Dưới góc nhìn xã hội học, việc tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt phản ánh nhiều chiều cạnh khác nhau của đời sống đô thị, từ tính chuyên nghiệp của một loại dịch vụ xã hội đến việc quản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LAN
TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG NƯỚC SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN TẠI CÁC KHU TÁI ĐỊNH CƯ
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LAN
TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG NƯỚC SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN TẠI CÁC KHU TÁI ĐỊNH CƯ
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Chuy n ng nh: X hội học
M số:62310301 Người hướng dẫn khoa học: GS TS ĐẶNG NGUYÊN ANH
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án Tiến sĩ X hội học với đề t i: “Tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân tại các khu tái định cư ở Hà Nội hiện nay” l công
trình do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, chính xác v chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận án đ được ghi rõ nguồn gốc Nếu
có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Lan
Trang 4Tiếp đến, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, đồng nghiệp trong Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội v Nhân văn, Đại học quốc gia
Hà Nội đ tạo nhiều điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 11
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 13
6 Khung phân tích: 14
7 Những đóng góp mới của luận án 15
8 Kết cấu của luận án 16
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 17
1.1 Tình hình nghiên cứu về tiếp cận và sử dụng nước 17
1.2 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng nước24 CHƯƠNG 2.CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Các khái niệm liên quan tới vấn đề nghiên cứu 41
2.1.1 Tiếp cận và tiếp cận nước 41
2.1.2 Sử dụng nước 43
2.1.3 Tái định cư 43
2.1.4 Khái niệm nước sinh hoạt 45
2.2 Các lý thuyết trong nghiên cứu tiếp cận và sử dụng nước 46
2.2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng 47
2.2.2 Lý thuyết phân tầng xã hội 49
2.3 Một số quan điểm và chính sách của Nhà nước và của Hà Nội về cung cấp nước sạch cho người dân 51
2.4 Phương pháp nghiên cứu 57
Trang 62.5 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu 60
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG NƯỚC SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN TẠI CÁC KHU TÁI ĐỊNH CƯ Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 64
3.1 Thực trạng tiếp cận nước sinh hoạt của người dân ở các khu TĐC 64
3.1.1 Tiếp cận thông tin về nước sinh hoạt 64
3.1.2 Tiếp cận dịch vụ cấp nước 73
3.1.3 Tiếp cận giá nước 84
3.1.4 Tiếp cận chất lượng nước 92
3.2 Thực trạng sử dụng nước sinh hoạt của các hộ gia đình TĐC 100
3.2.1 Loại nước sử dụng và mục đích sử dụng nước 100
3.2.2 Cách thức sử dụng nước 103
3.3 Mức độ hài lòng của người dân TĐC trong sử dụng nước sinh hoạt 109
3.4 Thích ứng đối với những vấn đề phát sinh trong tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt 112
3.4.1 Thích ứng ở cấp độ hộ gia đình 112
3.4.2 Thích ứng ở cấp độ cộng đồng 114
3.4.3 Sức khoẻ và các vấn đề xã hội li n quan đến ứng phó 119
CHƯƠNG 4:NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG NƯỚC SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN TẠI CÁC KHU TÁI ĐỊNH CƯ Ở HÀ NỘI 124
4.1 Nhóm những yếu tố về chính sách, quản lý tổ chức thực hiện và cơ sở hạ tầng 124
4.1.1 Chính sách và hệ thống pháp luật của Nh nước 124
4.1.2 Hệ thống tổ chức, thực hiện cung cấp nước sinh hoạt 130
4.1.3 Cơ sở hạ tầng về nước 141
4.2 Nhóm yếu tố về đặc điểm của hộ gia đình 146
4.2.1 Quy mô và thành phần hộ gia đình 146
4.2.2 Thu nhập của hộ gia đình 149
4.2.3 Địa b n tái định cư 152
Trang 74.2.4 Thời gian sinh sống tại khu tái định cư 155
4.3 Phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân TĐC 157
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 173
1 Kết luận 173
2 Khuyến nghị 176
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 180
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 181
PHỤ LỤC 197
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu mẫu của cuộc khảo sát 59
Bảng 3.1 Thông tin về nước m người dân nhận được khi chuyển về sinh sống tại khu tái định cư 66
Bảng 3.2: Tiếp cận thông tin về nước sinh hoạt của người dân 70
theo khu tái định cư (Tỷ lệ %) 70
Bảng 3.3: Đánh giá của người dân về thực trạng cấp nước máy hiện nay 78
Bảng 3.4: Biểu giá bán nước sinh hoạt cho người dân ở Hà Nội hiện nay 84
Bảng 3.5: Đánh giá về giá nước máy đang sử dụng theo địa b n tái định cư, 88
Bảng 3.6: Đánh giá về chất lượng nước sinh hoạt theo địa b n tái định cư 92
Bảng 3.7 Mức độ lọc nước theo các mục đích sử dụng (Tỷ lệ %) 96
Bảng 3.8: Các cách lọc nước của các hộ gia đình ở khu TĐC (Tỷ lệ %) 104
Bảng 3.9: Mục đích v số lần lọc nước sinh hoạt của các hộ gia đình khu TĐC (Tỷ lệ %) 105
Bảng 3.10: Chi phí xử lý nước sinh hoạt trung bình của các hộ gia đình TĐC ở Hà Nội nói chung v phân theo địa bàn 107
Bảng 3.11: Lý do khiến người dân TĐC không h i lòng với nước sinh hoạt 110
Bảng 3.12: Ứng phó của người dân tái định cư do thiếu nước theo giới tính (Tỷ lệ %) 120
Bảng 4.1: Đánh giá của người dân về nội dung quản lý dịch vụ cấp nước sinh hoạt ở khu TĐC của các bên liên quan 131
Bảng 4.2: Đánh giá của người dân TĐC đối với chủ đầu tư trong việc giải quyết các vấn đề về nước theo loại nh TĐC 135
Bảng 4.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng về nước m người dân ở các khu chung cư TĐC đ gặp phải khi về khu TĐC (Tỷ lệ %) 142
Bảng 4.4: Lượng nước máy sử dụng hàng tháng theo 147
quy mô hộ gia đình 147
Bảng 4.5: Lượng nước máy sử dụng theo quy mô hộ gia đình (Tỷ lệ %) 148
Trang 10Bảng 4.6: Lượng nước máy mà các hộ gia đình sử dụng 149
theo số trẻ em trong hộ 149
Bảng 4.7: Thu nhập của hộ gia đình v khối lượng nước máy sử dụng 150
Bảng 4.8: Chi phí xử lý nước sinh hoạt v địa b n tái định cư 153
Bảng đồ 4.9 Đánh giá của người dân tái định cư về cơ sở hạ tầng theo thời gian sinh sống tại khu tái định cư 155
Bảng 4.10 Đánh giá về sự kịp thời của các bên liên quan trong giải quyết các vấn đề về nước 156
Bảng 4.11: Mô tả đặc điểm các biến độc lập và phụ thuộc 157
Bảng 4.12.Kết quả mô hình hồi quy OLS các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng nước sinh hoạt hộ gia đình sử dụng 159
Bảng 4.13: Mô tả đặc điểm các biến độc lập và phụ thuộc 161
Bảng 4.14 Mô hình hồi quy logistic về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng với nước máy của các hộ gia đình ở khu TĐC đ có nước máy 163
Bảng 4.15 Bảng mức độ giải thích của biến độc lập đến biến số phụ thuộc 164
Bảng 4.16: Mô tả đặc điểm các biến độc lập và phụ thuộc 165
Bảng 4.17 Mô hình hồi quy logistic về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có đủ nước máy để sử dụng của các hộ gia đình tại khu TĐC đ có nước máy 167
Bảng 4.18 Bảng mức độ giải thích của biến độc lập đến biến số phụ thuộc 169
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Mức độ tiếp nhận thông tin khi bị mất nước 68
Biểu đồ 3.2: Ý kiến đánh giá về mức đáp ứng của nước máy cho nhu cầu sinh hoạt của các hộ tại khu TĐC đ có nước máy 77
Biểu đồ 3.3: Số lần mất nước máy của các hộ gia đình 80
Biểu đồ 3.4.Thời gian trung bình mỗi lần mất nước của hộ gia đình theo địa b n tái định cư 81
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ tiền nước một tháng phải trả tr n thu nhập 86
trung bình của hộ gia đình ở khu chung cư TĐC 86
Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ tiền nước phải trả tr n thu nhập trung bình 87
theo địa b n tái định cư 87
Biểu đồ 3.7: Mục đích sử dụng các loại nước thay thế của 101
người dân TĐC ở khu vực chưa có nước máy 101
Biểu đồ 3.8: Mức độ h i lòng của người dân khu TĐC với các loại nước sinh hoạt chính (nước máy v nước giếng khoan) đang sử dụng 109
Biểu đồ 4.1 Sử dụng nước giếng khoan cho mục đích ăn uống theo thu nhập của các hộ gia đình TĐC ở khu vực chưa có nước máy 151
Biểu đồ 4.2: Mức độ h i lòng về giá nước sinh hoạttheo địa b n tái định cư 154
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dịch vụ cấp nước là một trong những dịch vụ xã hội cơ bản nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Tiếp cận nước sinh hoạt là vấn đề quan trọng ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ, thời gian và nguồn lực kinh tế của mỗi cá nhân và các hộ gia đình Đây đồng thời cũng là quyền cơ bản của con người Cá nhân và cộng đồng không thể duy trì được sức khoẻ, không đạt được các mục tiêu phát triển khi không được tiếp cận với nguồn nước an toàn [WaterAid, 2011] Cho đến năm 2015, 663 triệu người sử dụng nước từ các nguồn không đảm bảo, trong đó, 159 triệu người vẫn đang phải sống dựa vào các nguồn nước mặt [WHO & UNICEF, 2017] Ở rất nhiều quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người thấp và trung bình, nước sinh hoạt vẫn đang thiếu trầm trọng Gần một nửa số người uống nước từ các nguồn không đảm bảo sống ở khu vực Châu Phi [WHO & UNICEF, 2017] Đối với các nước ở Châu Á, mặc dù vấn đề tiếp cận nước đ được cải thiện dần trong hơn hai thập kỷ qua, song đây vẫn là khu vực tụt hậu so với một số khu vực khác Riêng ở khu vực Đông Nam Á, mặc dù tỷ lệ tiếp cận nước sạch đ được cải thiện, tuy nhiên, vẫn chưa đạt được mức như ở các nước phát triển Do vậy, vấn đề về tiếp cận nước từ nguồn nước an toàn cho tất cả mọi người, đặc biệt l người dân ở những nước chậm
và đang phát triển đang l một trong những vấn đề được quan tâm h ng đầu tại các diễn đ n, hội nghị toàn cầu về các mục tiêu thiên niên kỷ và phát triển bền vững Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), đối vấn đề nước và vệ sinh môi trường, là tiếp cận, phổ cập nước uống an toàn và giá cả phải chăng cho tất cả mọi người vào năm 2030 [WHO & UNICEF, 2017]
