1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Diện mạo mảng văn xuôi viết về đề tài đồng tính ở việt nam từ đầu thế kỷ XX đến nay

191 89 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở đó, phác thảo diện mạo, đặc điểm, sự vận động của đề tài này qua các nhóm tác phẩm và thời kỳ văn học cũng như bàn luận về tình hình tiếp nhận mảng văn xuôi đề tài đồng tính t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học; các dẫn liệu được sử dụng trong luận án có xuất xứ rõ ràng, được tác giả luận án tiếp thu trên tinh thần cẩn trọng, trung thực

NGHIÊN CỨU SINH

Lê Thị Thủy

Trang 4

NGHIÊN CỨU SINH

Lê Thị Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp mới của luận án 4

6 Cấu trúc của luận án 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan lý thuyết về đề tài đồng tính 6

1.1.1 Đồng tính luyến ái dưới góc nhìn lịch sử - xã hội 6

1.1.2 Giới thuyết về một số khái niệm được sử dụng trong luận án 9

1.1.3 Một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài luận án 112

1.2 Lịch sử sáng tác về đề tài đồng tính trong văn học thế giới và Việt Nam 22

1.2.1.Đề tài đồng tính – “người quen muôn năm cũ” của văn học nhân loại 22

1.2.2 Những tự sự đồng tính trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XX đến nay : “từ hình thức ngụy trang đến các tự thuật thú nhận” 26

1.3 Tình hình nghiên cứu, phê bình văn xuôi đề tài đồng tính ở Việt Nam 30

1.3.1 Những công trình nghiên cứu mang tính lược thuật, tổng quan về đề tài đồng tính 31 1.3.2 Những công trình nghiên cứu trên đối tượng tác giả, tác phẩm đơn lập 36

Tiểu kết chương 1 41

CHƯƠNG 2: VĂN XUÔI VIỆT NAM VIẾT VỀ ĐỒNG TÍNH TỪ ĐẦU THẾ KỶ XXĐẾN ĐỔI MỚI 43

2.1 Đồng tính trong văn xuôi từ góc nhìn sinh thái hành vi 44

2.1.1 Sinh thái hành vi – cách tiếp cận trực quan với vấn đề đồng tính 44

2.1.2.Những biểu hiện sinh thái hành vi trong văn xuôi viết về đồng tính 46

2.2 Cảm quan đồng tính hay đồng tính trong văn xuôi dưới khía cạnh tâm lý 53

2.2.1 Tâm lý, cảm xúc như một yếu tố phức tạp của tình trạng đồng tính 53

2.2.2 Xuân Diệu và những ẩn dụ về xúc cảm đồng giới trong văn xuôi 60

Tiểu kết chương 2 69

Trang 6

CHƯƠNG 3: VĂN XUÔI ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH VIỆT NAM TỪ ĐỔI MỚI

ĐẾN NAY 71

3.1 Xã hội Việt Nam từ sau Đổi mới với sự hình thành một bộ phận văn chương mang tiếng nói thiểu số 71

3.2 Văn xuôi đề tài đồng tính từ sau Đổi mới đến nay: đặc điểm nổi bật và trường hợp điển hình 74

3.2.1 Một vài đặc điểm cơ bản của văn xuôi về đồng tính ở Việt Nam sau 1986 75

3.2.2 Bùi Anh Tấn – “người viết sâu nhất và nhiều nhất về giới LGBT” 97

Tiểu kết chương 3 114

CHƯƠNG 4: TIẾP NHẬN VĂN XUÔI ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH ĐƯƠNG ĐẠI 116

4.1 Văn xuôi đồng tính với tâm lý kỳ thị đồng tính trong xã hội Việt Nam 116

4.1.1 Về tâm lý kỳ thị đồng tính 116

4.1.2 Nhận diện tâm lý kỳ thị đồng tínhqua tiếp nhận văn xuôi đồng tính Việt Nam119 4.2 Văn xuôi đồng tính trong quan hệ với thị trường và các hoạt động văn hóa liên quan 125

4.2.1 “Mỹ văn”, “văn học thị trường”, “văn học đại chúng”: những thay đổi trong quan niệm 125

4.2.2 Văn xuôi đồng tính trong quan hệ với các hoạt động văn hóa liên quan 128

4.3 Đọc/phê bình văn học đồng tính trong không gian trường học 137

4.3.1 Văn chương đồng tính và “vùng cấm” trong văn học nhà trường 137

4.3.2 Giảng dạy văn chương đồng tính: từ thế giới nhìn về Việt Nam 141

Tiểu kết chương 4 146

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHẦN PHỤ LỤC 163

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

a Trong khoảng hơn mười năm trở lại đây, tình dục đồng giới trong xã hội Việt Nam (và trước đó lâu hơn nữa ở các nước phương Tây) đã không còn là vấn đề xa

lạ, gây choáng, “shock” cho dư luận Kể từ mốc sự kiện Stonewall tháng 6/1969 ở

Mỹ, cho tới nay, trên khắp hành tinh, đã diễn ra biết bao nhiêu cuộc đấu tranh lớn nhỏ cho quyền bình đẳng của người đồng tính; và một sự thật không thể phủ nhận là

xu hướng bình thường hóa tình dục cũng như hôn nhân đồng tính càng ngày càng phổ biến hơn Văn học, với tư cách là tiếng nói của thời đại, nhanh chóng vượt quasự e dè để xem đề tài đồng tính như một thành phần tất yếu, mạnh dạn phơi mở những ngõ ngách khuất lấp củacộng đồng LGBT(Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender) trước thế giới Từ chỗ phải cầu viện đến những hình thức ngụy trang trong quá khứ, văn chương đồng tính đã dám công khai thể hiện, thậm chí có giai đoạn còn tỏ ra áp đảo trên phương diện đề tài

b Đề tài đồng tính trong văn học Việt Nam có thể nói là một “người lạ quen biết” bởi theo một số nhà nghiên cứu, nó đã manh nha từ trong lòng nền văn học dân gian Tuy vậy, vì nhiều lý do (chủ yếu bởi chế định văn hóa phương Đông và ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến), đề tài này vẫn chưa được đánh giá thỏa đáng Nhiều nhà chuyên môn còn lưỡng lự khi nhận định liệu có nên coi văn học viết về đồng tính là một dòng văn học hay không Điều này cũng có nguyên do của nó Thứ nhất,đây là một đề tài mới; số lượng tác phẩm viết về đồng tính không nhiều trong tương quan so sánh với các đề tài văn học khác (đề tài chiến tranh, đề tài nông thôn ), và trong số không nhiều ấy, đôi khi lại lẫn vào những tác phẩm chưa thật sự

có giá trị văn học cao Thứ hai, phát triển trong bối cảnh cơ chế thị trường, bị xếp vào dòng văn chương thị trường nên văn học về đồng tính thường bị xem nhẹ Tuy nhiên, đồng tính đã, đang và sẽ trở thành một phần tất yếu của đời sống đương đại, cho dù người đờicó nói gì, làm gì Vì thế, thiết nghĩ thay vì quay lưng và đối xử ghẻ lạnh, chúng ta nên bình tĩnh nhìn nhận, đánh giá để đặt văn học đồng tính vào đúng

vị trí của nó Chỉ ở một tâm thế bình thản, khách quan, chúng ta mới nhận ra một

Trang 8

thực tế là: cho dù đã có những nỗ lực khẳng định mình, văn học liên quan đến đề tài đồng tính cần những bứt phá để thoát khỏi định kiến bấy lâu vẫn coi nó như một đề tài câu khách dung tục Đương nhiên, để có những tác phẩm lay động được tâm thức người đọc cho dù họ là dị tính hay đồng tính không chỉ phụ thuộc vào tài năng của nhà văn mà còn do nhu cầu và nhận thức của độc giả

c Gần đây, trong giới trẻ, đặc biệt là đối tượng học sinh trung học và sinh

viên đại học rộ lên phong trào đọc và yêu thích loại tiểu thuyết Đam mỹ (Damei, Tanbi) vốn có nguồn gốc từ Yaoi (tiểu thuyết dành cho nữ giới tập trung vào chủ đề

mối quan hệ đồng tính nam lãng mạn thường được viết bởi các tác giả nữ của Nhật

Bản) Trái với nhiều người lầm tưởng, Đam mỹ hay Yaoi hoàn toàn không chung

dòng với văn học đồng tính theo nghĩa nghiêm cẩn nhất của khái niệm này Với đặc

trưng cơ bản nhất là tính nhại vàsự phát triển tự phát, các tiểu thuyết Đam mỹ say

sưa mô tả thứ tình yêu đồng tính đậm mùi sắc dục Những khuyến cáo về tình trạng xuống cấp của văn hóa đọc, thị hiếu độc giả ngày càng bị tầm thường hóa bởi các ấn

phẩm kiểu Yaoi, Damei cũng chính là một trong những lý do để chúng tôi lựa chọn

đề tài nghiên cứu, với mong muốn đề tài sẽ có ích trong việc định hướng cho sự tiếp nhận, phân biệt và đánh giá các tác phẩm thuộc/về đề tài đồng tính hiện nay

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại (đã xuất bản) loại hình tự sự thuộc hai phương thức chính là ký và hư cấu, bao gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký, bút ký, tự truyện liên quan đến đề tài đồng tính (xin xem phần Phụ lục 1) Những tác phẩm ra đời trước thời kỳ Đổi mới, do chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội nên sự đề cập thường không trực diện, vấn đề luyến ái đồng tính thường được viết dưới dạng những uyển ước, những cảm quan đồng tính thay vì hành vi đồng tính Vì thế Luận án chọn lối nghiên cứu trường hợp như một cách thức tiếp cận tối ưu

Những tác phẩm thuộc bộ phận văn học đô thị miền Nam, tác phẩm của những nhà văn người Việt ở hải ngoại cũng như các tác phẩm của bộ phận văn học

Trang 9

mạng chỉ được nhắc đến như một kênh thông tin tham khảo giúp làm sáng tỏ thêm cho các kết luận khoa học chứ không phải là đối tượng khảo sát chính của Luận án

Chúng tôi bắt đầu với mốc những năm đầu thế kỷ XX - được xem là thời điểm khởi đầu của văn học Việt Nam hiện đại Dấu ấn Đổi mới năm 1986 được sử dụng như một thời điểm phân chia mang tính tương đối giúp người đọc dễ hình dung ra sự vận động, thay đổi của bản thân đối tượng được khảo sát

3 Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục tiêu thực tiễn: Tìm kiếm, thống kê, khảo sát trên những tư liệu đã được

công bố, dịch thuật để tìm ra những tác phẩm văn xuôi Việt Nam trong giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến thời điểm hiện tại có liên quan đến đề tài, vấn đề đồng tính luyến ái Trên cơ sở đó, phác thảo diện mạo, đặc điểm, sự vận động của đề tài này qua các nhóm tác phẩm và thời kỳ văn học cũng như bàn luận về tình hình tiếp nhận mảng văn xuôi đề tài đồng tính trong bối cảnh hiện đại

- Mục tiêulý luận: Các kết quả nghiên cứu mang tính thực tiễn của luận án sẽ

là tiền đề để tác giả luận án trình bày quan điểm về những vấn đề lý luận trong quá trình vận động của văn học Việt Nam hiện đại Đồng thời, luận án hướng tới việc đưa ra và khẳng định thêm một số kết luận về khái niệm văn học (viết về) đồng tính, góp phần khẳng định tính khả thi của một hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ, mang tính liên ngành trong nghiên cứu văn học Việt Nam ở thời điểm hiện tại

4 Phương pháp nghiên cứu

Đây là một đề tài có liên quan mật thiết tới nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, bản thân đối tượng nghiên cứu của đề tài có một lịch sử lâu dài, phức tạp.Chúng tôi cho rằng cần phải đánh giá vấn đề trong cái nhìn xuyên suốt, trong thế đối sánh để từ đó thấy được vị trí và những thành tựu mà văn xuôi đề tài đồng tính đã đạt được Một số lý thuyết hiện đại mà luận án đề cập sẽ là nền tảng khoa

học để người viết đưa ra các diễn giải phù hợp, trong đóLệch phahọcvà Nữ quyền

Trang 10

đồng tính luậnđược chúng tôi coi như cơ sở phương pháp luận chủ yếu Bên cạnh

đó, với tính năng công cụ,chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu

