1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu văn bản tục lệ hán nôm làng xã huyện từ liêm trước năm 1945

313 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 313
Dung lượng 2,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua việc nghiên cứu văn bản tục lệ huyện Từ Liêm, tác giả luận án muốn tìm hiểu cuộc sống sinh hoạt, phong tục tập quán của người dân làng xã huyện Từ Liêm xưa và góp phần tìm hiểu truyề

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN TỤC LỆ HÁN NÔM LÀNG XÃ

HUYỆN TỪ LIÊM TRƯỚC NĂM 1945

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN TỤC LỆ HÁN NÔM LÀNG XÃ

HUYỆN TỪ LIÊM TRƯỚC NĂM 1945

CHUYÊN NGÀNH: HÁN NÔM

MÃ SỐ: 62 22 01 04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS ĐINH KHẮC THUÂN

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan: Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả và số liệu được nêu trong luận án là trung thực Những kết luận của Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 2019

Nguyễn Thị Hoàng Yến

Trang 4

Lời cảm ơn

Tác giả luận án xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đinh Khắc Thuân, người thầy luôn tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trên con đường nghiên cứu khoa học

Tôi xin cảm ơn PGS.TS Phạm Văn Khoái, PGS.TS Trịnh Khắc Mạnh, PGS.TS Vũ Duy Mền, PGS.TS Nguyễn Thị Oanh, TS Đào Phương Chi, các bác, các cô, các chú và các anh chị em đồng nghiệp Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã có những ý kiến đóng góp quan trọng, quan tâm, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi cũng xin cảm ơn Thư viện KHXH, Thư viện Quốc gia Hà Nội, Phòng tư liệu khoa Văn học, trường Đại học Khoa học

xã hội và nhân văn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi sưu tầm tài liệu phục vụ Luận

án Tôi xin cảm ơn TS Phan Thị Hiền, Ths Lê Kim Tân phòng Đào tạo sau đại học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn giúp đỡ tôi trong quá trình làm thủ tục xin bảo vệ hội đồng các cấp Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị cán bộ chuyên trách văn hóa phường Đông Ngạc, phường Phú Diễn, phường Thụy Phương, phường Minh Khai, phường Liên Mạc, phường Thượng Cát của quận Bắc Từ Liêm, xã Vân Canh huyện Hoài Đức, phường Xuân Phương quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã giúp đỡ và cung cấp tài liệu cho tôi trong quá trình đi thực tế, điền dã tại địa phương

Cuối cùng, tôi xin gửi tới bạn bè thân thiết và gia đình nội ngoại hai bên lời cảm ơn sâu sắc vì sự giúp đỡ, cảm thông và chia sẻ

Tác giả Luận án

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục 1 Danh mục các chữ viết tắt 5

1.2.3 Tình hình nghiên cứu văn bản hương ước chữ Hán các nước

đồng văn Trung Quốc, Hàn Quốc

27

1.2.5 Tình hình biên dịch, giới thiệu văn bản tục lệ 32

1.3 Tình hình nghiên cứu tục lệ và văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ

Liêm

37

1.3.2 Tình hình nghiên cứu văn bản tục lệ Hán Nôm 37

1.3.3 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu văn bản tục lệ Hán Nôm 38

Chương 2 KHẢO SÁT VĂN BẢN TỤC LỆ HÁN NÔM HUYỆN TỪ LIÊM 41 2.1 Địa danh hành chính huyện Từ Liêm trước năm 1945 41

Trang 6

2.2 Các nguồn văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm 43

2.3.1 Phân bố văn bản tục lệ theo thời gian 45

2.3.2 Phân bố văn bản tục lệ theo không gian 57

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG VĂN BẢN TỤC LỆ

HÁN NÔM HUYỆN TỪ LIÊM

71

3.2 Tên gọi văn bản 82 3.3 Đặc điểm văn tự 89 3.4 Việc sửa đổi, bổ sung văn bản tục lệ 90

3.4.1 Việc sửa đổi, bổ sung tục lệ do lệnh của quan trên 93

3.4.2 Việc sửa đổi, bổ sung tục lệ theo nhu cầu của địa phương 95

3.4.3 Ý nghĩa của việc sửa đổi, bổ sung tục lệ 96 3.5 Đặc trưng nghề nghiệp trong văn bản tục lệ 97

3.5.1 Văn bản tục lệ của các thôn, làng, xã thuần nông 98

3.5.2 Văn bản tục lệ của các phường, làng nghề 99

3.5.3 Văn bản tục lệ của dòng họ, giáp, làng khoa bảng 100

Trang 7

4.1.1.7 Tiết Thường tân 111

4.1.4.2 Luật nhà nước quân chủ quy định lệ tang 135

4.1.5 Văn bản tục lệ với truyền thống hiếu học 137

4.1.5.2 Lệ chúc mừng người thi đỗ, làm quan 139

4.1.5.3 Lệ biếu, ngôi thứ người đỗ đạt và làm quan 140

Trang 8

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT VIẾT ĐẦY ĐỦ VIẾT TẮT

1 Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học KHXH & NV

9 Thư viện Khoa học xã hội TVKHXH

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Huyện Từ Liêm xưa giáp với kinh thành Thăng Long, với lịch sử hình thành

và phát triển từ rất sớm Đây vốn là vùng đất văn hiến, có bề dày văn hóa và hiện còn lưu giữ được nhiều di tích lịch sử rất giá trị Hiện nay, kho văn bản tục lệ ở VNCHN và TVKHXH lưu giữ nhiều văn bản tục lệ Hán Nôm của huyện Từ Liêm, biên soạn trải qua hầu hết niên đại của các triều vua từ thời Lê Trung hưng cho đến các vua cuối thời Nguyễn, trải dài gần ba trăm năm Các văn bản tục lệ này bao gồm văn bản tục lệ cổ truyền (từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX), văn bản tục lệ giai đoạn cải lương thí điểm (khoảng 1905-1906 đến trước khi người Pháp tiến hành cuộc cải lương hương chính vào 12-8-1921) và các bản tục lệ cải lương được lập từ 12-8-1921 đến năm 1942 (Theo Nghị định ngày 12-8-1921 và Nghị định ngày 25-2-

1927 của Thống sứ Bắc Kỳ; Đạo dụ ngày 23-5-1941 của vua Bảo Đại, được Toàn quyền Đông Dương chuẩn y bằng Nghị định ngày 29-5-1941) Phần lớn số lượng văn bản tục lệ tập trung ở làng khoa bảng có nhiều người đỗ đạt như xã Đông Ngạc,

xã Vân Canh, xã La Khê và xã Phú Diễn Qua việc nghiên cứu văn bản tục lệ huyện

Từ Liêm, tác giả luận án muốn tìm hiểu cuộc sống sinh hoạt, phong tục tập quán của người dân làng xã huyện Từ Liêm xưa và góp phần tìm hiểu truyền thống văn hóa kinh thành Thăng Long trong lịch sử Giá trị tích cực của văn bản tục lệ xưa đối với cuộc sống của người dân và vai trò chấn chỉnh phong tục tập quán ở làng xã

Về việc phản ánh đặc trưng nghề nghiệp, văn bản tục lệ huyện Từ Liêm hiện còn bao gồm văn bản tục lệ của các làng, giáp, dòng họ khoa bảng; bản tục lệ của các phường nghề ở địa phương và bản tục lệ của các làng xã nông nghiệp Nội dung của các bản tục lệ này đều có những đặc điểm riêng do nghề nghiệp quy định

Từ việc tìm hiểu và nghiên cứu văn bản tục lệ huyện Từ Liêm, luận án muốn góp phần tìm hiểu phong tục tập quán của người dân huyện Từ Liêm xưa, nghiên cứu giá trị tục lệ cổ truyền trong việc kế thừa và phát huy Quy ước văn hóa ở các xã phường hiện nay Đó là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài "Nghiên cứu văn bản tục lệ Hán Nôm làng xã huyện Từ Liêm trước năm 1945"

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 11

văn bản tục lệ Hán Nôm hiện lưu trữ tại VNCHN với đặc điểm, sự phân bố về không gian, thời gian, tình hình văn bản, nội dung và giá trị nội dung của văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm trước năm 1945 trong hoạt động sinh hoạt làng xã, quản lý làng

xã và chấn chỉnh phong tục tập quán tại địa phương Tìm hiểu sự kế thừa giá trị tích cực của văn bản tục lệ xưa đối với việc xây dựng Quy ước văn hóa mới hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong giới hạn, luận án tập trung nghiên cứu toàn bộ văn bản tục lệ Hán Nôm

cổ truyền huyện Từ Liêm trước năm 1945, bao gồm thư tịch và văn bia tục lệ Hán Nôm hiện lưu trữ tại VNCHN

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khảo sát sự phân bố của các văn bản tục lệ theo không gian và thời gian, nghiên cứu đặc điểm văn bản và đặc trưng nghề nghiệp được phản ánh trong văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm Luận án nghiên cứu các vấn đề như phong tục tập quán làng xã, việc học hành, hội Tư văn, bảo vệ quyền lợi của dân làng được phản ánh trong văn bản tục lệ Đề tài đánh giá các giá trị của văn bản tục lệ ở các phương diện như vai trò tự quản của dân làng, chỉnh đốn phong tục và sức sống của tục lệ trong đời sống văn hóa xưa và nay

- Phạm vi không gian là huyện Từ Liêm trước năm 1945 Do vậy, các làng xã trong huyện Từ Liêm mà luận án đề cập đến hiện nay là các quận Bắc Từ Liêm, quận Cầu Giấy, quận Nam Từ Liêm, quận Tây Hồ, một phần các quận Hà Đông, quận Thanh Xuân, huyện Hoài Đức, huyện Đan Phượng thuộc TP Hà Nội ngày nay

- Phạm vi thời gian từ cuối thế kỷ XVII đến trước năm 1945

4 Phương pháp và thao tác nghiên cứu

4.1 Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu văn bản học Đây là phương pháp đầu tiên và quan trọng đối với những người làm công tác Hán Nôm nói riêng và các ngành khoa học liên quan đến văn bản nói chung Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu và dịch thuật tục lệ, đề tài luôn đặt nhiệm vụ tiến hành những thao tác văn bản học, đảm bảo

độ chính xác khoa học cao

Trang 12

- Phương pháp phiên dịch học Đây là phương pháp quan trọng đối với công tác nghiên cứu Hán Nôm học, muốn nghiên cứu nội dung văn bản, trước tiên cần giải mã được văn bản đó

- Phương pháp luận sử học Đây là đề tài sử dụng nhiều kiến thức sử học, sử liệu học trong việc nhận định, phân tích, đánh giá các sự kiện lịch sử

- Phương pháp khảo sát điền dã Chúng tôi sẽ khảo sát văn bản tục lệ Hán Nôm và Quy ước văn hóa hiện nay ở địa phương, tiến hành so sánh nhằm tìm hiểu

sự kế thừa và phát huy giá trị tích cực của văn bản tục lệ xưa

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành Văn bản tục lệ là một loại văn bản Hán Nôm mang tính chất đa ngành Vì vậy để tìm hiểu vấn đề này cần phải vận dụng tri thức của nhiều ngành khoa học khác nhau như luật học, sử học, văn hóa dân gian, dân tộc học mới có thể khai thác những giá trị còn ẩn chứa trong đó

