Sự tàn phá của người Việt hiện nay với rừng nguyên sinh, với sự khai thác không hợp lý các tài nguyên thiên nhiên và càng nguy hại hơn nữa đó là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm gần đây
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ GIANG
ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
U N N TI N S TRI T HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ GIANG
ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu luận án là của riêng tôi Các số liệu được sử dụng và trích dẫn trong luận án đảm bảo trung thực, có xuất xứ rõ ràng
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Giang
Trang 4MỤC ỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp mới của luận án 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 4
7 Kết cấu của luận án 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5
1.1 Những công trình nghiên cứu về đạo đức môi trường 5
1.2 Những công trình nghiên cứu đạo đức môi trường truyền thống ở Việt Nam 13
1.3 Những công trình đề cập đến ý nghĩa của đạo đức môi trường truyền thống đối với việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 20
1.4 Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan và những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu đối với luận án 28
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ Ý U N VỀ ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG VÀ ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG 31
2.1 Một số quan niệm chủ yếu về môi trường và đạo đức môi trường 31
2.1.1 Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường 31
2.1.2 Đạo đức và đạo đức môi trường 33
2.1.3 Khái niệm đạo đức môi trường truyền thống và cơ sở hình thành đạo đức môi trường truyền thống ở Việt Nam 48
2.2 Một số chuẩn mực của đạo đức môi trường truyền thống Việt Nam 57
2.2.1 Người Việt yêu thiên nhiên, sống hài hòa với thiên nhiên 57
2.2.2 Người Việt biết khai thác tự nhiên một cách hợp lý, linh hoạt trong đối xử với tự nhiên 61
Trang 52.2.3 Thái độ ứng xử hợp lý với tự nhiên được thể hiện qua tính cách tiết
kiệm, cần cù và tình yêu lao động của người Việt xưa 65
2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc kế thừa và sử dụng đạo đức môi trường truyền thống trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 68
2.3.1 Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến việc kế thừa và sử dụng đạo đức môi trường truyền thống ở Việt Nam 68
2.3.2 Ảnh hưởng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế thị trường và biến đổi khí hậu toàn cầu đến việc kế thừa và sử dụng đạo đức môi trường truyền thống ở Việt Nam 71
2.3.3 Đô thị hoá, sự biến động dân số và giáo dục ảnh hưởng đến việc kế thừa và sử dụng đạo đức môi trường truyền thống ở Việt Nam 77
đạo đức môi trường truyền thống ở Việt Nam 78
Tiểu kết chương 2 80
Chương 3 THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 82
3.1 Thực trạng đạo đức môi trường truyền thống ở Việt Nam hiện nay 82
3.1.1 Yêu thiên nhiên - sống hài hoà với thiên nhiên 82
3.1.2 Khai thác tự nhiên một cách hợp lý - linh hoạt trong đối xử với tự nhiên 94
3.1.3 Yêu lao động - tiết kiệm - cần cù 105
3.2 Những vấn đề đặt ra đối với việc kế thừa và bổ sung đạo đức môi trường truyền thống trong hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 108
3.2.1 Tăng trưởng kinh tế trong thực tế luôn tiềm ẩn nguy cơ làm ô nhiễm môi trường 108
3.2.2 Đạo đức môi trường truyền thống có nguy cơ ngày càng mai một 112
3.2.3 Sự không tương thích giữa các chuẩn mực đạo đức môi trường trong hương ước, trong luật tục và trong luật bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam 113
Tiểu kết chương 3 118
Chương 4 Ý NGH A CỦA ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 119
Trang 64.1 Ý nghĩa của đạo đức môi trường truyền thống trong việc phát triển kinh tế, hoạch định chính sách và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 119 4.1.1 Việc hoạch định chủ trương, chính sách ở Việt Nam hiện nay cần phải tính đến các chuẩn mực đạo đức môi trường truyền thống nhằm phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường 119 4.1.2 Chú trọng phát triển “Kinh tế xanh”, một phương án phát triển kinh
tế theo hướng bền vững, phù hợp với các quan niệm đạo đức môi trường truyền thống Việt Nam 123 4.2 Tiếp thu, kế thừa một cách có chọn lọc các giá trị đạo đức môi trường truyền thống trong hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 128
4.2.1 Cần có tư duy biện chứng trong việc tiếp thu những giá trị đạo đức môi trường truyền thống trong hoạt động bảo vệ môi trường 128
4.2.2 Bổ sung và phát triển các chuẩn mực đạo đức môi trường truyền thống trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay 131 4.3 Ý nghĩa của việc giáo dục đạo đức môi trường truyền thống trong sự nghiệp bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 138
4.3.1 Giáo dục đạo đức môi trường truyền thống có tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ môi trường 138
4.3.2 Kết hợp nội dung và phương pháp trong giáo dục đạo đức môi trường truyền thống bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 140
Tiểu kết chương 4 147
K T U N 149 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA T C GIẢ IÊN QUAN Đ N U N N DANH MỤC TÀI IỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC VI T TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 ý do chọn đề tài
Môi trường, từ nhiều năm qua đã được coi là một trong những trụ cột quan trọng trong sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Tuy vậy, những năm gần đây, ô nhiễm môi trường vẫn không tránh khỏi là một vấn nạn của nhiều nước, nó ảnh hưởng tiêu cực đến việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, đến sự phát triển, trong đó có Việt Nam Hiện nay, ô nhiễm môi trường ở Việt Nam cao đến mức báo động bởi các vụ án lớn về môi trường ngày càng gia tăng với những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến nền kinh tế Trước tình hình đó, Việt Nam đã đưa ra nhiều giải pháp để giải quyết vấn đề môi trường và sự phát triển kinh tế bền vững, nhưng vẫn chưa giải quyết được tận gốc vấn đề [Xem:12, 13, 18] Bởi đối với việc BVMT, con người ngoài sự nhận thức được tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống của mình còn cần hơn nữa đó là thái độ, tình cảm và hành vi để thực hiện nó Giải pháp với môi trường mang yếu tố bền vững và cũng mang yếu tố lâu dài nhất chính là đạo đức môi trường
Trong khi đó, người Việt Nam ngay trong truyền thống đã có ý thức BVMT ở mức độ rất đáng kể Ý thức đạo đức này được thể hiện trong các hương ước, luật tục, trong tục ngữ, cao dao mà cao hơn nữa được tìm thấy trong một số điều luật của triều đại phong kiến Việt Nam Từ thái độ của con người đối với thiên nhiên được thể hiện qua ca dao, tục ngữ và được thể hiện một cách rõ ràng thông qua cuộc sống lao động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày và qua các lễ hội truyền thống Cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên được mỗi cộng đồng thể hiện qua hương ước
và luật tục để quy định cho mỗi cá nhân trong cộng đồng mình sinh sống làm theo
và đây là những những yếu tố đạo đức môi trường cao nhất được thể hiện qua trong lịch sử cộng đồng Việt Nam
Người Việt trong truyền thống đã có những quy định đạo đức trong việc bảo
vệ thiên nhiên, nhận thức được vai trò quan trọng của tự nhiên trong cuộc sống của mình và điều đó đã được minh chứng qua hàng ngàn năm lịch sử Theo quy luật, khi
xã hội phát triển, khi xã hội phong kiến bị thay thế bằng một xã hội mới, tiến bộ hơn Một phương thức sản xuất mới ra đời kéo theo nó là những yếu tố khác cũng
Trang 9thay đổi theo, nói một cách khác đó là khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo cho phù hợp Ở Việt Nam những thập kỷ gần đây, kinh tế thị trường ra đời, từ sự thay đổi về kinh tế dẫn đến những thay đổi trong đạo đức Kinh
tế thị trường bản thân nó đã tạo nên một kỳ tích trong sự phát triển kinh tế ở Việt Nam nhưng cùng với nó là mặt trái mà chúng ta hiện nay đang phải đối mặt, một trong số đó là sự ô nhiễm môi trường hay đằng sau của sự phát triển công nghiệp đó
là những bãi rác thải do nghành công nghiệp ấy sinh ra đã thải vào môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển bền vững của xã hội loài người
Hiện trạng môi trường ở Việt Nam hiện nay đang ở mức độ báo động bởi sự tàn phá nặng nề của con người đối với môi trường tự nhiên Sự tàn phá của người Việt hiện nay với rừng nguyên sinh, với sự khai thác không hợp lý các tài nguyên thiên nhiên và càng nguy hại hơn nữa đó là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm gần đây làm cho chúng ta phải giật mình, con người sao lại có thể đối xử với con người, đối xử với giới tự nhiên như thế, đó là vấn đề đạo đức, trong đó có đạo đức môi trường ĐĐMT quy định mối quan hệ ứng xử của con người với giới tự nhiên trong quá trình tồn tại và phát triển của mình
ĐĐMT đến nay đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm thuộc các lĩnh vực khác nhau như: tâm lý học, xã hội học, luật học, môi trường …nhưng nghiên cứu dưới góc độ triết học đã ít lại càng ít nhất là nghiên cứu về đạo đức truyền thống của người Việt đối với môi trường Bởi trong truyền thống có những yếu tố hợp lý chúng ta có thể kế thừa và những yếu tố không còn phù hợp với ngày nay nhưng nó vẫn tồn tại, chúng ta tìm cách để hạn chế Với những lý do trên, tôi chọn đề tài:
“Đạo đức môi trường truyền thống và ý nghĩa của nó đối với việc bảo vệ môi
trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận án của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Luận án nghiên cứu đạo đức môi trường truyền thống ở Việt Nam, trên cơ sở
đó rút ra ý nghĩa của nó đối với sự phát triển và đối với việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ
Trang 10Với mục đích nghiên cứu trên, luận án có những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
- Làm rõ các khái niệm đạo đức môi trường, đạo đức môi trường truyền thống, bảo vệ môi trường và hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận có liên quan
- Xem xét đạo đức môi trường với các chuẩn mực của nó ở Việt Nam
- Đánh giá giá trị và ý nghĩa của đạo đức môi trường truyền thống trong việc đáp ứng các yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đạo đức môi trường truyền thống Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận án nghiên cứu đạo đức môi trường truyền thống dưới góc độ triết học
- Những nội dung và chuẩn mực đạo đức môi trường truyền thống Việt Nam hiện đang còn tồn tại và ảnh hưởng đến việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận của luận án là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Cơ sở phương pháp luận của luận án là Phép biện chứng duy vật
- Luận án được thực hiện trên cơ sở các chỉ dẫn lý luận và phương pháp luận
về con người và môi tường tự nhiên; về đạo đức con người đối với giới tự nhiên của C.Mác - Ph.Ăngghen; tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; các văn kiện, Nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam có liên quan trực tiếp đến con người, môi trường và đạo đức con người
4.2 Về phương pháp nghiên cứu
Phù hợp với phương pháp luận biện chứng duy vật, luận án sử dụng các phương pháp như logic - lịch sử; phân tích hệ thống; quy nạp - diễn dịch; tổng hợp - phân tích; so sánh - đối chiếu, thống kê,…
- Luận án chú trọng kế thừa những kết quả của các nghiên cứu lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài của các tác giả đi trước
Trang 11- Luận án có sử dụng các tài liệu nghiên cứu về văn hóa truyền thống; các Báo cáo môi trường quốc gia; các tài liệu khác trực tiếp bàn đến đạo đức môi trường… như là các chỉ dẫn lý thuyết, cũng đồng thời là nguồn số liệu thực tiễn tin cậy để phân tích lý luận triết học
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án hệ thống hóa, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận có liên quan đến đạo đức môi trường, đạo đức môi trường truyền thống và một số chuẩn mực cơ bản của đạo đức môi trường truyền thống Việt Nam
- Luận án đã chỉ ra và phân tích được những chuẩn mực đạo đức môi trường truyền thống trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
- Luận án đã đánh giá được giá trị và ý nghĩa của đạo đức môi trường truyền thống trong việc đáp ứng các nhu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận: Luận án đã góp phần nghiên cứu đạo đức môi trường truyền
thống với các chuẩn mực cơ bản của nó ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo
cho các tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy triết học và
lý luận về môi trường và đạo đức môi trường ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công
bố liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 12 tiết: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về đạo đức môi trường và đạo đức môi trường truyền thống
Chương 3: Thực trạng đạo đức môi trường truyền thống ở Việt Nam hiện nay
và một số vấn đề đặt ra
Chương 4: Ý nghĩa của đạo đức môi trường truyền thống trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU IÊN QUAN Đ N ĐỀ TÀI
Trên cơ sở nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng về vấn đề ĐĐMTTT trong việc BVMT ở Việt Nam hiện nay, tác giả đã nghiên cứu các công trình của các học giả trong nước và thế giới có đề cập về đạo đức môi trường, ĐĐMTTT, BVMT…
Cho đến nay, vấn đề ĐĐMTTT đã có nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ, nhiều cách tiếp cận khác nhau Căn cứ vào nội dung, logic triển khai trong
luận án, tác giả khái quát tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài theo các lát cắt sau:
1.1 Những công trình nghiên cứu về đạo đức môi trường
Trong thế giới ngày nay, vấn đề môi trường không chỉ là vấn đề riêng của một quốc gia, mà là vấn đề mang tính toàn cầu, nó có mối liên hệ tác động lẫn nhau, bởi ô nhiễm môi trường có thể từ quốc gia này ảnh hưởng đến các quốc gia khác ĐĐMT có tính toàn cầu, do đó các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học luôn quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu Điều này, được thể hiện thông qua rất nhiều các công trình khoa học của các học giả trên thế giới, các hội nghị quốc tế về môi trường được tổ chức, cụ thể như sau:
Thụy Điển từ 6 - 16/6/1972 Hội nghị đã nhận thấy và thừa nhận sự xuống cấp của môi trường toàn cầu; từ đó khẳng định cần phải đưa ra những giải pháp nhằm ngăn chặn sự xuống cấp đó, cũng như từng bước bảo vệ môi thế giới vì môi trường có ảnh hưởng đến lợi ích của mọi quốc gia, cũng như sự phát triển kinh tế toàn cầu Tại hội nghị này, đã ra Tuyên bố Stockholm về Môi trường con người, với sự tham gia của 113 quốc gia, ghi nhận sự hình thành của một số nguyên tắc pháp lý quan trọng, hướng mọi dân tộc trên thế giới vào việc gìn giữ
và làm tốt đẹp môi trường của con người
Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và phát triển [87] (còn được gọi là hội
nghị thượng đỉnh trái đất Rio de Janneiro, hay Hội nghị Riô diễn ra tại Brazil, từ ngày 3 - 4/6/1992) Hội nghị thiết lập một sự chung sức toàn cầu mới và bình đẳng
Trang 13giữa các quốc gia, nhằm tôn trọng quyền lợi của mọi người, cũng như bảo về toàn vẹn của hệ thống môi trường và sự phát triển Bên cạnh đó, hội nghị khẳng định sự phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia không thể tách rời trong việc bảo vệ trái đất, như bảo vệ ngôi nhà của chính mình
Đến năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững [88] đã
được tổ chức tại Johannesburg, Nam Phi 26/8/2002 Trong hội nghị các quốc gia đã cùng nhau tìm các giải pháp về những vấn đề lớn mà các quốc gia đều đang quan tâm và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, đó là: sự suy giảm đa dạng sinh học, đói nghèo Vấn đề được quan tâm nhiều tiếp theo: nước, năng lượng và sự phát triển
một cách bền vững Năm 2009, Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu [89] của
Liên hợp quốc tại Copenhagen, Đan Mạch lại nhấn mạnh về biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và vấn đề BVMT mang tính toàn cầu
Ngoài các hội nghị quốc tế mang tính toàn cầu về môi trường thì ĐĐMT là đề tài mà các nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau và với cách nhìn khác nhau Vào những năm 90 của thế kỷ XX đã có không ít công trình
về ĐĐMT đã được công bố như:
Trong cuốn Môi trường sinh thái [151] của Jacques Vernier (2002) Sách của
Jacques Vernier được chia làm hai phần chính Phần thứ nhất, tác giả đã phân tích các đối tượng của môi trường bị ô nhiễm như: nước, không khí, tiếng ồn, chất thải, sản xuất sạch, an toàn, và về các tác nhân gây ô nhiễm môi trường Đó là sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, đô thị Thông qua các đối tượng này, tác giả chỉ vai trò của giới tự nhiên đối với đời sống con người, khẳng định chúng ta phải BVMT và bảo vệ động vật, thực vật Ở phần thứ hai, tác Jacques Vernier đã đưa ra công cụ đòn bẩy và cho rằng nó hữu hiệu đối với việc ngăn chặn ô nhiễm môi trường do hoạt động của con người gây ra Cuốn sách là sự tổng kết những thành tựu trong hơn 20 năm, từ những năm 70 - 90 của thế kỷ XX của công cuộc đấu tranh chống ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí Đồng thời, tác giả cũng đưa ra kết luận nếu thế giới này không tự kiềm chế được mình thì với sự phát triển của dân số,
sự tàn phá rừng, sự tiêu dùng năng lượng quá mức có thể làm rối loạn bộ máy đẹp
Trang 14đẽ là thế giới sinh vật Trong tác phẩm này, tác giả đã thấy được mâu thuẫn giữa sự phát triển kinh tế với việc BVMT nhưng các giải pháp mà ông đưa ra còn chung chung, các giải pháp chưa cụ thể, vì với mỗi khu vực và quốc gia khác nhau cần có những giải pháp BVMT khác nhau
Hai tác giả Paul Wapner and Richard A.Matthew (2009) với bài viết The
Humanity of Global Environmental Ethics [153], tạm dịch Khía cạnh nhân văn trong đạo đức học môi trường toàn cầu, đã nghiên cứu về cách con người ứng xử
với thế giới tự nhiên, phân tích quá trình ra đời của đạo đức học môi trường từ những năm 1970 của thế kỷ XX Các tác giả cho rằng, cần phải có một nền đạo đức học môi trường toàn cầu chứ không phải của riêng từng quốc gia Bài báo đã phân tích những quan niệm khác nhau của con người trong cư xử với giới tự nhiên Các ông đã phê phán quan điểm truyền thống của Cơ đốc giáo và sự khẳng định của nó khi cho rằng: Chúa ban cho con người quyền thống trị đối với hệ động, thực vật trên trái đất, bác bỏ chủ nghĩa lấy con người làm trung tâm Từ đó, đưa ra các giải pháp BVMT, chống ô nhiễm môi trường dưới góc độ đạo đức học đó là: dịch chuyển vùng tiêu cực các vấn đề về môi trường theo không gian, dịch chuyển ở đây không chỉ là sự dịch chuyển sự suy thoái môi trường mà còn là sự di dời con người và sự dịch chuyển vùng các tác động tiêu cực môi trường theo thời gian, đó là khi chúng
ta xem xét các phương thức tiêu thụ và các nguồn tài nguyên có thể tái sinh Bên cạnh đó, các tác giả cũng đưa ra đạo đức toàn cầu của sự dịch chuyển vùng các tác động môi trường tiêu cực, và coi đây là vấn đề chung của toàn cầu, vấn đề này cần được nghiên cứu và xử lý dưới góc độ đạo đức học Đây là tư tưởng đáng chú ý về đạo đức môi trường Có thể nói, đây là một vấn đề đầy tính nhân văn trong việc BVMT mà chúng ta cần học hỏi
Cuốn sách Environmental ethics for the long term [152], tạm dịch: Đạo đức
môi trường trong dài hạn của John Nolt (2015), khẳng định rằng, về lâu dài cần
phải có ĐĐMT Tác giả đã đưa ra những quan điểm của mình với những tư tưởng trước đó về ĐĐMT Ở đây, ông đã đề cập đến vấn đề đạo đức trong việc BVMT tự nhiên, nói lên tầm quan trọng của tự nhiên đối với con người và sự sinh tồn, phát