(được phân thành hai nhóm) như sau:

Nhóm phương pháp nghiên cứu chính, bao gồm:

- Phương pháp hệ thống: phương pháp này sẽ giúp chúng tôi có thể định vị được xu thế phát triển của văn xuôi viết về đồng tính trong dòng chảy phong phú của văn học Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Xu thế hiện nay luôn yêu cầu văn chương phải tồn tại trong mối liên hệ chặt chẽ với các ngành khoa học khác, chúng tôi xác địnhđặt vấn đề nghiên cứu trong một cuộc đối thoại với Đông phương học, đồng tính học, xã hội học, phân tâm học để tránh cái nhìn chủ quan, phiến diện về đối tượng khảo sát

- Phương pháp so sánh: Nhằm làm sáng tỏ những thành tựu cũng như mặt hạn chế của bộ phận văn xuôi viết về đồng tính, ngoài việc so sánh hai giai đoạn trước và sauĐổi mới ngay trong bản thân đối tượng để thấy sự khác biệt, chúng tôi còn đặt mảng văn học này trong cái nhìn đối sánh với các tác phẩm văn xuôi đề tài đồng tính của nước ngoài, coi đó như một liên hệ mang tính mở cho tương lai của văn xuôi đề tài đồng tính Việt Nam

Nhóm phương pháp nghiên cứu bổ trợ và các thao tác:

Bên cạnhnhững phương pháp chủ yếu trên, chúng tôi còn sử dụng đến các phương pháp khác như phương pháp loại hình, phương pháp tiếp cận nhân học văn hóa, tiếp cận từ lý thuyết tiếp nhận văn học…cùng các thao tác thống kê, khảo sát, phân tích và tổng hợp để có thể đưa ra những kết luận thuyết phục, khoa học

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án bước đầu nhận diện và lý giải về sự tồn tại của một xu thế văn xuôi được coi là nhạy cảm, xuất hiện dưới hình thức yếu tố ở Việt Nam giai đoạn đầu thế

kỷ XX đến trước Đổi mới 1986, hình thành rõ rệt từ cuối thập kỷ 90 đến nay Từ

Trang 11

những lý thuyết hiện đại, thực tế thời đại, sự thay đổi trong tư duy, nhận thức nghệ thuật của người sáng tác và nhu cầu xã hội, luận án lý giải quá trình vận động và những thay đổi mang tính bản chất của bộ phận văn xuôi viết về đề tài đồng tính ở Việt Nam trên cả hai góc nhìn diện và điểm Cách tiếp cận văn học - sử giúp tác giả luận án gạn lọc được những “mảnh vụn nhỏ” trong văn học quá khứ chưa được quan tâm thỏa đáng, từ đó liên hệ với tình hình nội tại hiện thời nhằm tái dựng một cách hệ thống và cụ thể khuôn diện mảng văn xuôi này

Luận án có ý nghĩa lý luận về tư duy nghệ thuật, tâm lý học sáng tạo văn học nghệ thuật, lý giải quá trình công khai hóa một vấn đề mang tính tranh cãi trong đời sống văn học: vấn đề đồng tính Luận án cũng có giá trị thực tiễn nhất định trong việc đánh giá vấn đề người đồng tính về mặt phân tâm học, xã hội học, nhân học và văn hóa Ngoài ý nghĩa đối với văn học Việt Nam nói riêng, tác giả luận án hy vọng việc nghiên cứu văn xuôi đề tài đồng tính sẽ góp phần tham gia thay đổi một số cách thức nhìn nhận, quản lý văn hóa, xã hộitrong giai đoạn hiện tại

6.Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận án có cấu trúc gồm

4 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2:Văn xuôi Việt Nam viết về đồng tính từ đầu thế kỷ XX đến Đổi mới Chương 3: Văn xuôi đề tài đồng tínhViệt Namtừ Đổi mới đến nay

Chương 4:Tiếp nhận văn xuôi đề tài đồng tính Việt Namtrong bối cảnh đương đại

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan lý thuyết về đề tài đồng tính

1.1.1 Đồng tính luyến ái dưới góc nhìn lịch sử - xã hội

1.1.1.1 Hiện tượng đồng tính luyến ái trên thế giới

Trong công trình Dẫn luận về tính dục (Sexuality: a very short introduction),

tác giả Veronique Mottier đã dẫn câu chuyện của nhà hiền triết cổ đại Platon về nguồn gốc con người để bắt đầu những diễn giải của bà về hoạt động tính dục của nhân loại trong thời hồng hoang, theo đó loài người ban đầu vốn được phân chia thành ba giới tính: nhóm thứ nhất có hai bộ phận sinh dục nam, nhóm thứ hai có hai

bộ phận sinh dục nữ và nhóm thứ ba là loài lưỡng tính, có một bộ phận sinh dục nam và một bộ phận sinh dục nữ Vì làm mếch lòng các vị thần, chúa tể Zeus đã tách đôi các nửa của mỗi nhóm sinh vật ấy như một sự trừng phạt khiến cho họ suốt đời phải khổ sở mỏi mòn trong cuộc kiếm tìm lại nửa kia của mình Đó là đầu mối của những rắc rối về sau khi một người nam (hoặc nữ) không hứng thú với người có

bộ phận sinh dục khác mình mà lại quan tâm và theo đuổi những sinh vật cùng giới với anh ta (hoặc cô ta)

Lịch sử nhân loại cũng từng ghi nhận những dị biệt về tính dục cách đây

hàng ngàn năm Với cuốnQuan hệ tình ái trong các cộng đồng, các tôn giáo, các nền văn hóa, học giả người Ba Lan Zbigniewlew Starowicz đã chỉ ra rằng: con

người ngay từ buổi ấu thơ của mình đã phải đối diện với những vấn đề nan giải thuộc về thiên hướng tình dục và bản dạng giới Z Starowicz khẳng định đồng tính luyến ái là “hiện tượng tồn tại trong hầu hết các phong tục tình dục thế giới Có tới 2/3 nền văn hóa sơ khai tán thành các quan hệ và hành vi tình dục này” [84,144] Thậm chí, ngay tại một quốc gia phương Đông vốn khắt khe với những động thái tình dục dị biệt là Nhật Bản thì cách đây hơn một nghìn năm, những thành viên của giáo phái Shingon (một tông phái Phật giáo) đã coi sự luyến ái với các chú tiểu là

Trang 13

một phần không thể thiếu của nghi thức truyền đạo Lịch sử thi ca ở xứ sở Trung Đông huyền bí ngay từ thời kỳ trung cổ đã xuất hiện những vần thơ của các nhà thơ Hồi giáo về những thiếu niên trẻ tuổi chuyên hầu rượu và chia sẻ chuyện tình dục trong một tinh thần tụng ca hoan lạc Trong khi đó, tại các nước vùng Trung Á, trên con đường tơ lụa nổi tiếng cũng đã sản sinh ra một nền văn hóa đồng tính đặc biệt, tương tự như các quốc gia Trung đông láng giềng

Những chứng cớ mỹ thuật và văn họcvề đồng tính luyến ái chủ yếu được phát hiện ngay từ thời cổ đại ở Hy Lạp, nơi dung dưỡng và duy trì các mối quan hệ đồng tính qua không gian và thời gian dưới sự bảo hộ của luật lệ cộng đồng Theo

đó mối quan hệ thân mật giữa một người đàn ông đã trưởng thành (thường lớn tuổi)

và một thiếu niên có ý nghĩa giáo dục, truyền đạt kinh nghiệm hơn là tìm kiếm và thỏa mãn lạc thú thân xác Có ý kiến cho rằng, bản thân việc này đồng thời còn là một phương cách hữu hiệu để kiểm soáttốc độ gia tăng dân số (theo chiều hướng hạn chế) của bộ phận dân cư Trong thời đại “hoàng kim” của tình dục đồng giới ở

xã hội Hi-La cổ đại, nghi thức tôn giáo Hy Lạp đã vinh danh đồng tính để xác nhận

sự trưởng thành của trẻ vị thành niên Trong khi đó, tại một số quốc gia ở Châu Mỹ, tiêu biểu như trong các cộng đồngthổ dânBắc Mỹ, người đồng tính được xem là người có hai linh hồn Họ nghiễm nhiên nhận được sự công nhận và kính trọng của toàn thể bộ lạc Người dân tin rằng, những thầy pháp này là một kiểu thầy pháp đặc biệt vì họ luôn có nhiều quyền năng hơn các thầy pháp thông thường Điều đó có vẻ rất giống với một số quốc gia vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

Nhìn lại lịch sử phát triển của hiện tượng, dưới góc độ y học, có giai đoạn người ta từng cho rằng đồng tính luyến ái là một căn bệnh và những người đồng tính bị cộng đồng kỳ thị như những kẻ bệnh hoạn đáng khinh Mãi đến đầu thế kỷ

XX, cùng với sự tiến bộ của ngành khoa học tâm lý, các nhà khoa học đã đủ cơ sở

để đi đến kết luận loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh mục bệnh, đồng thời bước đầu đưa ra những minh chứng nghiêm túc, cẩn trọng về bản chất tự nhiên của luyến

ái đồng tính ở các loài sinh vật

Trang 14

1.1.1.2 Hiện tượng đồng tính luyến ái tại Việt Nam

Việt Nam, cũng giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, thứ tình dục khác thường này hẳn đã có mặt từ sớm Tuy nhiên, xuất phát từ một nước nông nghiệp với tín ngưỡng phồn thực nguyên thủy sâu đậm, người Việt cổ không tán thành những hành vi tình dục đồng tính (vì nó không thúc đẩy khả năng sinh sản và

sự phồn thịnh của giống nòi- yếu tố được coi là quan trọng bậc nhất của sản xuất nông nghiệp) Đó là lý do vì sao trong khi hệ thống folklore ở các nước phương Tây (thuộc nền văn hóa du mục) rất phong phú những câu chuyện kể về mối tình đồng tính giữa các vị thần thì thần thoại Việt Nam lại hoàn toàn xa lạ với đề tài này.Tuân theo quy luật Âm - Dương hoán chuyển của tự nhiên, người Việt từ xa xưa đã nhận thức rất rõ về đầu mối duy trì sự tồn tại của muôn loài là việc kết hợp của cặp Đực - Cái Mọi sự không theo quy luật chung đó đều bị xem là dị biệt và không được khuyến khích.Tuy vậy, những trường hợp thuộcvề chuyển giới tính (transgendering)

ở cấp độ y phục (đảo trang- transvestism) không phải hiếm gặp trong văn hóa Việt Nam Trưởng thành trong một xã hội phụ hệ và trọng nam, từ lâu, nam giới Việt Nam được mặc định như quy chuẩn của mọi vấn đề, kể cả đồng tính Xu hướng tính dục và bản dạng giới không tuân theo những quy định thông thường của xã hội thường được coi là đồng tính nam (những người đồng tính nữ, hầu như không được nhắc đến) Cũng chính vì thiên kiến đó, nam giới ăn mặc và có những cử chỉ giống phụ nữ bị coi là điều cấm kị Họ trở thành một bộ phận đặc biệt chính vì sự khác biệt Ở nông thôn, những người đàn ông ăn vận như phụ nữ chỉ có thể là các thầy phù thủy trong một hệ thống tín ngưỡng bản địa lâu đời (Đạo Mẫu) Họ còn được gọi là “bóng cái” (ngôn ngữ Nam bộ) hay “đồng cô” (ngôn ngữ Bắc bộ) Nhiều quan điểm cho rằng “vì sự mập mờ về tính dục nên họ được xem là có khả năng nói chuyện với những thế lực tâm linh” [130,35] Tuy vậy, họ vẫn ít lộ diện và chỉ giới

hạn vai trò của mình trong các nghi lễ tôn giáo mà thôi Đại Việt sử ký toàn thư của

Ngô Sĩ Liên đã nhắc đến một trường hợp khá thú vị về sự đảo trang trong thành viên hoàng tộc nhà Hậu Lê là An Vương Tuân (Lê Tuân), con trưởng của vua Lê Hiến Tông “thích mặc áo đàn bà”[55,738] Tuy nhiên, tài liệu này không nói gì

