1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình công giáo ở hà nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp giáo xứ hà đông)

212 93 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó thấy rằng, đạo Công giáo không tìm cách để “giải phóng”, triệt tiêu mâu thuẫn giữa vợ và chồng, mà là điều chỉnh quan hệ này trong việc kiểm soát về nhận thức, hành vi của các chủ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CÙ THỊ THANH THUÝ

MÂU THUẪN VỢ CHỒNG

TRONG GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO

Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP GIÁO XỨ HÀ ĐÔNG)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội-2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CÙ THỊ THANH THUÝ

MÂU THUẪN VỢ CHỒNG

TRONG GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO

Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP GIÁO XỨ HÀ ĐÔNG)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án Tiến sĩ Xã hội học với đề tài: Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo ở Hà Nội hiện nay là công trình do chính

tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận án

là trung thực, chính xác và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận án đã được ghi rõ nguồn gốc Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận án

Cù Thị Thanh Thúy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành luận án này, tôi xin gửi lời cảm ơn trước nhất đến

cô giáo - PGS.TS Hoàng Thu Hương - là người đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng đúng đắn cho cả quá trình nghiên cứu, điều tra, phân tích các số liệu định tính và định lượng, cũng như kỹ năng viết bài một cách khoa học cho tác giả luận án, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận án này Đồng thời, sự chỉ bảo tận tâm và nhiệt tình của cô đã truyền thêm lòng yêu ngành, yêu nghề cho tôi trong hoạt động nghiên cứu và giảng dạy Xã hội học

Tiếp đến, tôi xin cảm ơn đến Linh mục Giuse Vũ Quang Học – linh mục chính xứ Hà Đông, cũng như các cô chú, anh chị em trong ca đoàn, các hội đoàn của nhà thờ Hà Đông, các giáo họ: La tinh trại, Mai Lĩnh, Yên Lộ đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, nghiên cứu

Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án Xin cảm ơn những đồng nghiệp của tôi tại khoa Xã hội học trường Đại học Công Đoàn đã tạo mọi điều kiện về thời gian cũng như bố trí công việc hợp lý để tôi có thể tập trung cao nhất cho việc hoàn thành luận án Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn

bè đã giúp đỡ và cổ vũ tôi, là nguồn sức mạnh tinh thần và vật chất, là chỗ dựa để tôi nỗ lực đến ngày hôm nay

Một lần nữa, xin thể hiện sự biết ơn và cảm ơn sâu sắc đến tất cả những

sự trợ giúp đó

Tác giả luận án

Cù Thị Thanh Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục bảng, biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 5

5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 8

6 Khung phân tích 9

7 Cấu trúc của luận án 10

8 Những đóng góp mới của luận án 11

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13

1.1 Những nghiên cứu về mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình 14

1.1.1 Mức độ phổ biến của mâu thuẫn 14

1.1.2 Biểu hiện của mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình 17

1.1.3 Nguyên nhân của mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình 18

1.1.4 Những hệ quả của mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình 21

1.2 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa tôn giáo và hôn nhân 24

1.2.1 Tôn giáo và tính bền vững của hôn nhân 25

1.2.2 Tôn giáo và việc thực hiện các chức năng của gia đình 33

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Khái niệm công cụ 37

2.1.1 Gia đình 37

2.1.2 Gia đình Công giáo 39

Trang 6

2.1.3 Mâu thuẫn vợ chồng 41

2.2 Lý thuyết áp dụng 43

2.2.1 Lý thuyết Mâu thuẫn 43

2.2.2 Lý thuyết chức năng về tôn giáo 47

2.2.3 Lý thuyết chức năng về gia đình 50

2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 52

2.3.1 Phương pháp luận 52

2.3.2 Các phương pháp thu thập thông tin 58

2.4 Quan điểm của đạo Công giáo về hôn nhân gia đình 64

2.5 Đặc điểm hôn nhân gia đình Công giáo ở địa bàn khảo sát hiện nay 69

Chương 3 MỨC ĐỘ VÀ CÁC CHIỀU CẠNH MÂU THUẪN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH CÔNG Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 77

3.1 Mức độ phổ biến của mâu thuẫn vợ - chồng và các yếu tố tác động 77

3.1.1 Mức độ phổ biến của mâu thuẫn vợ - chồng trong một năm qua 77

3.1.2 Các yếu tố tác động đến mức độ mâu thuẫn vợ - chồng 78

3.2 Các chiều cạnh của mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình 87

3.2.1 Mâu thuẫn về nhận thức, thái độ giữa vợ và chồng 87

3.2.2 Mâu thuẫn thể hiện qua hành vi của vợ - chồng 102

3.2.3 Mâu thuẫn về tâm lý cảm xúc giữa vợ - chồng 118

Chương 4 NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG XU HƯỚNG GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 131