4.2 Luận án sử dụng các thao tác nghiên cứu:

- Thao tác thống kê, định lượng Việc thống kê, định lượng bằng con số cụ thể

có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xử lý tư liệu Những con số thống kê, định lượng sẽ giúp chúng ta có cái nhìn bao quát và tổng thể về các mặt của văn bản tục

lệ như: nội dung các điều khoản, sự phân bố về không gian, thời gian, đặc điểm của tục lệ qua từng giai đoạn lịch sử nhất định Qua đó, chúng ta có thể thấy được quá trình diễn tiến và phát triển của tục lệ, về hình thức cũng như nội dung

5 Đóng góp mới của luận án

- Hệ thống hóa các nguồn tài liệu tục lệ và tiến hành khảo sát sự phân bố văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm theo thời gian và không gian, giới thiệu nội dung văn bản tục lệ ở từng giai đoạn

- Nghiên cứu đặc điểm hình thức văn bản tục lệ, tên gọi văn bản, đặc điểm văn

tự, việc sửa đổi, bổ sung tục lệ và đặc trưng nghề nghiệp phản ánh trong văn bản tục

Trang 13

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án có cấu trúc gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Ở chương này, chúng tôi tìm hiểu thuật ngữ tục lệ, hương ước trong từ điển, tự điển của Trung Quốc, Việt Nam và các nhà nghiên cứu trong nước đưa ra Sau đó, tác giả luận án khái quát tình hình nghiên cứu tục lệ Việt Nam, văn bản tục lệ Hán Nôm, văn bản tục lệ huyện Từ Liêm Từ đó, chúng tôi đưa ra một số nhận xét chung

và định hướng nghiên cứu của đề tài

Chương 2: Khảo sát văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm

Chương này thực hiện thống kê, khảo sát sự phân bố văn bản tục lệ theo thời gian và không gian, nghiên cứu nội dung văn bản từng thời kỳ, đặc trưng từng đơn

Chương 4: Nội dung và giá trị văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm

Từ việc nghiên cứu phong tục tập quán, chương này chỉ ra giá trị của văn bản tục lệ xưa trong việc chấn chỉnh phong tục làng xã, sự kế thừa và phát huy những giá trị tích cực của tục lệ truyền thống nhằm xây dựng Quy ước văn hóa ngày nay

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Chương này sẽ trình bày một cách tổng quát về hương ước, tục lệ, tình hình nghiên cứu hương ước, tục lệ ở Việt Nam trong thời gian qua Trên cơ sở đó đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu chuyên sâu để giải quyết những vấn đề cần nghiên cứu mà những công trình, đề tài nghiên cứu trước chưa từng đề cập đến

1.1 Khái quát chung về tục lệ và văn bản tục lệ

1.1.1 Khái niệm tục lệ

Trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các tổ chức hương thôn như phe giáp, xóm ngõ, làng xã thường đặt ra những điều ước để ràng buộc, điều hòa và giải quyết tranh chấp va chạm với nhau Vì vậy, tục lệ còn được hiểu là lệ làng, là luật tục của người dân nơi làng xã Tuy nhiên, trước khi tục lệ của làng xã được văn bản hóa, thì tục lệ của làng đã truyền miệng từ lâu đời Văn bản tục lệ có nhiều tên gọi khác nhau như tục lệ, phong tục, khoán ước, hương ước, bạ, khoán, khoán ước, khoán lệ, lệ, điều lệ Trước hết, luận án tìm hiểu khái niệm của các thuật ngữ này được viết trong từ điển, tự điển của Trung Quốc và Việt Nam, ngoài ra có tham khảo thêm cách giải thích của các nhà nghiên cứu đi trước nhằm hiểu rõ hơn nội hàm mà các thuật ngữ này đề cập đến

* Thuật ngữ do các từ điển, tự điển Trung Quốc, Việt Nam giải thích:

- Bạ 1 Sổ sách; sổ sách dùng để ghi chép 2 Đăng ký; ghi chép vào sổ sách 3 Văn thư.1 [ 236, 1267]

Đại Nam quấc âm tự vị không có mục từ bạ [10]

Bạ là sổ sách dùng để đăng kí, ghi chép [240, 1574]

Bạ: Sổ sách để biên chép: thủ bạ; sổ bạ [118, 25]

Bạ: Sổ sách ghi chép để theo dõi về ruộng đất, sinh tử, giá thú [102, 21]

Bạ: Sổ sách ghi chép về ruộng đất, sinh tử, giá thú: bạ ruộng đất [152, 79]

- Điều lệ: 1 Nghĩa lệ, thể lệ của trước tác 2 Quy định về việc nào đó được phê chuẩn, hoặc tổ chức của một cơ quan.2 [234, 1482]

Điều lệ: Quy điều, phép tắc [10, 554]

Trang 15

Điều lệ là quy tắc chia thành điều kí kết [240, 1574]

Điều lệ: Luật lệ chia ra từng khoản để noi theo [118, 197]

Điều lệ: Văn bản quy định mục đích, nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của một đoàn thể, một tổ chức [102, 311]

Điều lệ: Văn bản ghi những điều khoản về nhiệm vụ, về tổ chức, hoạt động, tôn chỉ của một tổ chức đã được tổ chức thông qua và làm theo [152, 638]

- Hương ước: 1 Giống như từ hương quy dân ước (Trung Quốc) Dùng thích

hợp với quy ước của làng đó, khu vực đó "Tống sử Lã Đại Phòng truyện" (Họ Lã)

từng làm "hương ước" nói rằng: "Phàm những người cùng ràng buộc với nhau, dùng đức nghiệp khuyên bảo nhau, có lỗi lầm thì khuyên răn, sửa chữa, thói quen lễ phép giao tiếp với nhau, hoạn nạn giúp đỡ nhau."3 [237, 665]

Hương ước là quy ước của người dân cùng nhau tuân thủ Sử Tống phần 340,

Lã Đại Phòng truyện: "Người nói về lễ ở đất Quan Trung nên suy tôn họ Lã mà thôi

[Ông] từng viết sách Hương ước: "Phàm những người cùng quy ước với nhau,

nghiệp đức khuyến khích nhau, sai lầm khuyên răn nhau, lễ tục kết giao với nhau, hoạn nạn thương xót nhau4 [240, 3116]

Hương ước: Lệ làng, quy luật trong làng [118, 296]

Hương ước: Luật lệ ở làng xã dưới chế độ cũ, do dân làng đặt ra [102, 458] Hương ước: Luật lệ do làng xã dưới chế độ cũ đặt ra [152, 863]

Từ điển An Nam - Lusitan - La tinh không có mục từ hương ước

- Khoán: 1 Chứng từ 3 Phù hợp, khớp 4 Thuật lại, miêu tả, thể hiện 5 Thí

dụ bảo đảm công việc có thể thành công.5 [235, 648]

Khoán là hợp đồng, văn kiện (bằng cứ) Khoán thời xưa thường chia làm hai nửa, mỗi bên giữ một nửa làm bằng chứng [240, 351]

Khoán券: lời giao ước, hẹn hò, cấm ngăn [10, 495]

Trang 16

bán con vào cửa Phật, cửa Thánh, làm con Phật, con Thánh cho dễ nuôi, theo mê tín [102, 486]

Khoán: Tờ giao ước để làm bằng [152, 910]

- Khoán lệ: Hán ngữ đại từ điển, Từ nguyên không có cụm từ này

Khoán lệ: Lệ nộp khoán với làng [118, 318]

Khoán lệ: Lệ nộp khoán [152, 910]

- Khoán ước: khế ước, văn tự.6 [235, 648] Từ nguyên không có cụm từ này

Khoán ước: Bản giao ước [102, 487]

Khoán ước: Bản giao kèo [152, 910]

Từ điển An Nam - Lusitan - La tinh không có mục từ khoán ước

- Lệ: 2 Chuẩn tắc, quy tắc 3 Trở thành lệ; lệ cũ 4 Thể lệ 6 Theo phép tắc

cũ, trở thành thói quen.7 [234, 1334]

Lệ: chuẩn tắc, quy trình điều lệ noi theo.8 [240,207]

Lệ例: thói quen, phép đã định đã quen [10, 554]

Lệ: Phép tắc, thói quen đã thành từ trước [118, 353]

Lệ: Điều quy định và đã trở thành nếp [152, 1009]

Lệ: 1 Điều quy định có từ lâu đã trở thành nề nếp, mọi người cứ theo thế mà

làm 2 Điều được lặp đi lặp lại nhiều lần, tự nhiên đã thành thói quen Lần nào

cũng thế, đã thành lệ Theo lệ thường 3 Điều làm theo lệ thường (chỉ cốt cho có

mà thôi) [102, 541]

- Lệ bạ例簿: Hán ngữ đại từ điển, Từ nguyên không có cụm từ này

Từ điển tiếng Việt, Đại từ điển tiếng Việt không có mục từ này

- Phong tục: Phong khí, tập tục nối nhau lâu ngày mà thành.9 [238, 604]

Phong tục là thói quen, tập quán hình thành trong thời gian dài của một địa phương.10 [240,3406]

Phong tục: Thói tục chung của nhiều người từ lâu đời: phong tục làng [118, 487]

Phong tục: Thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo [102, 756]

6 Nguyên văn : "券約: 契据."

7 Nguyên văn: " 例 : 2.准則 ,規则 3 成例;旧例 4 体例.6.按照旧規慣例 "

8

Trang 17

Phong tục風俗: thói tục [11, 816]

Phong tục: Lối sống, thói quen đã thành nề nếp, được mọi người công nhận, tuân theo [152, 1339]

Từ điển An Nam - Lusitan - La tinh không có mục từ phong tục

- Tục lệ: 1 Như quán lệ (làm theo thói quen) 2 Tập tục của dân gian.11 [234,

1405] Từ nguyên không có mục từ này

Tục lệ俗例: Thói tục đã quen [10, 554]

Tục lệ: Lề thói, thói quen: tục lệ trong chốn hương thôn [118, 660]

Tục lệ: Điều quy định có từ lâu đời, đã trở thành thói quen trong đời sống xã hội (nói khái quát) [102, 1026]

Từ điển An Nam - Lusitan - La tinh không có mục từ tục lệ

Tục lệ: Những điều quy định, nếp sống từ lâu đời đã thành thói quen [152, 1747]

* Thuật ngữ do các nhà nghiên cứu giải thích

Trong Việt Nam phong tục, tác giả Phan Kế Bính định nghĩa về khoán ước như

sau: "Chốn hương thôn thường có ước hẹn riêng với nhau, lập ra sổ sách, đồng dân

ký kết gọi là khoán ước" Và tác giả giải thích: "Trong khoán ước có thưởng phạt, trừ ra các việc lớn đã có phép của nhà nước, còn việc nhỏ thì trong dân thôn thi hành lẫn nhau" [4, 181]

Hai tác giả Vũ Duy Mền và Bùi Xuân Đính (1982) với bài viết "Hương ước -

khoán ước trong làng xã" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4 năm 1982, giải

thích: "Hương ước vốn là sản phẩm của văn hóa làng xã, hình thành và ra đời cùng với làng xã." [69, 43]

Bùi Xuân Đính (1985) trong Lệ làng phép nước: " việc văn bản hóa những

tục lệ, tập quán cốt yếu trước đây thành những quy ước cụ thể là tối cần thiết - Bộ