Trang 15triển của xã hội loài người Cuốn sách đã đề cập đến các vấn đề như: sự ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên thiên, những lý do cạn kiệt đó như sự bùng
nổ dân số, cuộc sống lãng phí của con người khi sử dụng các loại tài nguyên không tái tạo được nhưng không biết tiết kiệm tài nguyên Tác giả đưa ra các giải pháp hiệu quả để có thể hạn chế việc sử dụng các nguyên liệu, đặc biệt ông đưa ra những vấn đề như: xóa bỏ việc sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, than đá
vì đó là những loại nhiên liệu không có khả năng phục hồi và thay vào đó là nên sử dụng các loại nhiên liệu như: sức gió, sức nước và năng lượng mặt trời Trong cuốn sách, tác giả đưa ra việc bảo vệ các loài và môi trường sống, ăn một cách có đạo đức, giảm dân số loài người, xây dựng một nền kinh tế bền vững Dưới khía cạnh triết học, cuốn sách đã đề cập đến những quan điểm sống ảnh hưởng đến môi
trường, đó là các quan niệm lấy con người làm trung tâm, ông ủng hộ quan điểm lấy
cuộc sống làm trung tâm và cho rằng cứ là sinh vật sống đều cần được tôn trọng
Các công trình khoa học trên đã đưa ra những vấn đề lý luận về ĐĐMT Đây
là những tư liệu quý đối với NCS, để NCS có thể vận dụng khi hệ thống hóa cơ sở
lý luận về ĐĐMT
Công trình: Những tư tưởng cơ bản của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin về
mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên [139] của nhà nghiên cứu Phạm Thị
Ngọc Trầm (1992), đã phân tích quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin khi cho rằng con người có mối quan hệ hữu cơ, có sự tác động đối với môi trường tự nhiên Trong đó, con người là sự thống nhất giữa yếu tố tự nhiên và xã hội Ba mối quan hệ tự nhiên - con người - xã hội tác động biện chứng với nhau, sự tác động của con người với giới tự nhiên phụ thuộc vào trình độ của PTSX, đây cũng là đối tượng mà ĐĐMT nghiên cứu Bài báo chỉ ra đối tượng nghiên cứu của ĐĐMT là mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên
Bài báo Về đạo đức môi trường [114] của tác giả Hồ Sĩ Quý (2005), đã phân
tích quan điểm đạo đức học môi trường của các triết gia trên thế giới như: Aldo Leopold, Paul Taylor, Arne Naiess và khoa học đạo đức học môi trường với các trường phái: đạo đức duy sinh vật, đạo đức duy sinh thái Trong bài viết, tác giả đưa
Trang 16ra khái niệm về ĐĐMT, phân tích thực trạng cư xử hiện nay của người Việt với tự nhiên xung quanh mình từ trong cuộc sống hàng ngày đến các lễ hội văn hóa Tác giả đã tổng kết những cách cư xử của người Việt với môi trường tự nhiên trong đời
sống văn hóa từ xưa đến nay vẫn còn có rất nhiều hạn chế, những việc như bẻ cành
cây cối, ngắt hoa lá nơi công cộng, các lễ hội đâm trâu, chọi trâu, đánh dê trước khi giết thịt… Điều này, cho thấy mặt trái trong cách ứng xử của người Việt trong
truyền thống đối với thiên nhiên và các động vật khác Trên cơ sở phân tích đó, tác giả cũng đã đưa ra các giải pháp kinh tế - kỹ thuật nhưng giải pháp này chỉ là tạm thời, còn giải pháp lâu dài là phải nâng cao ĐĐMT, vì nó sẽ giải quyết vấn đề môi sinh theo hướng phát triển bền vững, yêu cầu cần phải đưa tiêu chí BVMT thành một tiêu chí quan trọng trong khi sản xuất và hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội Đây cũng là những gợi ý cho NSC khi rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu ĐĐMTTT trong việc hoach định chính sách phát triển kinh tế, xã hội nhưng vẫn phải đảm bảo yếu tố BVMT Trong bài báo, tác giả cũng đã đưa ra quan điểm riêng của mình về khái niệm ĐĐMT mà NCS dùng để tham khảo trong quá trình viết luận án của mình
Cũng bàn về đạo đức môi trường, tác giả Dương Quang Ngọc (2007) trong bài
viết Về đạo đức môi trường [101], trên cơ sở phân tích lịch sử sự hình thành, nguồn
gốc ra đời của đạo đức học môi trường trên thế giới Từ đó, tác giả đi sâu và phân
tích kỹ các trường phái đạo đức học môi trường như: trường phái lấy con người làm
trung tâm và trường phái không lấy con người làm trung tâm, trường phái sinh học
trung lập, trường phái gắn ĐĐMT với các phong trào chính trị, trường phái theo chủ nghĩa thực dụng Những trường phái trên đã đưa ra được quan niệm về ĐĐMT ngày càng hoàn thiện và được mở rộng, vấn đề ĐĐMT ngày càng trở thành mục tiêu cần thiết phải được thực hiện trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa vì một cuộc sống tốt đẹp và bền vững của loài người
Trong đề tài cấp Bộ: Đạo đức môi trường - Một số vấn đề lý luận và kinh
nghiệm thế giới [105], Nguyễn Văn Phúc (2009) làm chủ nhiệm đề tài, đã phân tích
những cách tiếp cận khác nhau về ĐĐMTTT qua quan điểm của Công giáo, Nho
Trang 17giáo, Phật giáo, Đạo giáo và một số khuynh hướng của đạo đức học hiện đại về môi trường Tác giả đã đưa ra những ví dụ về kinh nghiệm BVMT và xây dựng ĐĐMT của một số nước Từ đó, khẳng định việc xây dựng ĐĐMT ở Việt Nam hiện nay là cần thiết cho sự phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững Ngoài ra, cũng của
tác giả Nguyễn Văn Phúc (2013), trong cuốn giáo trình Đạo đức môi trường [106],
có điểm tương đồng khi trong các công trình này, tác giả đã làm rõ các thuật ngữ
đạo đức học môi trường và đạo đức môi trường, đưa ra khái niệm về ĐĐMT, đưa ra
chuẩn mực đạo đức chính của đạo đức môi trường, coi đó là yếu tố trung tâm của ý thức đạo đức Tác giả khẳng định: ĐĐMT có từ rất lâu trong lịch sử, đó là cách ứng
xử của con người đối với tự nhiên Quan niệm này đã có ở cả phương Đông và phương Tây, có thể được coi là truyền thống nhưng trong các tác phẩm này, tác giả chưa nghiên cứu về ĐĐMT trong truyền thống của người Việt Nam
Phan Văn Thạng (2011), Mối quan hệ giữa con người và môi trường trong sự
phát triển bền vững ở nước ta nhìn từ góc độ xã hội học [127], tác giả đã phân tích
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong phát triển sự bền vững ở nước ta hiện nay Trên cơ sở phân tích vai trò của tự nhiên trong đời sống con người, tự nhiên quyết định sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài người, đồng thời cũng phân tích rõ sự tác động trở lại của con người đối với tự nhiên theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Bước đầu, tác giả đã đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến xấu đến
môi trường, là: áp lực của sự gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế, con người đã
khai thác tự nhiên không có kế hoạch hợp lý, sự gia tăng của các khu công nghiệp không đáp ứng đủ các tiêu chí về môi trường trong tiến trình CNH, HĐH cũng đã tác động đến môi trường một cách nghiêm trọng, đó là sự ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất và đặc biệt sự ô nhiêm này dẫn đến ảnh hưởng sức khỏe của con người, dẫn đến các bệnh do ô nhiễm môi trường, như bệnh hô hấp, bệnh phổi và các bệnh về đường ruột Từ đó, chỉ ra con người cần phải BVMT
tự nhiên Nhiệm vụ này không chỉ thuộc vể các cơ quan đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội mà còn phải vận dụng đến một hình thức đó là hương ước Kết hợp hương ước với luật BVMT, vận dụng các giá trị ĐĐTT để nâng cao nhận thức, hiểu
Trang 18biết của người dân để BVMT Vấn đề hương ước này đã từng được người Việt áp dụng từ rất lâu trong các làng xã nhằm BVMT và có những quy định rất rõ ràng
Trong cuốn sách có tiêu đề Những vấn đề cơ bản về môi trường và phát triển
bền vững vùng Trung Bộ giai đoạn 2011 - 2020 [76], do nhà nghiên cứu Nguyễn
Ngọc Khánh (2012) (Chủ biên) Tác giả đã phân tích một cách rõ nét về điều kiện địa lý tự nhiên, về điều kiện kinh tế đã ảnh hưởng đến môi trường, đến sự phát triển bền vững vùng Trung Bộ Tác giả chỉ mới nghiên cứu một vùng Trung Bộ trong một giai đoạn nhất định Nhân tố chính mà tác giả nghiên cứu là những điều kiện địa lý tự nhiên ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển kinh tế và đây cũng là nhân tố môi trường tác động đến sự phát triển kinh tế vùng, miền Từ đó, mở cho ta những nhân
tố tiếp theo trong quá trình nghiên cứu: đó là điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến vấn
đề BVMT hay còn là ĐĐMT
Cùng nghiên cứu ĐĐMT, cuốn sách Đạo đức môi trường ở nước ta lý luận và
thực tiễn [37] của tác giả Vũ Dũng (2011), tác giả đã phân tích cách BVMT trong
truyền thống của người Việt không chỉ có hương ước, mà còn có luật tục của các
dân tộc thiểu số Nếu như chúng ta biết khai thác và vận dụng, và kết hợp những hương ước và luật tục này với luật BVMT hiện nay sẽ có hiệu quả hơn đối với việc BVMT Tác giả Vũ Dũng cho rằng “ hành vi bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên này được thực hiện mang tính tự giác cao, phản ánh ý thức của người dân về tinh thần trách nhiệm của mình đối với việc khai thác và sử dụng tài nguyên và bảo vệ
môi trường” [37; tr 387] Trong cuốn sách này, tác giả chỉ mới nghiên cứu dưới góc
độ hành vi ĐĐMT của một vài dân tộc thiểu số dưới góc độ tâm lý học mà chưa đi sâu phân tích những cơ ở lý luận đưa đến những cách ứng xử truyền thống đó của người Việt Đây là nguồn tư liệu quý để NCS thuận lợi trong việc định hướng, khai thác các nội dung hợp lý trong hương ước và luật tục nhằm triển khai luận án của mình
Các tác giả Nguyễn Đức Khiển, Nguyễn Kim Hoàng (2011) trong cuốn sách
Đạo đức môi trường [73], đã phân tích các kiến thức cơ bản về môi trường như:
một số khái niệm môi trường, các chức năng chủ yếu của môi trường, phân tích những thách thức của môi trường mà thế giới đang phải đối mặt như: sự biến đổi khí hậu, suy giảm tầng ô - zôn, suy thoái tài nguyên, suy thoái đa dạng sinh học và
Trang 19đưa ra các số liệu chứng minh sự ô nhiễm môi trường trên thế giới đang diễn ra trên quy mô rộng và khẳng định tất cả những sự ô nhiễm này là do con người gây ra Từ đây, tác giả cũng phân tích các vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam; đưa ra các nhân tố dẫn đến ô nhiễm môi trường hiện nay, đó là sự tác động của dân số đến môi trường, sự gia tăng dân số dẫn đến những hệ lụy về môi trường, vấn đề sản xuất lương thực liên quan đến suy thoái môi trường Cuốn sách đưa ra vấn đề cần phải có ĐĐMT trong sự phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam, chỉ ra Việt Nam muốn phát triển kinh tế bền vững, phải quan tâm đến vấn đề môi trường, đưa môi trường trở thành mục tiêu, nguyên tắc, nội dung phát triển bền vững