4.1 Nguyên nhân mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình 131

4.1.1 Nguyên nhân liên quan đến các vấn đề về con cái 133

4.1.2 Nguyên nhân liên quan đến các vấn đề kinh tế 136

4.1.3 Nguyên nhân liên quan đến việc chăm sóc cha mẹ hai bên 138

4.2 Xu hướng giải quyết mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình 140

4.2.1 Giải quyết theo chiều hướng ôn hòa 140

Trang 7

4.2.2 Giải quyết theo chiều hướng cực đoan 1444.3 Vai trò của đạo Công giáo đối với mối quan hệ vợ chồng 1474.3.1 Đạo Công giáo thúc đẩy việc giải quyết mâu thuẫn vợ - chồng theo chiều hướng ôn hòa 1474.3.2 Đạo Công giáo củng cố sự đồng thuận và hạnh phúc hôn nhân 1584.3.3 Đạo Công giáo - rào cản của những cuộc hôn nhân không hạnh phúc 166

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ cấu mẫu của cuộc khảo sát 63Bảng 2.2 Quy mô gia đình Công giáo trên địa bàn Hà Nội hiện nay 72Bảng 2.3 Khác biệt giới trong thực hành nghi lễ tôn giáo của người Công

giáo ở Giáo xứ Hà Đông 73Bảng 3.1 Mối liên hệ giữa quy mô gia đình với mâu thuẫn vợ-chồng trong

gia đình Công giáo ở giáo xứ Hà Đông 80Bảng 3.2 Mối liên hệ giữa sự khác biệt vợ-chồng trước hôn nhân với tình trạng

mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáoở giáo xứ Hà Đông 83Bảng 3.3 Mối liên hệ giữa sự tương đồng/khác biệt tôn giáo vợ - chồng với

tình trạng mâu thuẫn trong gia đình Công giáoở giáo xứ Hà Đông hiện nay 84Bảng 3.4 Kiểm định trung bình Indepent Sample T.Test về mối quan hệ giữa

giới tính và niềm tin tôn giáo của vợ - chồng Công giáo 90Bảng 3.5 Kiểm định trung bình Indepent Sample T.Test mối quan hệ giữa

giới tính với nhận thức về hôn nhân Công giáo 93Bảng 3.6 Kiểm định trung bình Indepent Sample T.Test về mối quan hệ giữa

giới tính với sự hài lòng về bạn đời 96Bảng 3.7 Mối liên hệ giữa việc thực hành tôn giáovới sự hài lòng về bạn đời 97Bảng 3.8 Mối liên hệ giữa giới tính, sự tương đồng/khác biệt tôn giáovới thái

độ về ly thân, ly hôn của vợ - chồng Công giáo 99Bảng 3.9 Mối liên hệ giữa sự tương đồng/khác biệt tôn giáo vớihành vi mâu

thuẫn vợ - chồng trong gia đình Công giáoở giáo xứ Hà Đông 104Bảng 3.10 Hồi quy logistics về mối liên hệ giữa độ dài hôn nhân với hành vi

giận dỗi bạn đời 105 Bảng 3.11 Mối liên hệ giữa niềm tin và thực hành tôn giáo với mức độ

nghiêm trọng của mâu thuẫn vợ chồng Công giáo ở Hà Đông 109

Trang 9

Bảng 3.12 Mối liên hệ giữa mức độ nghiêm trọng của mâu thuẫnvới hành vi

ứng xử của vợ/chồng Công giáo ở giáo xứ Hà Đông 115Bảng 3.13 Mối liên hệ giữa sự tương đồng/khác biệt tôn giáovới hành vi ứng

xử của vợ chồng Công giáo ở giáo xứ Hà Đông 116Bảng 3.14 Mối liên hệ giữa giới tính với những cảm xúctiêu cực về bản thân 120Bảng 3.15 Mối liên hệ giữa trạng thái tâm lý tiêu cực về bạn đờivới tình trạng

mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo ở giáo xứ Hà Đông 123Bảng 3.16 Mối liên hệ giữa cảm xúc tiêu cực về bạn đờivới mức độ nghiêm

trọng của mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo ở giáo xứ

Hà Đông 124Bảng 3.17 Mối liên hệ giữa sự tương đồng/khác biệt tôn giáovới những cảm

xúc tiêu cực về người bạn đời 125Bảng 3.18 Kết quả kiểm định Chi-square về mối liên hệ giữa niềm tin và

thực hành tôn giáo với những cảm xúc tiêu cực về bạn đời 127Bảng 4.1 Mối liên hệ giữa độ dài hôn nhân với mâu thuẫn vợ - chồng liên

quan đến vấn đề con cái 134Bảng 4.2 Mối liên hệ giữa thu nhập vợ - chồng vớimâu thuẫn về các vấn đề

kinh tế 136Bảng 4.3 Mối liên hệ giữa mức độ ủng hộ hôn nhân từ gia đình với mâu

thuẫn liên quan đến chăm sóc cha mẹ hai bên 138Bảng 4.4 Mối liên hệ giữa sự tương đồng/khác biệt tôn giáo vợ-chồng với xu