Trang 15

thêm về hành trạng cũng như phản ứng cụ thể của đương thời đối với biểu hiện có phần dị thường của vị hoàng tử đó Khi văn hóa Việt Nam có sự giao lưu và tiếp biến với văn hóa Trung Hoa, hiện tượng đảo trang còn thấy ở những rạp hát của người Hoa ở phía Nam thuộc địa Nam kỳ vào cuối thế kỷ XIX Một quân y người Pháp là X Jacobus đã ghi chép lại những điều mắt thấy khi ông có dịp tới đây trong thời gian này: “Cái cách họ (những nam diễn viên) bắt chước điệu bộ, dáng đi và giọng nói của những người phụ nữ Trung Quốc thật hoàn hảo, thật khó để phân biệt

họ với phụ nữ Họ thậm chí còn làm được hơn cả vậy, họ đóng vai phụ nữ theo các cách khác Tuy nhiên, tôi không thể im lặng trước một dạng lập dị của trò chơi tình

ái Những nam diễn viên đóng những vai nữ, mặc các trang phục của họ đến nhà thổ

và vào vai một trinh nữ thùy mị, sợ mất đi trinh tiết của mình - điêu luyện đến mức khiến người ta phải thán phục.” [130,25] Tạm thời bỏ qua phản ứng bất bình về điều trái mắt đó, không thể không công nhận có một hiện thực tính dục dị biệt đã

âm ỉ chảy ngầm trong lòng xã hội Việt Nam suốt một thời kỳ dài, mặc các thành kiến và sự cấm cản

1.1.2 Giới thuyết về một số khái niệm đƣợc sử dụng trong luận án

- Đồng tính (Homosexuality): Theo từ điển Tiếng Việt do Ủy ban Khoa học xã hội

Việt Nam thuộc Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1988, “đồng tính (tính từ): chỉ có ham muốn nhục dục một cách trái tự nhiên với những người cùng giới tính” [135, 536] Định nghĩa này quy kết đồng tính là “trái tự nhiên” trong khi đối chiếu với từ gốc trong tiếng Anh (homosexuality) thì đây là cụm từ dùng để phân biệt giữa người có thiên hướng tình dục đồng tính luyến ái với người dị tính luyến ái và người lưỡng tính luyến ái Không có phần nghĩa nào xem đồng tính là “trái tự nhiên” hay không đúng với thuần phong mỹ tục Vì vậy, chúng tôi cho rằng, việc các tác giả của từ điển Tiếng Việt năm 1988 dịch cụm từ này là chưa chuẩn xác và

rõ ràng cho đến thời điểm hiện nay, cách quan niệm như thế cũng không còn phù hợp với tư duy cởi mở của xã hội

Trang 16

Chúng tôi tán đồng với cách định nghĩa của Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam về thuật ngữ “đồng tính”, theo đó: “đồng tính (còn gọi đồng dâm) là quan hệ luyến ái, tình dục giữa những người cùng giới tính, đều có bộ phận sinh dục phát triển bình thường”[134, 876] Ở đây, cần lưu ý là đồng tính được biểu hiện ở hai cấp độ: tình cảm lãng mạn và hành vi tình dục Những người bị coi là đồng tính hoặc có biểu hiện đồng tính không nhất thiết phải có quan hệ tình dục với người cùng giới tính với mình Từ sự quan sát đời sống thực tế và tham bác một số nguồn tư liệu của các học giả về lĩnh vực giới trong và ngoài nước, chúng tôi mạnh

dạn đề xuất một cách hiểu rộng mở và động về khái niệm còn gây nhiều tranh cãi

này: đồng tính luyến ái là thuật ngữ chỉ những biểu hiện rõ rệt về tình trạng mơ hồ (phân vân trong việc xác định giới tính)và lệch chuẩn về giới tính qua cách phục trang, quan hệ tình cảm hoặc tình dục Khái niệm trên sẽ là căn cứ để chúng tôi xem xét các trường hợp văn chương liên quan giai đoạn trước Đổi mới 1986 - vốn rất đa dạng, phức tạp và hoàn toàn chưa có sự thống nhất cũng như đưa ra một hình dung

cụ thể về cụm từ “văn học đồng tính” (theo nghĩa là văn học viết về tình trạng và nhân vật đồng tính)

- LGBT: thuật ngữ viết tắt của cụm từ Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender (đồng

tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính, chuyển giới) Đây là cụm từ được đa phần cộng đồng đồng tính trên thế giới công nhận và sử dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng Gần đây, một số tổ chức hoạt động vì người đồng tính còn đề xuất thêm

hai kí tự “I” và “Q” sau chữ LGBT để cho đầy đủ hơn và phản ánh được sự đa dạng của cộng đồng này (I: Intersexuality (tình trạng lẫn lộn giống), Q: Questioning

( Tình trạng chưa xác định giới tính))

- Queer: Theo nguyên gốc, từ này ban đầu có nghĩa chỉ sự khác biệt, kỳ quặc (bao

hàm cả nét nghĩa của hai từ “strange” và “odd”, sau phái sinh dùng để chỉ những người đồng tính nam (gay) Trong một số trường hợp,“queer” vẫn được dùng song song với “gay” mà không có sự khác biệt Ở Việt Nam, thuật ngữ này còn khá xa lạ, chủ yếu mới được giới thiệu bởi số ít các nhà nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực giới và đồng tính Trong Luận án, chúng tôi sử dụng cụm từ “ văn học queer” từ gợi

ý bài viết Văn học queer ở Việt Nam: hướng đến một dòng văn học thiểu sốcủa nhà

Trang 17

nghiên cứu Trần Ngọc Hiếu (Trường ĐH Sư phạm Hà Nội) với ý nghĩa chỉ bộ phận văn học viết về tình trạng mơ hồ và lệch chuẩn về giới tính vô cùng đa dạng trong đời sống và trong văn chương hiện đại Theo đó, văn chương viết về đề tài đồng tính (thường vẫn được gọi tắt là văn học đồng tính) không chỉ là thứ văn học được viết bởi các tác giả thuộc cộng đồng LGBT, về các nhân vật trong con mắt của số đông là những kẻ bất toàn về bản sắc giới tính mà cần hiểu là một dòng văn học đặc biệt bao quát tất cả những biểu hiện về “tình trạng mơ hồ và xu hướng lệch chuẩn

về giới tính” [35, 53], có thể có vô vàn hình thức tồn tại, hoặc rõ rệt như quan hệ tình dục đồng giới, hiện tượng giả nam/ giả nữ, hiện tượng bị thiến hoặc chỉ đơn thuần là những xúc cảm đồng giới nhấn mạnh vào “tâm lý và mỹ quan thay vì vào hành vi của sự kích thích, hấp dẫn cùng phái” [151,1] Các thuật ngữ như “yếu tố queer”, “lối đọc queer” cũng nằm trong trường nghĩa này, được mở rộng từ khái niệm “văn học queer”

- Cảm quan đồng tính (Homoeroticism): Đây là khái niệm chúng tôi mượn lại của

các nhà nghiên cứu đi trước (Nguyễn Quốc Vinh, Đỗ Lai Thúy) để mô tả những trường hợp không có dấu hiệu rõ ràng về luyến ái đồng giới (nhất là ở hành vi tình dục), nhưng lại có biểu hiện tâm lý của dục cảm biến dị Thuật ngữ này đặc biệt tỏ

ra hữu ích cho chúng tôi định danh, khoanh vùng các đối tượng nghiên cứu giai đoạn trước Đổi mới, vốn thường ẩn sau một lớp ngụy trang uyển ước do vậy trở nên mập mờ, khó hiểu khiến người xem bối rối

- Homophobia: Thuật ngữ Homophobia vốn có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp

trong đó homos mang nghĩa là “đồng giống” và phobos là “sợ hãi, ác cảm” Được

nhắc đến lần đầu tiên vào giữa những năm 1960 bởi George Weinberg – một nhà tâm lý trị liệu người Mỹ khi ông quan sát được thái độ khó chịu của những bạn

đồng nghiệp đối với các bệnh nhân là người đồng tính luyến ái,Homophobia từ đấy

trở thành khái niệm chuyên dùng để minh thị nỗi sợ hãi, niềm ác cảm hoặc sự kỳ thị đối với người đồng tính hay tình trạng đồng tính

Trang 18

1.1.3 Một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài luận án

1.1.3.1 Thuyết Lệch pha (Queer theory) hay học thuyết về sự giằng co giữa Kiến tạo luận (Constructionism) và Bản chất luận (Essentialism)

Nếu như những nghiên cứu trên các loài động vật cho thấy biểu hiện đồng tính

ở chúng là một giải pháp về tiến hóa để giảm thiểu sự xâm chiếm lãnh thổ, đặc biệt

là giữa những con đực, thì ở loài người, hành vi này phức tạp hơn nhiều Những phát hiện của ngành bào thai học đã chỉ ra rằng loài người, về mặt sinh học, vừa là đồng giới vừa là dị giới Mặc dù hiện tượng đồng tính luyến ái đã song tồn cùng nhân loại từ rất lâu nhưng mãi đến thế kỷ XIX, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc để đưa ra những luận điểm khoa học về nó mới được tiến hành Trong một thời gian dài, những nhà nghiên cứu chia sẻ mối quan tâm đến chủ đề đồng tính đã tranh cãi nhau gay gắt để ngã ngũ về định đề: đồng tính luyến ái là một căn tính tự nhiên hay là sản phẩm của xã hội? Kết quả của những tranh luận này không chỉ hình thành nên hai trường phái tư tưởng đối lập mà còn tạo tiền đề ra đời cho một học thuyết

mà sự đóng góp của nó vào lịch sử tính dục của nhân loại là không thể phủ nhận: thuyết Lệch pha (Queer theory) (có nhiều tài liệu dịch là Đồng tính luận)

Cùng với khái niệm “bản dạng tình dục” (sexual identity) được Karl Heinrich Ulrichs khởi xuất, những tranh luận về nguồn gốc của đồng tính luyến ái chính thức châm ngòi cho sự phân rẽ thành hai thái cực quan điểm: những người đề xuất thuyết bản chất, bênh vực ý kiến cho rằng sinh lý cùng sự khác biệt giới tính là do “Trời sinh”, mang tính vĩnh cửu Do đó, đồng tính cũng là một phần của bản chất tự nhiên của cá nhân, không thay đổi được Chỗ dựa của thuyết bản chất chính là những công bố y khoa của các nhà di truyền học tại Mĩ (đại học Illinois, Chicago) và Ý (đại học Padova) về tác nhân di truyền bên dòng họ mẹ và sự tham gia của những chuỗi DNA trong bộ gene người Xét về bản chất, sự khác biệt giữa yếu tính luận và kiến tạo luận cũng rõ ràng như hai khái niệm giới tính và phái tính Bản thân thuật ngữ giới tính (mang phẩm chất sinh học) đã thể hiện tính bản chất luận của nó, và như vậy, giới tính thứ ba nên/phải được thừa nhận bình đẳng với hai giới tính còn lại Phái tính, ngược lại, sinh ra từ các phạm trù văn hóa, không chịu sự bó buộc của

Trang 19

các đặc tính sinh học bẩm sinh, thậm chí có lúc còn gạt giới tính ra ngoài lề để chỉ tuân theo các quy chuẩn xã hội - nói như một định đề nổi tiếng của Simone de Beauvoir: “On ne nait pas femme, on le devient” Các nhà kiến tạo luận như M Foucault tỏ ra hoài nghi với cái gọi là bản sắc, bởi suy đến cùng, mọi thứ theo ông đều do diễn ngôn quy định Đến lịch sử - vốn vẫn là định lượng mang tính tin cậy, bất biến trong quan điểm của số đông, cũng chỉ tồn tại qua các diễn ngôn Oái oăm hơn, ngay đến bản thân diễn ngôn cũng chỉ là sản phẩm của một giai đoạn, một thời đại, một hoàn cảnh xác định và có giới hạn Trang bị nhãn quan giải cấu trúc ấy, có thể nói rằng, cùng một hiện tượng, thời đại này gọi là đồng tính (với hàm ý khinh miệt), thời khác lại xem như một biểu hiện bình thường của tính dục tự nhiên, thậm chí còn tôn vinh nó