"tập quán pháp" thành văn mà ta quen gọi là hương ước hay khoán ước phải ra đời, nhằm đáp ứng yêu cầu tồn tại và phát triển của các làng xã Như vậy, hương - khoán ước ra đời vừa là kết quả vừa là yêu cầu của quá trình phát triển nội tại của đời sống làng xã Nó là sự kế tục và hoàn chỉnh những quy ước cổ sơ của mỗi nhóm cư dân trong từng lũy tre xanh một." [22, 16]

Tác giả Vũ Duy Mền (1989) trong "Góp phần xác định thuật ngữ "khoán ước"

"hương ước" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử: "Sang thế kỷ XV, đặc biệt dưới

Trang 18

thời vua Lê Thánh Tông, thuật ngữ khoán ước bao hàm nội dung một số quy ước

của dân làng đã trở nên tương đối phổ biến Trong Hồng Đức thiện chính thư Lê

Thánh Tông ra chỉ lệnh hạn chế bớt việc làng xã lập khoán ước riêng vượt những cấm đoán của nhà nước." [71, 80]

Phan Đại Doãn (1992) trong Làng Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế xã hội nêu

ra định nghĩa về hương ước: "Hương ước là luật lệ làng, bắt buộc các thành viên phải tuân thủ Hương ước gắn bó các thành viên trong một cộng đồng tương đối chặt chẽ và tự nguyện, lệ thuộc lẫn nhau, phục tùng làng xã." [12, 87]

Luật gia Lê Đức Tiết (1998) trong Về hương ước lệ làng đưa ra khái niệm

hương ước, lệ làng từ góc độ luật học: "Hương ước, lệ làng là một trong những di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của nhân dân Việt Nam hương ước, lệ làng là sản phẩm pháp lý do dân làng tự sáng tạo ra." [140, 7] Sau đó, ông giải thích thêm:

"Hương ước, lệ làng Việt Nam có quá trình hình thành, tồn tại và phát triển trong nhiều thế kỉ Gắn liền với mọi biến cố thăng trầm về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của đất nước Các cộng đồng cư dân làng xã đã sử dụng nó làm thước đo chuẩn mực để phân biệt đúng sai, phải trái trong quan hệ giao tiếp, ứng xử Điều đó

có ý nghĩa tích cực và bổ ích là toàn dân làng biết sử dụng nó vào mục đích bảo vệ sản xuất, bảo vệ thuần phong mỹ tục, bảo đảm an ninh của cộng đồng, chống lại mọi hiểm họa từ bên ngoài ập đến." [140, 7-8]

Ninh Viết Giao (2000), "Từ hương ước đến quy ước trong xã hội ngày nay",

Tạp chí Văn hóa dân gian (1), đưa ra khái niệm hương ước vào giai đoạn trước

Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 như sau: "Hương ước là văn bản pháp lý của mỗi làng, trong đó bao gồm các điều ước về dân sự, hình sự, các điều ước về giữ gìn đạo

lý, về phong tục tập quán có liên quan đến tổ chức xã hội cũng như đến đời sống nhân dân trong làng Hương ước là tấm gương phản chiếu bộ mặt xã hội cũng như đời sống văn hóa của mỗi làng

Hương ước được hình thành trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết Đó là hệ thống luật tục tồn tại song song với luật pháp của Nhà nước mà

cơ bản không đối lập với luật pháp của Nhà nước Muốn biết làng nào như thế nào,

có an ninh trật tự hay không, có thuần phong mỹ tục hay không, hãy xem hương ước của làng ấy." [32, 58]

Trang 19

Như vậy, có năm từ điển, tự điển định nghĩa tục lệ Đó là La Trúc Phong, Hán

ngữ đại từ điển, NXB Hán Ngữ Đại từ điển罗竹风(主编 )(1986), 漢語大詞典,漢語大詞 典出本社định nghĩa tục lệ là tập tục của dân gian Huình - Tịnh Paulus Của (1895),

Đại Nam quấc âm tự vị, SaiGon Imprimerie Rey, Curiol & Cie 4, rue d'Adran, 4,

định nghĩa tục lệ là thói tục đã quen Đào Văn Tập (1951), Tự điển Việt Nam phổ

thông, Nhà sách Vĩnh Bảo Sài Gòn định nghĩa tục lệ là lề thói, thói quen Hoàng Phê

(1994) (Viện Ngôn ngữ học), Từ điển tiếng Việt, NXB KHXH định nghĩa tục lệ là

điều quy định có từ lâu đời, đã trở thành thói quen trong đời sống xã hội (nói khái

quát) Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, tục lệ

là những điều quy định, nếp sống từ lâu đời đã thành thói quen

Theo tác giả luận án thì định nghĩa tục lệ của Hán ngữ đại từ điển của La Trúc Phong và Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý là khá đầy đủ nhất Theo chúng tôi, tục lệ là những điều quy định, nếp sống từ lâu đã thành thói quen của mỗi làng,

hình thành trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết Nội dung quy định bao gồm các việc từ tổ chức xã hội cho đến đời sống nhân dân trong làng Các quy ước này bắt buộc mọi thành viên trong làng phải tuân thủ

1.1.2 Văn bản tục lệ

Hai nhà nghiên cứu Vũ Duy Mền và Nguyễn Hữu Tâm (2016) với "Hương ước trong việc quản lý làng xã đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam (Cuối thế kỷ XIX đầu

thế kỷ XX)" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (1), viết cơ sở lý luận hình thành

văn bản tục lệ như sau: Từ tục lệ của dân làng truyền khẩu nêu trên, muốn văn bản hóa để chúng trở thành những quy ước - hương ước thành văn nhất thiết phải có lớp người Nho sĩ, biết chữ Hán, chữ Nôm Quá trình tiếp xúc với văn hóa Hán, Nho học

là cả một chặng đường dài của người Việt Từ sau thời vua Lê Thánh Tông 1497), khi Nho học đã đạt tới đỉnh cao thì lớp Nho sĩ xuất hiện ngày càng nhiều trong các làng xã Chính họ là người đã tiếp thu văn hóa Nho giáo Trung Quốc, đem

(1460-áp dụng vốn tri thức Hán học vào cuộc sống; trong đó có việc thừa hưởng lý luận

Nho gia - lý luận hương ước, từ Lam Điền Lã thị hương ước thời Bắc Tống, đến

việc coi trọng dân làm gốc, hương đảng là nền tảng của vương chính, dân có yên

"người trong hương đảng hòa mục" nước mới vững bền Triều đình chủ trương "trị bình" dân chúng trong các hương lý (làng xã) bằng giáo hóa (đức trị) làm giàu phong tục để thu phục lòng người hướng về điều thiện, ngăn ngừa điều ác Khi

Trang 20

Nho giáo và Nho học truyền bá sang Việt Nam, đã được các nhà Nho Việt Nam tiếp thu một cách sáng tạo, không rập khuôn máy móc Biểu hiện khá sinh động khi họ tiếp thu lý luận Nho gia tham gia lập bản hương ước làng xã [80, 35-36] Như vậy, hương ước ở Trung Quốc có từ thời Bắc Tống (960-1127), còn ởViệt Nam hương ước có thể biên soạn muộn hơn Đến thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1496), triều đình đã ra sắc lệnh thể chế hóa hương ước, tục lệ Và tục lệ là tục của dân nhưng có

sự phê chuẩn của quan lại thì văn bản tục lệ đó mới được thi hành Nhà nước phong kiến quản lý tục lệ thông qua hệ thống quan lại cấp địa phương và nhà nước thực hiện việc "chỉnh đốn phong tục" chủ yếu là những tục lệ riêng biệt của từng làng, không để cho các hủ tục phát triển, tạo tiền đề cho sự cách biệt giữa lệ làng và luật pháp, tạo "sức ly tâm" cho làng xã khỏi quỹ đạo của nhà nước Về cơ bản, tục lệ luôn tồn tại song song với luật pháp của nhà nước và không trái với luật pháp Mặt khác, tục lệ bổ sung, cụ thể hóa những điều luật ấy, giúp cho luật pháp của nhà nước gần gũi với người dân và người dân tuân thủ luật pháp tốt hơn

Những người lập văn bản tục lệ là quan viên, hương lão, sắc mục và toàn thể dân làng cùng bàn bạc, soạn thảo, rồi được cả làng nhất trí, hào mục, lý dịch, hương lão ký tên, Lý trưởng đóng dấu, thậm chí có bản ghi cả làng ký tên, song kỳ thực nó

do các quan viên, chức sắc, các lý dịch trong làng bàn bạc và soạn ra là chủ yếu Việc các làng xây dựng tục lệ đều xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống hàng ngày, giúp cho cuộc sống người dân có trật tự, nề nếp, thuần phong mỹ tục, an ninh trong làng được đảm bảo, đời sống sung túc, mọi người ăn ở hòa thuận, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau Chính vì ý nghĩa tốt đẹp của tục lệ mà nó có sức sống bền bỉ, lâu dài Kho sách Hán Nôm của VNCHN có phân kho AF mang tên tục lệ nhằm bao quát tất cả tư liệu về phong tục của các địa phương Vì vậy, trong phạm vi luận án, tác giả sử dụng tên gọi tục lệ để chỉ chung cho các văn bản phong tục làng xã

1.2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề tục lệ Việt Nam từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và công bố dưới nhiều hình thức khác nhau như bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo, sách nghiên cứu chuyên khảo cho đến các luận văn, luận án Cùng chọn đối tượng nghiên cứu là hương ước, tục lệ nhưng các tác giả có nhiều cách tiếp cận khác nhau về đối tượng này Một số tác giả giới thiệu

Trang 21

phạm vi không gian xác định như một huyện, một tỉnh hoặc theo giai đoạn lịch sử, đồng đại hay lịch đại Có tác giả quan tâm đến việc sưu tầm, giới thiệu và công bố các bản dịch hương ước, tục lệ Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối Những công trình, bài viết của các tác giả sử dụng tên hương ước, tục lệ chúng tôi sẽ giữ nguyên tên gọi này, thể hiện sự tôn trọng với tác giả Trong luận án, văn bản chủ yếu là tục lệ truyền thống nên chúng tôi chỉ gọi tên tục lệ

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về làng xã

Có thể nói rằng, Vũ Duy Mền và Bùi Xuân Đính là những nhà nghiên cứu lâu năm về hương ước, tục lệ Hai ông có các công trình sớm nhất và công bố nhiều kết quả nghiên cứu về vấn đề này dưới hình thức là các bài tạp chí, sách chuyên khảo, luận án và trở thành chuyên gia hương ước Việt Nam

Vũ Duy Mền và Bùi Xuân Đính (1982) với "Hương ước - khoán ước trong

làng xã" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, đưa ra định nghĩa, nguồn gốc, thời

điểm ra đời và vai trò hương ước trong sự vận hành của làng xã Hương ước thể hiện tính tự trị của làng xã đối với nhà nước phong kiến Hương ước có vai trò điều hòa lợi ích giữa nhà nước phong kiến và làng xã, là bộ luật điều chỉnh các mối quan

hệ của làng xã [69, 43-49]

Bùi Xuân Đính (1985) với Lệ làng phép nước, tác giả là một nhà nghiên cứu

hương ước từ góc độ dân tộc học Tác giả nghiên cứu lệ làng chưa thành văn, nội dung cơ bản của lệ làng thành văn, lệ làng quan hệ với luật pháp nhà nước và cuối cùng lệ làng, giá trị pháp lý, những tác động tích cực và tiêu cực Tác giả so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa pháp luật của nhà nước và lệ làng [22]

