn đề khiến họ rơi vào hoàn cảnh nghèo như thất học, thiếu việc làm, thiếu vốn Mặc khác, công tác xã hội đối với người nghèo còn thúc đẩy các điều kiện xã hội để cá nhân, gia đình nghèo tiếp cận được các chính sách, nguồn lực

xã hội, đáp ứng nhu cầu cơ bản của họ Công tác xã hội chuyên nghiệp tập trung vào quá trình giải quyết các vấn đề và sự thay đổi Do đó, nhân viên công tác xã hội

là những tác nhân đổi mới trong xã hội, trong đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng mà họ phục vụ Công tác xã hội là một hệ thống liên kết các giá trị, lý thuyết và thực hành

Trong công tác xã hội hỗ trợ giảm nghèo cho xã Đồng Sơn, đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội phải thể hiện vai trò của mình trong các mô hình hỗ trợ giảm nghèo, như tham mưu, tư vấn, vai trò kết nối nguồn lực, vai trò hướng dẫn, vai trò giám sát

Đối với cán bộ quản lý, vai trò thể hiện ở việc tổ chức, quản lý các hoạt động

hỗ trợ giảm nghèo, như lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ, tổ chức thực hiện, đánh giá Ngoài ra, các cán bộ quản lý còn thực hiện báo cáo tình hình áp dụng mô hình công tác xã hội hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại xã Đồng Sơn

Đối với các cán bộ thực hiện công tác xã hội trực tiếp hỗ trợ giảm nghèo tại

xã Đồng Sơn, thể hiện vai trò xúc tác, tác động để thay đổi suy nghĩ, thái độ, hành

vi của thân chủ Các cán bộ thực hiện vai trò này được áp dụng một cách linh hoạt khi làm việc với đối tượng người nghèo, cụ thể là:

Hỗ trợ người nghèo trong việc nhận thức vai trò của họ trong công cuộc giảm nghèo bằng chính các hoạt động thiết thực, như tham gia vào các hội, đoàn thể

để học hỏi kinh nghiệm làm giàu, tăng gia sản xuất và thay đổi chính nhận thức trông chờ, ỷ lại của người nghèo

Hỗ trợ người nghèo giải quyết vấn đề khó khăn của họ thông qua việc tìm kiếm hoặc cung cấp các dịch vụ cần thiết cho người nghèo

Trang 37

Phối hợp vận động tìm nguồn lực, nguồn tài nguyên hỗ trợ cho người nghèo Xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động giúp đỡ người nghèo và tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động

Việc xác định vai trò rất quan trọng, nhân viên công tác xã hội cần xác định rõ vai trò của mình ở vị trí nào và cần giúp đỡ ai, đối tượng nào và giúp đỡ cái gì Trong khi thực hiện vai trò của mình, nhân viên công tác xã hội đã gặp những khó khăn, trở ngại gì để tìm ra giải pháp, thực hiện tốt hơn mô hình công tác xã hội hỗ trợ

giảm nghèo tại xã Đồng Sơn

1.3.2 Lý thuyết hệ thống

Thuyết hệ thống trong công tác xã hội bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy Thuyết này dựa trên quan điểm của lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống và đồng thời bản thân các tiểu hệ thống cũng là một phần của hệ thống lớn hơn; các hệ thống có thể trao đổi với nhau (hệ thống mở) hay khép kín (hệ thống đóng); một tác động đầu vào sẽ dẫn tới một sản phẩm đầu ra qua hệ thống; một hệ thống có thể ổn định hay biến động [1, tr.26]

Thuyết hệ thống được sử dụng rộng rãi trong công tác xã hội, vì thuyết này giúp cho nhân viên xã hội hiểu được cá nhân, nhóm hay cộng đồng như một hệ thống của các yếu tố tương tác với nhau Bên cạnh đó, để hệ thống này hoạt động hiệu quả, cá nhân, nhóm hay cộng đồng sẽ có nhiều tương tác với môi trường bên ngoài khác