Bất chấp những quan điểm trái chiều, đồng tính luyến ái càng thách thức nhân loại khi nó cùng một lúc, mang cả hai biểu hiện của giới tính và phái tính, tức vừa là bản sắc vừa là kiến tạo Bản sắc khi nó thuộc về bẩm sinh, kiến tạo trong trường hợp nó được tạo ra từ những hoàn cảnh đặc biệt mà ở đó xác lập sự độc tôn của đơn giới: nhà tù, trại lính, trường nội trú, trường dòng, nhà tu kín, gánh hát…Ở những môi trường này, đồng tính được xem như một hành vi tập nhiễm Thoát ly khỏi hoàn cảnh, đặc tính đồng tính (tập nhiễm) sẽ biến mất (trừ trường hợp hoàn cảnh không phải là nguyên nhân mà chỉ là tác nhân mang tính gợi thức những yếu tố đồng tính sẵn có bị “ngủ đông”)

Tuy vậy,dựa trên lý do cho rằng thiên hướng tình dục là phức tạp, đa chiều nên phần lớn học giả hiện đại vẫn thiên về quan điểm xem đồng tính là kết quả của quá trình lịch sử - xã hội, cụ thể là “sản phẩm của vô số các mã văn hóa và thế lực chính trị khác nhau trong các giai đoạn khác nhau” Với các lập thuyết mang tính kiến tạo trong lĩnh vực đồng tính học, họ trở thành những đại biểu tiên phong của trường phái Kiến tạo luận Có thể kể ra một số tên tuổi lẫy lừng có nhiều công trình liên quan đến quan điểm kiến tạo bản dạng giới này, tiêu biểu như: David M Halperin, Michel Foucault, Judith Butle, John D’Emilio

Một trong những tuyên bố nổi bật của các nhà kiến tạo luận là tìm ra mối liên

hệ giữa đồng tính với chủ nghĩa tư bản, coi chủ nghĩa tư bản là nguồn gốc sinh ra

Trang 20

đồng tính trong tư cách là một đặc tính xã hội Ở công trình Chủ nghĩa tư bản và đặc tính đồng tính, John D’Emilio đã đi từ các đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư

bản (lao động tự do, sự biến động của cấu trúc gia đình hạt nhân làm tăng cường số lượng cá nhân sống bên ngoài gia đình, sự “giải phóng” tình dục khỏi mục đích sinh

đẻ, ảnh hưởng của Thế Chiến II) để diễn giải về cái gọi là đặc tính đồng tính của nhân loại Trên cơ sở bác bỏ “huyền thoại về tình dục đồng giới vĩnh cửu” [144, 101], tác giả đã lần lượt chỉ ra một sơ đồ trỗi dậy của những người đồng tính, theo

đó, khi hệ thống lao động tự do phát triển như một hệ quả tất yếu của quá trình

phình rộng tư bản - tiền để tạo ra nhiều tiền hơn thì nó đồng thời tạo ra một sự

chuyển hóa sâu sắc trong mô hình và chức năng của gia đình truyền thống: cá nhân

có xu hướng tách ra khỏi gia đình, gia đình không còn là “đơn vị lý tưởng” cho sự sản sinh ra các thế hệ nối tiếp do có một cuộc cách mạng ngầm về quan niệm tình dục đối với sự sinh đẻ Mặt khác, khi chiến tranh xảy ra, nó đã tách hàng triệu thanh niên nam nữ- những người mà đặc tính tình dục chỉ vừa mới hình thành ra khỏi gia đình, khỏi môi trường tình dục khác giới của gia đình và ném họ vào hoàn cảnh thuần nhất về giới tính- như là trại lính, công xưởng, các hội nữ binh, tình nguyện viên, các khu nhà ở cho nữ công nhân, nhà tù, trại tập trung Chính tại những nơi này, những người đã mang sẵn trong mình căn tính đồng tính sẽ có dịp gặp gỡ những người giống họ, còn những kẻ khác có được sự tự do tạm thời trong việc khám phá những xúc cảm tình dục mới mẻ chưa từng trải nghiệm - họ trở thành các

đối tượng đồng tính cơ hội

Nói tóm lại, mọi xác quyết đều hướng đến chỗ chỉ đích danh trách nhiệm, vai trò của chủ nghĩa tư bản đối với sự ra đời và phát triển ngày càng rộng rãi của hiện tượng đồng tính luyến ái Ông cũng nói, sở dĩ nam giới đồng tính nhiều hơn nữ giới

vì chủ nghĩa tư bản đã lôi kéo nhiều đàn ông vào lực lượng lao động hơn phụ nữ, đồng thời với mức lương cao hơn, đàn ông dễ dàng tạo dựng một cuộc sống cá nhân độc lập với sự ràng buộc của giới tính khác trong khi phụ nữ“có vẻ như vẫn phụ thuộc đàn ông về kinh tế”[144, 106] Từ những phân tích ấy, J Emilio cố gắng trả lời cho câu hỏi tại sao chủ nghĩa tư bản, có cấu trúc khiến cho sự xuất hiện của đặc

Trang 21

tính đồng tính và sự hình thành của cộng đồng đồng tính đô thị trở nên khả thi, dường như không thể chấp nhận dung chứa cộng đồng đó trong lòng nó, biểu hiện

là nó luôn tỏ thái độ thù địch, gạt họ ra ngoài lề và nhìn họ như những kẻ thiểu số? Những tư tưởng trong bài viết của John D’Emilio cũng nhận được sự đồng tình của người đồng nghiệp ở Paris là Michel Foucault khi ông này khẳng định:

“thiên hướng tình dục về thực chất là một “sáng chế” của các nhà nước hiện đại, của cuộc Cách mạng công nghiệp và chủ nghĩa tư bản” Cũng chính Foucault - vốn được biết đến như một nhà giải cấu trúc trứ danh - đã trùm ảnh hưởng của mình lên

ý hướng của các nhà lệch pha/đồng tính (queer) học khi ông tuyên bố, tình dục là một sản phẩm của diễn ngôn hơn là một điều kiện tự nhiên, nó chịu ảnh hưởng nặng

nề của các quan hệ quyền lực trong xã hội, chịu sự cấm đoán, ức chế lẫn sự cho phép của các quan hệ đó đồng thời tạo ra những ý nghĩa mới cho hoạt động tình dục Tiếp thu tư tưởng của M Foucault, các nhà lệch pha học nhìn giới tính trong cái nhìn tương đối: không có cái bình thường lẫn cái bất thường, cái kỳ quái (nghĩa phái sinh của từ “queer”) cũng chỉ là khái niệm ảo, cái gọi là “giới tính” hay “bản sắc” chung quy lại cũng chỉ như một “sản phẩm hư cấu của văn hóa, một sự cách điệu hóa được lặp đi lặp lại thường xuyên của thân thể” “lúc nào cũng ở trong tiến trình được kiến tạo, một cái gì đang được hình thành” [77]

Khi mới xuất hiện lần đầu tiên tại Anh, Mỹ vào đầu thập niên 90 của thế kỷ

XX, thuyết Lệch pha nhanh chóng được đón nhận và phổ biến rộng rãi, trở thành tâm điểm giảng dạy trong các trường đại học cũng như chủ đề nóng của các tạp chí

Mẹ đẻ của học thuyết - bà Teresa de Lauretis, được xem là trường hợp điển hình cho sự chuyển tách từ chủ nghĩa nữ quyền sang một phạm vi nghiên cứu hẹp hơn, liên quan đến phong trào đấu tranh giải quyền lực nam giới Ban đầu, thuyết đồng tính chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu của nó trong hai lĩnh vực đồng tính nam và đồng tính nữ (Gay/lesbian Studies), về sau, còn quan tâm tới cả Chuyển giới tính học (Transgender Studies) Sự phát triển của thuyết Lệch pha chính là minh chứng hùng hồn nhất cho vị thế áp đảo của các nhà kiến tạo luận với yếu tính luận, trước

Trang 22

hết vì nền tảng học thuyết này là các quan điểm mang tính kiến tạo về phái tính Những phát biểu của M.Foucault, Judith Butle, Susan S.Lanser có thể coi là “tuyên

ngôn mới” của Đồng tính luận trong giai đoạn phát triển của đợt sóng thứ ba này

Nói tới các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Lệch pha học, không thể không kể đến Annamarie Jagose - giảng viên cao cấp của Đại học Melbourne, tác

giả của công trình nổi tiếng Dẫn nhập lý thuyết lệch pha (Queer theory - An

introduction) Công trình này đã trở thành một tài liệu tham khảo quan trọng trong công tác nghiên cứu và tìm hiểu về đồng tính không chỉ trong phạm vi nước Mỹ mà

đã lan ảnh hưởng sang cả các nước khu vực Á, Âu Như tên gọi của nó, công trình đưa ra cách hiểu khác về tình dục đồng tính cùng các bản dạng của nó thông qua thuật ngữ mang một nội hàm đa nghĩa “queer”, với quan niệm giản dị là “phạm trù bao trùm về liên minh tự định danh tình dục bên lề văn hóa – một thứ mô hình lý thuyết mới ra đời đã ly khai khỏi thuyết đồng tính truyền thống” [146,1]

Tiếp thu quan điểm của các lý thuyết gia đồng tính học hiện đại phương Tây, chúng tôi thấy rằng, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu vấn đề này về cơ bản đã xác lập vị trí của một số học giả có những công trình dịch thuật hoặc phê bình giá trị, đóng góp đáng kể cho ngành nghiên cứu còn khá non trẻ ở Việt Nam mang tên Đồng tính học Trần Ngọc Hiếu là một trong những học giả như vậy

Những bài viết về văn học queer của tác giả có thể xem như một động thái của

người đi khai sơn phá thạch, đã đưa ra một cách hiểu cởi mở khác với quan điểm xưa cũ có phần cứng nhắc về khái niệm văn học đồng tính và rộng hơn là văn học

queer Cách hiểu này đã giúp chúng tôi mạnh dạn đề xuất câu trả lời cho những

trường hợp văn học quá khứ tưởng chừng hoàn toàn xa lạ với chuyện tình cảm đồng

giới của con người (tình bạn của những giáo khổ trường tư trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao giai đoạn đêm trước Cách Mạng, tình đồng đội giữa những

người lính trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc qua trang viết của tác giả Vũ Bão )

Trang 23

1.1.3.2 Phê bình nữ quyền đồng tính luyến ái - luận thuyết của thiểu số và cho thiểu số

Như đã nói, chủ nghĩa nữ quyền và đồng tính luận có mối quan hệ vô cùng khăng khít Phong trào nữ quyền diễn ra sôi nổi vào giữa những năm 1970 được xem là khởi nguồn nảy sinh của ngành đồng tính nam và đồng tính nữ tại các nước phát triểnnhư Anh, Mỹ Một số lý thuyết gia vốn xuất thân từ phong trào đấu tranh này đã chủ động chuyển hướng nghiên cứu sang lĩnh vực đồng giới như một cách kháng cự khác của người nữ Họ - cùng chủ trương tư tưởng nữ quyền “thách thức điều mọi người đều biết về tính dục, dục tính, giới tính, sự song hành và đối nghịch của nữ và nam, đồng tính và dị tính, đàn bà và đàn ông” [57, 220]- đã mở đường cho sự phát triển của lý thuyết nữ quyền đồng tính hiện nay

Phê bình nữ quyền trái với ảo tưởng và ngộ nhận về nó, không bó hẹp phạm vi nghiên cứu nữ tính và phái tính như bản chất nguyên thủy cơ bản của người nữ mà quan tâm nhiều hơn đến cấp độ biểu hiện của hai yếu tố này Phê bình nữ quyền xuất phát từ lĩnh vực văn chương nên nó cũng chú ý đến những cạnh khía đặc trưng:

cơ thể, sự thể hiện tâm hồn người nữ(viết nữ) Cơ sởtriết học củaphê bình nữ quyền chính là tư tưởng của Jacques Lacan - vốn là một nhánh của phân tâm học Triết gia kiêm nhà tâm lý này có xu hướng trở về với cái gốc ban đầu của phân tâm học cổ điển nhưng thay vì giải thích các hiện tượng trên cơ sở lâm sàng, ông lấy ngôn ngữ làm điểm tựa Kết hợp giữa phân tâm học và ngôn ngữ học cấu trúc,Lacan chỉ ra sự bất toàn của giới nữ chính là nguyên nhân thúc giục họ phản kháng để đòi được quyền làm chủ cơ thể của mình (tự do phô diễn, buông thả) Các nhà nữ quyền đã xuất phát từ phân tâm học Lacan để phản đối lại chính Lacan bằng cách chứng minh cho thế giới thấy phụ nữ hoàn toàn tự chủ về tiếng nói và thân thể