Vũ Duy Mền (1989), "Góp phần xác định thuật ngữ "Khoán ước", "Hương

ước"" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tác giả chỉ ra lệ làng thành văn có hai

tên gọi phổ biến là "khoán ước", "hương ước" Tác giả giải thích khái niệm hương ước, khoán ước và chỉ ra điểm chung giữa khoán ước, hương ước đều là những quy ước, nhưng khác nhau ở nội dung và mục đích của quy ước Thuật ngữ "khoán ước" phổ biến ở thế kỷ XV, còn thuật ngữ "hương ước" xuất hiện trong làng xã người Việt, phổ biến ở thế kỉ XVIII trở đi [71, 77-83]

Vũ Duy Mền (1993) với "Nguồn gốc và điều kiện xuất hiện hương ước trong

làng xã ở vùng đồng bằng - Trung du Bắc Bộ", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tác giả

chỉ ra nguồn gốc của hương ước là từ tục dân Lệ làng từ truyền khẩu sau thành văn,

Trang 22

từ đó hương ước ra đời Những điều kiện để xuất hiện hương ước là: nhu cầu tự thân phát triển của làng xã, sự can thiệp của nhà nước phong kiến đối với làng xã và

sự xuất hiện của lớp trí thức bình dân [72, 49-57]

Diệp Đình Hoa (1994) với "Lệ làng và ảnh hưởng của nó đối với pháp luật

hiện đại" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tác giả chỉ ra giá trị của lệ làng là

phản ánh tính đặc thù của mỗi làng và ảnh hưởng của lệ làng đối với pháp luật hiện đại [45, 1-11]

Phạm Xuân Nam, Cao Văn Biền (1994) với "Mấy nét về tình hình các làng xã

tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 1921-1945 qua hương ước" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch

sử Qua hương ước, các tác giả chỉ ra những thay đổi trong tổ chức bộ máy quản lý

làng xã ở Bắc Kỳ trước và sau thời kỳ cải lương hương chính, thay đổi về cơ cấu và chế độ ruộng đất công làng xã, các mặt sinh hoạt xã hội, văn hóa, phong tục, tín ngưỡng [85, 12-23]

Vũ Duy Mền (1996) với đề tài Luận án Tiến sĩ Những khía cạnh kinh tế, văn

hóa, xã hội trong hương ước làng xã ở miền Bắc Việt Nam (thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX), qua hương ước làng xã miền Bắc Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến

đầu thế kỷ XIX, tác giả đi sâu phân tích các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội [73] Cao Văn Biền (1996) với "Sự quản lý của nhà nước đối với hương ước trong

lịch sử" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tác giả cho rằng hương ước là kỷ

cương của làng xã và nhà nước phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XVII Về sau triều đình không trực tiếp quản lý hương ước của các làng xã dưới hình thức phê duyệt của quan lại cấp trên Hương ước ở các làng do quan viên của làng xã tự soạn thảo

và thực hiện Người Pháp tổ chức lại bộ máy hành chính cấp làng xã và nhà nước thực dân trực tiếp quản lý hương ước của các làng xã [3, 42-51]

Bùi Xuân Đính (1996) với Luận án Phó Tiến sĩ với đề tài Về một số hương

ước làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ tại Khoa Lịch sử chuyên ngành Dân tộc học tại

Viện Dân tộc học, Trung tâm KHXH và Nhân văn quốc gia (nay là Viện Hàn Lâm

KHXH Việt Nam), ông tìm hiểu nội dung cơ bản của lệ làng thành văn, vai trò

chính của hương ước Đồng thời, tác giả nghiên cứu đặc điểm của hình thức quản lý

xã hội bằng hương ước, mặt tích cực và hạn chế của hương ước xưa, tìm hiểu vai trò và tác động của hương ước trong việc quản lý làng xã [15]

Trang 23

Kiều Thu Hoạch (1998) với "Hương ước và giá trị văn hóa (qua các văn bản

hương ước Hà Tây cổ truyền)", đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian số 3 Tác giả

cho biết mục đích lập hương ước và giới thiệu nội dung chủ yếu của hương ước Hà Tây như những điều khoản quy định cơ cấu tổ chức chính trị, thiết chế quản lý làng

xã, giữ gìn thuần phong mỹ tục và nhận xét hương ước Hà Tây cổ truyền [33, 3-8]

Lê Đức Tiết (1998) với Về hương ước lệ làng, tác giả nghiên cứu hương ước

từ góc độ luật học và cho rằng hương ước, lệ làng là một sản phẩm của văn hóa pháp lý làng xã Việt Nam Sức sống lâu dài của hương ước, lệ làng là do nó thường xuyên được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với các đòi hỏi, thay đổi mới nảy sinh trong cuộc sống Đồng thời tác giả chỉ ra giá trị pháp lý, giá trị tích cực và hạn chế của hương ước xưa, trên cơ sở đó kế thừa và phát huy những giá trị tích cực của hương ước xưa nhằm xây dựng hương ước mới [140]

Bùi Xuân Đính (1998) với Hương ước và quản lý làng xã, tác giả nghiên cứu

vai trò và tác động của hương ước trong quản lý làng xã, việc "tái lập hương ước"

và vai trò của hương ước mới đối với quản lý làng xã hiện nay Phần cuối, tác giả cũng chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế của hương ước [26]

Bùi Xuân Đính (2000) với "Hương ước và pháp luật" đăng trên Tạp chí Văn

hóa dân gian tìm hiểu đặc điểm của hương ước và pháp luật, so sánh sự giống nhau

và khác nhau giữa chúng, nêu ra mặt tích cực của hương ước là tạo ra một trật tự và

ổn định cho xã hội làng xã, mục đích cũng giống với pháp luật Hương ước tồn tại song song với luật pháp nhà nước phong kiến, trở thành công cụ quan trọng để quản

lý xã hội làng xã, hỗ trợ và bổ sung cho pháp luật [28, 44-57]

Ninh Viết Giao (2000), "Từ hương ước đến quy ước trong xã hội ngày nay",

Tạp chí Văn hóa dân gian, trình bày khái niệm hương ước, nội dung hương ước bao

gồm các mặt trong đời sống xã hội làng xã và mục đích xây dựng hương ước Về ý nghĩa, hương ước là một hệ thống tiêu chuẩn đạo đức, đề cao bổn phận và nghĩa vụ của người dân Quan viên, chức sắc, đương thứ lý dịch đều có trách nhiệm thực hiện theo hương ước Hương ước mới gọi là "quy ước" [32, 58-66]

Nguyễn Thế Hoàn (2002) với "Hương ước một số làng ở Quảng Bình trước

năm 1945" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, chỉ ra một số nội dung cơ bản của

hương ước Quảng Bình như lập ra các tổ chức trong làng, quy ước liên quan đến sưu

Trang 24

thuế, buôn bán trong làng xã, bảo vệ an ninh làng xã, quy ước về văn hóa giáo dục và tôn giáo tín ngưỡng, quy ước đảm bảo nghĩa vụ đối với nhà nước [34, 28-35]

Nguyễn Huy Tính (2003), Luận án Tiến sĩ Luật học với đề tài Hương ước mới -

một phương tiện góp phần quản lý xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay (Từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh) tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chỉ ra một số đặc

điểm cơ bản về kinh tế, xã hội và đặc điểm hương ước làng xã cổ truyền Việt Nam

Tác giả nghiên cứu vai trò quản lý nông thôn của hương ước mới, nhằm khẳng định

tính tự quản, tự điều chỉnh của hương ước, mối quan hệ giữa pháp luật và hương ước, giải pháp hoàn thiện và đưa hương ước mới đi vào thực tiễn cuộc sống [141]

Đinh Khắc Thuân (2004) trong "Sự thâm nhập của Nho giáo vào làng xã Việt

Nam qua tư liệu hương ước", công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, tác giả nghiên

cứu ảnh hưởng của Nho giáo đến làng xã Việt Nam Nho giáo thâm nhập vào làng xã qua các điều lệ về răn bảo, thưởng phạt hành vi đạo đức Đồng thời tác giả cho rằng tầng lớp Nho sĩ là cầu nối giúp Nho giáo thâm nhập vào làng xã [134, 17-21]

Dương Xuân Thoạn (2004) trong Luận văn Thạc sĩ với đề tài Hương ước với

việc xây dựng làng văn hóa ở huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình ngành Luật học tại Đại

học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu hương ước mới với vai trò xây dựng làng văn hóa

ở huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tác giả đã tìm hiểu sự kế thừa hương ước cổ truyền để soạn hương ước mới [132]

Lưu Tĩnh Nhiên (2006), "Giải thích, phân tích xã hội học, pháp luật học hương

quy dân ước Việt Nam" đăng trên Pháp học đương đại (Trung Quốc), tác giả

nghiên cứu sự hình thành và tính chất của tục lệ Việt Nam Hương quy dân ước Việt Nam sinh ra ở xã hội làng quê, quy phạm, thể hiện trật tự xã hội tại làng quê, chỉ tồn tại trong xã hội nông thôn Hương quy dân ước biểu hiện tính tự trị của người dân làng xã [243, 147-151]

Nguyễn Thị Hoàng Yến (2006), Luận văn Thạc sĩ ngành Hán Nôm với đề tài

Khảo sát văn bản hương ước Hán Nôm Thăng Long Hà Nội tại Đại học KHXH &

NV, tác giả đã tiến hành khảo sát sự phân bố của hương ước của các quận, huyện ở

Hà Nội theo không gian và thời gian Tác giả bước đầu nghiên cứu giá trị nội dung như thiết chế làng xã, phong tục tập quán [153]

Phạm Văn Sơn (2007), "Sự phát triển của hương quy dân ước Việt Nam với

Trang 25

nghiên cứu vai trò quản lý làng xã Việt Nam xưa và cho rằng hương quy dân ước của nông thôn Việt Nam là "pháp luật" do các cư dân ở làng xã xây dựng nên trong lịch sử Hương ước là một phương tiện hữu hiệu đối với việc quản lý làng xã Việt Nam xưa kia [248, 110-116]

Phạm Văn Sơn (2007), Luận án Tiến sĩ với đề tài Nghiên cứu hương quy dân

ước trong việc quản lý nông thôn Việt Nam ngành Lý luận Pháp học tại Học viện

Pháp học, Đại học Cát Lâm (Trung Quốc) nghiên cứu sự thay đổi của hương ước Việt Nam từ góc độ quản lý nông thôn và khuyết điểm còn tồn tại Tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa luật pháp của nhà nước với hương ước Đồng thời, tác giả còn đưa ra những gợi ý về quản lý xã hội nông thôn Việt Nam từ hương ước của Trung Quốc và Nhật Bản [247]

Đặng Hoàng Giang (2008), "Một nét cá tính làng xã Việt Nam truyền thống -

Nhìn từ hương ước", đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 năm 2008,

tác giả nhận xét trong điều kiện xã hội phong kiến, phép vua khó lòng thẩm thấu vào làng xã thì hương ước là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh những mối quan hệ phức tạp của cộng đồng Nhà nước chấp nhận sự tồn tại của hương ước, thể hiện sự nhân nhượng của chính quyền phong kiến đối với làng xã [31, 75-77]

Nguyễn Thị Quế Hương (2009), "Ảnh hưởng của Nho giáo trong đời sống văn hóa Việt Nam qua hương ước vùng đồng bằng sông Hồng", đăng trên Tạp chí