Ở Việt Nam, bùng nổ dân số cùng với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh đ tạo ra sức ép lớn tới môi trường sống, đặc biệt là nguồn nước đang ngày càng trở nên thiếu hụt và ô nhiễm Ở các thành phố lớn như H Nội, thành phố Hồ Chí Minh, , sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận nước giữa các nhóm dân cư sống tại các khu chung cư cao cấp và khu vực tập trung đông người thu nhập thấp sinh sống đang ng y c ng tăng Ở hai thành phố lớn nhất của Việt Nam, mặc dù tỷ lệ sử
Trang 13dụng dịch vụ nước, nói chung là cao, nhưng chỉ có 43% trong nhóm thấp nhất (20% người nghèo nhất) có điều kiện có vòi nước máy uống riêng, so với 75% nhóm giàu nhất [Ngân hàng Thế giới, 2017]
Tại Hà Nội, sau khi mở rộng địa giới h nh chính năm 2008, h ng năm H Nội thực hiện rất nhiều dự án li n quan đến thu hồi đất, giải phóng mặt bằng Chính sách hỗ trợ nhà tái định cư (TĐC) đ giúp nhiều hộ dân có chỗ ở, ổn định cuộc sống sau khi thu hồi đất Tuy nhiên, quá trình giải toả, đền bù, di dời trên thực tế đang tồn tại rất nhiều vấn đề, một trong số đó l những khó khăn trong tiếp cận và sử dụng nước của người dân TĐC
Về mặt thực tiễn, hiện tại một trong những vấn đề nổi cộm ở các khu tái định cư, đó l , tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; trong đó, có tiếp cận dịch vụ nước
Ở Hà Nội, trong một v i năm qua, đ có không ít các sự cố về nước, về vệ sinh môi trường nước sinh hoạt li n quan đến cộng đồng dân TĐC: mất nước sinh hoạt thời gian dài, chất lượng nước sinh hoạt kém, vỡ bể chứa nước, thậm chí là có khu vực không được cấp nước máy để sử dụng… Những vấn đề này trở n n đặc biệt nghiêm trọng khi mùa hè bắt đầu, nhu cầu nước sinh hoạt gia tăng Thực tế này đ diễn ra trong thời gian dài ở nhiều nơi v được phản ánh rất nhiều tr n các phương tiện thông tin, truyền thông Bởi tiếp cận với nước sinh hoạt an toàn là nhu cầu cơ bản tất yếu của mỗi người Việc không có nước an to n để sử dụng đ ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe và sự phát triển của mỗi cá nhân, gia đình, x hội Thêm vào
đó, ngay tại thủ đô, việc không được tiếp cận nước đầy đủ, an to n cho người dân
m đặc biệt là cộng đồng dân TĐC - nhóm dân cư m theo chính sách của Nh nước phải được tạo điều kiện sinh sống ở nơi chuyển đến tốt hơn hoặc ít nhất là bằng nơi
ở cũ Đây là vấn đề cần quan tâm, tìm hiểu và giải quyết Như vậy, để thủ đô H Nội phát triển bền vững, nhiều vấn đề về kinh tế – xã hội cần phải quan tâm giải quyết Trong đó, xây dựng, củng cố, hoàn thiện các khu TĐC, đảm bảo các dịch vụ
xã hội cơ bản cho cộng đồng dân cư đến sống trong những khu TĐC n y l một nhiệm vụ cấp thiết Ở đây, tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt
Trang 14có hiệu quả cho người dân TĐC l một trong những vấn đề cần được nghiên cứu, góp phần giải quyết
Trên bình diện lý luận, những nghiên cứu về người dân tái định cư đ được thực hiện ở cấp độ với các chiều cạnh khác nhau Những nghiên cứu về cuộc sống của người dân người dân TĐC cũng đ được các tác giả đi trước nghiên cứu, nhưng chủ yếu trong lĩnh vực môi trường, kinh tế hoặc dưới góc độ về quản lý đô thị Tuy nhiên, vẫn thiếu vắng những nghiên cứu về nhóm dân cư n y chỉ tập trung vào vấn
đề về tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt Đặc biệt, những khía cạnh xã hội của vấn
đề nghiên cứu chưa được nhiều tác giả khai thác Vì vậy, tìm hiểu những khía cạnh
xã hội của vấn đề n y trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội học là vấn đề cần thiết Dưới góc nhìn xã hội học, việc tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt phản ánh nhiều chiều cạnh khác nhau của đời sống đô thị, từ tính chuyên nghiệp của một loại dịch
vụ xã hội đến việc quản lý đô thị, từ những khác biệt xã hội giữa các nhóm xã hội trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ xã hội đến đảm bảo quyền an sinh xã hội của người dân…
Xuất phát từ lý do thực tiễn và lý luận như tr n, nghiên cứu sinh lựa chọn
vấn đề: “Tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân tại các khu tái định cư
ở Hà Nội hiện nay” để làm đề tài luận án tiến sỹ Xã hội học
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án vận dụng một số lý thuyết xã hội học để giải thích những vấn đề trong tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản – tiếp cận dịch vụ cấp nước sinh hoạt Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ hơn cơ sở lý thuyết cho việc tiếp cận và sử dụng nước, với những khía cạnh xã hội đ v đang tạo ra những bất cập trong tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân tái định cư ở Hà Nội hiện nay
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu l căn cứ khoa học để đưa ra một số khuyến nghị giúp các nhà hoạch định chính sách có cơ sở bổ sung, hoàn thiện các chính sách và pháp
Trang 15luật, đối với người dân TĐC, nhằm ổn định cuộc sống, đảm bảo việc tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt cho cộng đồng dân TĐC, góp phần phát triển đô thị bền vững
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của của người dân TĐC ở Hà Nội hiện nay Tr n cơ sở này đưa ra những khuyến nghị nhằm tăng cường chất lượng dịch vụ cấp nước sạch, góp phần
ổn định cuộc sống của người dân tái định cư, hướng tới phát triển đô thị bền vững
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những nghiên cứu đi trước về tiếp cận và sử dụng nước
nhằm mục đích tìm hiểu lịch sử của vấn đề nghiên cứu cũng như xác định cơ sở lý luận, các lý thuyết tiếp cận v cơ sở thực tiễn cho nghiên cứu tiếp cận và sử dụng nước của người dân TĐC
- Phân tích và làm rõ thực trạng tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân tại các khu TĐC ở Hà Nội hiện nay Đồng thời chỉ rõ những yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân TĐC ở Hà Nội hiện nay
- Đề xuất một số khuyến nghị đối với các bên liên quan nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước; thúc đẩy việc tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt an toàn cho người dân khu tái định cư, góp phần ổn định cuộc sống của họ, hướng tới phát triển đô thị bền vững
4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân tại các khu TĐC ở Hà Nội hiện nay
4.2 Khách thể nghiên cứu
+ Người dân ở các khu tái định cư ở Hà Nội
+ Cán bộ chuyên trách về quản lý đô thị tại địa phương
Trang 164.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung:
Trong luận án này, nghiên cứu sinh tập trung tìm hiểu việc tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân ở các khu TĐC tại Hà Nội Nước ở đây l các loại nước được sử dụng cho mục đích sinh hoạt hàng ngày của các hộ gia đình dùng cho các mục đích như: ăn uống, tắm giặt, lau rửa và các sinh hoạt khác
- Phạm vi không gian:
Nghiên cứu được tiến hành tại ba khu TĐC thuộc hai quận Hoàng Mai và quận Nam Từ Li m Đây đều là những quận mới được thành lập sau khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính v o năm 2008 v đều là những quận ven đô n n tập trung khá nhiều các khu TĐC Cụ thể như sau:
+ Tại địa bàn quận Hoàng Mai: tác giả lựa chọn hai khu:
o Khu TĐC Đền Lừ 2: gồm 5 toà nhà TĐC A1-A5, phường Ho ng Văn Thụ
o Toà nhà TĐC No6 thuộc khu đô thị Pháp Vân – Tứ Hiệp, phường Hoàng Liệt + Tr n địa bàn quận Nam Từ Liêm, tác giả lựa chọn khu TĐC Tu Hoàng, phường Phương Canh
Đây l những khu TĐC gặp các vấn đề khác nhau trong tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt - những vấn đề khá tiêu biểu thường gặp ở các khu TĐC hiện nay
Tại khu TĐC Đền Lừ, người dân chủ yếu là dân chuyển về do xây Cầu Vĩnh Tuy Các hộ sớm nhất chuyển về từ năm 2005, 2006 Cho đến nay, vấn đề chủ yếu về nước sinh hoạt các hộ dân gặp phải là sự xuống cấp của hệ thống đường ống nước, hạ tầng về nước, chất lượng nước và nhiều khó khăn trong sự chuyển giao hạ tầng về nước giữa chủ đầu tư và xí nghiệp nước
Tại toà nh TĐC No6 ở khu đô thị Pháp Vân – Tứ Hiệp, giá nước sinh hoạt
m người dân phải trả lại cao hơn khá nhiều so với mặt bằng giá chung của thành phố Nguy n nhân l do người dân chỉ được mua nước qua đồng hồ tổng từ chủ đầu
tư, nước bị thất thoát nhiều trong quá trình sử dụng Th m v o đó, người dân không được ký hợp đồng với xí nghiệp nước do khó khăn trong chuyển giao hạ tầng về nước giữa chủ đầu tư v xí nghiệp nước Người dân đầu tiên chuyển đến đây từ
Trang 17những năm 2010 Đặc thù của khu này là dân TĐC từ nhiều địa bàn khác nhau đến sinh sống
Nếu hai khu TĐC ở địa bàn quận Ho ng Mai đều là những toà nhà chung
cư cao tầng thì ở khu tái định Tu Ho ng, Phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm,
là khu TĐC được đền bù bằng đất nền Người dân TĐC ở đây đều là dân chuyển cư
do giải toả đường 32, những hộ gia đình đầu tiên chuyển về khu này từ năm 2010 Mặc dù đ chuyển về khu TĐC ở một thời gian khá lâu, nhưng đến thời điểm khảo sát (năm 2017), các hộ gia đình ở khu TĐC này vẫn chưa được cấp và sử dụng nước máy, họ chủ yếu phải sử dụng nước giếng khoan để sinh hoạt
Trong luận án, tác giả thống nhất cách gọi ba khu TĐC n y theo t n khu vực như sau: Khu TĐC Đền Lừ, Khu TĐC Pháp Vân - Tứ Hiệp v Khu TĐC Tu Hoàng
Ở một số nội dung để làm rõ sự khác biệt giữa hai nhóm nh TĐC, tác giả phân thành hai loại l Chung cư TĐC v Khu TĐC nh đất Trong đó, chung cư TĐC gồm hai khu l Khu TĐC Đền Lừ và tòa nhà No6 ở Khu TĐC Pháp Vân – Tứ Hiệp Còn khu TĐC nh đất l Khu TĐC Tu Ho ng (phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm)
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2014 đến tháng 12/2018
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Thực tiễn tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân TĐC ở Hà Nội hiện nay như thế nào?