Với tác giả Nguyễn Thị Lan Hương (2016), Đạo đức môi trường và chủ nghĩa
vị lợi [70], lại có cách tiếp cận ĐĐMT dưới góc độ của chủ nghĩa vị lợi với những
đặc trưng điển hình như: thừa nhận lợi ích của hành vi là tiêu chuẩn đạo đức cơ bản nhất, chủ nghĩa này tối đa hóa toàn bộ lợi ích theo nghĩa tạo ra nhiều ích lợi cho nhiều người nhất Những kết quả mang lại lợi ích tối ưu và cho nhiều người nhất thì đó là hành động hợp đạo đức, còn ngược lại là hành động phi đạo đức Tác giả cũng đã phân tích những nguyên tắc của chủ nghĩa vị lợi đối với ĐĐMT, những hạn chế của chủ nghĩa này ảnh hưởng của chủ nghĩa vị lợi trên thế giới hiện nay Theo như cách nhìn nhận của chủ nghĩa vị lợi thì lợi ích phát triển kinh
tế vẫn đứng trên cả đạo đức
Tác giả Lê Văn Khoa (2016) với bài Đạo đức môi trường - Từ tư duy đến
hành động [77], đã khẳng định cần phải xây dựng ĐĐMT trong các lĩnh vực: sản
xuất nông nghiệp, công nghiệp, làng nghề và việc sử dụng các nguồn tài nguyên, thực phẩm Các ngành nghề đều phải coi việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm về mặt pháp lý và cũng là trách nhiệm đạo đức đối với toàn xã hội Tác giả đã đề xuất các biện pháp tăng cường giáo dục đạo đức môi trường, trong đó tác giả nhấn mạnh, luật tục, hương ước, lệ làng, lễ hội, phong tục là một trong những biện pháp nhanh nhất, dễ đi vào lòng người nhất và có hiệu quả cao Đồng thời cũng đưa ra, cần phải giữ những phong tục tốt đẹp của dân tộc phù hợp với bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam Giải pháp được đề cao và chú trọng là việc sử dụng những hương ước,
Trang 20luật tục, phong tục, tập quán đã có từ lâu trong truyền thống của dân tộc để bảo vệ môi trường Bài báo cũng đưa ra những gợi ý về việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay đã có từ xưa, qua hương ước, luật tục
1.2 Những công trình nghiên cứu đạo đức môi trường truyền thống ở Việt Nam
ĐĐMT là hành vi, là cách ứng xử với môi trường tự nhiên của con người Ở Việt Nam, những cách ứng xử này từ lâu đã đi sâu vào trong đời sống của mỗi con người trong cộng đồng Hơn ai hết, người Việt hiểu rằng tự nhiên có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của mình, từ lao động sản xuất để cung cấp lương thực hàng ngày, cho đến đất đai để ở, rừng và sông suối cho nhiều nguồn lâm, hải sản cho nên những quy định của người Việt càng về sau càng được đưa vào trong các luật tục, hương ước quy định về bảo vệ giới tự nhiên cũng như những sinh vật sống ở trên đó Khi nghiên cứu về ĐĐMTTT chúng ta cần phải tìm một phần lớn trong các luật tục, hương ước riêng của từng tộc người, từng làng, từng vùng ở Việt Nam Các tác phẩm tiêu biểu gồm:
Trong cuốn sách Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển
xã hội do Hồ Sĩ Quý Chủ biên, xuất bản năm 2000 [113] Trong nghiên cứu này các
tác giả đã phân tích vai trò của tự nhiên đối với sự tồn tại, phát triển của con người
và sự phát triển xã hội Con người phải sống hòa hợp với tự nhiên, điều này đã được quan tâm từ rất lâu trong truyền thống của người Việt Điều này khẳng định, ở Việt Nam trước đây đã có những nghiên cứu về ĐĐMT nhưng chưa được khái quát một cách hệ thống về lý luận hoàn chỉnh mà chúng ta chỉ tìm thấy những quy định về chuẩn mực ứng xử giữa con người với giới tự nhiên hay nói cách khác đó là ĐĐMT trong các quy định đạo đức của con người trong cuộc sống thường ngày
Công trình Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa [30]
do tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (2002), (Đồng chủ biên) bao gồm các bài viết về giá trị truyền thống Việt Nam những vấn đề đặt ra trong quá trình TCH; TCH là xu thế tất yếu xảy ra trên thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ, bên cạnh những ích lợi do toàn cầu hóa mang lại còn có những ảnh hưởng tiêu cực, đặc biệt là trong văn hóa Toàn cầu hóa đã và đang làm mất dần đi các giá
Trang 21trị truyền thống dân tộc, trong đó có các giá trị đạo đức của người Việt về tình yêu thiên nhiên, đất nước cũng bị ảnh hưởng Với nghiên cứu này, giúp NCS nhận thấy TCH cũng là một trong các nhân tố làm thay đổi đạo đức của người Việt ngày nay trong vấn đề BVMT dưới góc độ đạo đức Đây là một cơ sở lý luận quan trọng, giúp NCS phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ĐĐMTTT của người Việt hiện nay
Trong bài báo Vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái trong điều kiện kinh tế thị
trường [140] Phạm Thị Ngọc Trầm (2002), qua việc phân tích những giá trị đạo đức
sinh thái truyền thống của Việt Nam như: cái Thiện của người Việt Nam, tình yêu của con người đối với thiên nhiên, tình yêu lao động, tình yêu con người luôn được thể hiện ở tính cộng đồng, đoàn kết, lối sống tình nghĩa, nhân ái Tác giả đã đưa ra một số cách ứng xử của người Việt đối với môi trường sinh thái Dưới tác động của nền kinh tế thị trường hiện nay, đã từng bước làm biến đổi cách ứng xử của con người trước đây, mối quan hệ con người sống hòa đồng với tự nhiên (mối quan hệ Thiên - Nhân hợp nhất) nay không còn nữa, mà chuyển dần sang lý tưởng (Nhân định thắng Thiên) Tác giả cũng đưa ra giải pháp mà chúng ta cần phải xây dựng, đó
là một ĐĐMT phù hợp với nền kinh tế thị trường ĐĐMT mới này phải dựa vào nền tảng là đạo đức đối với môi trường truyền thống của người Việt, nhưng có những thay đổi cho phù hợp
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2007), trong bài Toàn cầu hóa và nguy cơ suy
thoái đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay [66], đã phân tích những tác
động của TCH đến kinh tế, văn hóa, tinh thần của người Việt Nam TCH mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng mang đến nhiều thánh thức mới và việc Việt Nam tham gia hội nhập đã làm cho đời sống người Việt có nhiều thay đổi Từ những thay đổi
về kinh tế dẫn đến những thay đổi về văn hóa, đạo đức, lối sống, đến cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên TCH, có những mặt tích cực khi làm cho cuộc sống con người tốt hơn, được cải thiện nhiều hơn so với trước kia về mặt vật chất nhưng đồng thời TCH ảnh hưởng đến đạo đức của người Việt theo hướng tiêu cực như: “Điều đó, góp phần làm băng hoại nền đạo đức xã hội, làm cho quan hệ giữa người với người trở nên lạnh lùng, xa lạ, “không tình, không nghĩa” và đây
Trang 22thực sự là một nguy cơ của sự suy thoái đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện
nay” [66; tr 64] Tác giả chỉ ra, việc suy thoái đạo đức lối sống sẽ ảnh hưởng đến
ĐĐTT của dân tộc, trong đó có việc con người ứng xử với thiên nhiên
Trong các công trình Con người, Môi trường và Văn hóa [81] của tác giả Nguyễn Xuân Kính (2003); Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên
nhiên [31], do Nguyễn Viết Chức (2002, Chủ biên), các tác giả trên đều phân tích
văn hóa ứng xử của con người đối với tự nhiên; chỉ ra được tầm quan trọng của môi
trường đối với con người Cuốn sách Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi
trường thiên nhiên là tập hợp 12 bài viết của tác giả từ năm 1991 đến năm 2003 bàn
về văn hóa Việt Nam Trong cuốn sách đã trình bày về môi trường sinh thái tự nhiên, môi trường sinh thái nhân văn và môi trường xã hội, đồng thời, khẳng định rằng con người phải tồn tại trong ba mối quan hệ trên Trong mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, các tác giả chỉ ra quan niệm của người Việt về bản sắc văn hóa dân gian biểu hiện qua những lễ hội và trong những cuộc sống thường ngày, như: đặc trưng đôi guốc gỗ của người Việt xưa thường đi Tác giả cũng đã nói lên văn hóa ứng xử đối với thiên nhiên của người Việt đã có từ xưa
Cùng với hướng nghiên cứu trên, tác giả Vũ Minh Tâm (2006) Văn hoá sinh
thái, nhân văn và hệ thống tự nhiên, con người, xã hội [126], đã xác định mối quan
hệ giữa con người với giới tự nhiên, yêu cầu con người phải có cách nhìn đúng đắn
và sống hài hòa theo quy luật của tự nhiên Tác giả cũng chỉ ra, khi muốn giải quyết vấn đề môi trường cần phải giải quyết theo hướng môi trường sinh thái - nhân văn, đây là nguyên tắc cơ bản Để giữ gìn môi trường tự nhiên cần phải tiến hành giáo dục môi trường, đây là hoạt động đóng vai trò đặc biệt cho mỗi cá nhân có thể tham gia hiệu quả nhất trong việc BVMT Tác giả cũng đưa ra cần phải xây dựng một ý thức sinh thái mới phù hợp với sự phát triển xã hội bền vững
Quan tâm nghiên cứu cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên của
các dân tộc ít người ở Việt Nam, các các tác giả như: Hà Công Tuấn (2006), Sử
dụng luật tục, hương ước một chiến lược quản lý rừng [147] Tác giả đã nêu ra các
khái niệm có liên quan đến luật tục và các văn bản pháp quy được nhà nước công
Trang 23nhận khi cho các làng tự xây dựng hương ước trong việc quản lý rừng tại làng mình Tác giả phân tích một số luật tục về bảo vệ rừng của các dân tộc như: luật tục của người H’mông, người Thái, người Tày, người Nùng (ở Hà Giang), người Khơ Mú,… và các hình phạt của luật tục đối với những người vi phạm Những luật tục này, có tác dụng lớn đối với việc bảo vệ rừng nơi sinh sống, đồng thời cũng dựa vào
ý thức cộng đồng xây dựng nên ý thức phải bảo vệ rừng, BVMT tự nhiên Bên cạnh
đó, cũng giáo dục cộng đồng về vai trò của rừng, của tự nhiên đối với đời sống của con người, đời sống của buôn làng Trong công trình này, tác giả cũng chỉ ra nhiều bất cập của luật tục, hương ước đối với xã hội ngày nay Từ đó, đưa ra một vài giải pháp như kế thừa, phát huy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của luật tục, hương ước trong việc bảo vệ rừng, đồng thời cũng cần xây dựng cơ chế, xác định trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc hướng dẫn, giúp đỡ, kiểm tra, giảm sát việc xây dựng và thực thi hương ước trong cộng đồng, để những nội dung trong hương ước phù hợp với pháp luật hiện hành