Mảnh đất tự do, tự trị nữ quyền chính là nơi không giới hạn quyền phô diễn khoái lạc dục vọng của người nữ Thậm chí, họ cho rằng, càng những ham muốn có

vẻ phi chuẩn mực, trái tự nhiên càng có giá trị khiêu chiến mạnh mẽ với chủ nghĩa nam quyền cùng các áp chế của nó Đó là cơ sở lý tưởng để những nhà nữ quyền đồng tính luyến ái công khai lên án tình dục dị tính như một “chế độ chính trị - trong đó nam giới phủ định tính dục của nữ giới, buộc phụ nữ phải tiếp nhận tính dục của mình, hạn chế và ngăn cản những hành động nhục thể của phụ nữ, biến họ

Trang 24

thành món hàng trao đổi giữa nam giới với nhau” [45,7] Họ định nghĩa: “Đồng tính

là dục vọng hướng tới giới tính của mình, đồng thời cũng là dục vọng đối với điều

gì khác không được bao hàm Dục vọng, đó chính là sự chống lại cái chuẩn mực”,

“Đồng tính nữ là nền văn hóa qua đó người ta có thể chất vấn về mặt chính trị với

xã hội dị tính về những phạm trù tính dục, về ý nghĩa của định chế về sự lệ thuộc cá nhân trong hôn nhân đã áp đặt lên người phụ nữ nói riêng” [45, 8]

Vốn là một trong ba loại hình cơ bản của thuyết phê bình nữ quyền, phê bình

nữ quyền đồng tính luyến ái thực tế là một nhánh phái sinh của phê bình nữ quyền

da đen Nó nở rộ vào giai đoạn cao trào của chủ nghĩa nữ quyền trong văn học, bắt đầu từ các nước phát triển ở phương Tây rồi lan rộng ảnh hưởng ra toàn thế giới Kế thừa những tư tưởng tiến bộ của các nhà phê bình nữ quyền da đen, không thành kiến, chống đối với dị tính luyến ái (biểu hiện cực đoan thường thấy ở phái phê bình

nữ quyền da trắng), phê bình nữ quyền đồng tính luyến ái chủ yếu “lên án sự ràng buộc của nam quyền quy định hành vi tính dục nữ chỉ được có một dạng thức là dị tính có lợi cho họ, không tôn trọng sự lựa chọn khác của phụ nữ có khi do hoàn cảnh sống đặc thù, hoặc là do “trời sinh” ra như vậy” [ 59, 209]

Một vướng mắc lớn là xác định nội hàm của khái niệm “nữ đồng tính luyến ái” thế nào để chấm dứt sự tranh cãi về việc có nên đánh đồng hành vi giao hoan với “nhiều hình thức tình cảm mãnh liệt vốn có giữa phụ nữ với nhau như cùng chia

sẻ nội tâm phong phú, liên kết nhau để chống lại những bạo quân nam quyền, cho

và nhận những giúp đỡ vật chất và ủng hộ nhau về chính trị”[59,210] hay không Sự tranh luận vẫn chưa đi đến hồi kết mặc dù sau đó một đại biểu của nhóm “nữ quyền mới” là Lillian Faderman đã đưa ra một giải pháp mang tính chiết trung: “Nữ đồng tính luyến ái miêu tả một loại quan hệ tình cảm yêu mến mãnh liệt giữa hai phụ nữ,

ít nhiều có thể có hoặc cơ bản không có quan hệ tính dục Cùng yêu quý nhau làm cho hai người dùng đại bộ phận thời gian chung sống và cùng sẻ chia phần lớn nội dung của đời sống” [59, 210]

Trang 25

Để củng cố vị trí của mình trong “đại gia đình” nữ quyền luận, phê bình nữ quyền đồng tính luyến ái mặt khác vẫn không ngừng sưu tầm, khai quật, tổng kết lịch sử trỗi dậy của văn học nữ đồng tính với mong muốn xóa bỏ những thiên kiến, công kích đã tồn tại dai dẳng và xác lập một vị thế ngang hàng, bình đẳng với các

nghĩa của Lillian Faderman (như tác phẩm Bố con là đàn bà của tác giả Vũ Bão và

một số truyện ngắn của Trần Vũ chẳng hạn)

1.1.3.3 Đồng tính dưới con mắt của Phân tâm học cổ điển

Được coi là một trong ba hiện tượng khoa học làm nên những bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử tiến bộ của nhân loại, học thuyết Phân tâm do S.Freud khởi xướng

từ cuối thế kỷ XIX từ khi ra đời đã gây những chấn động mãnh liệt trong dư luận và trở thành một thứ công cụ lý luận đắc lực cho nhiều ngành khoa học cho tới tận ngày nay.Nghiên cứu trên một loại đối tượng khác biệt, ngay từ năm 1905, trong

công trình Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục, S Freud đã dành không ít sự quan tâm

cho những người đồng tính Ông xếp họ vào những ca lệch lạc về tính dục, cụ thể là lệch lạc liên quan đến đối tượng tình dục Ông cũng lưu ý về cách định danh hiện

tượng này Thay vì gọi bằng khái niệm homosexual (đồng tính luyến ái), ông ưa thích gọi bằng inversion (nghịch đảo giới tính) hơn Các thuật ngữ ông dùng để chỉ

đối tượng trong nhóm này như nghịch giới tuyệt đối, nghịch giới lưỡng tính, nghịch giới cơ hội đều được gọi ra dựa trên những khuynh hướng dục năng libido của họ

Trang 26

Ông cũng đặc biệt thích thú với những ca dục năng libido ngả theo hướng đảo giới tính sau khi có trải nghiệm đau khổ với một đối tượng tình dục bình thường

Phát triển tư tưởng từ trọng tâm về libido, Freud chỉ ra rằng, một khi dục năng libido được thỏa mãn, con người sẽ giữ được trạng thái cân bằng Ngược lại,

vì lý do nào đấy, dục năng này bị cản trở, nó sẽ quay trở lại xung đột với trạng thái tâm lý và tìm cách phóng thoát trong hoàn cảnh, môi trường khác nhau Việc tiếp xúc với môi trường xấu chính là nguyên nhân dẫn đến thái độ ghê sợ tình dục, trầm cảm, biến thái, tâm thần hay đồng tính Với quan niệm này, phân tâm học của S.Freud đã công khai chống lại quan điểm đồng tính do rối loạn gene di truyền khá phổ biến lúc đó.Các giả thuyết khác về nguyên nhân dẫn tới đồng tính như tính tự si (nacxit) hay mặc cảm Odipe không thỏa mãn trong giai đoạn dậy thì… đều là những phát hiện gây nhiều tranh cãi.Là người không tán thành quan điểm coi nghịch đảo giới tính như một “dấu hiệu thoái hóa thần kinh bẩm sinh” [24, 48], ngay từ tác phẩm đầu tiên dẫn dắt người đọc đến với lý thuyết phân tâm - cuốn “Nhập môn phân tâm học”, quan điểm của Freud đã gây ra sự sửng sốt Ông viết: “Hết sức rõ ràng rằng, tính dục đồng giới chỉ là sự thay thế mục đích gần hơn và dễ đạt tới hơn

ấy ở một người bạn cùng giới cho thách thức cuối cùng mà một người bạn khác giới đưa ra Đối với đàn ông, đàn bà mang mối đe dọa của một vũ trụ không có dương vật, vũ trụ mà dương vật có thể bị lấy mất, theo một số hoang tưởng trẻ con Từ đó nảy sinh những hoang tưởng về việc dương vật bị âm hộ và âm đạo của đàn bà làm tổn thương trong các quan hệ tính dục Quan niệm âm đạo có răng cắn (vagina dentata) đôi khi chính là cơ sở khiến cho một người tính dục đồng giới đàn ông ưa thích một người đàn ông khác hơn” [24, 29]

Dù trong thời gian hạ hồi phân giải đúng - sai, quan điểm về tình dục đồng tính của các nhà phân tâm cũng vấp phải sự chỉ trích mạnh mẽ của các nhà nữ quyền và đồng tính nữ Họ không la ó vì giả thuyết “âm đạo có răng cắn” như một

sự châm chọc tinh ác, họ phản đối vì họ không thấy hình ảnh, vai trò của mình trong

tư cách là đối tượng nghiên cứu chính của Freud Freud - giống như nhiều nam học

Trang 27

giả khác - đã điềm nhiên vô tình đứng trên lập trường của đàn ông để bàn về những vấn đề của giới nam, đồng tính cũng nam, nói chung là một quan điểm khoa học có

sự phân biệt giới rất rõ rệt

Chưa hết, năm 1905, vẫn trong khảo cứu gây nhiều tranh cãi Ba tiểu luận về

lý thuyết tính dục, Sigmund Freud đã liệt kê thói giả trang (một cách gọi khác của đảo trang giới tính (Transvestism/ Cross-dresser) như một biểu hiện của lệch lạc

tính dục trên các đối tượng là con bệnh thần kinh Ông nhận định : “Thói giả trang, tức thói thích mặc áo quần của giới tính ngược lại, muốn mang căn tính một người thuộc giới tính ngược lại ở chốn riêng tư cũng như ở nơi công cộng” [24, 330] Dễ dàng có thể thấy, đây là cách nhìn nhận của một người ngoài cuộc; cho nên ngay tại thời điểm những năm đầu thế kỷ XX, khi công bố này xuất hiện, nó đã vấp phải nhiều chỉ trích, la ó của dư luận, đặc biệt từ phía những người trong cộng đồng LGBT- người không đời nào chịu im lặng như một sự đồng tình

Với vị trí và tầm ảnh hưởng của mình, những bàn luận về hiện tượng đồng tính luyến ái của Sigmund Freud không chỉ được xem là nền tảng có giá trị cho các nghiên cứu y học, tâm lý về đồng tính đương đại mà còn gợi hướng cho các nhà văn, nhà phê bình suy nghĩ về sự ra đời của những đứa con tinh thần trong tương lai của mình Phân tâm học cổ điển và các nhánh chi của nó sau này đã bỏ nhiều thời gian để đi tìm câu trả lời xác đáng cho câu hỏi: đồng tính có phải là một “rối loạn định dạng giới” (biểu hiện của bệnh lý) hay là cái gì khác? Sự phân giải đôi khi chứa nhiều mâu thuẫn cho thấy sự thực là ngay cả cha đẻ của học thuyết cũng không hoàn toàn tin chắc vào khả năng “cứu rỗi” của học thuyết do mình tạo nên

Lấy đồng tính làm đối tượng phản ánh, văn học cần cầu viện đến sự giúp đỡ của các ngành khoa học liên quan Đặt văn xuôi đồng tính trong cuộc đối thoại với các tư tưởng tâm lý học, xã hội học cho phép văn xuôi có nhiều cơ hội mở rộng biên

độ phản ánh, tiến những bước chắc chắn trên hành trình khám phá những vùng đời sống còn ít dấu chân hăm hở Việc xâu chuỗi các cơ sở lý thuyết về phân tâm, lệch pha, nữ quyền đồng tính luận cho tác giả luận án có một tiền đề lý thuyết cần thiết

để từ đó phác thảo những hình dung cơ bản nhất về khuôn diện của mảng văn xuôi

Trang 28

đề tài đồng tính – vốn dĩ đa dạng, phức tạp và chưa có sự thống nhất Những lý thuyết này đồng thời cũng “khai quang”nhiều ngả đường, phát lộ nhiều ý hướng, có tác dụng lý giải những băn khoăn của người viết trong quá trình nghiên cứu

1.2 Lịch sử sáng tác về đề tài đồng tính trong văn học thế giới và Việt Nam

Mặc dù bị coi là biểu hiện của nền văn hóa tình dục buông thả theo quan điểm của

Z Starowicsz, đồng tính luyến ái không phải lúc nào cũng gắn liền với sự phóng túng và lệch lạc Bằng chứng là ngay từ thời cổ đại, văn chương nhân loại đã ghi nhận những biến thể tình dục này trong các anh hùng ca, thần thoại sáng thế của mình, và những tổng kết trong vội vàng cũng đủ tái hiện lại một lịch sử xuyên suốt kinh qua các thăng trầm của văn chương đồng tính - từ Tây sang Đông, theo “một dao động con lắc lỏng- chặt - lỏng - chặt” [ 108, 239]