Câu hỏi 2: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân tái định cư ở Hà Nội hiện nay?
Câu hỏi 3: Các bên liên quan cần phải làm gì để tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt an toàn, góp phần ổn định cuộc sống của người dân tái định cư ở Hà Nội hiện nay?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 18Giả thuyết 1: Người dân ở một số khu TĐC ở Hà Nội hiện nay gặp nhiều
khó khăn trong tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt như: không được cung cấp đầy
đủ thông tin về nước; dịch vụ cấp nước ở một số khu vực không đủ đáp ứng nhu cầu; chất lượng nước không đảm bảo; giá nước cao
Giả thuyết 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng nước sinh
hoạt của người dân TĐC l đặc điểm của hộ gia đình như quy mô của hộ gia đình, thời gian cư trú tại khu TĐC, thu nhập của hộ gia đình, địa b n TĐC B n cạnh đó, chính sách của nh nước; thực tế tổ chức, quản lý, giám sát của các bên liên quan ở khu TĐC và hiện trạng cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội về nước ở các khu TĐC cũng l những yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của nhóm dân
cư n y
Giả thuyết 3: Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bên liên quan trong
việc ban hành chính sách, quản lý, tổ chức, giám sát tại khu TĐC, cải thiện hạ tầng
kỹ thuật về nước… để tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt an toàn cho người dân TĐC, góp phần phát triển thủ đô bền vững
6 Khung phân tích:
Thích ứng của của
hộ gia đình
Điều kiện kinh tế xã hội Hà Nội
Đặc điểm của hộ gia đình và
TĐC của các bên liên quan
- Điều kiện cơ sở hạ tầng về
Tiếp cận nước sinh hoạt :
- Tiếp cận thông tin về nước
Trang 197 Những đóng góp mới của luận án
Mặc dù nghiên cứu về tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt không phải là một vấn đề hoàn toàn mới trên thế giới và Việt Nam Tuy nhiên, luận án có những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn Những đóng góp của luận án thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, luận án đ tìm hiểu vấn đề tiếp cận và sử dụng nước của một bộ
phận dân cư đặc thù: những người dân TĐC ở đô thị Những nghiên cứu trước đây
về vấn đề n y thường đối với người dân nói chung hoặc các hộ nghèo Đối với người dân TĐC, các nghi n cứu thường tập trung vào rất nhiều mặt đời sống mà ít nghiên cứu chỉ tập trung vào một nội dung li n quan đến tiếp cận và sử dụng nước
Thứ hai, luận án đ vận dụng tổng hợp các lý thuyết xã hội học trong
nghiên cứu về tiếp cận và sử dụng nước Đó l tiếp cận từ lý thuyết cơ cấu chức năng, lý thuyết phân tầng xã hội
Thứ ba, luận án được tiến h nh tr n địa bàn thành phố Hà Nội (khu vực nội
đô) Th nh phố Hà Nội trong quá trình đô thị hoá mạnh đặc biệt là sau khi mở rộng địa giới hành chính từ năm 2008, đ có rất nhiều dự án tái định cư, từ đó phát sinh rất nhiều vấn đề xã hội Những nghiên cứu về tái định cư ở Hà Nội mặc dù đ có nhiều và trên những khía cạnh khác nhau nhưng chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể chỉ tập trung vào một vấn đề về nước sinh hoạt tr n địa bàn thành phố
Thứ tư, nghiên cứu về tiếp cận và sử dụng nước cũng đ được các tác giả đi
trước nghiên cứu, nhưng chủ yếu trong lĩnh vực môi trường, kinh tế Những khía cạnh xã hội của vấn đề nghiên cứu chưa được nhiều tác giả khai thác Vì vậy, nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung tìm hiểu những khía cạnh xã hội của vấn đề
n y trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội học Dưới góc nhìn xã hội học, việc tiếp cận
và sử dụng nước sinh hoạt phản ánh nhiều chiều cạnh khác nhau của đời sống đô thị,
từ tính chuyên nghiệp của một loại dịch vụ xã hội đến việc quản lý đô thị, từ những khác biệt xã hội giữa các nhóm xã hội trong việc tiếp cận dịch vụ xã hội đến đảm bảo quyền an sinh xã hội của người dân TĐC – nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong quá trình đô thị hóa nhanh hiện nay
Trang 208 Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu thành 3 phần chính: mở đầu, nội dung nghiên cứu chính, kết luận và khuyến nghị
Nội dung nghiên cứu chính được chia th nh 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghi n cứu
Chương 3: Thực trạng tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân tại các khu TĐC ở Hà Nội hiện nay
Chương 4: Những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân tại các khu TĐC ở Hà Nội hiện nay
Trang 21CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tiếp cận nước sinh hoạt an to n, đảm bảo sự tham gia bình đẳng giữa các nhóm xã hội là mục tiêu phát triển bền vững Trên thế giới và ở Việt Nam, thực trạng tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt đ được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu đặc biệt là ở khu vực nông thôn Nội dung chính của chương n y l tổng hợp các công trình nghiên cứu đi trước, liên quan tới chủ đề về tiếp cận và sử dụng nước và những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt Từ đó, luận án chỉ ra những khoảng trống còn tồn tại trong lĩnh vực nghiên cứu về tiếp cận
và sử dụng nước sinh hoạt để xác định hướng nghiên cứu mới cho luận án này Tổng hợp các nghiên cứu đi trước, luận án chia ra 2 nhóm chủ đề: Những nghiên cứu về tình hình tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt và các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế
1.1 Tình hình nghiên cứu về tiếp cận và sử dụng nước
Tiếp cận nước sinh hoạt là chủ đề của nhiều nghiên cứu trên thế giới đặc biệt các nghiên cứu với nhóm đối tượng đặc thù yếu thế, nhóm người nghèo ở các nước đang phát triển ở Châu Á và Châu Phi
Nước là một nguồn tài nguyên rất quan trọng Theo Esrey (1996), như được trích dẫn trong Whitford và cộng sự (2010), việc tiếp cận nước an toàn và hợp vệ sinh là rất quan trọng trong việc phá vỡ các rào cản và góp phần đưa người dân thoát khỏi đói nghèo Điều n y có nghĩa l việc tiếp cận nước sinh hoạt an toàn và hợp vệ sinh không chỉ làm giảm gánh nặng bệnh tật m còn l m tăng năng suất lao động của các cá nhân, làm giảm đói nghèo, tăng thu nhập và cải thiện tình trạng sức khoẻ Tác giả kết luận rằng có hai mối liên kết quan trọng nhất giữa môi trường, phát triển và sức khoẻ con người là tiếp cận với nước uống sạch và khả năng quản
lý chất thải của cộng đồng thông qua cải thiện vệ sinh Garmendia và cộng sự (2004), Datt.G và Ravallion.M (1998), trong nghiên cứu của họ đ đưa đến kết luận
Trang 22rằng, những cải tiến về cơ sở hạ tầng như nước sinh hoạt và vệ sinh, giao thông vận tải và viễn thông có tác động lớn đến giảm nghèo
Nước sinh hoạt là một thành phần thiết yếu của cuộc sống, tính sẵn có và chất lượng của nó là rất quan trọng Lợi ích li n quan đến việc sử dụng nước sinh hoạt an toàn như tác động lên sức khoẻ, tiết kiệm thời gian v năng suất cao là rất lớn [United Nations World Water, 2015] Để một hộ gia đình được hưởng đầy đủ nguồn cung cấp nước được cải thiện, phải có nguồn nước sinh hoạt an to n v đáng tin cậy trong nhà Mặc dù điều này là phổ biến ở các nước phát triển, nhưng sự tiếp cận như vậy vẫn còn xa thực tế ở nhiều nước đang phát triển, đặc biệt là ở các vùng nông thôn
Tiếp cận với các nguồn nước sinh hoạt an to n, được cải thiện và quản lý nguồn nước ngọt đang ng y một suy giảm là mối quan tâm và là chủ đề của nhiều cuộc họp thượng đỉnh với sự tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới Việc mở rộng tiếp cận các nguồn nước sinh hoạt an to n v đáng tin cậy, đặc biệt là ở Châu Phi và Châu Á, là một trong "Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ" Tiếp cận nước uống sạch - an toàn – là một trong những điều kiện tiên quyết, quan trọng bậc nhất cho sự phát triển bền vững Mọi quốc gia trên thế giới hiện đang thực hiện nhiều nỗ lực để duy trì sự phát triển bền vững, bởi thực tế rằng, dân số thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển đang tăng l n nhanh chóng Đây l một trong những vấn
đề quan trọng ở hiện tại v tương lai m Châu Phi đang phải đối mặt [Bates và cộng