Tác giả Hoàng Văn Quynh (2009) trong bài Quy định về quyền sở hữu tài
nguyên thiên nhiên và môi trường trong luật tục của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam - trường hợp luật tục Thái và luật tục Ê đê [117], đã phân tích về quyền sở hữu
tài nguyên thiên nhiên của hai tộc người thiểu số là dân tộc Thái ở miền Bắc và dân tộc Ê Đê ở miền trung Qua việc phân tích đó, tác giả tìm ra điểm giống nhau trong luật tục của các dân tộc về quyền sở hữu tài nguyên thiên nhiên, trong đó, có hai loại sở hữu: sở hữu cộng đồng và sở hữu cá nhân về tài nguyên thiên nhiên Từ việc nghiên cứu quyền sở hữu tài nguyên thiên thiên của hai tộc người thông qua luật tục, tác giả đưa ra việc cần phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hiện nay, thấy được
sự chặt chẽ và ưu điểm của luật tục để phát huy các giá trị ấy trong việc BVMT hiện nay Qua nghiên cứu này, NCS thấy được trong truyền thống của các dân tộc ít người đã quy định về cách ứng xử của con người đối với tự nhiên bằng đạo đức và cao hơn nữa được quy định bằng các luật tục Đây là tư liệu quý đối với đề tài nghiên cứu của NCS, giúp NCS có hướng đi rõ nét hơn trong việc khai thác các tư liệu trong văn hóa của người Việt về ĐĐMTTT
Trang 24Trong bài báo Luật tục bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở Việt
Nam (Qua luật tục của một số dân tộc thiểu số ở Tây Bắc và Tây Nguyên) [118] của
tác giả Hoàng Văn Quynh (2015), đã phân tích các quan niệm khác nhau về luật tục
và ảnh hưởng của luật tục đối với cách ứng xử của những cộng đồng người Những luật tục này quy định cách ứng xử của con người đối với con người và cách ứng xử của con người đối với thiên nhiên Trong đó, tác giả nói về luật tục của người Ê Đê, M’nông, người Thái đối với môi trường, đặc biệt là bảo vệ rừng và nguồn nước; nêu lên tầm quan trọng của rừng vì cuộc sống của mình vẫn dựa vào trồng trọt, chăn nuôi và những sản vật của rừng làm cho cộng đồng tồn tại và phát triển Thông qua cách BVMT thiên nhiên như vậy, ta thấy được cách ứng xử văn minh của những tộc người, đồng thời thấy được cách đây hàng trăm năm, các tộc người đã có những cách BVMT sống của mình Tuy mới chỉ nghiên cứu dưới góc độ luật học về bảo vệ
tự nhiên của các tộc người, nhưng đây là nguồn tư liệu quý giá để NCS triển khai nghiên cứu dưới góc độ triết học, trên nền tảng đạo đức về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên
Phạm Quang Tiến, Nguyễn Thị Hồi (2010) trong bài báo Tập quán và luật tục
bảo vệ môi trường của một số dân tộc ít người ở Việt Nam [136], đã phân tích vai
trò của tập quán và luật tục đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Các tác giả đã phân tích tập quán và luật tục của một số dân tộc ít người về BVMT như: luật tục BVMT của người Ê Đê, người M’nông ở miền trung Tây Nguyên, người Thái ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình Trong luật tục của những dân tộc ít người này, có những điều được cộng đồng quan tâm để BVMT đó là; bảo vệ rừng, chim thú, đất đai và nguồn nước Trong luật tục còn đưa ra những hình thức tuyên truyền phổ biến những yếu tố BVMT trong cộng đồng và đặc biệt còn tuyên truyền trong gia đình qua các thế hệ như: ông bà, cha mẹ dạy con cháu đi rừng không được mang đầu cây cháy dở gây cháy rừng, cây ở đầu nguồn và ở bờ suối thì không được chặt Đây chính là một hình thức giáo dục BVMT Những dân tộc trên hiểu được môi trường ảnh hưởng đến cuộc sống và có vai trò quan trọng đối với con người cũng như sự tồn tại của tộc người Thấy được vị trí của rừng, tầm quan trọng của nguồn
Trang 25nước, cũng như môi trường để cho sinh vật có thể phát triển Với công trình nghiên cứu này, giúp NCS có thêm cơ sở để khẳng định từ rất lâu người Việt Nam đã thấy được vai trò của môi trường sinh thái và đưa ra những luật tục để BVMT, những luật tục này ra đời cũng là đạo đức của dân tộc
Dựa trên sự khảo cứu một số bản hương ước ở Hà Nội, tác giả Nguyễn Tá Nhí
(2010), trong cuốn Tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội: Tuyển tập Hương ước
tục lệ [102], đã giúp ta hiểu được quá trình thành lập làng, giữ làng và những giá trị
văn hóa, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc ta Thông qua đó, giúp chúng ta thấy được người xưa với những quy định của mình không chỉ nói về mối quan hệ giữa con người với con người mà còn nói về sự hài hòa, cách ứng xử của con người với môi trường thiên nhiên và thấy được vai trò của môi trường trong cuộc sống của con người Công trình này, đã tìm hiểu về các tục lệ của Thăng Long xưa, trong đó
có tục lệ về BVMT nhưng không sâu về đạo đức môi trường
Nguyễn Hiếu Tín (2010), Ứng xử với môi trường tự nhiên cần có đạo đức sinh
thái [137] Bài báo đã phân tích những quan niệm về đạo đức sinh thái trên thế giới
với quan điểm lấy con người làm trung tâm hay quan điểm duy nhân loại bắt nguồn
từ khoa học cận đại thế kỷ XVII - XVIII Tác giả cũng phân tích ở phương Tây thời
kỳ này quan điểm lấy con người làm trung tâm rất phổ biến vì lúc đó là thế giới quan cơ giới và tư duy máy móc siêu hình Tác gỉả đưa ra đây là cách con người đối
xử với thiên nhiên đứng từ góc độ đạo đức học Thực tế lịch sử cũng chứng minh, trải qua nhiều thập kỷ sau khi con người khai thác thiên nhiên bừa bãi, bất chấp mọi quy luật và sự tồn tại của chúng thì tự nhiên đã “trả thù” lại con người Con người
đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, làm ô nhiễm môi trường sống, khai thác bừa bãi làm cho tài nguyên thiên nhiên không kịp phục hồi (như rừng) Cho đến nay, khi con người nhận thức được vấn đề nghiêm trọng của ô nhiễm môi trường đối với cuộc sống của chính mình, con người đã có những biện pháp khắc phục Tác giả cũng phân tích quan niệm của người Việt trước đây về tự nhiên đó là quan hệ
“Thiên - Địa - Nhân hợp nhất” đây là quan niệm rất đẹp trong lối sống của người Việt đối với môi trường, nhưng ngày nay quan niệm này đang bị mai một dần do
Trang 26sức ép của nền KTTT, do dân số tăng dẫn đến những hành vi gây hại cho môi trường của người Việt từ những hành động rất nhỏ trong đời sống hàng ngày nó cũng phản ánh ý thức giữ gìn môi trường của con người Bài báo là tư liệu cực kỳ quý giá đối với luận án, nó là cơ sở lý luận quan trọng để NCS đưa ra các chuẩn mực ĐĐMTTT
Các tác giả Trần Phúc Thăng, Lê Thị Thanh Hà (2014), Vấn đề xung đột môi
trường ở nước ta hiện nay [129], đã đưa ra khái niệm về xung đột môi trường “ là sự
xung đột về lợi ích giữa các nhóm xã hội trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên
nhiên và môi trường” [129; tr 17] Dựa trên sự phân tích các vụ xung đột, các tác giả đã
đưa ra một số giải pháp để ngăn chặn hiệu quả sự xung đột môi trường ở nước ta, đó là
về phía Nhà nước cần bổ sung luật BVMT và các chế tài nhằm BVMT, đồng thời về phía người dân “ về lâu dài cần phải xây dựng văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường trên cơ sở đổi mới tư duy, cách làm, hành vi ứng xử, ý thức trách nhiệm với thiên nhiên, môi trường của các doanh nghiệp và của người dân” [129; tr 17]
Nguyễn Thanh Thúy, Cao Thị Thanh Nga (2016), Kiến thức truyền thống của
người Tày trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở Lạng Sơn [135] Các tác giả đã tìm
hiểu những kiến thức truyền thống của người Tày trong việc bảo vệ tài nguyên đất, tài nguyên nước và rừng thông qua hương ước của thôn, bản Phân tích những kinh nghiệm truyền thống trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, quy định về trách nhiệm của từng cá nhân trong cộng đồng đối với việc bảo vệ tài nguyên và những chế tài xử phạt nếu không tuân thủ về các quy tắc BVMT Trên cơ sở đó tác giả cũng đề xuất một số giải pháp dựa vào những kinh nghiệm truyền thống để quản lý tài nguyên thiên nhiên hiện nay
Các nghiên cứu về ĐĐMTTT kể trên, đã phân tích cách ứng xử của con người đối với giới tự nhiên Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đưa ra một khái niệm chính xác về ĐĐMTTT của người Việt Nam, mà mới chỉ thông qua cách thể hiện của người Việt trong cuộc sống hàng ngày, qua cách đối xử của con người với thiên nhiên, với động vật để chúng ta hiểu hơn về ĐĐMT của người Việt
Trang 271.3 Những công trình đề cập đến ý nghĩa của đạo đức môi trường truyền thống đối với việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
Thực ra, không một tác phẩm nào, một công trình nghiên cứu nào cho đến nay phân tích một cách kỹ càng, tường minh về vai trò, tầm quan trọng, ý nghĩa của ĐĐMTTT trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay Nhưng thông qua những tác phẩm nghiên cứu có chọn lọc dưới đây chúng tôi thấy có ít nhiều bóng dáng nội dung trên
Phạm Thị Ngọc Trầm (2002) có nhiều công trình nghiên cứu về đạo đức sinh
thái, tiêu biểu như: Bài báo Về cách tiếp cận triết học - xã hội đối với hiện trạng
môi trường sinh thái nhân văn ở Việt Nam: Các vấn đề, nguyên nhân và giải pháp
[141], tác giả đã phân tích cách tiếp cận môi trường sinh thái dưới góc độ triết học
xã hội, đã nhóm những vấn đề sinh thái nhân văn theo 3 nhóm: những vấn đề sinh thái nhân văn trong sản xuất tiêu dùng, những vấn đề sinh thái nhân văn trong lĩnh vực quan hệ giữa con người với con người và những vấn đề sinh thái nhân văn trong lĩnh vực tinh thần Tác giả đã phân tích thực trạng của những vấn đề nêu trên như: tình trạng cạn kiệt các tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường do sản xuất
và tiêu dùng, ô nhiễm môi trường sống, về đói nghèo và bệnh tật trong ô nhiễm môi trường sinh thái và kéo theo đó là các hệ lụy về kinh tế, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội bền vững ở Việt Nam Khi phân tích những vấn đề này, tác giả cũng