1.2.1 Đề tài đồng tính –“người quen muôn năm cũ” của văn học nhân loại

Lịch sử tư tưởng nhân loại từng thừa nhận đồng tính luyến ái là một bộ phận tất yếu của xã hội con người ngay từ thuở hồng hoang, và xét về bản chất, còn là sản phẩm của tự nhiên Văn hóa Hi Lạp cổ đại được xem là nền văn hóa mang nhiều dấu ấn đồng tínhnhất trên thế giới Nghệ thuật Hi Lạp trong các lĩnh vực văn chương, điêu khắc, hội họa với mỹ cảm trung tâm là hình ảnh nam giới và các cuộc tình đồng giới giữa đàn ông trở thành một dẫn chứng điển hình của nền văn hóa này Chính Platon và một số nhà hiền triết trứ danh khác cũng có người tình trai là học trò trong suốt cuộc đời của mình.Platon còn là người tiên phong trong quan điểm chỉ ra dạng thức tự nhiên mang bản chất luận của thứ tình yêu đồng giới Câu

chuyện trong luận văn Bữa tiệc về sự nổi loạn của ba giới nam - nam, nữ - nữ, nam

- nữ và cơn thịnh nộ của Zeus giáng xuống loài người nhằm trừng phạt họ bằng cách cắt đôi các giới ra thành hai nửa riêng biệt chính để cắt nghĩa cho sự hiện diện của luyến ái đồng tính từ xa xưa đó Các nửa bị cắt chia đã phải suốt đời kiếm tìm nhau để hợp nhất Theo đó, những nửa xưa kia vốn là hợp thể của cả hai giới nam - nữcó xu hướng theo đuổi người mang giới tính đối lập với mình, trong khi các nửa

Trang 29

trước chỉ thuần một giới nam - namhoặcnữ - nữ thì chỉ có tình cảm và sự hứng thú với nửa đồng giới giống như mình Tình yêu đồng tính chính đã khởi nguồn từ đấy

Vì vậy, người ta sẽ không quá sửng sốt khi chiêm ngưỡng những mối tình đồng tính đầy rẫy trong kho tàng thần thoại khổng lồ của các dân tộc từĐông sang Tây, từ nền văn hóa trồng trọt định canh định cư đến du mục lang thang phiêu bạt Những câu chuyện này được xem là thứ “đặc sản” cho thấy đồng tính trong quá trình hiện tồn của nó, không chỉ là biểu hiện của nhục dục bản năng mà còn là câu chuyện của chính trị, quyền lực, văn hóa và trăm thứ khác ngoài dục tính

Thần thoại nổi tiếng nhất dính dáng đến đồng tính luyến ái có lẽ là thần thoại

về các vị thần trên đỉnh Olympia trứ danh- một pho tình sử vừa vĩ đại vừa hoang đường, vừa thánh thần vừa trần tục, vừa minh triết vừa đầy mâu thuẫn Những mối tình đồng tính lãng mạn huyền hoặc của Zeus- chúa tể toàn năngvới chàng Ganymede tuấn tú,cuộc tình giữa thần biển Poseidon với hoàng tử Pelops - cháu nội Zeus, tình yêu của Apollo- thần Ánh sáng, chân lý và nghệ thuật với chí ít ba chàng trai đẹp được ghi nhận là Hyacinth, Acantha, Cyparissus, tình yêu của những người anh hùng trong cuộc chiến thành Troi: Achille và Patrocle, Agamenong và Argynnus đã trở thành nguồn cảm hứng và đề tài bất tận cho biết bao nhiêu nghệ sĩ trần gian sau này

Nằm cách nền văn minh của các vị thần không xa là nền văn minh đã sản sinh ra những nhân sư và các Kim tự tháp Giống như tất cả các pho thần thoại của mọi dân tộc là đầy hoang đường, thần thoại Ai cập giải thích nguồn gốc tộc người

từ Atoum-thủy tổ các vị thần- vốn bản chất lưỡng tính, sinh sản bằng cách thủ dâm

và tinh dịch của chính mình Thần thoại Seth và Horus (thế kỷ 20 trước Công

nguyên) lại lấy đồng tính như một điểm nhấn khác lạ trong các mưu toan quyền lực giữa những kẻ tranh đoạt ngai vàng hay xem việc mây mưa với người cùng giới là

bí quyết cho những người đã tạ thế “leo tới chỗ bất tử” [18,59] Trong khi đó, ở

vùng Trung Á trước công nguyên chừng 2300 năm, sự xuất hiện của thiên Anh hùng

ca Gilgamestre đã cho thấy sự phức tạp trong tâm lý tình cảm con người ngay từ kỳ

Trang 30

thủy: từ kẻ thù, Gilgamestre và Enkidu đã yêu nhau say đắm, đến nỗi chỉ cái chết mới có thể chia lìa họ

Cũng ở châu Á, văn học cổ đại Trung Hoa về đề tài đồng tínhđã làm thế giới ngạc nhiên bởi sự phong phúcủa nó Những giai thoại về các mối tình đàn ông rất phổ biến và xuất hiện từ sớm, vào khoảng thời nhà Thương Chu và kéo dài trong lịch sử phong kiến Trung Quốc Trong một công trình dày 650 trang mang tên

Nghiên cứu viết về đồng tính luyến ái trong văn học cổ đại Trung Quốc thuộc bộ

“Nhân dân xã khoa tân trước tùng thư”, nữ học giả Thi Diệp đã bỏ công sức để tổng hợp và chỉ ra lịch sử bề thế của mảng văn học đề tài đồng tính tại quốc gia này cũng như dành trọng tâm vào mô tả cục diện thể loại tiểu thuyết sắc tình, nam sắc đời nhà Minh-Thanh Công trình của Thi Diệp được giới chuyên môn Trung Quốc và nước ngoài đánh giá cao, có giá trị ““khai sơn phá thạch”, mở rộng vô hạn độ phạm vi nghiên cứu văn học cổ với nghĩa trong khoa học không có đề tài nào là “cấm kỵ”” [33] Một khía cạnh khác đáng chú ý của văn học truyền thống Trung Hoa là mảng chuyện kể về những tình bạn đồng giới (đa phần giữa đàn ông) chủ yếu vẫn được gọi bằng khái niệm “tri âm”, “tri kỷ” (bromance) Ngay trong bộ tiểu thuyết dã sử

thuộc hàng kinh điển “Tứ đại danh tác” là Thủy hử (Thi Nại Am) với việc mô tả

cuộc nổi dậy của những vị anh hùng hảo hán Lương Sơn chống lại triều đình cũng được hiểu như một ví dụ mang tính uyển ước về “tình bạn đồng giới sâu đậm, trung thành và đầy lãng mạn giữa các nam binh sĩ” [103,182]

Tại đất nước mặt trời mọc, văn hóa mang dấu ấn đồng tính đã trở nên rất thịnh trong thời kỳ Edo Người ta vẫn thường nhắc đến tên tuổi của Matsuo Basho (nhà thơ haiku bậc thầy) và Ihara Saikaku (nhà văn tiên phong của thể loại văn chương phù thế) như hai đại biểu điển hình cho kiểu văn chương tình trai Tập

truyện Nam sắc đại giám của I Saikaku mô tả chuyện tình giữa các samurai, các

hòa thượng, các kép hát đã trở thành minh chứng kinh điển cho một gian đoạn văn hóa vô cùng đặc biệt nối dài từ thời Shingon ở Nhật Bản

Trên dải quang phổ của chiếc cầu vồng văn chương lục sắc của nhân loại, so với phương Đông, những mảng màu phương Tây hiện lên rực rỡ hơn hẳn, dường

Trang 31

như chưa từng bị phai nhạt trong dọc dài lịch sử tồn tại Những “đồ đệ” hậu bối của Platon như George Gordon Byron,Walt Whitman, Arthur Rimbaud, Paul Verlaine, Oscar Wilde, Marcel Proust, AndreGide, Federico Garcia Lorca, Virginia Woolf đã cùng nhau viết nên một cuốn đại từ điển cho riêng giới mình và khiến dư luận độc giả phải suy nghĩ nghiêm túc về cách đối xử với văn chương đề tài đồng

tính Cho đến bây giờ, những tác phẩm văn xuôi như Carmilla (Carmilla- Sheridan

Le Fanu),Tiếng trống khác (A different Drum- Chris Davidson), Giếng cô đơn (The Well of loneliness- Radclyffe Hall), Doanh trại nữ (Women’s Barrack - Tereska Torres) rồiBức tranh của Dorian Gray (The Picture of Dorian Gray - Oscar Wilde), Đàn ông giống cái (Female Man -Joanna Russ), Kẻ cô độc (Single Man- Christopher Isherwood) và sau này làChết ở Venice (Death in Venice - Thomas Mann), Giá của nỗi đau (The price of salf- Patrical Highsmith), Chuyện tình núi Mã Yên (Brokeback mountain- E Annie Proulx) vẫn được độc giả khắp nơi tìm đọc, không phải để thỏa mãn trí tò mò mà để thông cảm và thấu hiểu

Như vậy, có thể nói, các thư tịch cổ và vô vàn những huyền thoại từ Đông sang Tây đã cho thấy sự hiện diện của thiên hướng tình dục thiểu số này là có thật,

và lịch sử tồn tại của nó cũng lâu đời như lịch sử loài người vậy Tuy thế, nhân loại cũng đã phải chờ đợi hàng thiên niên kỷ để có một sự kiện Stonewall - chính thức xác lập chỗ đứng trong lòng thế giới của một cộng đồng “dị biệt”, thiểu số Và chờ đợi lâu hơn một chút để có thứ văn học được gọi là “queer” từ những hé lộ rụt rè đến những phơi ngỏ táo bạo Cũng từ đó tới nay, người ta đã đi từ quan niệm cho rằng văn học đồng tính là thứ văn học được viết bởi các tác giả lệch pha, là thứ văn học viết về cộng đồng đồng tính đến một quan niệm rộng mở hơn, “lỏng” hơn: “ là một thứ dải phổ của những biểu hiện về tình trạng mơ hồ và xu hướng lệch chuẩn

về giới tính, thân thể, tình dục vốn rất đa dạng, phức tạp, từ quan hệ luyến ái đồng giới, hiện tượng giả nam/ giả nữ, hiện tượng bị thiến, hiện tượng đổi vai “giới”

trong nghệ thuật tự sự, các hình thức ngụy trang giới tính ” [35,53] Quan niệm

mới mẻ này tỏ ra hợp lý khi khảo sát nội hàm của khái niệm “queer” (“queer” không chỉ có nghĩa là “người đồng tính nam” mà còn có nghĩa là “kỳ quái” “lệch

Trang 32

chuẩn so với chuẩn mực”) Như vậy, bản thân từ “queer” đã hàm chứa một tinh thần

“hậu cấu trúc”, “giải cấu trúc” của các nhà tư tưởng phương tây đầu thế kỷ XX

Cách tiệm cận với đường biên “mềm” và “động” đó sẽ cho chúng ta thấy những thú vị bất ngờ về sự tồn tại và thay đổi của mảng văn học về đề tài đồng tính

ở Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử Và cũng từ đây, không phải võ đoán khi kết luận: đề tài đồng tính trong văn học Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu - bất chấp những rào cản về mặt xã hội, văn hóa - tuy nhiên, để tồn tại, nó đã tự phải tìm vào trú ẩn dưới những lớp vỏ ngụy trang đặc biệt

1.2.2 Những tự sự đồng tính trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XX đến nay :

“từ hình thức ngụy trang đến các tự thuật thú nhận”