sự, 2008] Khoảng 25% dân số Châu Phi hiện đang trải qua tình trạng căng thẳng cao do nước Dự báo, nhiều quốc gia mặc dù, hiện nay, chưa gặp căng thẳng về nước sinh hoạt nhưng sẽ có nguy cơ gặp vấn đề tương tự do nước sinh hoạt trong tương lai [Boko v cộng sự, 2007]
Những nghiên cứu về tiếp cận nước sinh hoạt chủ yếu được thực hiện ở các quốc gia chậm v đang phát triển, đặc biệt là với đối tượng là người nghèo ở Châu
Á và Châu Phi Cụ thể ở Ấn Độ và Băngladesh,…, có thể kể đến một số nghiên cứu sau:
Trang 23Jha Nitish (2010) trong nghiên cứu của mình về “Tiếp cận của người nghèo với các dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường ở Ấn Độ” cho rằng việc tiếp cận nước sinh hoạt uống an toàn là cần thiết cho sinh kế Các yếu tố về kinh tế, kỹ thuật, thể chế cũng như x hội hạn chế việc tiếp cận nước sinh hoạt an toàn và vệ sinh ở Ấn Độ cho cả người nghèo thành thị và nông thôn Vì vậy, dù cộng đồng được yêu cầu quản lý các chương trình nước sinh hoạt và vệ sinh của chính họ ở cả khu vực nông thôn và thành thị, song cơ hội thành công của quản lý cộng đồng vẫn bị hạn chế, bởi vì các nhà hoạch định chính sách, nhiều khi đ không hiểu hết và áp dụng sai các biện pháp trong liên kết quản lý các chương trình nước sinh hoạt và vệ sinh tại cộng đồng; gánh nặng về nước, vệ sinh và quyền sở hữu dự
án chưa được cộng đồng chủ động, tích cực tham gia quản lý đầy đủ
Về sự bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận nước của các nhóm dân cư, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù luật pháp v chính sách quy định rằng việc tiếp cận nước sinh hoạt là một quyền cơ bản của con người nhưng với nhóm người nghèo khả năng tiếp cận với nước uống sạch vẫn là vấn đề khó khăn [Hall, Ralph.P và cộng sự, 2014] Một số nguyên nhân của những khó khăn thách thức trong việc tiếp cận nước sinh hoạt của người dân nghèo là do: thiếu kinh phí, sự xuống cấp của cơ
sở hạ tầng về nước, tăng dân số, tham nhũng [Matthew Jenkins, 2017] Trong đó, thách thức lớn nhất trong việc cung cấp nước sinh hoạt cho người nghèo, là sự xuống cấp của hệ thống cấp nước sinh hoạt v cơ sở hạ tầng [USAID, 2009] Các chuyên gia cho rằng sự xuống cấp của hệ thống cấp nước sinh hoạt và hệ thống thoát nước, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng cung cấp nước sinh hoạt an toàn và các dịch vụ thiết yếu cho thế hệ hiện tại v tương lai Điều n y có nghĩa l một khoản tiền đáng kể phải được chi cho việc sửa chữa đường ống dẫn và các nhà máy nước Tuy nhiên, các quốc gia còn nhiều nhiệm vụ khác như đầu tư phát triển kinh
tế, phòng chống thiên tai Do vậy, các cơ quan của Nh nước phải có một kế hoạch quản lý thiên tai tại chỗ Kế hoạch này sẽ giúp các thành phố giảm thiểu sự cố thiên tai v tăng cường sử dụng ngân sách cho việc cung cấp cho các dịch vụ thiết yếu, như dịch vụ cấp nước cho người dân [Eric Dickson và cộng sự, 2012]
Trang 24Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra những khó khăn trong tiếp cận nước của người nghèo đô thị ở Châu Á như chi phí đấu nối quá cao, tỷ lệ hoá đơn không thanh toán cao, tỷ lệ phần trăm ti u thụ bất hợp pháp v không có hoá đơn cao, mức tiêu thụ cá nhân thấp, chi phí duy trì mạng lưới cao [Arthur C, 2003] Nghiên cứu
n y cũng chỉ ra rằng, những khó khăn n y c ng tăng, đặc biệt là, với những khu vực dân cư tạm thời, chưa chính thức bởi đây l những khu vực không được chính quyền công nhận; khó kiểm soát mạng lưới dịch vụ, khó có hồ sơ khách h ng, cư trú không ổn định Như vậy, một số rào cản chính trong việc tiếp cận nước sinh hoạt của cộng đồng dân cư đ được các nghiên cứu chỉ ra là: do không có quyền sở hữu đất đai n n không không được cung cấp dịch vụ; do vị thế chính trị thấp của những người nghèo đô thị; do xa với các dịch vụ cấp nước nên việc duy trì, vận hành, bảo dưỡng không thường xuyên, bị thiếu thốn nhiều Tất cả những điều này
đ cản trở không nhỏ cho việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ xã hội trong đó có dịch vụ nước Đây l yếu tố đang tạo nên tình trạng bất bình đẳng đang tồn tại trong một số quốc gia nhất là những quốc gia đang và chậm phát triển
Một số nghiên cứu đ chỉ ra hành vi tìm nguồn cung cấp nước sinh hoạt của
các hộ gia đình Việc tiếp cận, nhu cầu và cách sử dụng nước sinh hoạt của các hộ
gia đình ở các khu vực trên thế giới là khác nhau theo Onundi và Ashaolu (2014);
sự khác biệt n y thay đổi theo khu vực địa lý, văn hoá v môi trường đô thị, nông thôn, Theo các tác giả n y, nước là một nguồn lực quan trọng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực cho cả sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu và sự phát triển của con người Trong bất kỳ lĩnh vực nào, hiểu biết về cách quản lý, phân bổ và sử dụng nước là rất quan trọng đối với sự phát triển của con người và xã hội Nếu một hộ gia đình được cung cấp nước sinh hoạt từ một nguồn mà họ cho là an toàn, ví dụ như nước từ đường ống hoặc nước giếng khoan an toàn, họ có thể sử dụng nguồn nước đó cho mục đích sinh hoạt, ăn uống
Do đó, theo các tác giả này, việc hiểu được hành vi sử dụng nước sinh hoạt của hộ gia đình l một nhiệm vụ quan trọng để hiểu nguồn t i nguy n n y được phân bổ và quản lý như thế nào, giúp tối đa hóa việc sử dụng tài nguyên quan trọng này trong
Trang 25bối cảnh biến đổi khí hậu, sự cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước ngày càng gia tăng Cũng theo nghiên cứu của hai tác giả này, phần lớn các nước đang phát triển gặp phải những vấn đề nghiêm trọng về nước sinh hoạt cả ở khu vực nông thôn và thành thị Những người dân thành thị bị ảnh hưởng nhiều nhất là những người sống trong các khu định cư không chính thức Do thu nhập ít ỏi của họ, cùng với thực tế
là, họ thường không phải l đối tượng ưu ti n trong quy hoạch phân phối nguồn lực
và cung cấp dịch vụ của chính phủ; họ phải tự tìm cách để tiếp cận các nguồn lực thiết yếu như nước Một cách mà các hộ gia đình cố gắng để đáp ứng nguồn cung cấp nước sinh hoạt của họ là bằng cách kết hợp hai hoặc nhiều nguồn nước sinh hoạt cho các mục đích sử dụng khác nhau Ngoài ra, còn có những thách thức trong tìm nguồn cung cấp nước sinh hoạt của các hộ gia đình n y Onundi v Ashaolu (2014) đ chỉ ra một số khó khăn đó là nguồn nước sinh hoạt không đầy đủ, vòi hoặc đường ống bị hỏng … Điều này khiến cho mọi người phải xếp hàng chờ đợi để lấy nước, do đó, ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động li n quan đến sử dụng nước sinh hoạt trong nhà
Như vậy là, qua tập hợp một số nghiên cứu về việc tiếp cận và sử dụng nước trên thế giới, nhất là ở những khu vực có điều kiện phát triển giống Việt Nam, những công trình n y đ gợi mở những vấn đề mà một nghiên cứu về tiếp cận và sử dụng nước ở Việt Nam có thể tiếp thu, xác định hướng và những nội dung cần nghiên cứu
Ở Việt Nam, nghiên cứu về vấn đề nước cũng đ được thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể điểm qua một số nghiên cứu:
Một số bài viết, nghiên cứu đề cập đến việc sử dụng nước hoặc thực trạng
nước tại đô thị như: trong bài viết Khai thác và bảo tồn tài nguyên nước trong phát triển đô thị tại đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam, tác giả Nguyễn
Thị Thanh Mai, Nguyễn Thị Bích Phương (2017), tác giả đ đánh giá thực trạng vấn
đề nước ở khu đô thị này, từ đó đưa ra khuyến nghị nhằm bảo tồn, khai thác hợp lý nguồn nước và giải quyết vấn đề nước ở khu vực theo cách tiếp cận bền vững Hoặc
Trang 26trong bài viết Sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước sinh hoạt ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, tác giả Đinh Thị Như Trang (2014) đ nghiên cứu
các giải pháp phát triển và sử dụng tiết kiệm nguồn nước sinh hoạt của các quốc gia khan hiếm nước sinh hoạt (cụ thể là Singapore, Irasel, Úc) từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho việc thực hành tiết kiệm nước sinh hoạt ở Việt Nam như: đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền tiết kiệm nước sinh hoạt trên toàn quốc,vv…
Hoặc bài viết “Nâng cao mức sống dân cư trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam: Thành tựu và những thách thức đặt ra” của Nguyễn Hồng Sơn
