1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát lỗi ngữ âm, từ vựng của học sinh trường trung học phổ thông vân nham, hữu lũng, lạng sơn

155 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những ưu điểm và hạn chế của vấn đề tuyên truyền truyền phòng chống ma túy trên sóng truyền hình các tỉnh vùng Tây Bắc ở các Đài truyền hình: Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình .... Trong đó đư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Thị Thu Hương Các số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu, phát hiện mới là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây Luận văn có sử dụng, phát triển và kế thừa một số tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình và tài liệu có liên quan đến nội dung đề tài

Tác giả luận văn

Đàm Xuân Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn Cao học, tôi đã nhận được rất nhiều sự chỉ dẫn nhiệt tình của các thầy - cô giáo khoa Báo chí học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) và Học viện Báo chí và Tuyên truyền Tôi vô cùng quý trọng, biết ơn sự chỉ bảo đó và xin được chân thành gửi lời tri ân đến toàn thể các thầy - cô giáo Đặc biệt, tôi xin ngỏ lời cám ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Đặng Thị Thu Hương – người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Và hơn hết, trong quá trình làm luận văn, tôi đã học tập ở cô một tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc, cẩn thận, tỉ mỉ và một thái độ làm việc hết mình Xin được gửi đến cô sự biết ơn và lòng kính trọng chân thành nhất

Cám ơn bạn bè và đồng nghiệp tại cơ quan Đài Phát thanh – Truyền hình Sơn La đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thời gian hoàn thành khóa học cao học tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN)

Cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của anh/chị em phóng viên, lãnh đạo các Đài Phát thanh – Truyền hình Điện Biên, Đài Phát thanh – Truyền hình Yên Bái đã cung cấp tư liệu giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn của mình Cảm ơn gia đình và những người thân yêu đã luôn tin tưởng, động viên và ủng hộ

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của Hội đồng khoa học, của quý thầy cô giáo cùng với sự góp ý của bạn

bè đồng nghiệp để luận văn hoàn thiên có chất lượng tốt hơn

Hà Nội, tháng 01 năm 2019

Đàm Xuân Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn 10

7 Bố cục luận văn 10

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÒNG CHỐNG MA TÚY Ở VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH 11

1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan đến đề tài 11

1.1.1 Ma túy 11

1.1.2 Phòng, chống ma túy 13

1.1.3 Tuyên truyền vận động 14

1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng chống ma túy 15

1.2.1 Đường lối quan điểm của Đảng về phòng chống ma túy 15

1.2.2 Các văn bản pháp luật của Nhà nước về ma túy 18

1.2.3 Các văn bản pháp luật về phòng chống ma túy do các bộ, ngành ban hành 19

1.3 Đặc điểm của truyền hình địa phương vùng Tây Bắc 20

1.3.1 Đặc điểm chung 20

1.3.2 Đối tượng tiếp nhận thông tin của đài truyền hình địa phương 22

1.3.3 Giới thiệu sơ lược về 03 Đài truyền hình vùng Tây Bắc được lựa chọn nghiên cứu 25

Trang 6

1.4 Một số tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình truyền hình về phòng

chống ma túy trên truyền hình 29

1.4.1 Về nội dung thông tin 30

1.4.2 Về hình thức thể hiện thông tin 31

1.4.3 Về kết cấu chương trình 33

1.4.4 Người dẫn chương trình 34

1.4.5 Về thời lượng và thời điểm phát sóng 35

Tiểu kết chương 1: 37

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG PHÒNG, CHỐNG MA TÚY TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH VÙNG TÂY BẮC (KHẢO SÁT CÁC ĐÀI TRUYỀN HÌNH: SƠN LA, ĐIỆN BIÊN, HÒA BÌNH) 38

2.1 Tần suất các tác phẩm truyền hình về phòng, chống ma túy trên sóng truyền hình các tỉnh vùng Tây Bắc 38

2.2.Nội dung tuyên truyền phòng chống ma túy trên sóng truyền hình các tỉnh vùng Tây Bắc ở các Đài truyền hình: Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình 40

2.2.1 Tuyên truyền, phổ biến văn bản pháp luật của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương và hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy 46

2.2.2 Đưa ra những cảnh báo và hậu quả của ma túy đối với con người và xã hội 46

2.2.3 Thông tin về những vụ buôn bán ma túy, những tội phạm ma túy với những thủ đoạn tinh vi để vận chuyển buôn bán ma túy 53

2.2.4 Nêu gương người nghiện ma túy cai nghiện thành công trở thành người có ích cho xã hội 57

2.2.5 Biểu dương những cá nhân, tập thể có thành tích trong cuộc chiến phòng chống tệ nạn, tội phạm ma túy 59

2.2.6 Phổ biến những mô hình, sáng kiến phòng chống ma túy mang lại

Trang 7

hiệu quả cao cho cộng đồng xã hội 61

2.3 Hình thức tuyên truyền phòng chống ma túy trên sóng truyền hình các tỉnh vùng Tây Bắc ở các Đài truyền hình: Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình 64

2.3.1 Thể loại 64

2.3.2 Ngôn ngữ 71

2.3.3 Chương trình, chuyên mục 74

2.3.4 Thời điểm phát sóng 75

2.3.5 Thời lượng và diện phủ sóng 76

2.4 Những ưu điểm và hạn chế của vấn đề tuyên truyền truyền phòng chống ma túy trên sóng truyền hình các tỉnh vùng Tây Bắc ở các Đài truyền hình: Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình 77

2.4.1 Ưu điểm 77

2.4.2 Những khó khăn hạn chế 82

Tiểu kết chương 2: 87

CHƯƠNG 3:GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG MA TÚY TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH VÙNG TÂY BẮC 88

3.1 Dự báo tình hình ma túy và yêu cầu phát huy vai trò của truyền hình trong thời kỳ mới 88

3.1.1 Diễn biến phức tạp của tình hình ma túy và tội phạm ma túy 88

3.1.2 Yêu cầu phát huy vai trò của truyền hình tham gia phòng chống ma túy 90

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống ma túy trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc 93

3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của nhà Đài đối với công tác tuyên truyền phòng chống ma túy 93

3.2.2 Đổi mới về nội dung và hình thức thể hiện 95

3.2.3 Xây dựng chuyên mục 102

Trang 8

3.2.4 Đảm bảo thời điểm phát sóng 104

3.2.5 Phát huy vai trò của công chúng truyền hình trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền về phòng chống ma túy 105

3.2.6 Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất 107

3.2.7 Về nâng cao chất lượng nhân lực 110

Tiểu kết chương 3: 116

KẾT LUẬN 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

PHỤ LỤC 1: 128

PHỤ LỤC 2: 132

PHỤ LỤC 3: 137

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ma túy và các tệ nạn do ma túy đang gây ra đã và đang là thảm họa của nhân loại, là vấn đề mang tính toàn cầu Không một quốc gia, dân tộc nào trên thế giới thoát khỏi ra khỏi vòng xoáy khủng khiếp của nó Tệ nạn ma túy đang làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nguồn nhân lực, tài chính hủy diệt những tiềm năng quý báu mà lẽ ra phải được huy động cho phát triển KT-XH, đem lại ấm no, hạnh phúc cho con người Tệ nạn ma túy đã làm suy thoái phẩm giá, nhân cách con người, phá hoại sự phát triển bền vững, làm xói mòn các giá trị VH, gia đình, đạo đức, XH Nghiêm trọng hơn,

tệ nạn ma túy còn là tác nhân của căn bệnh HIV/AIDS Nó là mối đe dọa đối với mọi tầng lớp nhân dân, xâm phạm đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn

XH của nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH Vì vậy, “chung tay đẩy lùi ma túy” và “giảm thiểu tác hại” của ma túy không chỉ là trách nhiệm của

cơ quan nhà nước hay các tổ chức liên quan đến việc PCMT mà còn là trách

nhiệm của mỗi người dân, gia đình và cộng đồng

Ở Việt Nam, đặc biệt là vùng Tây Bắc là địa bàn thuộc vùng núi cao, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc, địa hình hiểm trở phức tạp; có

vị trí chiến lược quan trọng về phát triển KT-XH, quốc phòng, an ninh đối ngoại, các tệ nạn XH đã và đang phát triển hết sức phức tạp, công tác đấu tranh PCMT còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở một số huyện của tỉnh như: Vân Hồ (Sơn La), Điện Biên Đông (Điện Biên), Mai Châu (Hòa Bình) được xem là những điểm nóng về tình trạng buôn bán và vận chuyển, sử dụng và điều chế ma túy của cả nước Đứng trước tình hình ma túy, tội phạm ma túy ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp, trong những năm qua Đảng, Nhà nước

và Chính quyền địa phương thuộc các tỉnh Tây Bắc đã không ngừng đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi

Trang 13

đời sống XH Bởi lẽ, hiệu quả của công tác đấu tranh PCMT, đặc biệt là nhận thức về tác hại của ma túy và hành vi ứng xử cũng như kỹ năng từ chối trước cám dỗ của ma túy vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt là trong lớp trẻ, những thanh niên chơi bời hư hỏng Công tác đấu tranh PCMT không chỉ là trách nhiệm của một quốc gia dân tộc mà còn của cộng đồng, XH, các tổ chức

và cá nhân Vì vậy, để giải quyết tệ nạn này còn đòi hỏi chúng ta phải phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó báo chí nói chung và Đài PT-TH nói riêng đóng một vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, cổ động, giáo dục Mục tiêu của công tác truyền thông PCMT là nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân về những nguy hại của tệ nạn ma túy đối với bản thân, gia đình, công đồng và XH Đồng thời nâng cao ý thức tự giác chấp hành các quy định của pháp luật về PCMT của người dân tại cộng đồng Từ đó, thay đổi hành vi, vận động người dân tự nguyện tham gia PCMT, phát hiện tố giác những tội phạm ma túy, tham gia công tác tổ chức cai nghiện, quản lí người nghiện tại gia đình và cộng đồng dân cư Tuy nhiên, cuộc đấu tranh PCMT vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường với những thủ đoạn tinh vi khác nhau Do đó, cần nhận diện sâu sắc, toàn diện

về vai trò của báo chí trong PCMT

Trong các loại hình truyền thông đại chúng, truyền hình chuyển tải thông tin sống động, hấp dẫn bằng hình ảnh và âm thanh về tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống, được đông đảo người dân đón nhận Ngày nay, nhờ sự phát triển của kỹ thuật - công nghệ, truyền hình có mặt tại tất cả các tỉnh, thành, từ đồng bằng, nông thôn tới biên giới, hải đảo xa xôi Truyền hình đóng vai trò không nhỏ trong việc góp phần đẩy lùi các hiện tượng xấu, biểu dương những nhân tố tích cực Qua các thông tin trên truyền hình, nhận thức của người dân

sẽ được nâng cao, huy động sức mạnh của toàn dân trong việc đấu tranh, ngăn ngừa với các loại tội phạm trong đó có tội phạm ma túy.Nhằm đánh giá kết

Trang 14

quả, những ưu điểm, hạn chế trong công tác tuyên truyền PCMT trên các kênh truyền hình vùng Tây Bắc, để đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tác phẩm trong tuyên truyền PCMT ở vùng Tây

Bắc Chính vì lí do đó, chúng tôi lựa chọn “Vấn đề phòng chống ma tuý trên sóng truyền hình các tỉnh vùng Tây Bắc” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên

ngành báo chí của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những năm qua, vấn đề ma túy và PCMT đã có ít nhiều các công trình nghiên cứu và tìm hiểu, nhưng ở mỗi góc độ, mỗi nhà khoa học lại có cách nhìn và tiếp cận khác nhau Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu

tiêu biểu sau đây:

2.1 Các công trình nghiên cứu về ma túy, tác hại của ma túy và công tác phòng chống ma túy

Trong công trình nghiên cứu Các chất ma túy của tác giả Vũ Ngọc

Bùng, Nxb Công an Nhân dân, năm 1998 Tác giả đã đề cập đến khái niệm chung về ma túy, bản chất hóa học, nguồn gốc, công thức cấu tạo, phương pháp nhận biết và phân tích các chất ma túy nằm trong danh mục kiểm soát của các công ước quốc tế Trong đó, chỉ ra các chất ma túy chia thành 5 nhóm: các chất thuốc phiện (Opiates), các chất cần sa (cannabis), các chất kích thích (stimulants), các chất ức chế (depressant), các chất gây ảo giác

(hallucinogens)

Cuốn sách Hiểm họa ma túy và cuộc chiến mới của Nguyễn Xuân Yên,

Trần Văn Luyện, Nxb Công an Nhân dân, năm 2002 Các tác giả đã khái quát toàn bộ tình hình ma túy trên thế giới và khu vực, đưa ra những hiểu biết về

ma túy nói chung, công tác PCMT và tác hại khôn lường của ma túy với sức khỏe con người Cuốn sách chỉ đưa ra những hiểm họa của ma túy nói chung

mà còn làm rõ nguy cơ của ma túy tổng hợp đối với thế giới và các nước

Trang 15

ASEAN và xu hướng phát triển của ma túy tổng hợp công tác phòng chống

ma túy, ngoài ra cuốn sách còn chỉ ra vai trò của XH trong công tác cai nghiện

ma túy

Bác sĩ Nguyễn Minh Tuấn, trong cuốn sách Chần đoán và điều trị trạng thái lệ thuộc (Nghiện), Nxb Y học, năm 2011 Đây là cuốn sách bàn khá kỹ

lưỡng về tác hại của các chất gây nghiện, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, tiêu

chuẩn chẩn đoán, điều trị, dự phòng đối với người nghiện ma túy

Liên quan đến luật học, tội phạm học có các đề tài: “Ma túy trong lứa tuổi thanh niên ở Hà Nội, nguyên nhân và một số biện pháp phòng, chống của lực lượng Công an” của Nguyễn Quang Học, Viện nghiên cứu Chiến lược và Khoa học Công an; “Thực trạng người chưa thành niên phạm tội và các giải

pháp trong tình hình hiện nay” của Đỗ Bá Cơ, trường Đại học Cảnh sát

2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan về cuộc đấu tranh phòng chống ma túy

Cuốn sách Những vấn đề cơ bản về công tác phòng, chống ma túy của

Văn phòng thường trực PCMT, Nxb Công an nhân dân, năm 2002 Cuốn sách

đã cung cấp những tri thức cơ bản về ma túy và công tác PCMT cũng như nhận thức chung về công tác PCMT Trong đó đưa ra những khái niệm về các chất ma túy và tệ nạn ma túy; khái niệm, mục tiêu, biện pháp công tác PCMT

và khái quát tình hình cũng như kết quả phòng, chống ma túy ở Việt Nam cũng như trên thế giới; những quan điểm của Đảng, Nhà nước về PCMT; hệ

thống tổ chức cơ quan PCMT ở Việt Nam; hệ thống pháp luật về PCMT

Nguyễn Quốc Nhật trong công trình nghiên cứu Ma túy và phòng chống ma túy trong cộng đồng, Nxb Lao động, năm 2003 Tác giả đã đề cập

tương đối đầy đủ chi tiết và toàn diện về vấn đề cơ bản về ma túy và công tác đấu tranh chống ma túy dưới dạng hỏi - đáp như: (1) Nhận thức chung về ma túy (ma túy là gì? Phân loại như thế nào, cây cần sa, cây thuốc phiện,