Trọng tâm hơn của lý thuyết này hệ thống chỉ rõ được các tương tác về mặt công và tư, các tác nhân thay đổi khác nhau Lý thuyết hệ thống hỗ trợ cho mô hình công tác xã hội như cung cấp cho nhân viên công tác xã hội một khuôn khổ để phân tích sự tương tác luôn thay đổi, không ổn định của con người trong môi trường của

họ Khi môi trường sống đầy đủ về tài nguyên cho sự tăng trưởng và phát triển của con người, con người có xu hướng phát triển mạnh mẽ Ngược lại, khi môi trường sống thiếu thốn tài nguyên, sự phát triển về thể chất, xã hội, tình cảm sẽ bị ảnh hưởng Các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của

họ nhằm thỏa mãn được cuộc sống riêng, do đó, công tác xã hội phải nhấn mạnh đến các hệ thống như vậy

Trang 38

Vận dụng lý thuyết hệ thống vào đề tài nghiên cứu này, giúp xác định nhân

viên công tác xã hội nằm trong hệ thống nào, người nghèo ở xã Đồng Sơn đang ở

hệ thống nào để có sự trợ giúp từ các hệ thống xung quanh Hệ thống mà nhân viên công tác xã hội làm việc là hệ thống đa dạng, ứng dụng lý thuyết này vào đề tài cho thấy:

Các hệ thống chính thức: bao gồm các tổ chức, các nhân viên công tác xã hội có vai trò kết nối người nghèo ở xã Đồng Sơn tới các chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho việc hỗ trợ giảm nghèo bền vững Nếu người nghèo không tiếp cận được các chính sách, thủ tục, hệ thống này sẽ tham gia hỗ trợ, tư vấn

Các hệ thống phi chính thức như gia đình, bạn bè, người thân có vai trò tìm kiếm hệ thống trợ giúp và tham gia vào việc giải quyết vấn đề với các tác nhân thay đổi

Các hệ thống xã hôi như bệnh viện, trung tâm là những hệ thống can thiệp lớn tới đời sống của người nghèo Đối với bệnh viện là nơi cung cấp các hỗ trợ dịch

vụ khám bệnh cho người nghèo, là nơi hiện thực hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong công tác giảm nghèo bền vững Đối với các trung tâm là nơi tư vấn, hỗ trợ mô hình công tác xã hội cho người nghèo, cung cấp thông tin nhằm giúp người nghèo có điều kiện phát triển

1.3.3 Thuyết nhu cầu của Maslow

Abraham Maslow (1908-1970) là nhà tâm lý học người Mỹ, được thế giới biết đến như là một nhà tiên phong trong trường phái Tâm lý học Nhân văn với lý thuyết bậc thang nhu cầu của con người Ông nhìn nhận con người theo hướng nhân đạo, vì vậy lý thuyết của ông được xếp vào trường phái nhân văn hiện sinh Ông cho rằng con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển,

đó là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu được hoàn thiện [1, tr.26]

Đối với nhu cầu về thể chất, sinh lý: nhu cầu về đồ ăn, nước uống, không khí nhu cầu này là nhu cầu cơ bản của con người

Đối với nhu cầu về an toàn: con người cần có một môi trường sống an toàn, sức khỏe để đảm bảo sự tồn tại của họ Họ cần có nhà ở, tránh nắng, tránh mưa Họ

Trang 39

cần được khám bệnh, được chăm sóc sức khỏe Họ cần được sống trong môi trường được đảm bảo về an ninh để tính mạng của họ không bị đe dọa Họ cần có môi trường sinh hoạt, vận động để không gây thương tích

Đối với nhu cầu tình cảm xã hội: các thành viên mong muốn được quan tâm trong nhóm xã hội như gia đình, bạn bè, người thân Sức mạnh của họ sẽ được nhân lên, sự tự tin cũng được tăng cường khi họ là thành viên của các nhóm, bởi điều đó khẳng định vai trò, vị trí của họ trong xã hội Sự đơn độc, không gia đình, không nhóm xã hội nào để cá nhân thuộc về đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển tâm lý và quan hệ xã hội của cá nhân