và Trần Quang Tuyến (2014), các tác giả đ phân tích v đánh giá những thành công và hạn chế của việc nâng cao mức sống trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam Một con số đáng lưu ý được tác giả trích dẫn lànăm
2010 có 43% dân số nông thôn và 11% dân số đô thị chưa được tiếp cận với nướcsạch Như vậy, có thể thấy vẫn còn bộ phận khá cao người dân chưa được tiếp cận với nước sạch trong sinh hoạt Tuy nhiên, việc sử dụng nước sinh hoạt dành cho một bộ phận dân cư l nhóm người dân ở các khu TĐC thì chưa được tìm hiểu trong các nghiên cứu này
Trong báo cáo Đánh giá các vấn đề thực trạng trong tổ chức môi trường ở khu TĐC do các dự án phát triển đô thị [Nguyễn Thị Thanh Mai, 2012], tác giả chỉ
ra rằng, tình trạng chung của cộng đồng cư dân khu TĐC l thiếu thốn dịch vụ hoặc phải sử dụng nhờ dịch vụ của các khu dân cư kề cận (trường học, điện, nước) Người dân sau thời gian dài chuyển đến vẫn phải sử dụng nước giếng khoan hoặc tự tìm kiếm bằng cách mua nước, mặc dù vị trí chỗ ở của họ ngay cạnh một nhà máy nước Không chỉ vậy, việc giải quyết không đồng bộ hệ thống thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt, hệ thống cống r nh đ tác động không nhỏ tới môi trường sống và vệ sinh khu ở của cả người dân di dời v người dân vùng tiếp cận Chưa kể nhà ở TĐC
dù mới đi v o sử dụng đ xuống cấp nghiêm trọng: trần nứt nẻ, đường ống nước sinh hoạt rò rỉ,… khiến các hộ dân phải tự nâng cấp, sửa chữa Rõ ràng, những khó khăn khi tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân ở khu TĐC đ được tác
Trang 27giả chỉ ra rất xác thực v khách quan trong báo cáo tr n Đây cũng l một nghiên cứu có tính chỉ dẫn cho một số vấn đề cần được l m rõ hơn trong luận án này
Nghiên cứu về vấn đề này dưới góc độ quyền con người cũng được nhiều tác
giả quan tâm nghiên cứu điển hình như trong bài viết “Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền môi trường” của Mai Hạnh Đăng, Mai Hạnh Trang (2015), tác giả
khẳng định quyền cơ bản của tất cả mọi người l được tiếp cận với nước sạch và vệ
sinh với giá cả hợp lý.mĐ o Minh Hương (2012) trong bài viết về “Tiếp cận nước sạch và vệ sinh môi trường - Quyền cơ bản của con người” cũng khẳng định tiếp
cận nước sạch là quyền cơ bản của con người Như vậy, các nghiên cứu theo hướng
n y đều khẳng định việc tiếp cận v có nước sạch để sinh hoạt là quyền cơ bản của con người
Bên cạnh một số công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến tình hình nước, tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân các đô thị, người dân TĐC, đ có
h ng trăm b i viết, bài phóng sự, điều tra được đăng tải tr n các phương tiện truyền thông đại chúng li n quan đến những vấn đề về nước sinh hoạt và tiếp cận, sử dụng nước sinh hoạt của người dân TĐC Tuy đây mới chỉ là những tin tức, bài báo phản ánh vấn đề nhưng là những nguồn thông tin quan trọng giúp hiểu biết một cách cơ bản về bức tranh thực trạng về nước; các sự cố về nước; nhu cầu nước; cách thức tổ chức quản lý việc tiếp cận, sử dụng nước sinh hoạt của cộng đồng dân các khu TĐC hiện nay Có thể kể đến một số báo chí có nhiều tin, bài phản ánh tình hình về nước, cấp nước sinh hoạt và tiếp cận sử dụng nước sinh hoạt của cộng đồng dân TĐC như các tạp chí, các báo viết v báo điện tử gồm: Báo Hà Nội Mới; Báo Pháp luật và Đời sống; Báo Công an Nhân dân; Báo T i nguy n Môi trường; Báo Kinh tế v Đô thị; Báo Xây dựng; Các báo này đ phản ánh nhiều vấn đề đang diễn ra ở khu TĐC như những vấn đề về chất lượng khu tái định cư; trách nhiệm của chủ đầu tư, của các cấp chính quyền, của các tổ chức cơ quan có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ
xã hội, vấn đề về cơ sở hạ tầng, nước sinh hoạt…
Như vậy, có thể thấy, li n quan đến việc tiếp cận và sử dụng nước đ có nhiều nghiên cứu trong v ngo i nước đề cập đến vấn đề n y dưới nhiều góc độ
Trang 28khác nhau đặc biệt tập trung vào nhóm yếu thế, người nghèo Tuy nhiên, những nghiên cứu về vấn đề này chỉ ri ng đối với nhóm xã hội l người dân TĐC đô thị và dưới góc nhìn xã hội học thì chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu tìm hiểu Do vậy, nghiên cứu vấn đề này với người dân TĐC đang l vấn đề cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
1.2 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng nước
Có thể thấy rằng, nhu cầu tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt là nhu cầu cơ bản, thiết yếu của tất cả mọi người Tuy nhiên, việc thực hiện nhu cầu cơ bản này vẫn còn rất nhiều thách thức đặc biệt l đối với các nhóm người yếu thế ở các nước đang phát triển Nguyên nhân của vấn đề rất đa dạng Cho đến nay, có khá nhiều nghiên cứu đ chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của người dân, đặc biệt, ở các nước đang phát triển ở châu Phi và châu Á
Có thể tóm lại các yếu tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến việc tiếp cận và
sử dụng nước sinh hoạt theo các nghiên cứu đ có đó l : Giới; Thu nhập của hộ gia đình; Quy mô và thành phần hộ gia đình; Học vấn; Giá nước; Vị trí và khoảng cách đến nguồn nước; Các yếu tố về về nhận thức, thái độ và sự tham gia của người dân;
Hệ thống dịch vụ và các thể chế có liên quan…
Thứ nhất: Giới
Giới có li n quan đến những khác biệt về vai trò v cơ hội được tham gia vào các vấn đề xã hội cũng như tương tác x hội giữa nam và nữ Nhiều nghiên cứu như Oyekale và Ogunsanya (2012), Totouom và Fondo (2012); Abebaw và cộng sự (2010) đ chỉ ra chủ hộ gia đình là nam hay nữ đóng một vai trò khá quan trọng trong việc lựa chọn nguồn nước sinh hoạt và cách sử dụng nước sinh hoạt của hộ gia đình Theo các tác giả này, phụ nữ l người có vai trò quan trọng trong việc quyết định nên sử dụng nguồn nước nào cho những mục đích gì v sử dụng, vận chuyển, lưu trữ nước như thế nào Do l người liên quan trực tiếp đến những vấn
đề về nước sinh hoạt nên họ hiểu rõ hơn về số lượng và chất lượng nước sinh hoạt cần dùng cho các th nh vi n trong gia đình Theo Oyekale và Ogunsanya (2012),
Trang 29Abebaw và cộng sự (2010) với nghiên cứu tại Ethiopia cho thấy, các hộ có chủ hộ
là nữ có khả năng tiếp cận với nguồn nước sinh hoạt được cải thiện cao hơn so với các hộ có chủ hộ là nam Lý giải cho điều này, các tác giả cho rằng, trong gia đình, phụ nữ thường được gán cho vai trò l người trực tiếp quyết định nguồn nước sinh hoạt được sử dụng đồng thời họ cũng l người chịu trách nhiệm chính trong việc lấy nước sinh hoạt cho cả gia đình Vì vậy, họ thường có khuynh hướng đầu tư nhiều hơn cho việc lấy nước sạch Ngoài ra, nếu một th nh vi n trong gia đình gặp vấn đề
ốm đau do nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo thì phụ nữ lại l người chịu trách nhiệm chăm sóc
Ở khu vực Châu Á, theo kết quả nghiên cứu của dự án “Giới trong quản lý môi trường đô thị” tại một số nước sinh hoạt Đông Nam Á, cho thấy, tại một số quận ở thủ đô Bangkok, Thái Lan, nếu người đứng đầu là nữ thì sự quan tâm đến vấn đề nước sinh hoạt nhiều hơn so với những quận có người đứng đầu là nam giới [Kusankabe.K & Jahan.J, 2010, tr 76] Bên cạnh đó, nếu có vấn đề gì li n quan đến nước sinh hoạt thì người phát hiện đầu ti n thường là phụ nữ Phụ nữ cũng b y tỏ sự sẵn s ng hơn so với nam giới khi tham gia vào quá trình quản lý và sử dụng nước
Lý giải cho những vấn đề này, theo nhiều nhà nghiên cứu, phụ nữ là chủ thể chính trong sử dụng, thu gom, vận chuyển, đánh giá về số lượng và chất lượng nước sinh hoạt m gia đình mình sử dụng hàng ngày Họ cũng l nhân vật chính trong các hộ gia đình có vai trò trong giáo dục trẻ em về vệ sinh an toàn với nước, định hướng việc chăm sóc sức khỏe cho gia đình khi có vấn đề liên quan đến nước [Kusankabe.K & Jahan.J, 2010, tr 82]
Các rào cản thể chế v văn hoá, bao gồm sự khác biệt về quyền v nghĩa vụ, trách nhiệm trong giải quyết vấn đề về nước sinh hoạt cho sản xuất và cho sinh hoạt thường tạo áp lực, trước hết cho phụ nữ và trẻ em gái Báo cáo cũng chỉ ra rằng, khi tài nguyên nước sinh hoạt khan hiếm, phụ nữ thường phải chịu đựng gấp bội vì vai trò của họ vừa như các nh quản lý, cung cấp nước, vừa như các nh sử dụng nước,