Nghiên cứu Tôn giáo, số 11 năm 2009, tác giả tìm hiểu ảnh hưởng Nho giáo tới các

điều khoản trong hương ước cải lương (1921-1944) qua việc hội Tư văn thờ cúng ở văn chỉ, điều chỉnh đời sống sinh hoạt làng xã như kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, văn hóa tâm linh Đồng thời, tác giả phân tích và nhận xét ảnh hưởng văn hóa Nho giáo đối với hương ước [52, 31-38]

Vũ Duy Mền (2010) với Hương ước cổ làng xã đồng bằng Bắc Bộ cho rằng

nguồn gốc của sự hình thành hương ước bắt nguồn từ tục thề hay hội thề Hương ước ra đời là sự can thiệp của nhà nước phong kiến đối với làng xã, nhu cầu tự thân của làng xã và do sự dần lớn mạnh, đông đảo của tầng lớp Nho sĩ ở làng xã Phần cuối, tác giả nghiên cứu nội dung hương ước, chỉ ra những giá trị tích cực và hạn chế của hương ước xưa [78]

Nguyễn Lan Dung (2010) với "Một vài nét về hương ước cải lương của huyện

Hoàn Long, tỉnh Hà Đông" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 10 năm 2010,

Trang 26

tác giả khái quát nguồn tài liệu hương ước cải lương huyện Hoàn Long Nội dung giống với bố cục của bản cải lương mẫu Tác giả tìm hiểu một số nội dung chính của hương ước và cho rằng hương ước cải lương thể hiện sự can thiệp của nhà nước vào tục lệ của làng Cải lương hương chính của thực dân Pháp đã đạt hiệu quả trong một số mặt [18, 45-55]

Nguyễn Thị Minh Quý (2012), Luận văn Thạc sĩ Hán Nôm với đề tài Nghiên

cứu văn bản hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, tác giả nghiên

cứu sự phân bố về không gian và thời gian của các văn bản hương ước ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Bước đầu tác giả đánh giá giá trị nội dung của mảng tư liệu này [109]

Nguyễn Thị Lệ Hà (2012), "Tỉnh Hà Đông - Nơi thí điểm chính sách cải lương

hương chính thời Pháp thuộc" đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 9

năm 2012, tác giả cho biết chủ trương của chính quyền Pháp đối với công cuộc cải lương hương chính, lý do chọn Hà Đông thực hiện thí điểm cải lương hương chính [35, 67-74]

Nguyễn Thị Lệ Hà (2013) với "Cuộc thử nghiệm chính sách cải lương hương

chính của chính quyền Pháp ở tỉnh Hà Đông (1913 - 1920)" đăng trên Tạp chí

Nghiên cứu Lịch sử, tác giả quan tâm tới chính sách cải lương hương chính tại Việt

Nam đầu thế kỷ XX và lý giải tại sao chính quyền Pháp chọn tỉnh Hà Đông làm nơi thí điểm cải lương hương chính (1913 - 1920) Đồng thời, tác giả nghiên cứu nội dung, kết quả của cuộc thử nghiệm và nhận xét về chính sách này của chính quyền Pháp [36, 46-56]

Nguyễn Phan Khiêm (2014), Luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài Quyền con

người và hương ước ở Việt Nam (qua khảo cứu một số hương ước vùng đồng bằng Bắc Bộ nửa đầu thế kỉ XX), tại HV KHXH Tác giả nghiên cứu ba vấn đề về hương

ước: thứ nhất hương ước là phản ánh quyền con người; thứ hai, hương ước ghi nhận quyền con người ở làng xã; thứ ba, hương ước liên tục được sửa đổi, bổ sung nên bao quát toàn diện các mối quan hệ trong làng xã Tác giả đề cập đến các quyền dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa và đưa ra một số giải pháp tiếp tục phát huy vai trò của hương ước trong việc tôn trọng, bảo vệ quyền con người ở nông thôn Việt Nam hiện nay [59]

Trang 27

Nguyễn Thị Lệ Hà (2014), Luận án Tiến sĩ Lịch sử Việt Nam với đề tài Tác

động của chính sách cải lương hương chính đến đời sống làng xã ở tỉnh Hà Đông trong thời kỳ Pháp thuộc tại HVKHXH, tác giả đã chỉ ra sáu lý do để người Pháp

chọn Hà Đông làm nơi thí điểm thực hiện chính sách cải lương hương chính và nội dung chính mà người Pháp tiến hành cải lương, những điểm tích cực đối với cuộc sống người dân Tác giả nghiên cứu nội dung cơ bản chính sách ba cuộc cải lương hương chính của chính quyền Pháp ở Bắc Kỳ và tỉnh Hà Đông, tác động của các chính sách này đến bộ máy quản lý, kinh tế, hoạt động văn hóa - xã hội, an ninh trật

tự, vệ sinh, y tế ở làng xã tỉnh Hà Đông [37]

Đinh Thị Thùy Hiên (2014) với "Văn bản hương ước cải lương (1906-1907): Nhìn từ lịch sử hương ước và cải lương hương chính ở Bắc Kỳ năm 1921" đăng trên

Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 3, tác giả cho rằng chính quyền Hà Đông sớm có chủ

trương can thiệp vào hương tục của làng xã từ năm 1906 Chính quyền Bắc Ninh cũng yêu cầu dân sở tại kê khai hương tục, đổi lệ ngạch và trình lên Công sứ duyệt vào năm 1907 Tác giả chỉ ra vào giai đoạn 1906-1907 vẫn có văn bản cải lương mới được lập theo hương ước cổ [40, 31-41]

Phạm Thị Ngọc Thu, Nguyễn Duy Bính, Huỳnh Bá Lộc (2014), "Quan hệ giữa pháp luật với hương ước trong quản lý làng xã dưới triều Nguyễn" đăng trên Tạp

chí Nghiên cứu Lịch sử số 6 năm 2014, các tác giả cho rằng nhà nước phong kiến

thời Nguyễn chú trọng tổ chức bộ máy quản lý làng xã, nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật với hương ước Trong đó, hương ước là nguồn bổ trợ cho pháp luật, góp phần mang pháp luật vào đời sống xã hội ở làng xã và nhà nước định hướng việc xây dựng hương ước [133, 34-44]

Trịnh Khắc Mạnh (2016) (chủ biên) với Di sản Hán Nôm trong đời sống văn

hóa xã hội Việt Nam, giới thiệu nội dung tục lệ và giá trị tư liệu tục lệ trong việc

nghiên cứu sinh hoạt làng xã Việt Nam Các tác giả đã tiến hành thống kê số lượng văn bản tục lệ ở 17 tỉnh và giới thiệu kho tục lệ AF tại VNCHN [80]

Vũ Duy Mền - Nguyễn Hữu Tâm (2016), "Hương ước trong việc quản lý làng

xã đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam (Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX), Tạp chí Nghiên

cứu Lịch sử số 7 năm 2016, các tác giả cho rằng cơ sở hình thành hương ước là từ

tục dân và nêu ra cơ sở lý luận của hương ước Các tác giả nhận xét rằng: Hương ước là công cụ quản lý làng xã bằng giáo hóa rất hữu hiệu Vai trò quản lý làng xã

Trang 28

của hương ước thể hiện trong việc thực thi về thuế, lính, phu dịch, chia ruộng đất [80, 33-47]

Vũ Duy Mền, Trịnh Thị Hà (2016), "Hương ước trong làng xã đồng bằng Bắc

Bộ nửa đầu thế kỷ XX", Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 7 năm 2016, các tác

giả tìm hiểu quy định của hương ước về đối tượng tham gia các tổ chức xã hội như giáp, Hội Tư văn, hội Lão Các tác đề cập đến vai trò và quyền lợi của các thành viên thuộc tổ chức xã hội [81, 65-75]

Vũ Duy Mền, Phan Đăng Thuận (2016), "Tính tự trị của làng xã Việt Nam qua

hương ước", đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam Các tác giả tìm hiểu cơ

sở hình thành tính tự trị, triều đình phong kiến vừa muốn lợi dụng hương ước để can thiệp vào công việc của làng xã, một mặt lại hạn chế hương ước Nội dung của hương ước các làng không được trái với luật nước [82, 66-73]

Đinh Thị Thùy Hiên (2017) với Hương ước Thăng Long Hà Nội trước năm

1945 là sách chuyên khảo được phát triển trên cơ sở Luận án Tiến sĩ đã bảo vệ

thành công tại trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội năm 2016 của chính tác giả Tác giả nghiên cứu một số nét khái quát, quá trình biến chuyển của hương ước Thăng Long Hà Nội và nội dung chủ yếu được phản ánh trong đó [42]

Nguyễn Quỳnh Anh (2017) với Luận văn Thạc sĩ Hán Nôm Nghiên cứu văn

bản tục lệ phủ Yên Lãng (thuộc huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội), tác giả giới

thiệu văn bản tục lệ của phủ Yên Lãng, nghiên cứu đặc điểm cấu trúc văn bản tục lệ, khuyến nông, khuyến học, bài trừ tệ nạn nơi làng xã, nêu những mặt tích cực và hạn chế của văn bản tục lệ [2]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu văn bản

Vấn đề nghiên cứu văn bản hương ước, tục lệ bằng chữ Hán, chữ Nôm được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm, tìm hiểu qua các bài viết đăng

trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Văn hóa

dân gian, Tạp chí Hán Nôm Bên cạnh đó, có các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ

tiếp cận và nghiên cứu hương ước, tục lệ ở phạm vi một huyện, một tỉnh hoặc một

Trang 29

Vũ Duy Mền (2000), "Vài nét về hình thức văn bản hương ước làng Việt cổ

truyền" đăng trên Tạp chí Hán Nôm, tác giả nghiên cứu hình thức của văn bản

hương ước như nguyên liệu tạo văn bản, chữ viết và con dấu trên văn bản hương ước [74, 21-27]

Shimao Minoru (2002) (Nhật Bản), "Sử liệu có liên quan đến việc tái biên

hương ước ở Bắc Bộ Việt Nam thời Lê" đăng trên Tạp chí Hán Nôm, tác giả nghiên

cứu giá trị sử liệu của văn bản khoán ước thời Lê và một số nhận định về bối cảnh biên soạn khoán ước [83, 12-22]

Trịnh A Tài (2004) (Trung Quốc), "Từ văn hóa tài nguyên nước trong dân tục xem xét, phân tích "thờ cúng giếng nước" ở tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam" đăng trên

Báo Đại học Sư Phạm Tây Bắc, nghiên cứu quy định về nước phục vụ cho sản xuất

nông nghiệp và tục thờ cúng giếng nước ở tỉnh Bắc Ninh Qua việc khảo sát văn bản tục lệ của các xã huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, tác giả nghiên cứu phong tục của dân "thờ cúng giếng nước" với văn hóa nguồn tài nguyên nước [241, 60-65]

Đinh Khắc Thuân (2005) "Đặc điểm văn bản và nội dung tục lệ làng xã cổ

truyền" đăng trên Tạp chí Hán Nôm nghiên cứu về văn bản và nội dung của tục lệ

làng xã cổ truyền, vai trò của tục lệ trong việc quản lý làng xã trong lịch sử Đồng thời, tác giả đánh giá mặt tích cực và hạn chế của tục lệ cổ truyền trong việc quản lý

và xây dựng nông thôn hiện nay ở nước ta [136, 53-60]