Trang 16

amphetamine là gì? ); (2) Cai nghiện ma túy; (3) Cai nghiện ma túy tại nhà

và cộng đồng; (4) Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong

công tác PCMT; (5) Nhận diện các tội phạm về ma túy

Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Tuyết Mai “Đấu tranh chống các tội phạm ma túy ở Việt Nam” được soi chiếu dưới góc độ nghiên cứu về luật

học và tội phạm hình sự Tác giả luận án đã chỉ ra nguyên nhân, điều kiện của tội phạm ma túy ở Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp đấu tranh chống

Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) Đề tài nghiên cứu đã làm

rõ thực trạng, vai trò của báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống ma túy trong thanh thiếu niên hiện nay

Luận văn thạc sĩ Báo chí học “Báo chí tham gia phòng, chống ma túy ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Hồng, năm 2013 tại Học viện Báo chí và

Tuyên truyền Tác giả luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của báo chí nói chung, báo in nói riêng trong công tác PCMT Bên cạnh đó, tác giả luận văn đồng thời tiến hành khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của Báo Công an Nhân dân, Báo Sức khỏe & Đời sống và Tạp chí Phòng chống

ma túy tham gia đấu tranh phòng chống ma túy; Xác định những vấn đề đặt ra

về vai trò của báo chí tham gia PCMT Đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị phát huy hơn nữa vai trò của báo chí tham gia PCMT ở nước ta hiện nay

Luận văn thạc sĩ thạc sĩ Báo chí học Chương trình tạp chí “Biên giới - Biển đảo” trên kênh VTC1 với nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm ma

túy” của Nguyễn Tiến Dũng, năm 2013 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Trang 17

Tác giả luận văn đã làm rõ việc nâng cao chất lượng của việc nâng cao

chương trình Tạp chí “Biên giới - Biển đảo” trên kênh VTC1 với nhiệm vụ

đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy: Chủ trương của Đảng và Nhà nước, quân đội, Bộ đội Biên phòng về công tác đấu tranh với tội phạm ma tuý cũng

như vai trò của Chương trình Tạp chí “Biên giới - Biển đảo”: Nghiên cứu đặc

điểm kinh tế đời sống XH ở khu vực biên giới, biển đảo đưa ra những phác họa về đời sống của bà con nhân dân trên biên giới; đánh giá thực trạng

chương trình Tạp chí “Biên giới - Biển đảo” trên kênh VTC1 của Điện ảnh Bộ

đội Biên phòng Tác giả luận văn đã bước đầu khảo sát công chúng để tìm hiểu mức độ tiếp nhận cũng như mức độ hài lòng của công chúng với chương

trình Tạp chí “Biên giới - Biển đảo” Ngoài ra, tại khoa Báo chí - truyền

thông, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) có một số khóa luận văn tốt nghiệp nghiên cứu sơ bộ về mối liên quan giữa báo chí và

ma túy như các đề tài: Báo chí với công tác phòng chống ma túy; Báo chí với đấu tranh chống tệ nạn xã hội ở thanh thiếu niên nước ta; Vai trò của báo chí trong việc phòng chống và ngăn chặn tệ nạn ma túy…

Từ quá trình đọc và nghiên cứu các tài liệu trên chúng tôi nhận thấy, vấn đề ma túy và PCMT ở các công trình nghiên cứu trên đã được nghiên cứu một cách rất sâu rộng ở mảng liên quan đến luật học, tội phạm học và những hiểu biết chung về ma túy Một số công trình nghiên cứu về vai trò của báo chí trong công tác PCMT với các đối tượng là thanh thiếu niên, hoặc có những công trình nghiên cứu vai trò khái quát chung của báo chí đối với vấn

đề PCMT… Chúng tôi thiết nghĩ, như vậy chưa nhìn nhận hết vai trò của báo chí cũng như chưa sử dụng hết sức mạnh của báo chí cho từng khu vực địa phương, cấp tỉnh và vùng miền khác nhau trong việc tuyên truyền đấu tranh

phòng chống ma túy trong gian đoạn hiện nay Với đề tài “Vấn đề phòng chống ma tuý trên sóng truyền hình các tỉnh vùng Tây Bắc”, tác giả hy vọng

Trang 18

sẽ khắc phục khoảng trống của các đề tài trên bằng cách đi sâu vào phân tích tuyên truyền trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc bao gồm: Đài PT-TH Sơn

La, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Hòa Bình về công tác PCMT Tác giả

sẽ đi vào nghiên cứu về nội dung và hình thức tuyên truyền về PCMT của các Đài PT-TH tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng vấn đề đấu tranh PCMT trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc bao gồm: Đài PT-TH Sơn La, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Hòa Bình, phân tích thành công và hạn chế, nguyên nhân thành công

và hạn chế của các đài truyền hình trong diện khảo sát, đồng thời đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả đấu tranh PCMT trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc trong tương lai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện nhiệm

vụ sau đây:

Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài: làm rõ khái niệm

ma túy, đấu tranh phòng, chống ma túy, truyền hình Đồng thời luận văn nêu bật quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác đấu tranh PCMT, vai trò của báo chí truyền thông, đặc biệt là truyền hình trong PCMT

Tập trung khảo sát, phân tích về công tác đấu tranh PCMT trên sóng truyền hình của các tỉnh vùng Tây Bắc bao gồm: Đài PT-TH Sơn La, Đài PT-

TH Điện Biên, Đài PT-TH Hòa Bình

Đánh giá thực trạng của truyền hình của các tỉnh vùng Tây Bắc trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc bao gồm: Đài PT-TH Sơn La, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Hòa Bình trong quá trình tham gia đấu tranh PCMT

Trang 19

Khảo sát đánh giá của công chúng về vấn đề PCMT trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc Từ đó đưa ra kết luận nguyên nhân thành công cũng như hạn chế của công tác PCMT ở các tỉnh vùng Tây Bắc

Đặt ra những vấn đề và đề xuất giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng truyền thông PCMT trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc bao gồm: Đài PT-TH Sơn La, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Hòa Bình

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Vấn đề phòng chống ma tuý trên sóng truyền hình các tỉnh vùng Tây Bắc”

Đối tượng khảo sát của đề tài là những tác phẩm báo chí truyền hình có nội dung về PCMT trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc bao gồm: Đài PT-TH Sơn La, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Hòa Bình

Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của Đảng bộ chính quyền các tỉnh vùng Tây Bắc: Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình về PCMT

Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, địa lý, phân bố dân cư, trình độ dân trí và tình hình KT-XH ảnh hưởng đến công tác PCMT

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian khảo sát: chúng tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề phòng chống ma tuý trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc bao gồm: Đài PT-TH Sơn

La, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Hòa Bình

Về thời gian: Từ tháng 06/2017 - 06/2018 Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, luận văn có thể sử dụng một số các thông tin, sự kiện, số liệu trước

đó để đảm bảo tính lịch sử, tính hệ thống và tính kế thừa

Trang 20

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lí luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên quan điểm của cơ sở lí luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh về báo chí cách mạng; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về PCMT

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phương pháp này được sử dụng để

hệ thống những vấn đề lí luận, quan điểm chỉ đạo, định hướng phát triển và những tư liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phương pháp phân tích thông điệp truyền thông: phương pháp này

được sử dụng để phân tích nội dung và hình thức các tác phẩm truyền hình về phòng chống ma túy trên các đài địa phương trong diện khảo sát

- Phương pháp điều tra, thống kê: trong quá trình khảo sát, sử dụng

phương pháp này kết hợp với phân tích, tổng hợp để đánh giá rút ra các thông

số về số lượng các bài viết trong chương trình truyền hình về ma túy trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc

- Phương pháp phỏng vấn sâu: được thực hiện với các đối tượng là các

cán bộ lãnh đạo nhà Đài, nhà báo và những người đấu tranh phòng chống ma túy để thu thập ý kiến bổ sung cho luận văn