Đối với nhu cầu được tôn trọng: Con người luôn được đối xử bình đẳng, được lắng nghe và không bị coi thường Dù đó là ai, trẻ em hay người già, người giàu hay người nghèo, tất cả đều có nhu cầu được tôn trọng, được ghi nhận về sự hiện diện cũng như chính kiến của cá nhân Con người có tự tin hay không, thể hiện được sức mạnh của mình hay không, đó là một phần do họ được đối xử bình đẳng

Đối với nhu cầu hoàn thiện và phát triển: con người luôn muốn học hỏi, nghiên cứu, lao động sáng tạo để phát triển toàn diện Nhu cầu này là nhu cầu quan trọng, song chúng được xếp ở bậc thang cuối cùng, bởi nhu cầu này được đề cập đến khi các nhu cầu cơ bản ở trên đã được đáp ứng

Ứng dụng lý thuyết Maslow vào nghiên cứu đề tài này, tác giả nhận thấy người

nghèo cũng có những nhu cầu như được nêu trong lý thuyết của Maslow Nhu cầu lớn nhất của người nghèo là đủ ăn, đủ mặc, không bị đói kém trong cuộc sống của họ Những hộ quá nghèo, nhu cầu được trợ cấp hàng tháng của nhà nước để đáp ứng những nhu cầu tối thiều, muốn được vay vốn để phát triển sản xuất, có nhu cầu học hỏi kinh nghiệm trong chăn nuôi trồng trọt Hiểu được những nhu cầu của người nghèo để biết họ đang ở bậc thang thứ mấy của nhu cầu, họ đã đáp ứng được nhu cầu nào và mong muốn gì giai đoạn tiếp theo nhằm tiếp cận để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của người nghèo như ăn, mặc, học hành, khám chức bệnh, nhà ở

Đáp ứng đúng nhu cầu của người nghèo sẽ giúp họ phát triển bền vững hơn trong kinh tế, điều kiện sống gia đình Tuy nhiên, nhu cầu người nghèo rất nhiều, nên cần có sự ưu tiên trong các nhu cầu Phải xem xét nhu cầu nào là thật sự cần

Trang 40

thiết và tính hiệu quả khi giải quyết các nhu cầu này Điều này đòi hỏi phải có những cán bộ làm công tác xã hội đi sâu tìm hiểu từng hộ gia đình, lắng nghe những nhu cầu, nguyện vọng của người nghèo, từ đó xây dựng kế hoạch trợ giúp

1.4 Chính sách xã hội trong giảm nghèo bền vững

1.4.1 Chủ trương của Đảng, chính sách của Chính phủ về hỗ trợ giảm nghèo

Từ nhiều năm qua, Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất của nhà nước pháp quyền, do dân, vì dân Nguồn lực đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội ngày càng lớn, được tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn lực xã hội khác Các lĩnh vực xã hội đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là giảm nghèo, tạo việc làm, ưu đãi người có công, giáo dục và đào tạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, công tác gia đình và bình đẳng giới Ðời sống vật chất và tinh thần của người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và sự ổn định chính trị - xã hội Nước ta được Liên hợp quốc công nhận là một trong các quốc gia đi đầu trong việc thực hiện một số mục tiêu Thiên niên kỷ

Trong những năm quan, Đảng ta coi cơ sở phương pháp luận quan trọng và

cơ bản nhất để phân tích vấn đề đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo là giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, thực hiện công bằng xã hội Chủ nghĩa xã hội là quá trình kiến tạp hạnh phúc và cũng là quá trình đấu tranh vì sự công bằng, đấu tranh để thủ tiêu nguồn gốc bất công xã hội

Qua các kỳ đại hội, quan điểm của Đảng về xóa đói, giảm nghèo, giảm nghèo bền vững từng bước được xác lập, làm rõ và hiện thực hóa trên thực tế qua sự quản lý, điều hành của Nhà nước Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này được thực hiện thông qua việc ban hành các chính sách hướng tới các đối tượng bị thua thiệt, áp dụng cho những vùng, miền chịu nhiều khó khăn, không thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội do thiên tai, xa các trung tâm kinh tế - xã hội; bằng các biện pháp đầu tư đặc biệt, các chủ trương, chính sách ưu đãi Các nguồn lực cho xóa đói, giảm nghèo từ ngân sách nhà nước; từ các nguồn tài trợ trong nước và quốc tế

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w