có trách nhiệm chăm sóc, quản lý v đảm bảo đầy đủ, an toàn trong việc cấp và sử dụng nước sinh hoạt [ Department for International Development, 2003]
Trang 30Một số các nghiên cứu khác của Onundi và Ashaolu (2014), Lyla Mehta (2014), Ifabiyi và cộng sự (2010), Jain và Singh (2010), …, đ cho thấy, việc gánh nước hay lấy nước từ những nguồn xa nh , đặc biệt v o mùa khô, đ ảnh hưởng không nhỏ đến các cơ hội sinh kế của phụ nữ và trẻ em gái Điều n y, trước tiên ảnh hưởng đến thời gian làm việc và việc làm của phụ nữ Hậu quả của việc tiếp cận hạn chế với nước sinh hoạt và vệ sinh do thiếu nước, thường do phụ nữ và trẻ em gái gánh chịu Điều này khiến phụ nữ và trẻ em gái đ phải hy sinh thời gian học tập để
đi lấy nước, đồng thời còn bị ảnh hưởng rõ rệt bởi các vấn đề li n quan đến sức khoẻ, vệ sinh, và thể chất của phụ nữ và trẻ em đặc biệt là vấn đề xương khớp [Lyla Mehta, 2014, tr 27] Củng cố cho nhận định này, một nghiên cứu khác tại Cambodia, Châu Á, [theo Kyoko Kusakabe & Jubaiya Jahan, 2010], nơi m vấn đề cung cấp nước sinh hoạt là một vấn đề lớn trong cộng đồng, đặc biệt là trong mùa khô 96 % người dân khu vực này phải phụ thuộc một phần hoặc toàn bộ vào một nhà cung cấp nước sinh hoạt tư nhân Trung bình mỗi gia đình phải bỏ ra một giờ mỗi ng y để lấy nước từ một khoảng cách xa Tuy cả nam giới và phụ nữ đều phải tham gia vào việc lấy nước, song với phụ nữ thường được coi là có trách nhiệm chính Khi đi lấy nước, phụ nữ ở đây, thường phải đội bình nước tr n đầu hoặc vai của họ Hằng ngày, phụ
nữ đ phải bỏ ra từ một đến vài giờ để quản lý, phân bổ, sử dụng nước ngoài trách nhiệm sinh sản, nuôi con, chăm sóc các th nh vi n trong gia đình Đây l chức năng, hầu như l “tất yếu” với họ
Như vậy, có thể thấy giới là một trong những yếu tố đầu tiên có ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt an toàn Việc tìm kiếm nguồn nước, bảo vệ nước, thu gom nước, phân phối và sử dụng nước sinh hoạt trong gia đình, phụ nữ luôn l người chịu trách nhiệm chính Song họ cũng l những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ việc không được tiếp cận đầy đủ, an toàn, vệ sinh với các nguồn nước hiện có, nhất l trong điều kiện cạn kiệt, ô nhiễm các nguồn nước sinh hoạt hiện nay Đây l những minh chứng thể hiện tác động không nhỏ của yếu tố giới tới việc tiếp cận và sử dụng nước
Trang 31Thứ hai, thu nhập của hộ gia đình
Đặc điểm kinh tế của hộ gia đình m tập trung ở vấn đề thu nhập của hộ gia đình, là một trong những yếu tố được trích dẫn trong các nghiên cứu khác nhau như
là một yếu tố có ảnh hưởng chính đến việc tiếp cận với nguồn nước của các hộ gia đình Thu nhập của một hộ gia đình l một nhân tố quyết định quan trọng đến một
số khía cạnh của cuộc sống như: nh ở, giáo dục, y tế, tiếp cận các dịch vụ xã hội… Thu nhập của hộ gia đình cũng ảnh hưởng lớn đến việc tìm, tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt của các hộ gia đình Nhiều nghiên cứu cho thấy: những hộ gia đình
có thu nhập cao hơn thường có các kết nối riêng vào nguồn nước Mahama (2013), Totouom và Fondo (2012), Smith và Hanson (2003), Bosch và cộng sự (2001),
…Trong đó, mức thu nhập của các hộ gia đình l một trong những yếu tố quyết định
sự tiếp cận của họ đối với các dịch vụ về nước và vệ sinh Smith và Hanson (2003) xác định rằng, thu nhập của hộ gia đình l một trong những yếu tố chính, quyết định việc tiếp cận các công trình cấp nước và vệ sinh Từ nghiên cứu được thực hiện tại Cape Town, Nam Phi, cho thấy, các hộ gia đình có thu nhập thấp hơn có ít cơ hội cải thiện điều kiện nước và vệ sinh của họ Tương tự, theo WHO và UNICEF (2017), các hộ gia đình ở nhóm có mức sống thấp nhất, có khả năng thiếu nước sinh hoạt gấp 5,5 lần so với các hộ gia đình thuộc nhóm giàu nhất trong cùng một quốc gia Theo nghiên cứu của Kitjjini (2015) ở Kenya, có mối quan hệ giữa tổng thu nhập của hộ gia đình v việc tiếp cận với nguồn nước uống sạch Những hộ gia đình
có thu nhập cao hơn thường có nhà ở kiên cố và bán kiên cố, được làm bằng các vật liệu chắc chắn như gỗ và bê tông và có nước sinh hoạt đến tận hộ gia đình Những
hộ gia đình có mức thu nhập thấp hơn, không có kết nối nước máy vào nhà Hầu hết các nghiên cứu cũng đ khẳng định rằng, sự gi u có xác định mức độ tiếp cận của
cá nhân đối với các nguồn nước sinh hoạt được cải thiện để uống Điều này có nghĩa l , khi mức thu nhập của một người tăng l n, người đó có thể sẽ tiếp cận các nguồn nước sinh hoạt sạch hơn để uống vì anh ta có khả năng chi trả cho những chi phí li n quan đến đấu nối và dịch vu nước Như vây, những hộ gia đình có thu nhập cao hơn, sẽ có nhiều điều kiện để tiếp cận và sử nước sinh hoạt uống an toàn và
Trang 32đáng tin cậy hơn Các hộ gia đình không có nguồn thu nhập thường xuyên ổn định,
có thể sử dụng nước sinh hoạt từ nguồn kém chất lượng, không đảm bảo vệ sinh, an
to n cho đời sống
Một số nghiên cứu khác về tiếp cận, sử dụng nước sinh hoạt trong điều kiện mở rộng các loại hình dịch vụ cung cấp nước thông qua các doanh nghiệp tư nhân thì khẳng định rằng, các nhóm thu nhập thấp khó có thể trả phí kết nối cao đối với nước máy v điều n y đ hạn chế đáng kể khả năng tiếp cận với dịch vụ cấp nước của họ Trong khi đó, các nhóm có thu nhập cao hơn có thể mua được nhiều hơn v thậm chí có thể mua được các giải pháp thay thế về cấp nước sinh hoạt như các dịch vụ cấp nước tư nhân trong thời gian khan hiếm nước Điều n y l “ khó” với nhiều người nghèo, bởi lẽ, một bộ phận người nghèo đô thị, hầu như không thể đáp ứng được ba nhu cầu cơ bản (thực phẩm, nước sinh hoạt v nơi trú ẩn - nhà ở) [Bosch và cộng sự,2001]
Như vậy, có khá nhiều nghiên cứu ở các nước đang phát triển đ chỉ ra rằng, thu nhập có ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng nước Nhiều nghiên cứu đ chỉ
ra rằng, thu nhập càng cao thì càng có khả năng tiếp cận tới các nguồn nước sinh hoạt an toàn, chất lượng với số lượng đầy đủ Trong khi đó, các hộ gia đình có thu nhập thấp, hoặc các hộ nghèo đặc biệt là ở đô thị thường là nhóm yếu thế hơn trong việc tiếp cận với nguồn nước an to n Nhóm n y thường phải sử dụng nguồn nước sinh hoạt chất lượng kém, không đầy đủ Việc cấp nước sinh hoạt cũng ưu ti n các
hộ gi u hơn bởi họ có khả năng chi trả cho các chi phí về đấu nối hệ thống đường ống nước và họ thường có nơi cư trú ổn định v được quy hoạch bởi nhà cầm quyền Ngược lại, các hộ nghèo, đặc biệt l người nghèo đô thị thường sống ở khu ổ chuột hoặc khu định cư không ổn định, không chính thức, không được quy hoạch, nên họ thường không được cấp các nguồn nước chính thức, họ thường phải mua nước kém chất lượng, hoặc phải trả tiền với giá cao Th m v o đó, do thu nhập thấp nên họ cũng không có điều kiện để chi cho việc đấu nối vào các nguồn nước được cải thiện,
an toàn, chất lượng
Trang 33Thứ ba: Quy mô hộ và thành phần hộ gia đình
Quy mô hộ gia đình cũng l yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt Theo Kithinji (2015), Totoum và Fondo (2012), Arouna và Dabbert (2009), các hộ gia đình đông người thường sử dụng nhiều nước sinh hoạt hơn, do họ
có nhiều thành viên gia đình hơn Mặt khác, các nghiên cứu n y cũng đ chỉ ra rằng,
ở những gia đình có quy mô lớn, họ thường sử dụng nước sinh hoạt nhiều hơn v o khoảng thời gian cuối ngày so với các hộ gia đình nhỏ hơn Điều n y có nghĩa l các hộ gia đình đông th nh vi n cần phải được cung cấp th m nước, ngay cả khi họ
có các nguồn nước sinh hoạt khác nhau để đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt hàng ngày của họ Như vậy, quy mô hộ gia đình được xem là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc tiêu thụ nước
Về thành phần hộ gia đình, các nghiên cứu trên cho thấy, các hộ gia đình có
nhiều thành viên nữ hơn nam giới thường sử dụng nhiều nước sinh hoạt hơn so với những gia đình có nhiều nam giới hơn nữ giới [Totoum và Fondo, 2012], [Dabbert