Văn học Việt Nam, bất chấp sự phong phú của nó, thực tế lại không lưu giữ những bằng chứng rõ ràng về sự tồn tại của một bộ phận văn học mang tư cách thiểu số Những khái niệm “văn học đồng tính”, “văn học queer” như đã nói luôn phải được hiểu ở một nội hàm rộng nhất và mềm dẻo nhất, ở đó các tình tiết văn học, các yếu tố có tính chất “queer” như mối quan hệ tình cảm, tình dục cùng giới, các thể hiện giới không theo quy định chuẩn giới đương thời đều có thể là đối tượng được xem xét Đồng thời, cũng phải hiểu rằng, nếu “khớp các yếu tố queer này vào định nghĩa LGBT hiện đại sẽ là hạn hẹp, vì nó mang cả những bối cảnh văn hóa, lịch sử, quyền lực chứ không chỉ là tính dục” [136] Trong thời kỳ cổ trung đại, xu hướng lệch chuẩn về giới tính chỉ được đề cập một cách bóng gió qua số ít truyền thuyết và giai thoại lịch sử kể về những nhân vật có hiện tượng nam hóa hoặc nữ hóa Tuy thế, việc “một người phụ nữ có tiếng nói vang như sấm, vú dài ba thước, không thích lấy chồng, ham mê chinh chiến” [136] trong tâm thức của dân gian từ xưa tới nay chỉ gợi lên những đặc điểm tướng tinh ở một con người phi thường Ý nghĩ nào đó dù mơ hồ ám chỉ về sự lệch pha giới tính hẳn sẽ bị xem như một hành động giải thiêng lịch sử đáng lên án

Trang 33

Muộn hơn một chút, nghi thức hầu đồng trong đạo Mẫu bản địa cũng được xem như một hình thức ngụy trang của hiện tượng hoán vị giới mà ở đó sự vượt rào được diễn ra công khai Nếu thật sự không được làm mờ hóa, ảo hóa bằng sương khói tâm linh, thật khó có lời giải thích ổn thỏa cho việc nghịch đảo giới tính này

Trong suốt gần mười thế kỷ tồn tại của văn học trung đại, người ta những tưởng các vấn đề liên quan đến sự bất thường giới tính hoàn toàn là một cấm địa thì không ngờ, nó vẫn được nhắc đến Tuy nhiên, với sự hiểu biết hạn hẹp, người đương thời nhìn nhận những trường hợp nam hóa nữ hay nữ hóa nam chỉ thuần túy như một điềm báo tai dị sắp xảy đến với triều đại và quốc gia, xuất phát từ nguyên

do hoặc “vì hình phạt thiến người quá lạm” hoặc giả “vì phụ nữ tham chính”[128,92].Cùng mượn chuyện quái dị như một cách bao biếm kín đáo, học sĩ

Đan Sơn (sống vào cuối thế kỷ XVIII tại Việt Nam) trong cuốn Sơn cư tạp thuật có truyện “Nữ hóa nam” và Vũ Trinh (trong Lan Trì kiến văn lục) viết “Nữ biến thành

nam” đều thuật lại chuyện những người đàn bà sau cơn bạo bệnh bị thay đổi về sinh dục Bởi những chế định thời đại, các câu chuyện này chủ yếu mới nhìn nhận hiện tượng biến đổi giới dưới góc độ chính trị - đạo đức mà lảng tránh khám phá ở cạnh khía tâm - sinh lý con người Và đề tài đó vẫn còn bỏ lửng cho đến lúc chế độ phong kiến Việt Nam đi tới hồi thoái trào

Sang đầu thế kỷ XX, hầu hết các nguồn tài liệu tiếng Việt được tìm thấy bàn

về các dị thể tính dục đa số đều được dịch hoặc phóng tác từ nước ngoài (ví dụ như

tiểu thuyết Nữ tu sĩ của D.Diderot, chuyên khảo Sài Gòn sau bóng tối của Philip

Marnais ) Rất hiếm tác phẩm văn xuôi do người Việt sáng tác đề cập đến vấn đề luyến ái đồng giới Theo sự tìm kiếm còn nhiều hạn chế của người viết, con số tác phẩm chỉ có thể kể đếm trên đầu ngón tay Trong số ít ỏi đó, có cả các sáng tác phải đặt trong một dải phổ lỏng về giới như đã nói ở trên để xem xét, bởi chúng nhấn mạnh tới những dị thể về mặt tâm lý, mỹ quan thay vì hướng tới hành vi tình dục Đây có lẽ là điều đặc biệt chỉ xuất hiện trong văn học Việt Nam bối cảnh đầu thế

kỷ Tiểu thuyết theo lối chương hồi Người bán ngọc (1931) của Lê Hoằng Mưu, Hồn bướm mơ tiên (1932) của Khái Hưng, một số truyện ngắn trong tản văn Phấn

Trang 34

thông vàng (1939) và Trường ca (1944) của Xuân Diệu, hồi ký Đôi nét về Hàn Mặc

Tử (1962) của Quách Tấn là những dẫn chứng điển hình cho các “động thái

chuyển vị của dục cảm đồng tính trong văn chương Việt” [151] giai đoạn từ và về

thời Pháp thuộc Các tác phẩm khác như truyện ngắn Thủ đoạn (1931) của Vũ Trọng Phụng, phóng sự Hà Nội lầm than (1938) và Vợ lẽ nàng hầu (1949) của Trọng Lang, tiểu thuyết Hầu thánh (1942) của Lộng Chương, Khung rêu (1969) của Nguyễn Thị Thụy Vũ, hồi ký Cát bụi chân ai (1991)của Tô Hoài mặc dù có những

khúc đoạn miêu tả trực tiếp thì xem ra vẫn chưa làm thỏa mãn dư luận về các trường hợp dị thể tính dục còn nhiều lạ lẫm khi đó Những ý kiến trái chiều xung quanh tác phẩm cũng chứng tỏ một thực tế có phần u ám của mảng đề tài bị xem là lạc loài này

Văn học đương đại với khuynh hướng dân chủ hóa đã tạo nhiều cơ hội cho ý thức cá nhân được công khai tự biểu hiện Từ chỗ còn ngập ngừng che đậy (như trường hợp “tình trai” Xuân Diệu ở nửa đầu thế kỷ XX) đến chỗ “come out” của rất nhiều tác giả trẻ thuộc thế hệ 7X, 8X trong thế kỷ XXI, văn học đồng tính Việt Nam

đã đi qua một hành trình khá gập ghềnh Xen giữa hai chặng đường đó là một giai đoạn đặc biệt mà đề tài đồng tính dường như chưa bao giờ trở nên xa lạ hơn thế khi

cả miền Bắc hừng hực trong những “đêm không ngủ” hướng về tiền tuyến lớn miền Nam Nhưng không viết không có nghĩa là không có, không tồn tại Vì nhiều lý do, văn học thời chiến tranh đã chưa dành sự quan tâm đúng mức đến những “ca đồng tính” sinh ra từ những hoàn cảnh đặc biệt mà các nhà kiến tạo luận phương Tây đã

chỉ ra cách đấy gần một thế kỷ (trường hợp truyện ngắn Bố con là đàn bà của Vũ

Bão với những suy tư về cuộc sống hậu chiến của những nữ thanh niên xung phong, những cô lính bộ đội cụ Hồ trong phức cảm tính dục khác thường là một sự “đột

biến đơn độc” mang tính chất queerkhông được quan tâm xứng đáng)

Ngọn gió lành mang tên Đổi mới thổi vào Việt Nam từgiữa thập niên 80 của thế kỷ trước không chỉ đặt ra những câu hỏi lớn về sự nhận thức chân thực mà còn làm đổi thay những nếp nghĩ xưa cũ, tạo cơ hội cho nhiều mảng đề tài trong đời sống văn học được lộ diện, tái sinh Văn xuôi (đặc biệt là tiểu thuyết, tự truyện) viết

Trang 35

về cộng đồng thiểu số LGBT kể từ khi chuyển sang lộ trình thứ hai là “các tự thuật thú nhận” đã đi được một chặng đường gần hai mươi năm (và trong tương lai chắc chắn vẫn còn bước tiếp) Sự ám thị của bản tính tò mò tập thể được cổ vũ bởi không khí cởi mở, dân chủ đã đưa đồng tính từ một đề tài nằm trong “vùng cấm kỵ” vụt trở thành một điểm “hot”, thời sự Bùi Anh Tấn là một trong những nhà văn tiên phong, nhanh nhạy nhất đã “gãi” đúng chỗ ngứa của dư luận Chỉ trong một thời gian ngắn, anh liên tiếp tung ra các tác phẩm ít nhiều làm thỏa mãn cơn đói thông

tin của một thị trường đa số đang ngập ngừng muốn tìm hiểu về những kẻ đi bên lề

mang căn cước giới tính thiểu số ngay cạnh mình Quan sát quá trình viết của Bùi Anh Tấn, có thể thấy sự nỗ lực không ngừng nghỉ để cải thiện giá trị tác phẩm ở việc trau chuốt lời văn, kết cấu nghệ thuật, logic nội dung…của tác giả.Tuy vậy, ở một vài chỗ, khi mải đuổi theo việc dẫn giải, Bùi Anh Tấn dễ để lộ những “cố tật”,

đó là “thích trích dẫn nhiều sách vở vào tiểu thuyết, khiến người đọc dễ bị lạc vào

mê hồn trận lý thuyết mà quên đi nhân vật và cốt truyện”[91, 73 ] Mặc dù thế, Bùi Anh Tấn vẫn là một tên tuổi được mong đợi và kỳ vọng trong sứ mệnh liên thông cộng đồng LGBT với thế giới

Sau phát súng mở màn năm 1999 của Bùi Anh Tấn, thị trường văn xuôi đề tài đồng tính sôi nổi hẳn lên với một loạt tên tuổi: từ Nguyễn Thơ Sinh, Nguyễn Đình Tú, Vũ Đình Giang, Nguyễn Ngọc Thạch đến Nguyễn Quỳnh Trang, Thủy Anna, Vũ Thiên Kiều, Angry Chuột Đáp ứng sự đa dạng của nhu cầu đọc, các tác giả trẻ cũng có những cách xử lý khác nhau đối với đề tài mà mình lựa chọn Từxu hướng “tả chân” về thế giới thứ ba với những khúc đoạn bạo liệt, ám ảnh, một số tác phẩm văn xuôi đồng tính Việt Nam chọn cách lồng ghép hoặc coi LGBT chỉ như một nhánh phụ trong một chủ đề rộng lớn hơn (như nỗi cô đơn, ám ảnh về cái

chết ).Trong số đó, Sông - tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư khiến cho

người đọc vừa ngạc nhiên vừa thích thú bởi sự chuyển hướng đề tài đột ngột ở cây bút tưởng chừng sẽ mãi đóng đinh với những câu chuyện xưa cũ về số phận con người Cách Nguyễn Ngọc Tư miêu tả một lát cắt đời tư của Ân, Bối (người đồng tính) trong hành trình khám phá sông Di không giống như cách viết thường thấy ở

Trang 36

các tác phẩm đã có Có lẽ với Tư, các đề tài đều được đối xử như nhau Người đồng tính hay dị tính đều cần phải sống, cần phải yêu Họ bình thường và bình đẳng giữa cuộc đời Quan niệm đó khiến cho chị không cần lên gân hay cảm thấy bị áp lực lúc phải xử lý một chất liệu đời sống được cho là phức tạp Không quá lạc quan khi cho rằng, có thể nhìn thấy một con đường mới mở cho các nhà văn vẫn muốn tiếp tục khai thác đề tài về đồng tính từ tiểu thuyết đầu tay của cây bút tài năng này

Cùng với các tác phẩm đã xuất hiện trước đó được giới thiệu bởi các nhà xuất bản có tiếng, cần phải kể đến những đóng góp gần đây của các tổ chức như CSAGA, ICS, ISEE đã phát động những cuộc thi sáng tác hoặc giới thiệu sách về chủ đề LGBTđược thẩm định và đánh giá công tâm bởi các chuyên gia trong lĩnh vực sáng tác và nghiên cứu văn chương trong nước như nhà văn Lê Minh Khuê, nhà văn Nguyễn Quang Lập, nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, nhà văn Trang Hạ, các nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn, Ngô Văn Giá, Nguyễn Thị Bình Tuyển tập truyện ngắn