- Phương pháp điều tra xã hội học (bảng hỏi anket): được tiến hành với

khán giả xem truyền hình vùng Tây Bắc ở các tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình để có cái nhìn khách quan về vấn đề PCMT trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc Luận văn khảo sát ý kiến của công chúng đối với các chương trình truyền hình về phòng chống ma tuy trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc bao gồm: Đài PT-TH Sơn La, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Hòa Bình

Ngoài ra, luận văn có sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng nội dung thông điệp về phòng chống tệ nạn ma túy trên sóng truyền hình vùng

Trang 21

Tây Bắc gồm: Đài PT-TH Sơn La, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Hòa Bình

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn

Cho đến nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu riêng về loại hình báo truyền hình trên mặt trận đấu tranh PCMT Hy vọng luận văn này sẽ có ý nghĩa cả về mặt lí luận cũng như thực tiễn đối với hoạt động báo chí ở vùng Tây Bắc Việt Nam cũng như nhiều địa phương khác cũng có tình hình ma túy phức tạp Luận văn này cố gắng làm rõ vai trò của loại hình báo truyền hình đối với đời sống XH, cụ thể là phân tích, đánh giá vai trò, nhiệm vụ của loại hình truyền hình trên mặt trận đấu tranh PCMT

Trên thực tế hiện nay, báo chí Việt Nam, báo chí địa phương các tình vùng Tây Bắc nói riêng đều trong quá trình đi tìm những cơ hội để cải tiến, đổi mới nội dung cũng như hình thức nhằm tham gia đấu tranh có hiệu quả với các tệ nạn XH, trong đó có tệ nạn ma túy Hy vọng rằng luận văn này sẽ trở thành tài liệu bổ ích cho các đồng nghiệp tham khảo, áp dụng vào thực tiễn khi được cơ quan giao nhiệm vụ đưa tin, bài về tệ nạn ma túy Đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên báo chí và những ai quan tâm tới công tác đấu tranh PCMT

7 Bố cục luận văn

Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ Lục, Nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương sau đây:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của truyền hình phòng chống ma

túy ở vùng Tây Bắc Việt Nam Chương 2: Thực trạng phòng chống ma túy trên sóng truyền hình vùng

Tây Bắc (qua khảo sát các Đài truyền hình: Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình)

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống ma

túy trên sóng truyền hình vùng Tây Bắc

Trang 22

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÕNG CHỐNG MA TÖY Ở VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH 1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan đến đề tài

1.1.1 Ma túy

Ma túy là một thuật ngữ được đề cập trong nhiều tài liệu song xung quanh thuật ngữ này hiện vẫn đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau:

Ma túy theo nghĩa gốc Hán - Việt được hiểu là “mê mẩn”, nhằm để chỉ

các chất gây nghiện Theo cách hiểu này thì các chất ma túy được định nghĩa như là các chất độc có tính gây nghiện, có khả năng bị lạm dụng Sự nghiện ngập chính là biểu hiện của trạng thái bị ngộ độc mãn tính do các chất ma túy gây nên cho người sử dụng chúng

Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm “ma túy” mới được đề cập đến

trong thời gian gần đây, song vấn đề nhận thức thuật ngữ này vẫn đang còn

tồn tại nhiều quan niệm khác nhau Nhưng hiểu đơn giản “ma túy là chất kích thích lấy từ Cần sa, tên thường gọi chung các chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện” [33, tr 324]

Theo tổ chức Y tế thế giới WHO năm 1982, thì ma túy hiểu theo nghĩa

rộng là “các chất có nguồn gốc từ tự nhiên hay tổng hợp khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ gây ra tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức, trí tuệ, tâm trạng của người đó lịch sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ làm cho người đó

lệ thuộc vào nó, dẫn đến tổn thương bản thân người sử dụng ma túy và gây nguy hại cho cá nhân, cộng đồng”

Theo chương trình kiểm soát ma túy quốc tế của Liên hợp quốc

(UNDCP) năm 1991 thì: “ma túy là những chất độc, có tính gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo Khi xâm nhập vào cơ thể con người có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức, trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc

Trang 23

vào chúng, gây nên những tổn thương cho cá nhân người sử dụng và cả cộng đồng”

Theo khoản 1, điều 2 Luật phòng chống ma túy (2000) đã đưa ra một số định nghĩa về ma tuý hoặc có liên quan đến khái niệm ma tuý như sau: “Chất

ma tuý là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành; Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng; Chất hướng thần

là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần

có thể dẫn tới tình trạng nghiện với người sử dụng; Tiền chất là các chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất ma tuý được quy định

do Chính phủ ban hành; Thuốc gây nghiện, hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy định trong danh mục do Bộ Y tế do Chính phủ ban hành; Người sử dụng ma tuý là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào chất này” [23, tr 1]

Ma túy hay còn gọi là hàng đá, chất đá là tên gọi chỉ chung cho các loại

ma túy tổng hợp, có chứa chất Methylphenidate và Amphetamin thậm chí là Niketamine phối trộn phức tạp từ những nguyên liệu tự nhiên và hóa chất khác nhau trong đó thành phần chính, phổ biến là Methamphetamine Loại ma túy này được giới sử dụng gọi là “đá” vì hình dạng bên ngoài trông giống đá -

là tinh thể kết tinh thành những mảnh vụn li ti, gần giống với hạt mì chính (bột ngọt) hoặc giống hạt muối và ngành giống đá Ngoài dạng phổ biến trên,

ma túy đá còn bán bất hợp pháp trên thị trường dưới dạng cục, bột, viên nén Đây là một loại ma túy mới tồn tại dưới dạng thức tinh thể

Ma túy đá không chỉ được biết đến với tác dụng gây phê cho người nghiện mà còn là một loại thuốc khiến người dùng thèm muốn cả truyện quan

hệ tình dục Nhiều người dùng ma túy đá để vui chơi hết mình, để chứng tỏ đẳng cấp mà không biết sự tàn phá của nó đối với sức khỏe đồng thời gây ảnh

Trang 24

hưởng xấu đến xã hội Biểu hiện của những người thường xuyên sử dụng ma túy đá thường thấy như: chém, giết người vô cớ; cuồng dâm, hoang tưởng, mất kiểm soát hành vi và nặng hơn là mắc bệnh tâm thần và suy kiệt thể chất, khả năng tình dục

Như vậy, từ những khái niệm được trình bày ở trên đây, chúng ta có thể

hiểu một cách chung nhất với ma túy như sau: Ma túy là các chất gây nghiện

có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi đưa vào cơ thể có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng tâm - sinh lý của cơ thể Dùng nhiều lần sẽ bị lệ thuộc cả về thể chất lẫn tâm lý, gây hậu quả nghiêm trọng cho bản thân, gia đình và xã hội

1.1.2 Phòng, chống ma túy

Theo Từ điển tiếng Việt, Nxb Trung tâm từ điển ngôn ngữ, năm 1992 có định nghĩa: “Phòng là liệu để có biện pháp tránh, ngăn ngừa, hoặc lâm thời đối phó với điều không hay có thể xảy ra” [33, tr 756] “Chống là hoạt động ngược lại, gây trợ lực cho hành động của ai, Hoặc do tác động của cái gì”

[33, tr.164]

Như vậy, phòng, chống có nghĩa là dùng các biện pháp, thách thức để gây ra sự cản trở đối với một hoạt động nào đó Mục đích cuối cùng của hoạt động phòng, chống là không để cho hoạt động đó xảy ra, hoặc chí ít cũng gây

ra những khó khăn, bất lợi cho hoạt động đó

Vậy: PCMT có nghĩa là dùng nhiều biện pháp, cách thức nhằm ngăn ngừa sự xâm nhập của tệ nạn ma túy vào đời sống cộng đồng, để bảo vệ sức khỏe, những giá trị văn hóa, đạo đức và tài sản cho con người và xã hội

Từ các nội dung trên, có tuyên truyền phòng chống ma túy cho người

dân là như sau: Tuyên truyền phòng chống ma túy cho người dân là một hoạt động có chủ đích của chủ thể tuyên truyền, tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến đối tượng tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tác hại của