đã đưa ra những nguyên nhân dẫn đến những vấn đề ô nhiễm sinh thái ở Việt Nam hiện nay cùng một số giải pháp về ô nhiễm môi trường sinh thái
Trong bài, Đạo đức sinh thái trong hoạt động khai thác, sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững [142], tác giả
Phạm Thị Ngọc Trầm (2005) đã nêu lên ba thành tố của đạo đức sinh thái cũng như đạo đức nói chung của con người gồm: ý thức đạo đức sinh thái, quan hệ đạo đức sinh thái, thực tiễn đạo đức sinh thái Tác giả cũng đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng đạo đức sinh thái mới, vì theo tác giả những điều kiện kinh tế
- xã hội mới thì con người cũng cần phải có chuẩn mực mới khi đối xử với môi trường tự nhiên, hình thành nên chuẩn mực đạo đức sinh thái mới khác với đạo đức
Trang 28sinh thái truyền thống, vì đạo đức sinh thái truyền thống không còn phù hợp
Bài nghiên cứu: Những giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu quả hơn nhân
tố xã hội - nhân văn trong quản lý nhà nước về tài nguyên thiên nhiên và môi trường [143], tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm (2005) đề cập đến những yếu kém cần
được khắc phục trong công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đưa ra những biện pháp khắc phục Các biện pháp này phải được tiến hành theo phương thức quản lý đồng bộ, có hệ thống và nhất quán thông qua việc sử dụng các công cụ quản lý như: từ các công cụ kinh tế - kỹ thuật đến các công cụ xã hội - nhân văn
Nhà nghiên cứu Phạm Thị Ngọc Trầm (2009), với: Xây dựng đạo đức sinh
thái - một trách nhiệm của con người đối với tự nhiên [145] Tác giả khẳng định
trong quan hệ đạo đức sinh thái thì con người là chủ thể, còn tự nhiên luôn là khách thể có sự tác động qua lại lẫn nhau theo những chuẩn mực đạo đức nhất định, cho nên trong mối quan hệ với tự nhiên chỉ có con người luôn tự đặt ra các quy tắc, chuẩn mực giá trị để phục vụ cho lợi ích của mình, tự mình điều chỉnh hành vi ứng
xử đối với tự nhiên Để điều chỉnh hành vi đạo đức của mình đối với môi trường tự nhiên vì lợi ích của mình con người phải tự giác, tự ý thức, con người cần phải biết
tự nuôi dưỡng, phát huy tình yêu vốn có của mình đối với tự nhiên Những tình cảm này của con người đối với tự nhiên phải được biểu hiện qua các hành vi cụ thể của con người, biểu hiện thành trách nhiệm đối với tự nhiên, nhất là ở nước ta hiện nay đang trong nền KTTT thì những quy luật KTTT với những nguyên tắc và quy luật vốn có của KTTT ảnh hưởng lớn đối với môi trường nói chung và đạo đức sinh thái thực sự trở thành trách nhiệm xã hội của con người đối với tự nhiên
Bùi Văn Dũng (2005), với bài báo Cơ sở triết học nghiên cứu mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường [36] Tác giả nghiên cứu mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế với BVMT trên cơ sở triết học, thấy được mâu thuẫn khi kinh tế càng phát triển thì môi trường càng bị ô nhiễm nặng nề hơn Tác giả đưa ra 3 cách giải quyết vấn đề, đó là: cần có một hệ thống quan điểm toàn diện khi nghiên
Trang 29cứu về mối quan hệ này; cần phải dựa vào bản chất của xã hội và sự phát triển của khoa học, công nghệ; điều khiển được ý thức của con người với tư cách là chủ thể quá trình tác động vào tự nhiên Tác giả đã nhìn thấy mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế và BVMT, chỉ khi giải quyết mâu thuẫn này mới có thể tạo ra sự phát triển bền vững
Tác giả Lương Đình Hải (2006), với công trình nghiên cứu về việc giải quyết hiệu quả mối quan hệ biện chứng giữa hiện đại hóa xã hội và môi trường sinh thái
trong: Một số nguyên tắc phương pháp luận căn bản của việc giải quyết mối quan
hệ giữa hiện đại hóa xã hội và môi trường sinh thái [57], đã chỉ ra những nguyên
tắc cơ bản để khắc phục mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường hiện nay Tác giả cho rằng cần phải khai thác công nghệ tiên tiến sạch, xanh, thân thiện với môi trường, sử dụng các nhiên liệu tự nhiên như ánh sáng mặt trời, sức gió, sức nước và cố gắng giảm thiểu đến mức tối đa khí thái độc hại vào môi trường Đây là nguồn tư liệu quý đối với NCS, từ các nguyên tắc mà tác giả đưa ra, giúp NCS rút ra ý nghĩa trong việc áp dụng các công nghệ tiên tiến, các nguyên liệu
tự nhiên thân thiện với môi trường trong quá trình vận dụng các giá trị ĐĐMTTT trong việc BVMT ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Đình Hòa (2007), có nghiên cứu về ĐĐMT dưới góc độ mối
quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, với bài viết Phát triển bền vững trên nền
tảng sự đồng tiến hóa giữa con người và giới tự nhiên [59] đã khẳng định: môi
trường tự nhiên có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người và xã hội loài người, nếu chúng ta chỉ tuyệt đối hóa một mặt nào đó, phát triển kinh tế hoặc BVMT thì đều sẽ đi đến cực đoan, cho nên phải bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và BVMT để đáp ứng sự phát triển bền vững Như vậy, theo triết lý của những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác: mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là quan hệ không tách rời, gắn bó biện chứng, đồng thời quy định lẫn nhau, sự phát triển của con người là quá trình lịch sử, tự nhiên Nghiên cứu này, là tư liệu quan trọng, giúp NCS đưa ra quan niệm mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là mối quan hệ biện chứng, gắn bó, khẳng định vai trò không thể tách rời của con người
Trang 30với môi trường tự nhiên
Tác giả Nguyễn Đình Hòa (2008) với bài viết Triết học Mác - Nền móng cho
sự xác lập quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên [60], đã phân tích quan điểm
của triết học Mác về mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, giải quyết mối quan hệ này trên phương diện triết học Khẳng định dù điều kiện lịch sử hiện nay đã
có những sự thay đổi nhưng khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa môi trường với tự nhiên trong điều kiện hiện nay, nhưng lý luận triết học Mác về vấn đề này đến bây giờ vẫn đúng Nghiên cứu này, đã đem đến cho NCS nền tảng lý luận quan trọng, để
NCS triển khai luận án trên nền tảng lý luận triết học Mác - Lênin
Tác giả Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh (2007), với cuốn sách Quản lý môi
trường cho sự phát triển bền vững [58], đã phân tích các khái niệm chung về phát
triển bền vững, các nhóm mục tiêu trong sự phát triển bền vững và vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay Trong các mục tiêu của phát triển bền vững thì môi trường là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội của đất nước Tác giả cũng thấy được mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và môi trường: “Nói cách khác, phát triển kinh tế xã hội tạo ra tiềm lực kinh tế để bảo vệ môi trường còn bảo vệ môi trường tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế
xã hội trong tương lai” [58; tr 186] Chính vì vậy phải quản lý tốt môi trường mới
có thể đảm bảo cho sự phát triển ở Việt Nam hiện nay
Bài báo: Giáo dục đạo đức sinh thái vì sự phát triển bền vững cho con người
và giới tự nhiên [38] của tác giả Phan Thị Hồng Duyên (2008) Tác giả nêu lên
những vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay, đồng thời nhìn thấy rõ mối quan hệ biện chứng giữa con người và thế giới Khẳng định, con người muốn sinh tồn và phát triển thì phải gắn bó với tự nhiên Tác giả cho rằng cần phải giáo dục cho con người đạo đức sinh thái vì nó có một vai trò quan trọng Giáo dục đạo đức sinh thái làm cho mỗi người và cộng đồng hiểu được bản chất của môi trường từ đó có tri thức, thái độ và kỹ năng thực tế để có thể tham gia hiệu quả vào quá trình giải quyết các vấn đề của môi trường, quản lý chất lượng môi trường Việc giáo dục đạo đức sinh thái tiến hành dựa trên ba yếu tố đó là: giáo dục ý thức đạo đức sinh thái, quan
hệ đạo đức sinh thái, hành vi đạo đức sinh thái để hướng tới mục tiêu tạo ra sự hài
Trang 31hòa giữa con người, xã hội và tự nhiên vì sự phát triển bền vững
Trong cuốn Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái [34] tác giả Vũ
Trọng Dung (2009) đã nghiên cứu về tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay và đưa ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên chủ yếu là do các yếu
tố nhân như văn hóa, lối sống, phong tục tập quán, thói quen của người Việt Nam Tác giả đã hệ thống để hiểu rõ về đạo đức sinh thái và tầm quan trọng phải giáo dục đạo đức sinh thái Công trình nghiên cứu này tạo tiền đề cho NCS rút ra được ý nghĩa của việc giáo dục đạo đức môi trường truyền thống đối với việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam đạt kết quả tốt và bền vững
Cuốn sách Môi trường và ô nhiễm [76] của tác giả Lê Văn Khoa (1995); cuốn
Sinh thái và môi trường [148] của Nguyễn Văn Tuyên (1997); tác giả Phạm Văn
Boong (2001) với luận án Xây dựng ý thức sinh thái - yếu tố bảo đảm cho sự phát
triển lâu bền [5]; tác giả Trần Thị Hồng Loan (2012) với luận án Vấn đề văn hóa sinh thái trong sự phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay [90], đã nghiên cứu
những vấn đề về môi trường sinh thái và tầm quan trọng của môi trường sinh thái đối với con người Hiểu rõ tầm quan trọng đó, giúp con người có cách ứng xử phù hợp với tự nhiên, nói cách khác chính là cách ứng xử có đạo đức với môi trường Các tác giả cũng chỉ ra, trong lịch sử hàng nghìn năm tồn tại và phát triển của dân tộc ta, trong văn hóa của các dân tộc đã hình thành ý thức, hành vi đối với việc BVMT tự nhiên, thấy được tầm quan trọng của môi trường tự nhiên trong đời sống của mình
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về đạo đức sinh thái dưới các góc độ khác nhau, trên các phương diện khác nhau: như về cách tiếp cận triết học - xã hội, tiếp cận môi trường sinh thái dưới góc độ nhân văn, trong việc xây dựng KTTT, trong việc tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường v.v
Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương (2009), trong Trách nhiệm môi trường - một
việc BVMT, có trách nhiệm với môi trường như chúng ta có trách nhiệm giữa con
Trang 32người với con người vậy Trách nhiệm này không chỉ bó hẹp trong một cộng đồng người, với cụm dân cư mà với cả xã hội loài người Tác giả đã mạnh dạn đưa ra cần phải có trách nhiệm môi trường, hiểu nó như một phương diện của trách nhiệm xã hội đây là một giải pháp cho vấn đề BVMT cấp bách hiện nay
Luận án của Phan Thị Hồng Duyên (2012), với đề tài Vấn đề giáo dục đạo đức
sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện nay [39], đã đề cập đến những nhân tố tác
động đến việc giáo dục đạo đức sinh thái, đánh giá thực trạng, những vấn đề đặt ra trong việc giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện nay
Tác giả Dương Văn Sáu (2013), Tìm hiểu việc bảo vệ môi trường qua hương
ước làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu - Nghệ An) [119] Từ việc phân tích vai trò quan
trọng của môi trường và việc BVMT đồng thời tác giả đi sâu phân tích hương ước của làng Quỳnh Đôi - Nghệ An về vấn đề BVMT Hương ước của làng Quỳnh Đôi được bổ sung, hoàn thiện liên tục từ năm 1636 đến năm 1855 và trong hương ước
đã đề cập đến vấn đề BVMT từ sớm, đó là việc bảo vệ đất đai, đồng ruộng và hoa màu của người dân trồng ở trên đó Trong hương ước đã đưa ra các biện pháp mang lợi ích lớn và thiết thực về kinh tế khi đề cập đến việc tránh để hoang hóa ruộng đất, lãng phí tài nguyên đất bằng cách phủ xanh đất trống, trồng hoa màu và các cây lương thực Biện pháp này tích hợp kinh tế với BVMT Trong hương ước còn đề cập đến việc giữ gìn, bảo vệ các nguồn dẫn nước ở các con lạch, ngòi, các nguồn nước sạch, trong của làng để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày: “Những điều lệ trong bản Hương ước cho thấy, cha ông ta đã quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường từ rất sớm Sự quan tâm đó được cụ thể hóa bằng những biện pháp thích
ứng, phù hợp đối với địa bàn dân cư” [119; tr 53]
Nguyễn Ngọc Sinh (2015), Thay đổi cung cách ứng xử với thiên nhiên, xây
dựng văn hóa môi trường tiên tiến hướng tới phát triển bền vững đất nước [122] đã
nêu lên những điểm cốt lõi trong quan niệm về văn hóa môi trường bao gồm tri thức, các chuẩn mực về đạo đức, theo đó con người có thể điều chỉnh nhận thức,
Trang 33hành vi của mình với môi trường xung quanh Văn hóa môi trường cũng có sự tích lũy, kế thừa và hoàn thiện theo chiều dài lịch sử được biểu hiện qua lối sống và cách ứng xử với thiên nhiên của con người Tác giả cũng đề cao vai trò của ĐĐMT coi đây là nền tảng tư tưởng của văn hóa môi trường tiên tiến trong xã hội, đồng thời ủng hộ các hành động, hành vi văn hóa môi trường tiên tiến trong xã hội Công trình nghiên cứu này, chỉ cho NCS biết kế thừa các giá trị tốt đẹp trong văn hóa, ĐĐMTTT vào BVMT ở Việt Nam hiện nay
Đỗ Nam Thắng (2015), Một số vấn đề môi trường toàn cầu và định hướng giải
pháp trong thời gian tới [130], cho rằng môi trường là vấn đề quan tâm thảo luận
nhiều ở các diễn đàn trên toàn cầu Vấn đề này được đưa ra tại các hội nghị trên thế giới từ những năm 70 - 80 của thế kỷ XX Trong bài này, tác giả đã phân tích vấn
đề toàn cầu trên các nội dung Thứ nhất, đó là các áp lực đối với môi trường; từ sự
gia tăng dân số dẫn đến nhu cầu về lương thực tăng, để đáp ứng về lương thực thì một phần lớn đất tự nhiên đã chuyển sang mục đích nông nghiệp Cùng với sự gia tăng dân số thì số dân thuộc tầng lớp trung lưu cũng tăng lên, tầng lớp này đã sử dụng một số lớn các thiết bị phục vụ sinh hoạt đã làm cho năng lượng tăng, lương thực tăng và cùng với đó là lượng nước sạch lớn Vấn đề đô thị hóa cũng dẫn đến các áp lực về môi trường như: sự gia tăng về cường độ sóng nhiệt, sự biến đổi khí hậu, sự phát phải hiệu ứng nhà kính đã tác động mạnh mẽ đến môi trường, dẫn đến
cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên; Thứ hai, một số vấn đề môi trường toàn cầu
trong giai đoạn tới đó là sự suy giảm đa dạng sinh học, sự biến đổi khí hậu đã tác động đến sản xuất lương thực, hệ thống sản xuất và sinh kế ven biển gây nên những thiệt hại nặng nề đến cuộc sống của con người Ngoài ra, sự ô nhiễm môi trường hiện nay còn dẫn đến việc mất rừng, sự suy thoái đất, cạn kiệt nguồn nước sạch và
những vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Thứ ba, tác giả đưa ra định
hướng giải pháp cho vấn đề môi trường toàn cầu hiện nay đó là chúng ta nhấn mạnh đến vai trò của môi trường trong sự phát triển bền vững, tăng cường tài chính và công nghệ cho môi trường Công trình này, là tư liệu quan trọng đối với NCS, rút ra
ý nghĩa về cách thức lồng ghép vấn đề môi trường trong các chính sách phát triển
Trang 34kinh tế - xã hội
Luận án tiến sĩ triết học của Đỗ Trọng Hưng (2015), Kết hợp tăng trưởng kinh
tế với bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam hiện nay [68] đã làm rõ
hơn cơ sở triết học của việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với BVMT, đồng thời trên
cơ sở nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và BVMT ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam hiện nay
Cuốn sách Tội phạm về môi trường một số vấn đề lý luận và thực tiễn [91] do
Phạm Văn Lợi (2004, Chủ biên), tác giả chỉ ra một thực tế là tội phạm môi trường ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp, trong khi đó việc xử lý của các cơ quan chức năng lại chưa thống nhất, có nhiều hạn chế và bất cập Cuốn sách đi sâu phân tích những luận cứ khoa học và thực tiễn của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi trường, những đặc điểm, đặc trưng của yếu tố cấu thành tội phạm môi trường trong bộ luật Hình sự năm 1999 và công tác đấu tranh phòng chống các loại tội phạm này
Cuốn sách nghiên cứu BVMT ở Việt Nam bằng việc áp dụng thi hành luật, là:
Thực thi luật và các chính sách bảo vệ môi trường tại Việt Nam [72] của các tác giả:
Nguyễn Đức Khiển, Phạm Văn Đức, Đinh Minh Trí (2010) Đây là những cuốn sách đã giới thiệu các chính sách, luật và các văn bản hướng dẫn thi hành luật, những bất cập, những kiến nghị đề xuất xây dựng, sửa đổi, bổ sung luật BVMT ở Việt Nam Tác giả cũng đã đưa ra những đánh giá về việc thi hành luật của người dân và các thủ tục giải quyết tranh chấp môi trường Các tác giả chỉ nghiên cứu những khía cạnh của luật BVMT và những người vi phạm theo góc độ luật học chứ chưa nghiên cứu dưới góc độ triết học, hay mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên
Nguyễn Thị Thu Hoan (2018) với bài Từ trang trí hoa văn trống đồng Ngọc
Lũ nghĩ về ứng xử với môi trường của người Việt xưa [61] Thông qua nghiên cứu
di sản là hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ có ở Việt Nam cách đây hơn 2000 năm, tác giả đã thấy được cách ứng xử với môi trường của người Việt xưa qua hoa văn trên trống Đó là, quan niệm của người Việt xưa về: đời sống nông nghiệp, các nghi
Trang 35lễ quan trọng, các tín ngưỡng, phong tục, lễ nghi… đã thể hiện được tình yêu thiên nhiên, yêu lao động, tư duy biện chứng trong sản xuất, sinh hoạt hàng ngày cũng như trong lễ hội của người Việt Bài này, làm cho NCS tin tưởng và khẳng định rằng: từ cách đây hơn 2000 năm người Việt đã có những tư tưởng về môi trường, họ thấy được vai trò của tự nhiên đối với sự tồn tại và phát triển của mình được thể hiện trong các lễ nghi thờ cúng, nhân cách hóa tự nhiên như những vị thần, như: thần Mặt trời, chim Lạc… “Từ môi trường núi - nước đó đã hình thành tư duy, tâm thức, tín ngưỡng, phong tục, tập quán: đua thuyền cầu mưa (thuyền rồng/rắn phun nước), phồn thực (đực - cái, âm - dương, lưỡng phân lưỡng hợp, trong âm có
dương, trong dương có âm, âm - dương hài hòa sẽ sinh sôi phát triển…)” [61, tr
23].Những hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ cho ta thêm khẳng định rằng, người Việt xưa đã hình thành lối ứng xử, tư duy, quan niệm, nhân sinh quan, vũ trụ quan đều thể hiện quy luật của tự nhiên
Như vậy, các tác giả trên đã đi sâu nghiên cứu về môi trường, về ĐĐMT và đạo đức sinh thái dưới nhiều góc độ khác nhau, với nhiều chuyên ngành khác như: tâm lý học, xã hội học, môi trường, song chưa có một công trình nào thực sự đi sâu vào nghiên cứu về ĐĐMTTT và ý nghĩa của nó đối với việc BVMT ở Việt Nam đặc biệt dưới góc độ triết học
1.4 Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan và những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu đối với luận án
* Khái quát kết quả của các công trình trên liên quan đến đề tài
Các công trình nói trên, theo tác giả luận án, đã đạt được những thành tựu nhất định sau:
Thứ nhất, các tác giả đã nghiên cứu về môi trường trên nhiều phương diện,
dưới nhiều góc độ khác nhau và đã đưa ra được khái niệm ĐĐMT với các định nghĩa khác nhau, khẳng định ô nhiễm môi trường là vấn đề mang tính thời sự nóng không chỉ ở Việt Nam Khẳng định vai trò của môi trường đối với đời sống của con người, và việc cần phải bảo vệ, cư xử với môi trường tự nhiên, với giới động vật, thực vật một cách có đạo đức Đó là đạo đức môi trường Các tác giả đã đưa ra vấn
Trang 36đề cần phải nghiên cứu ĐĐMT ở Việt Nam và đó là điều cần thiết hiện nay khi phát triển kinh tế bền vững thì yếu tố môi trường là không thể thiếu nhưng vấn đề này ở Việt Nam chỉ mới được nghiên cứu gần đây
Thứ hai, ở một số khía cạnh các bài viết đã làm sáng tỏ về tình yêu và cách