Chu Hồng Lâm (2007) (Trung Quốc), "Tục lệ làng xã của tỉnh Bắc Ninh, Việt

Nam đầu thế kỷ XX" được đăng trên Tạp chí Nhân loại học (Trung Quốc) tháng 5

năm 2007, tác giả nghiên cứu dân tục xã hội làng xã trong các văn bản khoán lệ, hương ước của người dân làng xã Bắc Bộ Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Tác giả khảo sát nội dung khoán lệ các xã của tổng Nội Viên và tình hình xã hội ở Bắc Bộ Việt Nam được phản ánh trong khoán lệ [246, 47-53]

Nguyễn Thị Quế Hương (2011), "Ảnh hưởng của Thư chung 1980 trong việc xây dựng đời sống văn hóa làng Công giáo vùng đồng bằng sông Hồng qua hương

ước" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 1 năm 2011, tác giả tìm hiểu việc

xây dựng đời sống văn hóa làng Công giáo và ảnh hưởng của Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam đối với việc xây dựng đời sống văn hóa làng Công giáo [53, 48-56]

Trang 30

Nguyễn Thị Quế Hương (2012), Luận án Tiến sĩ Triết học Hương ước làng

công giáo vùng đồng bằng sông Hồng, tại HVKHXH Tác giả nghiên cứu bố cục,

hình thức và nội dung hương ước làng Công giáo giai đoạn trước và trong giai đoạn cải lương hương chính (1921-1944) Tác giả so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa hương ước trước cải lương và cải lương về bố cục, nội dung Sau đó, tác giả nghiên cứu nội dung cơ bản của hương ước làng Công giáo ở vùng đồng bằng sông Hồng và làng công giáo trong đời sống văn hóa xã hội hiện nay [54]

Đào Phương Chi (2013), "Bước đầu tìm hiểu về việc thí điểm cải lương hương

tục ở Bắc Kỳ qua một số văn bản tục lệ bằng chữ Nôm", đăng trên Tạp chí Hán

Nôm Tác giả nghiên cứu nội dung cải lương về lập Hội đồng, khao vọng, cưới hỏi,

tang ma, sổ chi thu và tế tự ở giai đoạn thí điểm trước tháng 8 năm 1921 Đồng thời, tác giả cho rằng văn bản tục lệ ở thời điểm thí điểm tục lệ cải lương từ năm Thành Thái thứ 18 (1906) và địa bàn thực hiện ở một số địa phương thuộc tỉnh Hà Đông, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên và Phúc Yên [5, 58-71]

Đào Phương Chi (2013) với "Đổi thay về tế tự tại một số tỉnh Bắc Kỳ qua cải

lương hương tục thí điểm: nhìn từ văn bản tục lệ", đăng trên Tạp chí Hán Nôm Tác

giả nghiên cứu các tiểu mục tế tự trong tục lệ ở giai đoạn trước và sau cải lương, các tiểu mục tế tự không được cải lương [6, 65-78]

Đào Phương Chi (2014) "Những khác biệt về cưới hỏi, tang ma, khao vọng tại

Bắc Kỳ trước và sau cải lương hương tục thí điểm" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

Lịch sử số 6 năm 2014 Tác giả nghiên cứu sự thay đổi về cưới hỏi, tang ma, khao

vọng ở giai đoạn trước và sau cải lương hương tục thí điểm Việc cưới xin giảm tiền nộp cho làng xã, tiết giảm thành phần được mời Đám tang bỏ làm cỗ Việc khao vọng tiết kiệm chi phí, bỏ làm cỗ, quy định tuổi mua chức vị.[7, 23-33]

Đỗ Thị Hà Thơ (2014), "Về lễ hội cổ truyền người Việt qua tư liệu hương ước

thế kỷ XVII, XVIII" đăng trên Tạp chí Hán Nôm Tác giả nghiên cứu về các lễ hội

nông nghiệp, lễ tết cổ truyền và lễ kị Hậu trong văn bản hương ước cổ truyền người Việt ở thế kỷ XVII, XVIII [129, 66-73]

Đào Phương Chi (2017), "Lệ tang tại làng xã Bắc Kỳ giai đoạn Cải lương thí

điểm: qua văn bản tục lệ huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Đông", công bố Nghiên cứu

Hán Nôm năm 2017 Tác giả nghiên cứu các thủ tục, lễ nghi trong tang lễ và những

Trang 31

Nguyễn Thị Hoàng Yến (2017), "Hoạt động khuyến học của người dân huyện

Từ Liêm xưa (Qua một số bản tục lệ, gia phả Hán Nôm) đăng trên Tạp chí Hán

Nôm Tác giả nghiên cứu các điều lệ liên quan đến khuyến học trong văn bản tục lệ

của huyện Từ Liêm xưa như quy định đối với người đi học, người chuẩn bị tham gia thi cử và những người thi cử đỗ đạt, thành danh [155, 20-27]

Nguyễn Thị Oanh (2018), "Phong tục tang ma ở Bắc Kỳ qua một số văn bản tục

lệ thuộc giai đoạn cải lương hương chính thí điểm của huyện Thanh Trì hiện lưu giữ

tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm" đăng trên Tạp chí Hán Nôm Tác giả nghiên cứu thời

điểm, địa điểm làng xã nào được chính quyền thực dân Pháp chọn làm nơi thử nghiệm chính sách cải lương hương chính Nghi thức tang ma thay đổi thế nào khi thực hiện chính sách cải lương hương chính thí điểm [101, 21-37]

Ngô Thanh Tâm - Đào Phương Chi (2018), "Đổi thay về tế tự giai đoạn cải lương hương tục thí điểm qua một số văn bản tục lệ Hán Nôm tại phủ Thường Tín,

tỉnh Hà Đông", công bố trên Nghiên cứu Hán Nôm năm 2018 Các tác giả nghiên cứu

những thay đổi về việc tế tự giai đoạn cải lương hương tục thí điểm tại một số làng xã thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông và nhận xét [116, 518-530]

1.2.3 Tình hình nghiên cứu văn bản hương ước chữ Hán các nước đồng văn Trung Quốc, Hàn Quốc

Vấn đề hương ước chữ Hán ở các nước Trung Quốc, Hàn Quốc được nhiều học giả Việt Nam và các nước quan tâm nghiên cứu Dưới đây chúng tôi chỉ xin điểm qua một số bài viết, luận văn, luận án có tính tiêu biểu như:

Phạm Thị Thùy Vinh (2005), "Quang Châu hương ước điều mục - Bản hương

ước cổ nhất của Triều Tiên" đăng trên Tạp chí Hán Nôm Tác giả giới thiệu nội

dung văn bản hương ước Quang Châu của Triều Tiên và nhận xét về nội dung văn bản hương ước này [148, 61-67]

Phạm Thị Thùy Vinh (2006), "Văn bản hương ước chữ Hán Triều Tiên thời kỳ

trung cận đại" công bố trên Tạp chí Hán Nôm, tác giả nghiên cứu về cách gọi hương và

hương ước của Triều Tiên, thực trạng tình hình văn bản hương ước Triều Tiên, vấn đề đạo đức và quy định các hành vi ứng xử trong hương ước Triều Tiên [150, 10-22]

Trang 32

Chu Tiểu Điền (2006) (Trung Quốc) "Tục lệ" trong phạm vi nhìn lịch sử xã

hội - lấy "tục cướp vợ" 12 ở Giang Nam làm ví dụ" của tác giả Chu Tiểu Điền nghiên cứu tục lệ "cướp vợ" được ra đời và tồn tại trong bối cảnh thời đại và môi trường xã hội, điều kiện lịch sử nảy sinh "tục lệ", dùng phương pháp lịch sử xã hội để nghiên cứu "tục lệ"

Lưu Tĩnh Nhiên (2006) Giải thích, phân tích xã hội học, pháp luật học hương

quy dân ước Việt Nam của tác giả Lưu Tĩnh Nhiên cho rằng hương quy dân ước ở

Việt Nam được hình thành trong thực tiễn sinh hoạt, sản xuất, do dân làng tự nguyện làm theo nhằm điều tiết phạm vi hành vi quan hệ giữa những người dân với nhau Nó có tính tự phát, tính dân gian, đặc trưng tính khu vực Hương quy dân ước Việt Nam sinh ra ở xã hội làng quê, quy phạm, thể hiện trật tự xã hội ở làng quê, chỉ tồn tại ở xã hội nông thôn Trong xã hội làng quê, hương quy dân ước biểu hiện tính

tự trị của người dân làng xã [243]

Trương Minh Tân (2006) (Trung Quốc), Từ hương quy dân ước đến chương

trình tự trị của dân thôn - sự biến đổi của hương quy dân ước tác giả cho rằng

hương quy dân ước khởi nguồn từ xã hội nhân loại, hình thành do nhu cầu điều chỉnh trật tự xã hội ở làng xã, quan hệ gia tộc, gia đình, duy trì trật tự xã hội nông thôn Trung Quốc trong một thời kỳ lịch sử khá dài Hương quy dân ước truyền thống có tính khuyên bảo, răn dạy và có tính ngăn cấm, trách phạt Hương quy dân ước sau chính sách mới cuối nhà Thanh cho đến thời kỳ trước dân quốc, tham khảo một vài cách làm của chế độ dân chủ phương Tây hiện đại, có màu sắc tự trị dân chủ cận đại [244]

Chu Hồng Lâm (2007) (Trung Quốc) "Tục lệ làng xã của tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam đầu thế kỷ XX" được đăng trên tạp chí Nhân loại học, nghiên cứu dân tục xã hội làng xã qua việc khảo sát nội dung khoán lệ các xã của tổng Nội Viên ở một số mặt như: tên gọi các chức dịch ở làng xã qua khoán lệ, sự khác biệt trong quản lý

Trang 33

làng xã ở khu vực nhỏ, tục lệ có liên quan tới đạo đức và trị an, dân tục và tình hình

xã hội ở Bắc Bộ Việt Nam được phản ánh trong khoán lệ [246]

Chu Hồng Lâm (Trung Quốc) Đạo đức, cùng với phong tục Lý tưởng và thực

tiễn của hương ước, tác giả nghiên cứu chế độ tự trị trong phạm vi các khoản quy

định thành văn xuất hiện từ thời Bắc Tống và bắt đầu lưu hành thời Minh và xuất hiện những thay đổi rõ ràng vào nhà Thanh ở Trung Quốc và tồn tại cho đến thời đại dân quốc và ảnh hưởng của nói tới Triều Tiên và Việt Nam [239]

Đỗ Thị Hà Thơ (2009), "Tục trọng xỉ trong văn bản hương ước chữ Hán Triều

Tiên thế kỷ XVII, XVIII" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 3 năm

2009, tác giả nhận xét tuổi tác chiếm vị trí quan trọng trong giao tiếp, thể hiện bằng lòng tôn kính, khái niệm đức nghiệp, chính sách ưu đãi [125, 69-74]

Hoàng Hà (2009) (Trung Quốc), Luận văn Thạc sĩ với đề tài Bàn về hương

quy dân ước truyền thống Trung Quốc nghiên cứu nội dung hương quy dân ước

Tác giả phân tích một số giá trị tích cực của hương quy dân ước như dạy dỗ dân, lấy

lễ làm phong tục, hóa giải các mâu thuẫn của dân làng, duy trì sự ổn định xã hội, bổ sung những chỗ mà luật pháp nhà nước còn chưa đủ, hạn chế tranh chấp kiện tụng Hạn chế của hương quy dân ước như: thiếu lực lượng cưỡng chế bảo đảm thực thi

có hiệu quả, dễ dàng bị thao túng Bên cạnh đó, hương quy dân ước có các giá trị thay đổi hiện đại như: giá trị tự trị của dân làng, giá trị giải quyết tranh chấp, giá trị

bổ sung pháp luật của nhà nước [250]