Trang 25

ma túy; hình thành thái độ và tích cực hành động ở đối tượng tuyên truyền trong việc phòng chống với ma túy

1.1.3 Tuyên truyền vận động

Tuyên truyền vận động là các hoạt động nhằm lôi cuốn sự chú ý của xã hội, vận động của các nhà chức trách thay đổi, bổ sung, hoặc tăng cường các chủ trương, chính sách, chương trình và giải pháp về vấn đề gì đó, đồng thời tuyên truyền vận động còn nhằm xây dựng ý thức tự giác trong nhân dân Mục đích chung của tuyên truyền vận động trên các phương tiện thông tin đại chúng là để tới được các tổ chức, các nhà hoạch định chính sách và các đối tượng ảnh hưởng tới việc đưa ra quyết định, tạo nên một trào lưu xã hội, một hiệu ứng xã hội tới một vấn đề, một quyết định nào đó

Trong tuyên truyền có rất nhiều cấp độ khác nhau:

Cấp độ thứ nhất: cá nhân với gia đình, bạn bè

Cấp độ thứ hai: tuyên truyền vận động tại cộng đồng

Cấp độ thứ ba: tuyên truyền vận động trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Trong ba cấp độ tuyên truyền thì tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng là cấp độ cao nhất và nó mang lại hiệu quả lớn nhất

Vậy vấn đề tuyên truyền phòng chống ma túy trên sóng Đài PT-TH vùng Tây Bắc có thể được hiểu là hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông đại chúng, trong đó có nội dung thông tin liên quan đến công tác đấu tranh phòng chống ma túy được chuyển tải dưới nhiều chương trình, bản tin,

và dưới nhiều thể loại tác phẩm báo chí để chuyển tải đến công chúng thông qua kênh báo PT-TH, với mục đích góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh PCMT

Trang 26

1.2.Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng chống ma túy

1.2.1 Đường lối quan điểm của Đảng về phòng chống ma túy

Trong những năm qua, các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma túy đang trở thành một trong những vấn đề gây nhức nhối trong XH, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, giống nòi, phẩm giá con người, hạnh phúc gia đình và trật tự, an toàn XH, an ninh quốc gia Trước thực trạng trên, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành nhiều phương tiện và phương pháp khác nhau để kiên quyết đấu tranh nhằm ngăn chặn từng bước, tiến tới loại trừ các tệ nạn

XH, nhất là tệ nạn ma túy

Ngay từ khi tổng khởi nghĩa giành chính quyền, ngày 02/09/1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ âm mưu thâm độc của bọn thực dân Pháp:

“chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn, để làm cho lời giống ta suy nhược”

Ngày 05/03/1952 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 150/TTg quy định việc xử lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện

như sau: “tịch thu thuốc phiện tàng trữ vận chuyển trái phép, phạt tiền từ 1 đến 5 lần giá trị thuốc phiện lậu Người vi phạm có thể bị truy tố trước tòa án nhân dân” Đảng và Nhà nước ta còn có thái độ kiên quyết hơn trong đấu

tranh phòng, chống ma túy thể hiện trong Bộ luật hình sự năm 1985, Hiến pháp năm 1992, Bộ luật hình sự năm 1999

Ngày 09/12/2000, Quốc hội nước CHXHCNVN đã ban hành Luật

số:23/2000/QH10 về “Phòng, chống ma túy” và Luật số 16/2008/QH12 ngày

03 tháng 6 năm 2000 về “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống

ma tuý”

Đảng ta luôn quan tâm đến việc PCMT để xây dựng một XH phát triển bền vững, an toàn và lành mạnh cho mọi người Quan điểm của Đảng ta với

Trang 27

vấn đề này là kiên quyết, không khoan nhượng và xác định đây là một cuộc đấu tranh quyết liệt, bền bỉ, đầy gian khổ, cần có các giải pháp đồng bộ để huy động sức mạnh của toàn dân Vì lẽ đó, Đảng ta ban hành nhiều chỉ thị về lãnh đạo phòng chống các tệ nạn XH, nhất là nạn ma túy

Chỉ thị số 33/CT-TW ngày 01/3/1994 của Ban Chấp hành Trung ương

Đảng chỉ rõ: “Phòng, chống, khắc phục có hiệu quả các tệ nạn xã hội, trước hết là nạn mại dâm, nghiện ma túy là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay mà Đảng và Nhà nước ta phải kiên quyết lãnh đạo thực hiện để có bước tiến bộ

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nêu rõ:

“Phòng, chống, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, đặc biệt là ma túy Thực hiện cơ chế, giải pháp đồng bộ về tuyên truyền, giáo dục, chữa trị, đào tạo nghề, tạo việc làm Xử lý nghiêm theo pháp luật những hành động gây tệ nạn xã hội Xây dựng nếp sống lành mạnh trong toàn xã hội, ngăn chặn lây nhiễm HIV/AIDS Tổ chức chữa trị cho bệnh nhân AIDS và người nghiện ma túy, giúp những người này sống, lao động có ý nghĩa trong cộng đồng…” [10, tr

34]

Đề cao trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể với tình trạng tệ nạn XH trên từng địa bàn Phát huy vai trò của từng người dân, từng cộng đồng tham gia đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi

những tệ nạn này Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng

Trang 28

cũng nêu: “Đấu tranh phòng, chống có hiệu quả tệ nạn xã hội Đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, giáo dục cộng đồng, đề cao vai trò giáo dục của gia đình đối với thanh, thiếu niên về tác hại của ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác Đấu tranh quyết liệt với việc buôn bán, sử dụng ma tuý Huy động nhiều nguồn vốn, tăng cường đầu tư xây dựng, quản lý các trung tâm cai nghiện có hiệu quả Đề cao trách nhiệm của gia đình, đoàn thể và chính quyền cơ sở trong quản lý, tạo việc làm, tái hoà nhập cộng đồng cho các đối tượng sau cai nghiện Có giải pháp kiểm soát và hạn chế tệ nạn mại dâm, giảm thiểu tác hại của các tệ nạn xã hội Nhân rộng mô hình xã, phường, thôn, ấp, bản không có tệ nạn xã hội…” [11, tr 35] Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới” Trong đó đưa ra mục tiêu: “Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về hậu quả, tác hại của ma túy để mỗi người tích cực tham gia và phòng chống

ma túy; tạo nên phong trào hành động phòng, chống ma túy rộng khắn trong

cả nước, làm giảm thiểu tệ nạn ma túy” [6, tr 2]

Nêu cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành, đồng thời kiên trì sử dựng đồng bộ các biện pháp, giải pháp, huy động sức mạnh tổng hợp và tạo sự đồng thuận của toàn XH trong PCMT, nhằm từng bước kiềm chế, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi cho được tệ nạn ma tuý; tạo môi trường lành mạnh, phục

vụ phát triển KT-XH, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn XH trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện CNH-HĐH đất nước, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân

Kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả nguồn ma tuý thẩm lậu vào nước ta; phát hiện, bắt giữ tội phạm về ma tuý ở khu vực biên giới bằng mọi biện pháp; xoá bỏ triệt để các tổ chức, tụ điểm sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma tuý ở trong nước Không để tái trồng cây có

Trang 29

chất ma tuý Kiểm soát và quản lý chặt chẽ các loại tiền chất của ma tuý, chất gây nghiện, chất hướng thần

Tổ chức cai nghiện cho tất cả những người nghiện ma tuý, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác cai nghiện, đồng thời coi trọng và nhân rộng các mô hình cai nghiện có hiệu quả; chặn đứng tình trạng gia tăng số người nghiện mới, từng bước làm giảm dần số người nghiện ma tuý ở các địa bàn dân cư Ngày 31/12/2011, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kết luận 11-KL/TU về việc thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính

trị về “Tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới” và Nghị quyết 02-NQ/TU ngày 13/10/11/2001 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống ma túy”