ứng xử có đạo đức với thiên nhiên của con người Việt Nam xưa thông qua các luật tục và hương ước đã có từ rất lâu và được cộng đồng gìn giữ Nhưng những vấn đề của bài viết các công trình đưa ra mới chỉ khai thác ở những mặt riêng lẻ ở từng dân tộc thiểu số, hay một địa phương ở Việt Nam mà chưa có sự đúc kết khái quát Có thể chỉ ra các nghiên cứu sau: Quy định về sở hữu tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong luật tục của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam - trường hợp luật tục Thái và luật tục Ê Đê; Kiến thức truyền thống của người Tày trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở Lạng Sơn; Tìm hiểu việc bảo vệ môi trường qua hương ước làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu - Nghệ An) Vì thế, vấn đề ĐĐMTTT ở Việt Nam cần được quan tâm đúng mức và nghiên cứu hơn nữa
Thứ ba, một số công trình gần với đề tài đã nói lên quan điểm lấy ĐĐMT làm
giải pháp cho vấn đề BVMT ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, những công trình này mới chỉ đi sâu tìm hiểu những vấn đề ĐĐMT hiện nay ở Việt Nam mà chưa chú ý đến việc kế thừa - phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã có từ lâu trong lịch sử Vì thế, vấn đề nghiên cứu ĐĐMTTT và ý nghĩa của nó đối với việc BVMT ở Việt Nam hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ và cần được quan tâm nghiên cứu sâu hơn
* Một số vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Có thể khẳng định cho đến hiện nay các công trình nghiên cứu về ĐĐMTTT chỉ dưới một khía cạnh nhất định, rời rạc và chưa có một công trình nghiên cứu nào
đề cập đến một cách rõ ràng, đầy đủ và có hệ thống về ĐĐMTTT ở Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với việc BVMT ở Việt Nam hiện nay Do đó, đây là một đề tài nghiên cứu mang tính cấp thiết ở cả 2 mặt lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đề tài ĐĐMTTT và ý nghĩa của nó đối với việc BVMT ở Việt Nam thì luận án tập trung luận giải những vấn đề sau:
Trang 37Phân tích những tư tưởng ĐĐMT có trong lịch sử, cả ở phương Đông, phương Tây và Việt Nam hiện nay, từ đó NCS đưa ra các khái niệm của mình về ĐĐMT, ĐĐMTTT, ĐĐMTTTVN Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu về ĐĐMTTT, những chuẩn mực của ĐĐMT đã rút ra một số chuẩn mực của ĐĐMTTT ở Việt Nam Như: lối sống hài hòa với thiên nhiên, tình yêu thiên nhiên của người Việt; Tính linh hoạt biện chứng và khai thác tự nhiên một cách hợp lý; Cách ứng xử với tự nhiên được thể hiện qua tính tiết kiệm cần cù và tình yêu lao động của người Việt xưa
Trên cơ sở phân tích thực trạng của ĐĐMTTT ở Việt Nam hiện nay Từ đó, rút ra một số vấn đề cần giải quyết Đặc biệt là mối quan hệ giữa phát triển kinh tế bền vững với bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam Đây cũng là một bài toán khó, bởi lẽ muốn phát triển kinh tế mạnh mẽ phải khai thác các nguyên liệu từ tự nhiên, sự phát triển kinh tế sẽ tỉ lệ nghịch với bảo vệ môi trường thiên nhiên
Dựa trên sự phân tích các vấn đề lý luận và thực trạng ĐĐMTTT ở Việt Nam, NCS đã từ đó rút ra ý nghĩa của ĐĐMTTT đối với việc BVMT ở Việt Nam, dựa trên các khía cạnh kết hợp giữa ĐĐMTTT và ĐĐMT hiện nay để tìm ra cách BVMT hiệu quả và mang tính bền vững trên khía cạnh lý luận và thực tiễn; ý nghĩa của ĐĐMTTT trong việc đưa ra ý nghĩa cần giáo dục ĐĐMTTT được thể hiện dưới nhiều hình thức, đối tượng, phương pháp khác nhau trong cộng đồng nhằm BVMT
ở Việt Nam hiện nay
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích những công trình của các tác giả
đi trước có liên quan đến luận án, giúp cho NCS thấy được vấn đề còn bỏ ngỏ, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn một cách có hệ thống trong đề tài của mình
Tổng quan các công trình còn cho phép NCS thấy được ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đạo đức môi trường truyền thống của Việt Nam trong việc bảo vệ môi
trường của Việt Nam hiện nay tốt hơn
Trang 38Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ Ý U N VỀ ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG VÀ ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG 2.1 Một số quan niệm chủ yếu về môi trường và đạo đức môi trường
2.1.1 Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường
2.1.1.1 Khái niệm môi trường
Khái niệm “môi trường” là đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học dưới
nhiều góc độ khác nhau Trong tiếng Anh, người ta sử dụng những thuật ngữ
“environment” nghĩa là “môi trường”, thuật ngữ này còn có nghĩa là tổng hợp các
sự vật hay hoàn cảnh xung quanh một sinh vật, bao gồm con người Có một số cách
tiếp cận về môi trường như sau:
Nhà vật lý hàng đầu thế kỷ XX là Albert Einstein cho rằng: “Môi trường là tất
cả những gì ngoài tôi ra” [dẫn theo 63, tr 7] Với tác giả Joe Whiteney (1993), lại đưa ra định nghĩa: “Môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người như: đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng ozon, sự đa dạng của các loài” [dẫn theo 63, tr 7] Theo định nghĩa của UNESCO (1981): “Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa) và những cái vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật), trong
đó con người sống bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên
và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình" [dẫn theo 78, tr 8] Trong từ
điển Bách khoa toàn thư (1994) định nghĩa về môi trường như sau: “Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ” [dẫn theo 62, tr 6]
Luật BVMT năm 2015, đưa ra định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố
vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con
người và sinh vật” [111, tr 1] Theo định nghĩa này, khái niệm môi trường được hiểu theo 2 nghĩa: Một là, môi trường được hiểu là môi trường tự nhiên bao gồm
các nhân tố vật lý, sinh học, hóa học tồn tại xung quanh con người, ngoài ý muốn
Trang 39của con người Môi trường tự nhiên được biểu hiện ra như: đất, nước, không khí, biển, động thực vật xung quanh con người Môi trường tự nhiên có vai trò rất lớn đối với cuộc sống của con người, cung cấp cho con người không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng trọt, chăn nuôi, các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu dùng, đồng thời là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải Môi trường tự nhiên còn
có lợi ích về tinh thần khi đó là cảnh đẹp để con người giải trí, giúp cuộc sống con
người phong phú hơn Hai là, môi trường nhân tạo: đây là những nhân tố do con người
tạo ra, như: công viên nhân tạo, nhà ở, các khu đô thị, sinh thái, nhà máy…
Trong các khái niệm môi trường đã phân tích ở trên, NCS dựa theo khái niệm
môi trường đã được đưa ra trong Luật BVMT năm 2015 ở Việt Nam Trong khuôn
khổ luận án này, chúng tôi nghiên cứu chủ yếu mối quan hệ giữa con người với tự nhiên hay gọi là môi trường tự nhiên, chứ không nghiên cứu môi trường xã hội, nhân văn, môi trường nhân tạo
2.1.1.2 Khái niệm bảo vệ môi trường
Theo luật BVMT thì: “Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành” [111, tr 1] BVMT có những
nguyên tắc chung để cho người dân, cơ quan và các tổ chức định hướng nhận thức
và hoạt động cho phù hợp Các nguyên tắc BVMT này được quy định trong Điều 4, luật BVMT 2015 ta có thể phân tích trên các phương diện sau:
Thứ nhất; chủ thể tham gia BVMT đó là: “ trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi
cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân” [111, tr 3]
Thứ hai; Đối tượng BVMT là: “gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh
xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành” [111, tr 3 - 4]
Thứ ba; Phương pháp BVMT đó là việc sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu
chất thải, đảm bảo an ninh, không phương hại đến chủ quyền quốc gia, quốc tế BVMT là hành động phải diễn ra thường xuyên, phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường Đồng thời, các phương pháp BVMT phải phù hợp với những quy luật điều
Trang 40kiện lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển của đất nước Những đối tượng vi phạm
phải khắc phục sự cố do mình gây ra theo đúng quy định của pháp luật
Các nguyên tắc trên, là những nguyên tắc mà Nhà nước đề ra các chủ trương, chính sách trong hoạt động BVMT Đồng thời, những nguyên tắc này cũng là nền tảng quan trọng để NCS định hướng nghiên cứu luận án, để thấy được vai trò của các chủ thể BVMT, đối tượng và các phương pháp BVMT Từ đây, NCS có thể liên
hệ những quy định trong các hương ước, luật tục của người Việt xưa, quy định về cách ứng xử của con người với giới tự nhiên (hay còn gọi là đạo đức môi trường truyền thống) trong việc thực hiện đạo đức nhằm BVMT ở Việt Nam hiện nay
2.1.2 Đạo đức và đạo đức môi trường
2.1.2.1 Khái niệm đạo đức
Những tư tưởng đạo đức đã xuất hiện cách đây khoảng hơn 2000 năm với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học Những tư tưởng này xuất hiện đồng thời
ở các trung tâm văn minh lớn của nhân loại cổ đại như: Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại Danh từ “đạo đức” được bắt nguồn từ tiếng Latinh có nghĩa là mos (morit) có nghĩa là: lề thói Từ “Luân lí” cũng được xem như đồng nghĩa với “đạo đức” và có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là ethicos: nghĩa là lề thói, tập tục Khi nói đến những lề thói, tập tục, thói quen, những biểu hiện, những mối quan hệ nhất định giữa người với người trong cuộc sống hàng ngày, người ta gọi đó là đạo đức
Theo tác giả Huỳnh Khái Vinh: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ xã hội trong quan hệ người - người” [150, tr 44] Tác giả Trần Đăng Sinh, Nguyễn Thị Thọ, lại định nghĩa, “đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [121, tr 6]
Kế thừa những tư tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể đưa
ra quan niệm về đạo đức học Mác - Lênin như sau: “đạo đức học là một khoa học triết học, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nghiên cứu sự vận động của các quan hệ đạo đức giữa con người và con người giữa con người và tự nhiên, coi các vấn đề chuẩn mực và thiện ác là trung tâm, lợi ích là khâu cơ bản, nhân cách đạo đức là biểu hiện tập trung nhất” [121, tr 15]