Đỗ Thị Hà Thơ (2011), "Vấn đề giáo dục con người trong hương ước chữ Hán

thời Choson" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 11 năm 2011, tác giả

cho rằng giáo dục ảnh hưởng chủ trương giáo dục đạo làm người của Nho giáo như cách ứng xử trong gia đình, cách ứng xử nơi cộng đồng, Nho sĩ với giáo dục, quy định giáo dục đối với nữ giới và biện pháp giáo dục Hương ước Choson quan tâm nhiều đến phương diện giáo dục đạo làm người cho dân [126, 56-67]

Dư Trị Bình (2014) (Trung Quốc), Hương quy dân ước với chính sách tốt đẹp,

phong tục tốt đẹp - dùng sự duy trì phép tắc lễ hóa tục trong việc trị lý xã hội thôn làng Nho gia, tác giả Dư Trị Bình cho rằng lý tưởng Nho gia không chỉ làm cho con

người trở thành người, mà còn làm cho xã hội trở thành xã hội Trung Quốc thời cổ đại xã hội có thể duy trì tốt, trật tự nhân luân một ngày không bị đảo lộn, phải dựa

Trang 34

vào sức mạnh giáo hóa Qua việc điều tra điền dã, tác giả phát hiện ra rằng tổ tiên

để lại "ngũ thường" và "thập đức" biên soạn ra 12 điều quy ước của dòng họ, tràn đầy tinh thần Nho gia đã trở thành gia phong, ảnh hưởng đến mọi người trong gia tộc về việc làm người, làm công việc [256]

Đỗ Thị Hà Thơ (2015), "Hình thức xử phạt trong hương ước chữ Hán Choson

thế kỷ XVII-XVIII" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 2 năm 2015 Tác

giả cho biết nhằm đảm bảo hương ước phát huy hiệu lực pháp lý, tác giả hương ước

đề xuất các hình thức xử phạt tương ứng với từng tội theo mức độ nặng, vừa, nhẹ [130, 62-71]

Tề Phi (2015) (Trung Quốc), Luận văn Tiến sĩ với đề tài Hương quy dân ước trong hệ thống quản lý nhà nước 13 của nghiên cứu sinh Tề Phi phân tích

hiện trạng và nguyên nhân hình thành của hương quy dân ước từ thực tiễn trong việc quản lý hương quy dân ước ở cơ sở, nghiên cứu, phân tích hoàn cảnh khó khăn quản lý hương quy dân ước bằng pháp luật mềm dẻo [260]

1.2.4 Tình hình nghiên cứu so sánh

Nhằm tìm hiểu sâu sắc, toàn diện hơn về hương ước Việt Nam, các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu so sánh văn bản hương ước Việt Nam với hương ước các nước trong khu vực đồng văn Nhật Bản, Hàn Quốc Điển hình có các công trình, bài viết sau:

Nhà nghiên cứu Vũ Duy Mền (2001) (chủ biên), Hoàng Minh Lợi, Hương ước

làng xã Bắc Bộ Việt Nam với luật làng Kanto Nhật Bản (thế kỷ XVII-XIX), các tác

giả giới thiệu nội dung chủ yếu của hương ước và vai trò của hương ước trong đời sống làng xã Sau đó, các tác giả giới thiệu nội dung chủ yếu của luật làng vùng Kanto Nhật Bản, trên cơ sở đó tiến hành so sánh những nét tương đồng và sự khác nhau giữa hương ước với luật làng Những nét tương đồng: tính chất tự quản và tự trị của hương ước và luật làng, đều chịu ảnh hưởng của Nho giáo Những nét khác biệt thể hiện ở tính chất pháp chế của hương ước và luật làng [75]

文;指 导 教 师 姓 名:傅 思 明;职 称:教 授;工 作 单 位:中 共 中 央 党 校;申

Trang 35

Phạm Thị Thùy Vinh (2006), "Nghiên cứu so sánh văn bản hương ước chữ

Hán Triều Tiên - Việt Nam thời kỳ trung cận đại" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

Đông Bắc Á, số 2 năm 2006, tác giả tiến hành so sánh hương ước Triều Tiên và

Việt Nam Đồng thời, tác giả chỉ ra sự khác nhau về sự xuất hiện và địa điểm lưu giữ hương ước, vấn đề đạo đức trong gia đình của Triều Tiên và Việt Nam Sự giống nhau giữa hương ước Việt Nam và Hàn Quốc là ý thức giữ gìn phong tục tốt đẹp của địa phương, chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo [149, 27-39]

Vũ Duy Mền (2010) với "Sự tương đồng và khác biệt về hình thức văn bản của hương ước Việt Nam và Triều Tiên thời Trung Cận đại" đăng trên Tạp chí

Nghiên cứu Lịch sử số 5 năm 2010, tác giả tìm hiểu sự khác biệt về hình thức văn

bản giữa hương ước Việt Nam và Triều Tiên Hương ước Việt Nam do tập thể quan viên và dân làng cùng nhau lập ra, điều chỉnh, bổ sung và thi hành trong làng xã đó Còn tác giả hương ước Triều Tiên là tập thể sĩ đại phu hoặc các học giả nổi tiếng đương thời soạn ra [79, 19-27]

Tác giả Oh Yu Jung (2010) người Hàn Quốc, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học

với đề tài Hương ước làng xã Bắc Bộ Việt Nam và tập quán pháp của dân tộc Hàn

Quốc, tại HVKHXH Tác giả so sánh nội dung hương ước làng xã Bắc Bộ Việt

Nam với tập quán pháp Hàn Quốc Sự tương đồng đó là Việt Nam và Hàn Quốc đều

là những quốc gia bán đảo, lịch sử hình thành sớm, có nền văn hóa bản địa lâu đời

và cùng chịu ảnh hưởng Nho giáo từ Trung Quốc Về sự khác biệt, đó là sự khác nhau về mặt hình thức, sắc thái nội dung, vai trò quản lý cộng đồng, vai trò đối với luật nhà nước giữa hương ước và tập quán pháp [58]

Đỗ Thị Hà Thơ (2012) trong "Vấn đề hương ẩm, lễ và lệ trong hương ước chữ

Hán thế kỷ XVII, XVIII của Choson và Việt Nam" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

Đông Bắc Á, số 3 năm 2012 Tác giả cho thấy sự khác nhau trong cách tiếp nhận

văn hóa Trung Quốc đối với lễ hương ẩm của hương ước thế kỷ XVII, XVIII Choson tuân thủ gần như nguyên bản tiết lễ của một nghi lễ thực thụ thì Việt Nam chuyển thành phạm trù lệ Về cơ bản, nội dung lễ hương ẩm của Choson và hương

ẩm của Việt Nam vẫn đảm bảo tinh thần chủ yếu của Trung Quốc [127, 63-72]

Đỗ Thị Hà Thơ (2014) với Luận án Tiến sĩ Ngữ văn chuyên ngành Hán Nôm

Nghiên cứu văn bản hương ước chữ Hán thế kỷ XVII - XVIII của Choson và so sánh với văn bản hương ước chữ Hán Việt Nam cùng thời kỳ, tại Đại học Sư phạm Hà

Trang 36

Nội, nghiên cứu quá trình hình thành, đặc điểm và nội dung văn bản hương ước Hàn Quốc thời Choson thế kỷ XVII-XVIII Tác giả cũng tìm hiểu đặc điểm và nội dung văn bản hương ước chữ Hán thế kỷ XVII-XVIII của Việt Nam và tiến hành so sánh điểm tương đồng, dị biệt của Choson và Việt Nam Tác giả chỉ ra điểm tích cực và hạn chế trong hương ước Việt Nam và Choson [128]

1.2.5 Tình hình biên dịch, giới thiệu văn bản tục lệ

Trong những năm vừa qua, cùng với việc nghiên cứu tục lệ, vấn đề giới thiệu văn bản, biên dịch các văn bản tục lệ bằng chữ Hán, chữ Nôm luôn được các nhà khoa học quan tâm, tiến hành giải mã văn bản cổ làm sử liệu cho các nhà nghiên cứu và phục vụ nhu cầu tìm hiểu phong tục truyền thống của người dân Việt Nam Điển hình là các công trình sau:

Trần Thanh Tâm (1963), "Một số tài liệu bằng chữ viết vừa mới tìm được về

mấy cuộc khởi nghĩa ở miền núi Nghệ Tĩnh", được tác giả công bố trên Tạp chí

Nghiên cứu Lịch sử Qua khảo sát bản sao Hương ước làng Tri Lễ, thuộc huyện

Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, tác giả cho rằng có lẽ đây là bản hương ước viết bằng chữ Hán sớm nhất hiện còn lại cho đến ngày nay Nội dung của bản hương ước này gồm một số quy ước về việc sắm sửa áo mũ để đón xe loan Bình Định Hoàng đế đi tuần qua [115, 58-61]

Vũ Duy Mền (1985) với "Quá trình điều chỉnh và bổ sung hương ước Quỳnh

Đôi" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử chỉ ra đặc điểm nổi bật phản ánh trong

hương ước làng Quỳnh Đôi là truyền thống hiếu học, khuyến học và ưu đãi đối với người đỗ đạt cao Hương ước làng Quỳnh Đôi bổ sung 33 lần, nguyên nhân là do sự biến đổi của làng và những thay đổi của các triều đại phong kiến Mục đích nhằm đạt tới sự phù hợp tương đối giữa lệ làng và phép nước [70, 45-55]

Bùi Xuân Đính, Đinh Khắc Thuân (1991), "Hương ước của một làng ven đô", nghiên cứu văn bản, nội dung hương ước của phường Hồ Khẩu (nay là phường Bưởi, quận Ba Đình, Hà Nội), một làng ven nội thành Hà Nội Các tác giả có một vài nhận xét, đánh giá những mặt tích cực và tiêu cực của làng qua văn bản hương ước [23, 39-43]

Bùi Xuân Đính (1993), "Thượng Cổ xã Tam Sơn đồng dân công ước chí" một

văn bản có giá trị" công bố trên Tạp chí Hán Nôm số 4 Tác giả giới thiệu nội dung

Trang 37

Nguyễn Tá Nhí (1993), Hương ước cổ Hà Tây giải thích khái niệm hương ước

nói chung, nội dung hương ước và giới thiệu một số bản dịch hương ước Hà Tây [96]

Nguyễn Hữu Mùi (1994), "Về một văn bản khoán lệ liên quan đến vấn đề học

tập" đăng trên Tạp chí Hán Nôm, giới thiệu một văn bản khoán lệ giá trị liên quan

đến vấn đề học tập ở xã Tư Vi, tổng Chi Nê, huyện Tiên Du về thầy dạy, học sinh nam, học sinh nữ, nhiệm vụ người giám sát các việc của trường [84, 47-51]