1.2.2 Các văn bản pháp luật của Nhà nước về ma túy

Tại điều 61 Hiến pháp nước CHXHCNVN, và Bộ luật hình sự ban hành 1985 (sửa đổi năm 1999) có đề cập đến 10 tội danh từ điều 192 - 201, chương XVIII là những điều liên quan đến ma túy

Đặc biệt, năm 1988 Việt Nam kí văn bản cam kết, gia nhập công ước quốc tế về chống buôn bán các chất ma túy và các chất hướng thần, bên cạnh

đó Việt Nam còn gia nhập tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế Interpol với mục đích phối hợp, ngăn chặn đấu tranh với các loại tội phạm này có hiệu quả

Ngày 29/01/1993, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 06/CP về tăng cường chỉ đạo, phòng, chống và kiểm soát ma túy

Ngày 15/8/1996, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 49/CP về xử phạt trong lĩnh vực trật tự an ninh

Ngày 25/08/1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 686/TTG về việc thành lập Ủy ban Quốc gia về phòng chống ma túy

Ngày 1/9/1997, Chủ tịch nước CHXHCNVN có Quyết định số

Trang 30

798/QĐ-CTN tham gia công ước của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy

Ngày 06/10/1999, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 199/1999/QĐ-TTg về quy định chế độ bồi dưỡng đối với lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm về ma túy

Ngày 02/03/2000, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số TTg về việc thành lập quỹ phòng chống ma túy

31/2000/QĐ-Tại kỳ họp thứ 8, ngày 09/12/2002 của Quốc hội nước CHXHCNVN

khóa VIII đã thông qua Luật chống ma túy Nội dung của Luật gồm có 8

chương, 56 điều, trong đó quy định chặt chẽ các chất, hành vi vi phạm pháp luật và các khung hình phạt đối với các tội danh liên quan đến ma túy

Ngày 28/12/2000, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 150/2000/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình hành động phòng chống

ma túy giai đoạn 2001-2005

Ngày 16/01/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 04/2003/NĐ-CP quy định về khen thưởng đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có thành tích trong phòng chống ma túy

1.2.3 Các văn bản pháp luật về phòng chống ma túy do các bộ,

ngành ban hành

Ngày 20/12/1999, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế có Thông tư liên tịch số 05/2001/TTLT-BTC-BCA về hướng dẫn thực hiện

Trang 31

Quyết định số 31/2000/QĐ-TTg ngày 02/03/2000 của Thủ tướng Chính phủ

về thành lập quỹ PCMT

Ngày 20/12/1999, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế có Thông tư liên tịch số 31/1999/TTLT/BLĐTBXH-BYT về hướng dẫn quy trình cai nghiện, phục hồi sức khỏe, nhân cách cho người nghiện ma túy

Ngày 16/01/2001, Bộ Tài chính và Bộ Công an có Thông tư liên tịch

số 05/2001/TTLT-BCA về hướng dẫn thực hiện Quyết định số 31/2000/QĐ/TTg ngày 02/03/2000 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập quỹ PCMT

Quyết định của Chủ tịch Ủy ban quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm số 01/QĐ-UBQG61 ngày 10 tháng 10 năm 2000 về việc ban hành Quy chế hoạt động của Ủy ban quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm

Ngày 18/12/2003, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Ủy ban Trung ương mặt trận tổ quốc có Thông tư liên tịch số 27/2003/TTLT-BLĐTBXH-UBTUMTQVN hướng dẫn về tổ chức hoạt động của đội hoạt động xã hội tình nguyện cấp xã

Ngày 17/04/2003, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự

Ngày 11/08/2004, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có Quyết định số 1160/QĐ-BLĐTBXH quy định chế độ báo cáo thống kê định

kỳ và chế độ ghi chép ban đầu về công tác cai nghiện, phục hồi

1.3 Đặc điểm của truyền hình địa phương vùng Tây Bắc

1.3.1 Đặc điểm chung

Trong hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam, bên cạnh các cơ quan báo, đài của Trung ương Đảng còn có hệ thống báo chí địa phương Báo chí

Trang 32

địa phương là một bộ phận quan trọng cấu thành nên Báo chí cách mạng Việt Nam

Ở các địa phương, cơ quan báo của Đảng bộ tỉnh do Tỉnh ủy trực tiếp lãnh đạo, quản lý, còn các đài truyền hình do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý Ngoài ra, ở các địa phương còn có các văn phòng đại diện của các cơ quan báo chí Trung ương và một số nơi còn có báo cấp cơ

sở, ngành của tỉnh Là bộ phận quan trọng của Báo chí cách mạng Việt Nam, báo chí địa phương không chỉ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân,

là cơ quan tuyên truyền, giải thích vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách mà còn định hướng chính trị, tư tưởng cho nhân dân trước các sự kiện, vấn đề trong tỉnh, thành, khu vực, trong nước cũng như quốc tế

So với các cơ quan báo chí ở Trung ương và của ngành, báo chí địa phương có lợi thế là lắm chắc hoàn cảnh cụ thể, phong tục tập quán địa phương, đi sâu vào từng đối tượng riêng biệt, từ đó thông tin gần gũi, góp phần tác động vào tư tưởng, tình cảm của người dân địa phương một cách trực tiếp

Mỗi địa phương đều có những truyền thống và đặc điểm riêng biệt về đời sống kinh tế - xã hội, có sắc thái riêng trong tâm lý của công chúng báo chí Công chúng địa phương thích đọc báo, nghe đài, xem truyền hình địa phương trước hết vì họ luôn muốn biết được những thông tin của địa phương mình, những thông tin đang diễn ra xung quanh mình Đó chính là lợi thế của

hệ thống báo chí này

Riêng với Đài truyền hình cấp tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh và đài quốc gia thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực, thông tin đại chúng, xây dựng, quản lý và phát triển sự nghiệp phát thanh truyền hình trên phạm vi toàn tỉnh

Đài truyền hình tỉnh cũng là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ tỉnh là

Trang 33

diễn đàn của nhân dân, là tờ báo hình phát hàng ngày trên sóng truyền hình đặt dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy trực tiếp là Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và hoạt động theo Luật báo chí quy định Chịu sự quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra chuyên môn, nghiệp báo chí của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Bộ Thông tin và Truyền thông và quản lý nhà nước của Sở Thông tin và Truyền thông địa phương

Như vậy, có thể thấy các đài truyền hình địa phương có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn sự ổn định chính trị, thúc đẩy công cuộc đổi mới về mọi phương diện, nhất là phát triển kinh tế, góp phần nâng cao dân trí và dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội ở địa phương Đồng thời, cùng với các Đài quốc gia, Đài khu vực, Đài địa phương cũng đang làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đưa các nghị quyết, chính xác vào cuộc sống; góp phần nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; góp phần xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường dân chủ hóa đời sống cơ sở, thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng, Nhà nước, các đoàn thể xã hội với nhân dân; củng cố

và tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

1.3.2 Đối tượng tiếp nhận thông tin của đài truyền hình địa phương

Báo chí ra đời do nhu cầu thông tin - giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người Mặc dù ra đời chậm so với các hình thái ý thức XH khác nhưng báo chí đã nhanh chóng trở thành một trong những lĩnh vực xung kích bởi khả năng phản ánh hiện thực của nó Cũng như các hình thái ý thức XH khác, báo chí luôn lấy hiện thực khách quan nằm đối tượng phản ánh “Thông tin báo chí là một quá trình liên tục, suy trong mối quan hệ chặt chẽ giữa cuộc sống - nhà báo - tác phẩm - công chúng” Thông tin báo chí khi chưa được công chúng tiếp nhận mới chỉ là không tin khả năng; công chúng không tiếp nhận