và Arouna, 2009, tr 78] Đây cũng l một tất yếu do những nhu cầu về nước sinh hoạt khác nhau ở hai giới Ngoài ra, một phát hiện quan trọng khác mà một số nghiên cứu ở các nước đang phát triển đ chỉ ra là, những hộ gia đình có nhiều con, nhất l con dưới 5 tuổi thường sử dụng nhiều nước sinh hoạt hơn so với những gia đình các th nh vi n chủ yếu l người trưởng thành [Dabbert và Arouna, 2009] Điều này có thể được giải thích bởi thực tế là trẻ nhỏ có khuynh hướng tự làm bẩn thường xuy n v do đó quần áo của chúng phải thường xuyên phải thay đổi và giặt
rũ Trẻ em cũng được ăn, uống ở mức thường xuy n hơn v do đó nhiều dụng cụ được sử dụng trong các hộ gia đình có trẻ em thường cần nhiều nước sinh hoạt hơn
để làm sạch
Trong một nghiên cứu góp phần làm rõ thói quen của các thế hệ trong các
hộ gia đình với tiếp cận và sử dụng nước, Krantz (2006), đ chỉ ra rằng, trong quá trình sử dụng nước sinh hoạt và vệ sinh các nhân, người cao tuổi sử dụng ít nước hơn so với thế hệ trẻ Bởi lẽ, thanh, thiếu niên là nhóm xã hội thường sử dụng nước cao nhất khi họ có nhu cầu tắm, rửa, giặt rũ thường xuy n hơn Ngo i ra, khi xét
Trang 34đến vấn đề giới khi sử dụng nước, phụ nữ cũng cần được ưu ti n về vệ sinh hơn so với nam giới Đây cũng l một trong những yếu tố góp phần làm cho tiếp cận sử dụng nước có khác biệt trong những hộ gia đình m tỷ lệ nữ nhiều hơn nam Mặt khác, một số nghiên cứu ở các nước đang phát triển như của Totoum và Fondo, (2012), Dabbert và Arouna (2009), cũng chỉ ra rằng, khi hộ gia đình ở xa nguồn nước, thì hộ gia đình n o có nhiều thành viên nữ hơn, thường lấy được nhiều nước sinh hoạt hơn so với các gia đình có nhiều nam giới Điều này là bởi vì phụ nữ và trẻ em gái, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, có liên quan nhiều hơn đến việc tìm nguồn cung cấp nước Đây thường được coi đó l một trong những vai trò xã hội mà họ phải gánh vác
Thứ tư: Học vấn
Ở khắp nơi tr n thế giới, tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển bền vững đ được khẳng định Thiếu học vấn, con người khó có thể vươn l n đến những đỉnh cao trong khoa học cũng như trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống Vì vậy, học vấn cũng đ có những ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp cận nước sạch, đảm bảo vệ sinh Có nhiều bằng chứng để thấy rằng, học vấn trong các hộ gia đình
v đặc biệt là của chủ hộ gia đình, l một trong những yếu tố quyết định hành vi tìm kiếm và sử dụng hợp lý nước sinh hoạt v đảm bảo vệ sinh của chính họ Điều này
đ được chứng minh qua một số nghiên cứu về các yếu tố quyết định sự lựa chọn nguồn nước sinh hoạt của các hộ gia đình ở các nước đang phát triển [Ayanshola và cộng sự, 2010], [Nketiah-Amponsah và cộng sự, 2009] Việc thất học hoặc trình độ học vấn thấp là một rào cản lớn để trao quyền Mức độ học vấn của một cá nhân càng thấp thì họ c ng có ít cơ hội để đòi hỏi cơ sở vật chất tốt hơn từ cơ quan chức năng nh nước, vì họ không có quyền lực
Học vấn được cho là một trong những nhân tố đóng một vai trò quan trọng trong việc tìm và sử dụng nguồn nước sinh hoạt an toàn và hiệu quả Thông thường, các hộ gia đình có nhiều người có trình độ học vấn cao hơn đ cố gắng tìm và cung cấp nguồn nước sinh hoạt an toàn cho các thành viên hộ gia đình của mình nhiều hơn so với những gia đình có các th nh vi n có học vấn thấp Trên thực tế, ở một số
Trang 35nước đang phát triển ở Châu Á và Châu Phi, những gia đình có nhiều người học vấn thấp, thường không quan tâm đầy đủ đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt mà họ sử dụng [Onundi v Ashaolu, 2014] Điều n y có nghĩa l một hộ gia đình có trình độ học vấn thấp sẽ không có điều kiện để xem xét một cách nghiêm túc về nguồn nước sinh hoạt m gia đình mình đang sử dụng Hậu quả kéo theo sẽ có nhiều, đặc biệt là những ảnh hưởng của việc sử dụng nước sinh hoạt chưa sạch đến sức khỏe và tình trạng vệ sinh kém Hơn nữa, khi tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt không đảm bảo
vệ sinh cũng sẽ góp phần làm giảm chất lượng giáo dục của phụ nữ và trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái Nghiên cứu của UNICEF và WHO (2012) chỉ ra rằng, đối với trẻ
em gái, thiếu các dịch vụ cơ bản về nước sinh hoạt và vệ sinh sẽ làm mất đi cơ hội học tập và tạo cơ hội cho việc trao quyền Báo cáo này cũng nhấn mạnh rằng gánh nặng thời gian thu thập và vận chuyển nước là một trong những lời giải thích cho những khoảng trống về giới ở các trường học ở nhiều nước Báo cáo đ chỉ rõ, mức
độ đi học của học sinh các trường ở Tanzania cao hơn 12% đối với các em có nhà cách nguồn nước sinh hoạt khoảng 15 phút và ít hơn so với các em có nhà ở cách xa nguồn nước sinh hoạt một giờ đi lại hoặc nhiều hơn
Bartlett (2003) cho rằng việc thiếu hoặc không đầy đủ nước sinh hoạt và vệ sinh sẽ ảnh hưởng đến việc học hành của trẻ em gái vì gánh nặng lấy nước mà chúng phải đảm nhiệm.Thời gian dành cho việc thu thập nước làm ảnh hưởng đến việc học hành của các em Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của trẻ em gái và kéo dài vòng luẩn quẩn của mù chữ v đói nghèo [Kyoko Kusakabe và Jubaiya Jahan, 2010], [Bartlett, 2003]
Koskei và cộng sự (2013) trong nghiên cứu của họ về tác động của các yếu
tố kinh tế xã hội đối với việc tiếp cận các nguồn nước cải thiện và vệ sinh cơ bản ở thành phố Bomet ở Kenya cho thấy, mức độ giáo dục của chủ hộ ảnh hưởng đáng
kể đến loại nguồn nước mà các hộ gia đình sử dụng Theo đó, chủ hộ có trình độ học vấn cao hơn thì có xu hướng chọn nguồn nước sinh hoạt ổn định, an toàn và chất lượng hơn so với chủ hộ có trình độ học vấn thấp hơn
Trang 36Mức độ giáo dục, theo Onundi và Ashaolu (2014), được coi l đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu nguồn nước sinh hoạt có an toàn và cách nào có thể được
áp dụng để tiếp cận với nước sinh hoạt có chất lượng tốt Vì vậy, các hộ gia đình có những người, có trình độ học vấn cao hơn, thường cố gắng cung cấp nguồn nước an toàn cho gia đình của họ Những người có giáo dục tiểu học hoặc không đi học, thường không quan tâm đầy đủ đến sự an toàn của nguồn nước mà họ sử dụng
Thứ năm: Giá nước
Một số nghiên cứu đ chỉ ra rằng, giá nước sinh hoạt là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng nước của người dân – đặc biệt l người nghèo Giá nước cao là một trong những trở ngại đối với việc tiếp cận nước của người nghèo đô thị Vì không được tiếp cận được với nước sinh hoạt an toàn, nước
từ đường ống hay nước máy khiến cho người nghèo – nhóm người không được tiếp cận dịch vụ phải trả tiền cao hơn cho những dịch vụ tư nhân, cho việc mua nước…
Sự khan hiếm dịch vụ cấp nước công (do mạng lưới chưa được mở rộng, chưa được đấu nối vào hệ thống cấp nước công hoặc do vấn đề về quyền sở hữu nh đất) buộc nhiều người có thu nhập thấp tại các khu đô thị phải sử dụng các nguồn nước khác với chi phí cao
Mặc dù nhiều nghiên cứu đ chỉ ra giá nước sinh hoạt là một trong những trở ngại lớn cho nhóm yếu thế đặc biệt nhóm nghèo ở đô thị, họ thường phải chịu chi phí cao hơn cho việc dùng nước sinh hoạt với chất lượng dịch vụ thấp hơn, nhưng trong nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc giảm giá nước sinh hoạt không phải là một giải pháp hay vì nó chỉ làm lợi cho người giàu chứ không phải người nghèo; thậm chí còn ảnh hưởng đến nguồn thu của các công ty cấp nước, làm suy giảm chất lượng dịch vụ cấp nước; do đó, không đạt được mục tiêu cân bằng giữa chi phí và chất lượng [Guy Hutton và Laurence Haller, 2004]
Một nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ cuộc khảo sát của Global Water Intelligence (GWI) năm 2011 ở 308 thành phố của 102 quốc gia [David Zetland và Christopher Gasson, 2012] cũng đưa ra những kết luận tương tự Theo nghiên cứu này, giá nước sinh hoạt là kết quả từ một sự tương tác phức tạp của các yếu tố kinh
Trang 37tế, chính trị và xã hội đ phát triển theo thời gian Nghiên cứu cho thấy, quản lý hệ thống cấp thoát nước sinh hoạt tốt thì có thể đem lại lợi ích cho khách hàng tốt Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra khó khăn với đa số các công trình cấp thoát nước về các khoản thu không đủ Những khó khăn n y thường được giải quyết bằng cách phổ biến nhất là giảm chi ti u cho cơ sở hạ tầng mới, giảm chi tiêu cho bảo trì Tác giả cho rằng, sự suy giảm chất lượng dịch vụ sẽ làm hại đến các khách hàng hiện tại và