Dương Hà Hiếu (2003), "Về vấn đề quản lý làng xã ở huyện Thanh Sơn trước

năm 1945 (qua các hương ước)" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4, tác giả

tìm hiểu hương ước cổ truyền của người Mường ở huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Tác giả cho biết số lượng văn bản, nơi lưu trữ văn bản, niên đại biên soạn (từ năm 1932-1942), bố cục, hình thức và nội dung hương ước và mục đích của việc lập hương ước [43, 39-48]

Đỗ Thị Hảo (2004) với "Nét đẹp lệ làng vùng chiêm trũng Phú Xuyên" đăng

trên Tạp chí Hán Nôm Tác giả giới thiệu nội dung văn bản lệ làng ở huyện Phú

Xuyên, tỉnh Hà Đông [38, 48-53]

Nguyễn Tá Nhí (2004), "Tục lệ phường Long Đằng xã Đông Ngạc", đăng trên

Tạp chí Hán Nôm Tác giả nghiên cứu văn bản tục lệ của một làng nghề xưa và giới

thiệu nội dung văn bản tục lệ làng nghề làm quang song ở xã Đông Ngạc (nay là phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) [94, 50-53]

Đinh Khắc Thuân (2004), "Tục lệ ở phố chợ Kim Ngân", đăng trên Tạp chí

Hán Nôm Tác giả tìm hiểu tục lệ của một làng nghề truyền thống ở kinh thành

Thăng Long xưa, giới thiệu đặc trưng văn bản và nội dung chính của văn bản tục lệ làng nghề thợ kim hoàn ở phố chợ Kim Ngân xưa (nay là phố Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) [135, 24-31]

Phạm Thị Thùy Vinh (2004) "Bia Trăn tân từ lệ và lệ tế thần dưới thời Hồng

Đức", đăng trên Tạp chí Hán Nôm Tác giả giới thiệu tục lệ tế thần vào cuối thế kỷ

XV tại ngôi đền cổ thờ vị thủy thần là Lã Nam Đế Vương, miếu hiệu là Trăn Tân ở

xã Phúc Thọ, tổng Quảng Bố, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh [147, 33-37]

Kim Ngọc - Lưu Thị Phương Loan (2005), "Tìm hiểu một số vấn đề trong hương ước các làng xã (huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc) thời Pháp thuộc" đăng trên

Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 3, hai tác giả thống kê số lượng văn bản, niên đại lập

Trang 38

hương ước, bố cục và nội dung hương ước cải lương huyện Lập Thạch tại thư viện tỉnh Vĩnh Phúc Nội dung chính đề cập đến những vấn đề: bảo vệ an ninh, trật tự làng xã, phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường, khuyến khích giáo dục [91, 52-57]

Đinh Khắc Thuân (2006), Tục lệ cổ truyền làng xã Việt Nam nghiên cứu đặc điểm

văn bản và nội dung của tục lệ làng xã cổ truyền Việt Nam Tác giả tuyển dịch một số văn bản tục lệ Hán Nôm của các địa phương hiện đang lưu trữ tại VNCHN [138]

Nguyễn Thị Kim Hoa (2008), "Về tấm bia khoán lệ ở làng Đồng Xá huyện An

Dương", đăng trên Tạp chí Hán Nôm, tác giả giới thiệu hình thức và nội dung văn

bia khoán lệ ở đình xã Đồng Xá, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng [46, 78-82]

Trương Sĩ Hùng (2009), Hương ước Hà Nội, tập 1-2, giới thiệu bản dịch hương

ước, tục lệ của một số làng xã ở Hà Nội, các bản dịch dựa trên việc dịch bản chữ Hán lưu hành tại địa phương và văn bản chữ Hán lưu trữ ở VNCHN nhưng phần lớn là văn bản hương ước cải lương bằng tiếng Việt [51]

Đỗ Thị Hảo (2010) (dịch và giới thiệu), Lệ làng Thăng Long - Hà Nội giới

thiệu giá trị của tục lệ Hà Nội xưa Phần sau là giới thiệu và biên dịch một vài bản tục lệ của Hà Nội [39]

Nguyễn Tá Nhí (2010) (chủ biên) Tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội:

Tuyển tập hương ước, tác giả giới thiệu và tuyển dịch tư liệu Hán Nôm viết về lịch

sử văn hóa của các làng ở Thăng Long - Hà Nội Tác giả giải thích khái niệm hương ước, vai trò của hương ước trong đời sống làng xã và giới thiệu bản dịch một

số văn bản hương ước [95]

Hội văn nghệ dân gian Việt Nam (2012), Hương ước và thúc ước giải thích

khái niệm hương ước và thúc ước Sau đó tác giả giới thiệu tình hình, nội dung và giá trị của thúc ước ở Thanh Hóa, giới thiệu văn bản hương ước cổ của làng Cảnh Dương và một số hương ước tỉnh Ninh Thuận [47]

Hội văn nghệ dân gian Việt Nam (2013), Nguyễn Tá Nhí - Lã Minh Hằng -

Đỗ Thị Bích Tuyển - Nguyễn Thúy Loan (sưu tầm, biên dịch), Hương ước cổ Hưng

Yên, các dịch giả giới thiệu và nhận xét những phong tục đặc sắc, độc đáo của

hương ước tỉnh Hưng Yên Phần sau, các dịch giả giới thiệu một số bản dịch hương ước cổ tỉnh Hưng Yên [48]

Trang 39

1.2.6 Đánh giá tình hình nghiên cứu:

Thống kê tình hình nghiên cứu làng xã như sau: Hai tác giả Vũ Duy Mền và Bùi Xuân Đính có 2 bài tạp chí tìm hiểu về thuật ngữ "hương ước" và "khoán ước"

Vũ Duy Mền công bố 1 bài viết tạp chí và 1 cuốn sách chuyên khảo nghiên cứu nguồn gốc và điều kiện xuất hiện hương ước trong lịch sử Nghiên cứu mối quan hệ giữa hương ước và pháp luật của nhà nước có 7 bài tạp chí và 1 sách chuyên khảo của nhiều tác giả khác nhau Nguyễn Phan Khiêm viết 1 luận văn Thạc sĩ nghiên cứu quyền con người trong hương ước Nghiên cứu vai trò quản lý làng xã của hương ước: 4 bài tạp chí, 1 sách chuyên khảo, 1 Luận án Phó tiến sĩ, 2 Luận án Tiến

sĩ Tìm hiểu khái niệm, nội dung và mục đích xây dựng hương ước có 1 bài viết của Ninh Viết Giao Giới thiệu chung về nội dung hương ước có 1 bài tạp chí của Nguyễn Thế Hoàn Nghiên cứu các vấn đề hương ước giai đoạn cải lương thí điểm

và cải lương: 4 bài tạp chí, 2 Luận án Tiến sĩ Nghiên cứu hương ước trong việc xây dựng đời sống văn hóa: 1 Luận văn Thạc sĩ và 1 bài tạp chí Nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo đến làng xã: 2 bài tạp chí Nghiên cứu so sánh sự thay đổi các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tín ngưỡng ở làng xã giai đoạn trước và sau cải lương hương chính: 1 bài tạp chí Nghiên cứu các tổ chức xã hội làng xã có

1 viết của Vũ Duy Mền và Trịnh Thị Hà Giới thiệu nội dung hương ước mang tính vùng miền có 1 luận án của Đinh Thị Thùy Hiên Nghiên cứu, phân tích các vấn đề kinh tế, văn hóa và xã hội trong hương ước: 1 luận án Tiến sĩ Nghiên cứu vai trò quản lý của nhà nước đối với hương ước trong lịch sử: 1 bài tạp chí Qua thống kê cho thấy những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhất, gồm: Nghiên cứu mối quan hệ giữa hương ước và luật pháp có 8 công trình, bài viết; Nghiên cứu vai trò quản lý làng xã của hương ước 7 công trình, bài viết; Nghiên cứu hương ước giai đoạn cải lương thí điểm và cải lương 6 công trình, bài viết

Thống kê tình hình nghiên cứu văn bản tục lệ Hán Nôm, cụ thể: Tìm hiểu nội dung chủ yếu của hương ước: 2 bài tạp chí, 3 Luận văn Thạc sĩ Tìm hiểu hình thức văn bản hương ước: 1 bài tạp chí Nghiên cứu giá trị sử liệu của văn bản tục lệ: 1 bài tạp chí

Thống kê tình hình nghiên cứu phong tục: 3 bài tạp chí Nghiên cứu hương ước giai đoạn thí điểm cải lương: 6 bài tạp chí Nghiên cứu những vấn đề trong văn bản tục lệ của một địa phương: 3 bài viết Qua thống kê cho thấy, các bài viết

Trang 40

nghiên cứu hương ước giai đoạn thí điểm cải lương được nhiều người quan tâm nhất với 6 bài tạp chí Thứ hai là nghiên cứu nội dung hương ước của một vùng, miền có 5 công trình Hiện chưa có các công trình nghiên cứu chuyên khảo văn bản tục lệ Hán Nôm của một vùng miền

Thống kê tình hình nghiên cứu hương ước (hương quy dân ước) của Trung Quốc có 6 bài viết, 1 luận văn, 1 luận án Các bài viết nghiên cứu hương ước từ nhiều góc độ khác nhau như pháp luật học, xã hội học, quản lý nông thôn Thống kê tình hình nghiên cứu văn bản hương ước chữ Hán của Hàn Quốc như sau: Nghiên cứu tên gọi, tình hình văn bản và vấn đề đạo đức có 2 bài tạp chí Nghiên cứu phong tục, tập quán: 2 bài tạp chí Nhìn chung, nghiên cứu văn bản hương ước chữ Hán của Hàn Quốc là kết quả công bố của ba nhà nghiên cứu Việt Nam, số lượng các công trình còn ít, chưa có công trình nghiên cứu chuyên khảo về mảng tư liệu này Thống kê tình hình nghiên cứu so sánh văn bản hương ước Việt Nam và các nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, cụ thể: Nghiên cứu so sánh về hình thức và nội dung hương ước có 1 sách chuyên khảo, 1 Luận văn Thạc sĩ, 1 Luận án Tiến sĩ Nghiên cứu so sánh về địa điểm lưu giữ hương ước và vấn đề đạo đức 1 bài tạp chí Nghiên cứu so sánh về phong tục tập quán 1 bài tạp chí Qua thống kê, nghiên cứu

so sánh văn bản hương ước về hình thức và nội dung được nhiều người quan tâm nhất với 3 công trình Trong đó, Luận án Tiến sĩ của Đỗ Thị Hà Thơ (2014) nghiên cứu so sánh văn bản hương ước Việt Nam và Hàn Quốc có ý nghĩa như một công trình chuyên khảo

Thống kê tình hình biên dịch, giới thiệu văn bản tục lệ cho thấy: giới thiệu văn bản tục lệ của một làng xã có 10 bài viết; giới thiệu nội dung hương ước và bản dịch:

7 cuốn sách, bài viết; giới thiệu tình hình văn bản của một huyện: 2 bài tạp chí Như vậy, công bố giới thiệu văn bản tục lệ của một làng xã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhất với 10 bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành

Qua việc thống kê tình hình nghiên cứu, các công trình bài viết về làng xã Việt Nam trong lịch sử chủ yếu nghiên cứu làng xã Bắc Bộ chung, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt, khảo cứu sâu về một phạm vi không gian xác định So sánh

sự giống nhau và khác nhau giữa hương ước và pháp luật được một số tác giả nghiên cứu, nhưng chưa so sánh từng vấn đề cụ thể Vì vậy, tác giả luận án sẽ tiến

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w