Trang 34

các văn bản thông báo, không mua và đọc báo, không nghe phát thanh, không xem truyền hình, không tiếp nhận thông tin trên mạng internet sẽ phá vỡ mối quan hệ giữa nhà báo - tác phẩm - công chúng; khi đó, thành quả lao động báo chí của toàn thể cơ quan báo chí nói chung và từng phóng viên, nhà báo nói riêng chưa được đón nhận và thưởng thức Như thế, báo chí mới thực hiện được một nửa chức năng của mình Việc đánh giá các tác phẩm báo chí đúng hay sai, có ý nghĩa hay chưa có ý nghĩa… cũng là một điều không thể thiếu

Do đó, công chúng cũng chính là người tham gia vào việc góp ý, đồng tình hay không đồng tình, biểu dương hay phê bình khi họ đã thẩm định được những giá trị đích thực của thông tin báo chí

Thước đo kết quả của báo chí không phải là ở số lượng tin bài đăng trên báo; số lượng phát hành báo chí mà cốt yếu ở chỗ bạn đọc, bạn xem, bạn nghe tiếp nhận và làm theo như thế nào Bản thân công chúng là người hiểu rõ hơn ai hết nội dung mà báo chí đã đáp ứng đầy đủ hay chưa đầy đủ, kịp thời hay chưa kịp thời, những yêu cầu thiết thực của mình; đồng thời mới khẳng định được những vấn đề báo chí nêu ra có phù hợp với chân lý hay không, chính họ mới đánh giá được cách diễn đạt của báo chí có sát với trình độ của công chúng hay không Thông tin trong báo chí vừa có tính XH cao vừa có tính tư tưởng và khuynh hướng rõ rệt Song, cũng như các hình thái ý thức

XH khác, báo chí có những đặc trưng riêng Chính vì những đặc trưng ấy đã quy định tính chất, mức độ và chức năng phản ánh hiện thực đó Đứng trước một thế giới hiện thực chứa đây lượng thông tin, báo chí có những cách thức riêng của mình để phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tầng lớp XH với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu không giống nhau Chính điều đó đã khiến cho báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào

có được

Trang 35

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng” Vì vậy, cách viết bài bảo phải đơn giản, dễ hiểu, ngôn ngữ phải

trong sáng, tránh dùng từ nước ngoài Việc xác định đúng đối tượng phục vụ của báo chí cũng có ý nghĩa là nhà báo phải biết chọn lựa những nội dung gì nên viết, cái gì không nên biết

Với các đài truyền hình địa phương, đối tượng tiếp nhận thông tin báo chí nói chung và tiếp nhận thông tin trên sóng truyền hình nói riêng tương đối phong phú, đa dạng Khán giả thuộc mọi thành phần cư dân trong XH Do vị trí XH, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, sở thích, hiểu biết, mỗi người có sự quan tâm và nhu cầu thông tin với các mức độ khác nhau Xuất phát từ tâm lý lợi ích, có những nhóm công chúng cùng quan tâm những thông tin chung mang biến; đồng thời xuất phát từ những lợi ích riêng, có thể người quan tâm thông tin này, người quan tâm thông tin kia Những cái riêng đó, đều có ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận cùng một thông tin Người làm truyền hình phải xác định biết mình đang viết cho đối tượng nào xem Bởi lẽ, công chúng chỉ quan tâm đến những tin bài hữu ích đối với Nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, công chúng báo chí có quyền lựa chọn kênh thông tin

mà mình yêu thích, đài truyền hình không thể áp đặt việc tiếp nhận thông tin nếu như bạn đọc nhận thấy thông tin đó không bổ ích, không thiết thực

Mỗi cơ quan báo chí đều có mục đích của mình và khán giả cũng có nhu cầu của riêng họ Đáp ứng được nhu cầu ấy là báo chí đã gặp khán giả Báo chí được coi là sản phẩm hàng hóa đặc biệt, còn khán giả là người tiêu thụ đặc biệt các sản phẩm báo chí, là “đầu ra” của hoạt động báo chí Không

có khán giả thì chương trình truyền hình sẽ không tồn tại Người làm báo, người cộng tác viết bài cho báo chí phải luôn hiểu rõ ai là người đăng tiêu thụ sản phẩm của mình, bám sát thực tế để nắm bắt được nhu cầu và những vấn

đề khán giả quan tâm để có những tin bài đáp ứng nhu cầu thông tin của họ

Trang 36

Tuy nhiên, ở một góc độ nào đó các đài truyền hình địa phương vẫn có những đối tượng tiếp nhận thông tin riêng, công chúng riêng Trừ những thành phố lớn trực thuộc trung ương, thì phần lớn đối tượng tiếp nhận thông tin của các đài truyền hình địa phương ở các tỉnh là công nhân, nông dân và chỉ có số ít thuộc viên chức nhà nước Do vậy, việc tiếp cận thông tin của mỗi đối tượng cũng có nhiều cách khác nhau, ở nhiều trình độ khác nhau Đặc biệt là đối với những tỉnh vùng sâu, vùng xa có nhiều đồng bào dân tộc, thiểu số sinh sống, trình độ dân trí thấp… Những nơi này việc tuyên truyền trên sóng truyền hình địa phương càng cần phải chi tiết, cụ thể, thậm chí phải tiến hành tuyên truyền bằng ngôn ngữ của riêng họ mới mang lại hiệu quả

Cơ sở lý luận báo chí truyền thông đã chỉ ra rằng, muốn hoạt động báo chí có hiệu quả thì nhất thiết người làm báo và đội ngũ cộng tác viên tham gia viết bài phải biết đến công chúng của mình, coi họ như đối tượng phục vụ đặc biệt, đồng thời qua họ để biết những nhu cầu thông tin mà họ cần, từ đó có những biện pháp đáp ứng mối quan tâm đó Như vậy, người làm báo ở các đài truyền hình địa phương cũng phải có cách nhìn nhận và cách viết phù hợp với đối tượng tiếp nhận thông tin thì mới truyền đạt được hết nội dung, tư tưởng của tác phẩm báo chí

1.3.3 Giới thiệu sơ lƣợc về 03 Đài truyền hình vùng Tây Bắc đƣợc lựa chọn nghiên cứu

Đài PT-TH Sơn La

Ngày 26/9/1977, Đài PT-THSơn La chính thức được thành lập trên cơ

sở một phần cán bộ kỹ thuật của Đài PT-THkhu Tây Bắc Những năm đầu mới thành lập với khó khăn về cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật và đội ngũ cán

bộ, song với nhiệm vụ được giao, Đài PT-THSơn La đã vượt qua những khó khăn ban đầu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Ngay từ ngày đầu tiên phát sóng chương trình phát thanh (tiếng phổ thông, tiếng Mông và văn nghệ dân

Trang 37

tộc) các chương trình của Đài PT-THSơn La luôn là nhu cầu không thể thiếu,

là nguồn thông tin kịp thời nhất đến với nhân dân các dân tộc các bản vùng sâu, vùng xa

Đài PT-THSơn La là đơn vị sự nghiệp thuộc UBND tỉnh; chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh Uỷ, HĐND, UBND tỉnh; chịu sự quản lý nhà nước về báo chí, về truyền dẫn và phát sóng của Sở Thông tin và Truyền thông; sự chỉ đạo định hướng tuyên truyền của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đài thực hiện chức năng báo chí của Đảng bộ, chính quyền tỉnh; thông tin, tuyên truyền, giáo dục chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo Luật Báo chí; có nhiệm vụ sản xuất và phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình, nội dung thông tin trên trang điện tử bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc theo quy định của pháp luật, tiếp sóng các chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của tỉnh; phản ánh tình hình chính trị, kinh tế, XH, an ninh quốc phòng đến với đồng bào các dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh

Đài PT-THSơn La có trụ sở chính tại tổ 01, phường quyết Thắng, thành phố Sơn La tỉnh Sơn La, với cơ cấu tổ chức Giám đốc Đài phụ trách chung công tác của toàn ngành, một phó giám đốc phụ trách nội dung, một phó giám đốc phụ trách tiếng dân tộc và một phó giám đốc phụ trách kỹ thuật, các phòng ban chuyên môn gồm có 09 phòng: Phòng Tổ chức - Hành chính; Phòng Kế hoạch -Tài vụ; Phòng Thời sự; Phòng Chuyên đề; Phòng Biên tập; Phòng Biên tập tiếng dân tộc; Phòng Văn nghệ và Giải trí; Phòng Kỹ thuật và Công nghệ và Phòng Kỹ thuật truyền dẫn phát sóng

Hiện nay, Đài PT-THSơn La có 87 biên chế Trong đó, trình độ chuyên môn: 05 công chức, viên chức có trình độ thạc sỹ; 70 viên chức có trình độ đại học; 07 viên chức có trình độ cao đẳng; 05 viên chức có trình độ trung

Trang 38

cấp; 10 sơ cấp và tương đương Trình độ lý luận chính trị: 12 công chức, viên chức có trình độ cử nhân và cao cấp lý luận chính trị, 29 viên chức có trình độ trung cấp lý luận chính trị, 06 viên chức có trình độ sơ cấp lý luận chính trị Với trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức như trên đã cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Từng bước góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Đài PT-THSơn La trong công tác tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân các dân tộc trong tỉnh

Trong năm 2015 đã mở mới các chuyên mục: Sơn La miền đất con người, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Khuyến học, mục tiêu điểm, bản tin Văn hóa, bản tin Thể thao, Bảo vệ và phát triển rừng, bản tin trong nước, tin vắn chạy chữ Chính thức sản xuất chương trình thời sự truyền hình tiếng

dân tộc (tiếng Thái và tiếng Mông) với thời lượng 15 phút kể từ ngày 01/3/2015, phát sóng luân phiên mỗi ngày 01 chương trình Từ ngày 01/9/2015, tăng lên mỗi ngày 01 chương trình thời sự tiếng Thái, 01 chương trình thời sự tiếng Mông Thực hiện tốt các chương trình chuyên đề cộng tác với VTV5, Đài Truyền hình Việt Nam

Đài PT-TH Điện Biên

Ngày 23/9/1977, Đài phát thanh Lai Châu (tiền thân của Đài PT-TH Điện Biên) được thành lập nhằm xây dựng và phát triển cộng tác thông tin tuyên truyền, đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của tỉnh đến với nhân dân các dân tộc Lai Châu, mở rộng trao đổi thông tin, tạo tiền đề, nâng cao nhận thức chính trị xã hội, quốc phòng an ninh

và mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới

Về cơ cấu tổ chức, Đài PT-TH Điện Biên có 220 cán bộ viên chức, trong đó có 41 đảng viên; 30 người trình độ đại học và cao đẳng; 40 người có trình độ lý luận trung cấp và tương đương Nhìn chung đội ngũ cán bộ có

Trang 39

trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề vững, sử dụng thành thạo các thiết

bị kỹ thuật chuyên ngành truyền hình hiện đại Ngoài Ban giám đốc, đài có 10 phòng chuyên môn gồm: Phòng Tổ chức - Hành chính tổng hợp; Phòng Thư

ký - Biên tập chương trình; Phòng Dịch vụ quảng cáo; Phòng Biên tập thời sự truyền hình; Phòng Biên tập thời sự phát thanh; Phòng Chuyên đề; Phòng Văn nghệ thể thao thiếu nhi; Phòng Biên tập PT-TH dân tộc; Phòng Kỹ thuật truyền hình; Phòng Kỹ thuật phát thanh; Phòng tiếp nhận thư bạn đọc

Về công tác tổ chức sản xuất chương trình, hiện nay, Đài PT-TH Điện Biên đang duy trì đều và có chất lượng 3 buổi phát sóng truyền hình hàng ngày gồm các bản tin thời sự cập nhật các sự kiện, 15 chuyên đề, chuyên mục

như: Xây dựng Đảng, An ninh, Quốc phòng, Nhà nước và pháp luật, An toàn giao thông, Vì chủ quyền an ninh biên giới, Sách và cuộc sống, Tài nguyên môi trường, Thuế và cuộc sống, Y tế sức khỏe, Truyền hình cơ sở, Truyền hình thanh niên, Dân tộc và phát triển, Thầy thuốc gia đình Bên cạnh việc ổn định

và nâng cao chất lượng các chương trình hiện nay, Đài PT-TH Điện Biên đang

chú trọng cải tiến và đưa vào sản xuất một số chương trình mới như: Cải cách hành chính, An toàn giao thông nhằm đáp áp ứng nhu cầu ngày một cao hơn

của khán giả xem truyền hình

Về thiết bị kỹ thuật, sau nhiều năm đầu tư đến nay Đài PT-TH Điện Biên đã vi tính hóa, số hóa các khâu sản xuất chương trình Với hệ thống trang thiết bị mới được đầu tư, sẽ là bước tiến quan trọng trong sản xuất các chương trình Trung tâm phát sóng PT-TH: cột ăng ten cao 125m, 4 máy phát sóng truyền hình công suất (1 máy 500w, 3 máy 2 KW), cùng với hệ thống 9 Đài huyện thị, công suất từ 30w - 250w phát từ 3 đến 4 kênh sóng truyền hình, 19 trạm phát lại truyền hình cấp xã 700 trạng TVRO thu truyền hình từ

vệ tinh, 1.000 bộ thu xem truyền hình đã xóa mã của Đài Truyền hình Việt Nam…

Trang 40

Đài PT-TH Hòa Bình

Ngày 01/09/1957 Đài truyền thanh Hòa Bình phát chương trình đầu tiên kỷ niệm 12 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của phương tiện thông tin tuyên truyền mới, tiền thân của Đài PT-TH Hòa Bình hôm nay Trải qua hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành Đài PT-TH Hòa Bình luôn luôn làm tốt nhiệm vụ, sứ mệnh là công cụ tuyên truyền sắc bén của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hòa Bình, diễn đàn của nhân dân các dân tộc trong tỉnh

Về tổ chức bộ máy, Đài PT-TH Hòa Bình có 96 biên chế và hơn 20 lao động hợp đồng Ngoài Ban giám đốc, đài có 9 phòng chuyên môn gồm: Phòng Thời sự; Phòng Biên tập; Phòng Chuyên đề; Phòng Văn nghệ; Phòng Tiếng dân tộc; Phòng Tổ chức - Hành chính; Phòng Quảng cáo; Phòng Kỹ thuật và công nghệ; Phòng Thông tin điện tử Ngoài ra, Đài PT-TH Hòa Bình còn quản lý nghiệp vụ 9 đài truyền thanh truyền hình huyện, thị xã thành phố,

172 trạm truyền thanh cơ sở

Đến thời điểm này Đài PT-TH Hòa Bình đã phủ sóng truyền hình 97% địa bàn, 76% số hộ trong tỉnh được xem truyền hình địa phương và trung ương Chương trình truyền hình được phát sóng với thời lượng 12 giờ mỗi ngày, truyền tải hàng trăm tin, bài, phóng sự, chuyên mục, chuyên đề, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, VH-XH, an ninh quốc phòng đang diễn ra trên địa bàn tới đông đảo người dân trong tỉnh, qua các bản tin thời sự, chuyên mục, chuyên đề Những sự kiện chính trị trong nước, quốc tế cũng được phản ánh qua điểm báo và các bản tin thời sự quốc tế Ngoài ra, người xem còn được thưởng thức các chương trình văn hóa, văn nghệ, thể thao và các chương trình phim truyện, sân khấu, gameshow đa dạng, phong phú Bên cạnh đó, các sự kiện lớn diễn ra trên địa bàn đều được thực hiện truyền hình trực tiếp

1.4 Một số tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình truyền hình

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w