vi phạm lời hứa với công chúng về việc cung cấp dịch vụ cho tất cả mọi người Nếu chất lượng dịch vụ không tốt thì một số người có xu hướng chuyển sang các giải pháp đắt tiền để có nước sinh hoạt nhưng đổi lại có được nguồn nước sử dụng đáng tin cậy [Rygaard và cộng sự, 2011] Nghiên cứu đ đưa ra một số kết luận quan trọng là: phân tích về giá nước từ khắp nơi tr n thế giới cho thấy rằng, giá nước là tương đối thấp và giá thấp có tương quan với lượng nước sinh hoạt tiêu thụ cao hơn
v nguy cơ thiếu hụt lớn hơn Tác giả cho rằng, giá cao hơn sẽ không chỉ giảm tiêu thụ nước v nguy cơ thiếu hụt, mà còn giảm nguồn kinh phí để vận hành, sửa chữa
và mở rộng dịch vụ nước sinh hoạt cho người dân [David Zetland và Christopher Gasson, 2013]
Thứ sáu: Vị trí và khoảng cách đến nguồn cấp nước
Vị trí nguồn nước và khoảng cách từ nh đến các nguồn nước cũng l một trong các yếu tố được cho là có ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng nước của các hộ gia đình
Trong một nghiên cứu của Howard và cộng sự (2003), cho thấy, khoảng cách là một yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến việc sử dụng nước sinh hoạt và vệ sinh Lượng nước sinh hoạt trung bình mà một hộ gia đình ti u thụ phụ thuộc một phần vào vị trí của nguồn nước Những người có nước được cấp đến tận nhà thì tiêu thụ lượng trung bình khoảng 155 lít/người/ngày Những người có nước được cung cấp qua hệ thống phân phối lại, giảm mức tiêu thụ xuống còn khoảng 50 lít/người/ ngày Trong khi đó, những người sử dụng nguồn nước ở ngoài nhà, tiếp tục giảm mức tiêu thụ trung bình hàng ngày của họ xuống mức thấp hơn nữa Ở những nơi nguồn nước xa nh , người dân phải đi bộ trên 1km hoặc d nh hơn 30 phút để lấy
Trang 38nước, thì lượng nước sinh hoạt sử dụng bình quân đầu người sẽ chỉ còn từ 5 đến 10 lít mỗi ngày Các hộ gia đình c ng xa nguồn nước sinh hoạt thì càng mất nhiều thời gian để lấy nước sinh hoạt và nếu khoảng cách là quá xa hoặc mất thời gian hơn 30 phút thì họ có xu hướng thu hẹp tối đa nhu cầu nước sinh hoạt của mình Với mức
độ sử dụng nước sinh hoạt như vậy, việc đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh cao là rất khó khăn Ở Lesotho, Nam Phi, có khoảng 25% hộ gia đình d nh khoảng hai tiếng rưỡi đồng hồ để đi lấy nước, trong khi đa số các hộ gia đình ở Đông Phi v Bắc Cameroon phải dành 5 giờ và 6 giờ mỗi ng y để lấy nước cho nhu cầu sinh hoạt của
Ở khu vực thành thị, yếu tố có ảnh hưởng chính đến tiếp cận nước là thời gian để lấy nước chứ không phải là khoảng cách [Osman và Khan, 2011], [Bosch và cộng sự, 2008] Nhiều người có thể giảm việc tiêu thụ nước hơn nếu họ phải đi bộ khoảng cách ngắn hơn nhưng phải xếp h ng d i hơn để lấy nước [Bosch và cộng sự, 2008] Như vậy, khoảng thời gian li n quan đến việc lấy nước quan trọng hơn khoảng cách tới nguồn nước v đây có thể là một yếu tố quyết định việc tiếp cận nước Ví dụ, trong một nghiên cứu được tiến hành ở Mueda, Mozambique, phụ nữ dành khoảng hai giờ để đến một nguồn nước và dành khoảng ba giờ để xếp hàng vì nước do sự khan hiếm tương đối của nguồn nước sinh hoạt sẵn có cho người dân [Osman và Khan, 2011] Thực tế, ở nhiều nước đang phát triển, tại một số khu vực khan hiếm nước, thời gian để lấy nước là gánh nặng đè l n vai người lao động vào buổi sáng sớm hoặc chờ lấy nước cả vào lúc đ m khuya
Mặc dù hộ gia đình ở các khu vực đô thị thường có xu hướng được tiếp cận tốt hơn với các tiện nghi và dịch vụ về nước sinh hoạt và vệ sinh, nhưng các hộ gia
Trang 39đình ở khu ổ chuột ở đô thị hoặc các khu vực không chính thức lại thường có kết nối hạn chế với các dịch vụ cơ bản Điều này là do việc mở rộng nguồn nước cấp cho người nghèo đặc biệt là ở khu ổ chuột rất khó khăn do tính tự phát của khu định
cư Một trong những nguyên nhân chính là do nhu cầu về nước và vệ sinh của các cộng đồng đô thị nghèo không được lồng ghép vào quy hoạch đô thị và khu vực họ sinh sống [Bosch và cộng sự, 2001] Đây cũng l một vấn đề nữa của việc tiếp cận
và sử dụng nước ở các cộng đồng dân cư nghèo, dễ bị tổn thương ở các nước đang phát triển hiện nay Một nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự: Franceys và Gerlach (2012) chỉ ra rằng, mặc dù hầu hết người nghèo thành thị sống ở khu ổ chuột; người dân thường bị từ chối tiếp cận hoặc phải đối mặt với các thủ tục hành chính rườm rà khi họ muốn kết nối với nguồn nước Lý do, một phần do thiếu bảo đảm an ninh cho đất đai v đường ống cũng như cho các vấn đề về khả năng chi trả Mặc dù giá điện, giá nước sinh hoạt có thể rẻ hơn đối với người nghèo, nhưng nhiều người vẫn bị từ chối vì họ không có quyền sở hữu chính thức đối với nơi ở của họ Nơi cư trú của họ đóng là rào cản để tiếp cận với các cơ sở cấp nước, vì các mạng lưới cơ sở hạ tầng chưa phát triển Do đó rất khó để các hộ gia đình trong các khu vực này có thể kết nối với các dịch vụ về nước
Một điểm đáng chú ý l , các hộ gia đình có đường ống dẫn vào nhà có xu hướng sử dụng nhiều nước hơn cho vệ sinh cá nhân của mình, trong khi những người sử dụng nguồn nước bên ngoài nhà của họ, sử dụng số lượng nước ít hơn cho
vệ sinh cá nhân Ví dụ, trong các nghiên cứu tiến hành ở Tanzania, Kenya và Uganda, các hộ gia đình có đường nước kết nối trong nhà thường sử dụng khoảng 16,3 lít bình quân đầu người để rửa chén và quần áo v 17,4 lít bình quân đầu người
để tắm, trong khi những người có nguồn nước ở ngoài nhà, sử dụng bình quân 6,6 lít /người để rửa chén và quần áo và 7,3 lít bình quân đầu người để tắm [Howard và Bartram, 2003] Điều này cho thấy, những hộ gia đình được cấp nước và lắp đặt thiết bị thích hợp cần nhiều nước sinh hoạt hơn những hộ gia đình không có đường ống nước dẫn đến nhà của họ
Trang 40Thứ bảy: Các yếu tố về về nhận thức, thái độ và sự tham gia của người dân
Nghiên cứu về tiếp cận và sử dụng nước của cộng đồng dân cư, không thể không nghiên cứu sự tham gia các hoạt động tổ chức, quản l ý của cộng đồng dân cư
có nhu cầu tiếp cận và sử dụng các dịch vụ cung cấp nước Đ có một số các nghiên cứu cho thấy, việc tiếp cận với nước uống sạch là nhu cầu tối quan trọng đối với mỗi hộ gia đình v do đó, họ luôn mong muốn tham gia vào việc tìm kiếm, sử dụng
và kiểm soát các dịch vụ cấp nước sinh hoạt cho họ Khi thiếu nước, có sự cố về nước, người dân luôn mong muốn có được các thông tin chính xác để có các biện pháp phòng ngừa phù hợp Đây cũng l cơ sở quan trọng để các thành viên trong mỗi gia đình lựa chọn nguồn nước, tiếp cận và sử dụng với số lượng và chất lượng nước phù hợp nhất [Onjala và cộng sự 2014]
Theo Onjala và cộng sự (2014), các hộ gia đình khác nhau có nhận thức về nước từ các nguồn là khá khác nhau Vì thế, với mỗi nguồn nước, cách tiếp cận và
sử dụng của các gia đình cũng khác nhau Nhìn chung, họ thường căn cứ vào nhu cầu, điều kiện kinh tế và vị thế xã hội của mình mà lựa chọn cách tiếp cận và sử dụng khác nhau Khi lựa chọn một nguồn nước chính, họ thường phải căn cứ vào các mong đợi từ việc tiếp cận, tiêu thụ nước như: chi phí, thời gian tiếp cận, các nguy cơ sức khoẻ, các tiện ích,… Theo Redding và cộng sự (2000) như được trích dẫn trong Onjala và cộng sự (2014), các nhà tâm lý học về sức khoẻ nhận ra nguy
cơ bị bệnh là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong hành vi phòng ngừa của
hộ gia đình khi tiếp cận, sử dụng nước Chính những kiến thức này làm cho đa số các hộ gia đình có mức sống giàu có, mua nước đóng chai để uống – điều mà các hộ nghèo chưa thực hiện được
Dupont và cộng sự (2014) trong một nghiên cứu ở Canada cho thấy, niềm tin vào các thể chế, những sự khác biệt trong sự hài lòng với dịch vụ, sự không công bằng trong dịch vụ cấp nước cũng đều góp phần làm nên sự khác biệt trong nhận thức, thái độ quan sát được về tiếp cận và sử dụng nước Nghiên cứu n y đ so sánh các câu trả lời với năm câu hỏi điều tra giống nhau, được phát triển độc lập và phân