Thuận tay trái, Hạnh phúc là sống thật, Xoạc cẳng đợi mùa xuân là những sản

phẩm văn chương đã được ra mắt trong các trường hợp như thế

Kể từ dấu mốc 1999, văn xuôi về đề tài đồng tính đã ghi nhận một giai đoạn hưng thịnh Hiện tại nó đang có dấu hiệu chững lại, thậm chí còn đứng trước nguy

cơ bị “xâm lăng” bởi những ấn phẩm dạng fake được biết đến dưới các tên gọi đam

mỹ, yaoi…Để mảng văn học này phát triển đúng hướng, trở thành một dòng văn học đích thực mang những tiêu chí thiểu số như cách nhà nghiên cứu Trần Ngọc Hiếu đã chỉ ra là một tương lai cần nhiều thời gianvà nỗ lực.Đã đến lúc, đề tài đồng tính cần vượt qua tình thế tự thú hiện tại để hòa nhập vào đời sống văn chương trong một tâm thế bình thường hóa- như những nhân vật của nó đã mong muốn

1.3 Tình hình nghiên cứu, phê bình văn xuôi đề tài đồng tính ở Việt Nam

Sự thực là giai đoạn trước Đổi mới, vì những thăng trầm ngoắt ngoéo của lịch sử, không có nhiều công trình bàn về văn học đồng tính Việc đánh giá một cách dân chủ, thoải mái về đề tài đồng tính có lẽ chỉ được khởi phát trong vòng hơn chục năm trở lại đây Cùng với sự hiện diện của tác phẩm về đề tài đồng tính, bước

Trang 37

đầu đã xuất hiện các chuyên gia văn học về lĩnh vực giới như Trần Ngọc Hiếu, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Như Bình, Hoàng Tùng (trong nước), Nguyễn Quốc Vinh, Hồ Trường An (hải ngoại) với những nhận định sắc sảo, độc đáo mang tính phát hiện về đặc điểm cũng như tương lai phát triển của văn học

đồng tính nước nhà

Trong quá trình khảo sát tư liệu, bước đầu, chúng tôi thấy rằng: số lượng bài nghiên cứu đánh giá, thẩm bình về đề tài đồng tính trong văn học ở Việt Nam khá phong phú tính đến thời điểm hiện tại Các công trình này được truyền tải tới công chúng qua hai kênh chủ yếu là sách, báo xuất bản và các trang web Tính giá trị thực tế của những nghiên cứu này cũng ở trong tình trạng “vàng thau lẫn lộn”, cần dựa vào những tiêu chí khoa học nhất định để phân biệt Chúng tôi xem những công trình được viết bởi những nhà chuyên môn uy tín có giá trị khoa học tin cậy là trọng tâm của việc khảo sát, các bài viết còn lại (như điểm sách, phỏng vấn báo chí, tư liệu mạng…) có vai trò tham khảo, bổ trợ giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn

về vấn đề nghiên cứu Mặt khác, bởi những bề bộn trong thực tế phê bình văn học đồng tính, chúng tôi tạm thời lấy tiêu chí “diện” và “điểm” như một cách thức tổng thuật khách quan nhất, ngõ hầu làm sáng tỏ phần nào thực tế nghiên cứu về mảng văn học này trong suốt một giai đoạn dài

1.3.1 Những công trình nghiên cứu mang tính lƣợc thuật, tổng quan về đề tài đồng tính

Xuất phát từ những chuyển biến trong việc sáng tác, tiếp nhận các tác phẩm văn học về giới thứ ba được quan sát từ bối cảnh văn học của thế giới, tác giả

Hoàng Tùng trong bài viết “Văn chương đồng tính – từ bóng tối ra ánh sáng” (Tạp

chí Sông Hương số tháng 9/2011) khi nhìn lại hiện tượng đồng tính được phản ánh trong văn học các quốc gia đã cho người đọc cảm giác tin cậy hơn về những thông tin liên quan đến sự phát triển của văn học đồng tính nhân loại, đặc biệt từ giai đoạn hiện đại Bài viết “điểm danh” khá chi tiết những tác giả, tác phẩm đã khơi mào những cuộc tranh cãi kéo dài hàng thế kỷ về sự hiện diện bình đẳng của văn chương

Trang 38

đồng tính, qua đó tác giả nhìn thấy một lộ trình quen thuộc mà văn học đồng tính thế giới đã đi qua : từ chỗ bị kỳ thị, cấm đoán, phải dè dặt ẩn mình trong các hình thức khác đến chỗ được xuất hiện công khai, được đón nhận nồng nhiệt

Không chỉ dành sự quan tâm riêng đến các thành tựu văn học, trong một bài viết khái lược về hiện tượng đồng tính luyến ái của văn học nghệ thuật nói chung, tác giả Triệu Thanh Đàm đã đi từ các sự kiện xã hội để “phục dựng” lại quá trình phát triển của mảng đề tài đồng tính ở các lĩnh vực điêu khắc, hội họa, điện ảnh thế giới Riêng trong địa hạt văn chương, bằng cách chỉ ra “bốn loại nhân vật đặc trưng nhất của văn học đồng tính phản ánh những vấn đề cốt lõi của xã hội chúng ta”[18,10] người viết đồng thời nhìn nhận vai trò của văn học đồng tính trong tương quan với các bộ phận văn học khác, đó là “đem đến tiếng cười vui sống và tiếng cười xót xa của cay đắng cõi đời ( ), cuốn hút và gây trăn trở lương tri nhân loại ( ), kích thích thương tâm và đồng cảm xã hội ( ), đòi các quyền chính đáng cho tình yêu cùng giới - các quyền mà mọi người yêu khác giới nghiễm nhiên được hưởng với sự bảo vệ của pháp luật”[18, 62]

Cũng tiếp cận văn chương đồng tính bằng cái nhìn tuyến tính, bài viết Vĩ đại như văn học đồng tính(tác giả Triêu Nhan, BáoThể thao và Văn hóa, ngày

30/11/2011) đã giúp người đọc có một hình dung khá đầy đủ về lượng tác phẩm cũng như bộ phận tác giả làm nên sự phong phú của đề tài nhạy cảm này Để minh chứng cho nhận định “Xét về tính truyền thống và sự vĩ đại, văn chương đồng tính chẳng hề kém cỏi so với các dòng văn học khác”[65,14], người viết bài đã đưa ra những điển hình cổ - kim trong lịch sử tồn tại của nhân loại, viện dẫn những tên tuổi nổi danh như Marcel Proust, Andre Gide, Federico Garcia Lorca, Mikhail Kuzmin (đôi chỗ có xu hướng tụng ca quá mức về thành tựu đã có của văn học đồng tính).Tuy vậy, bài viết chủ yếu nhìn nhận những hiện tượng này dưới góc độ xã hội học thuần túy, mới chỉ làm thỏa mãn được nhu cầu về tin tức của một bộ phận độc giả tò mò ít quan tâm tới giá trị văn chương

Trang 39

Có thể thấy, cả ba bài viết đều dùng định danh “văn chương đồng tính” trong cách hiểu mặc nhiên là tài sản của nhân loại nói chung Chính điều này khiến người xem có cảm giác thiếu hụt, bởi mảng văn học đồng tính Việt Nam hầu như chưa được đả động tới

Tháng 7 năm 2013, trên tạp chí khoa học trường đại học sư phạm thành phố

Hồ Chí Minh (số 49) có bài viết Đề tài đồng tính trong một số tác phẩm văn học Việt Nam của tác giả Nguyễn Như Bình cũng đã cung cấp một cái nhìn mang tính

tổng quan về vấn đề gây nhiều tranh cãi này Với phạm vi nghiên cứu khá tự do, người viết tập trung bàn về hiện tượng Xuân Diệu và các tác phẩm ra đời sau dấu mốc 1999 Tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, trường hợp Xuân Diệu cùng các tác phẩm của Bùi Anh Tấn, Vũ Đình Giang, Nguyễn Đình Tú, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Thạch được người viết nhắc tới vẫn chỉ mang tính chất “bàn lại” ý kiến của những người đi trước Giá trị của bài viết có lẽ nằm ở phần cuối khi người viết đặt ra câu hỏi “ Có hay không dòng văn học đồng tính ở Việt Nam?” Tác giả cho rằng “không thể nói rằng Việt Nam đã có dòng văn học đồng tính khi chỉ có vài đầu sách và chừng ấy tác giả được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trên các phương tiện truyền thông đại chúng” [7,158]

Bên cạnh những bài viết bàn tới bình diện rộng mang tính phổ quát của văn học đồng tính nói chung như đã trình bày ở trên, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới

công trình của các nhà nghiên cứu chuyên sâu Có thể kể đến các bài: Văn học queer: hướng đến một dòng văn học thiểu số ở Việt Nam, Văn học đồng tính ở Việt Nam - từ những hình thức ngụy trang đến các tự thuật thú nhận (Trần Ngọc Hiếu (Hải Ngọc)), Những nhục thể biến dị và các động thái chuyển vị của dục cảm đồng tính trong văn chương Việt Nam từ và về thời Pháp thuộc(Nguyễn Quốc Vinh)

Trong số các tác giả này, Trần Ngọc Hiếu là người đầu tiên sử dụng khái niệm “thiểu số” (tiếp thu ý tưởng của hai nhà nghiên cứu người Pháp Gilles Deleuze

và Félix Guattari nhận xét về văn chương Franz Kafka) để “định dạng” văn học đồng tính Việt Nam Cũng theo học giả, cần hình dung về văn học đồng tính trong

Trang 40

một định nghĩa “lỏng”: “đó không phải là dòng văn học được xác lập bởi một nhóm tác giả đặc thù hay xoay quanh những nhân vật có độ nhiễu về bản sắc giới tính Văn học đồng tính nên được xem như một dải phổ của những biểu hiện về tình trạng mơ hồ và xu hướng lệch chuẩn về giới tính vốn rất đa dạng, phức tạp từ quan

hệ luyến ái đồng giới, hiện tượng giả nam/giả nữ, hiện tượng bị thiến, hiện tượng đổi vai “giới” trong nghệ thuật tự sự, các hình thức ngụy trang giới tính ”[35, 53] Quan điểm mới và mang tính mở này đã khiến nhiều người làm công tác phê bình phải suy nghĩ, bởi đề xuất định nghĩa “lỏng” về một bộ phận văn chương còn gây nhiều tranh cãi rõ ràng đã khước từ những cách hiểu xơ cứng, đơn giản đến nghèo nàn vẫn tồn tại từ trước tới nay Có thể sẽ có nhiều người không đồng tình nhưng thiết nghĩ, với đặc thù “không biên giới” trong cả lĩnh vực sáng tác và phê bình, văn chương muôn đời luôn ẩn chứa những bất ngờ trong các sự kiện tưởng như đã hiển hiện Phát biểu cá nhân này của tác giả Trần Ngọc Hiếu khiến chúng tôi không khỏi nghĩ đến một số trường hợp trong văn học Việt Nam giai đoạn Đổi Mới trở về trước

vì hoàn cảnh thời đại đã chưa được nhìn nhận thỏa đáng

Bên cạnh đó, phóng chiếu cách diễn giải của Deleuze , tác giả bài báo nhận thấy văn học đồng tính ở Việt Nam “về cơ bản vẫn là văn chương của/về một cộng

đồng thiểu số hơn là một thứ văn chương thiểu số như nó nên là” [35, 53] Cách

người viết so sánh con đường mà văn học đồng tính Việt Nam đã đi trong một lịch

sử xuyên suốt từ thời khởi nguyên dân gian, chảy qua những khúc quanh co của thời

kỳ trung đại và tạm thời dừng chân ở giai đoạn đương đại là lộ trình đi “từ những hình thức ngụy trang đến các tự thuật thú nhận” mang tính phát hiện được nhiều nhà phê bình đồng tình Nhấn mạnh vào hai trường hợp: Xuân Diệu (trước Đổi mới) và

Nguyễn Văn Dũng (tác giả của tự truyện đồng tính đầu tiên Bóng- sau Đổi mới),

Trần Ngọc Hiếu cho rằng “( ) tự thú dường như là nội dung quan trọng nhất Đến mức người ta có thể nghĩ: văn học đồng tính ở Việt Nam là văn học tự thú” [34, 98] Kết luận của bài viết đã giúp cho độc giả thấy được lịch sử tồn tại của văn học đồng tính nước nhà trong trạng thái sinh động, phức tạp của nó Chỉ tiếc là do khuôn khổ của một bài báo, tác giả chưa có điều kiện để phát triển những điểm khả thủ đó một

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w