hướng giải quyết mâu thuẫn theo chiều hướng ôn hòa 141Bảng 4.5 Mối liên hệ giữa sự tương đồng/khác biệt tôn giáo vợ-chồng với xu

hướng giải quyết mâu thuẫn theo chiều hướng cực đoan 144Bảng 4.6 Mối liên hệ giữa sự đồng thuận và hài lòng về bạn đờivới mức độ

hạnh phúc hôn nhân 164Bảng 4.7 Mối liên hệ giữa đánh giá về tình trạng không hạnh phúc trong hôn

nhân với suy nghĩ về ly hôn, ly thân của người Công giáoở giáo

xứ Hà Đông 167

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Mức độ tương đồng giữa vợ chồng tại thời điểm kết hôn 70

Biểu đồ 2.2 Sự lựa chọn hôn nhân theo tôn giáo 71

Biểu đồ 3.1: Hành vi mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình Công giáo 103

Biểu đồ 3.2: Mức độ nghiêm trọng của hành vi mâu thuẫn vợ - chồng trong

gia đình Công giáo 107

Biểu đồ 3.3 Ửng xử của vợ/chồng Công giáo trong quá trình mâu thuẫn 114

Biểu đồ 3.4 Chiều cạnh cảm xúc tiêu cực về bản thân 119

Biểu đồ 4.1 Nguyên nhân mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình Công giáo ở

giáo xứ Hà Đông 132

Biểu đồ 4.2 Mức độ cầu nguyện của vợ/chồng Công giáo khi xảy ra mâu

thuẫn 149

Biểu đồ 4.3 Đánh giá mức độ hạnh phúc trong mối quan hệ vợ chồng Công

giáo ở giáo xứ Hà Đông 163

Formatted: Vietnamese (Vietnam) Formatted: Vietnamese (Vietnam) Formatted: Vietnamese (Vietnam)

Formatted: Vietnamese (Vietnam) Formatted: Vietnamese (Vietnam) Formatted: Vietnamese (Vietnam)

Formatted: Vietnamese (Vietnam) Formatted: Vietnamese (Vietnam) Formatted: Vietnamese (Vietnam)

Formatted: Vietnamese (Vietnam) Formatted: Vietnamese (Vietnam)

Trang 11

Thống kê từ Viện Nghiên cứu Gia đình và giới năm 2014 - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trung bình mỗi năm cả nước có trên 60 nghìn vụ ly hôn, cứ 10 cặp vợ chồng kết hôn thì có 3 cặp ly hôn, xu hướng này tiếp tục gia tăng ở cả thành phố và nông thôn Đáng lưu ý là 70% số vụ ly hôn thuộc

về các gia đình trẻ mà vợ/chồng trong độ tuổi từ 18 - 30; trong đó 60% ly hôn sau khi kết hôn từ 1 - 5 năm, nhiều trường hợp mới chỉ cưới nhau được vài tháng Mâu thuẫn về lối sống là nguyên nhân hàng đầu (27,7%) dẫn đến ly hôn, các yếu tố tiếp theo là ngoại tình (25,9%), kinh tế (13%), bạo lực gia đình (6,7%), sức khỏe (2,2%), xa nhau lâu ngày là 1,3%1 Báo cáo khác từ Vụ Gia đình, Bộ VH-TT&DL, từ năm 2012 cho đến 2014, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 20 nghìn vụ bạo lực gia đình, 80% số vụ ly hôn có nguyên nhân từ bạo lực…số vụ ly hôn hiện đã tăng gần gấp đôi so với 10 năm trước 2

Trang 12

Có nhiều nguyên nhân khác nhau được đưa ra lý giải cho tình trạng này, lối sống hiện đại đã tác động không nhỏ đến đời sống gia đình, làm phôi pha cách thức ứng xử truyền thống giữa các thành viên , các mối quan hệ đặc biệt là quan hệ vợ chồng trở nên lỏng lẻo Bên cạnh đó, sự xuống cấp những nguyên tắc, chuẩn mực trong gia đình, sự vi phạm cũng như chấp nhận những sai lệch chuẩn mực ngày càng dễ dàng và phổ biến Cá nhân trong gia đình không còn quá coi trọng việc thực hiện vai trò, trách nhiệm của bản thân Hàng loạt vấn đề

xã hội nảy sinh, len lỏi vào từng gia đình, trở thành nỗi bức xúc của chính gia đình và xã hội Nguy cơ đổ vỡ, ly hôn đang trở thành thách thức hàng đầu đối với gia đình Việt Nam hiện nay3

Trong bối cảnh xã hội như vậy, hôn nhân Công giáo nổi lên như là một điển hình về sự bền vững, nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước đã khẳng định so với hôn nhân của những người không theo đạo Công giáo, hôn nhân của những người theo đạo Công giáo ổn định và bền vững hơn [Đỗ Thị Ngọc Anh 2013, 2015; Đoàn Thị Phương Thảo, 2013; Chu Văn Tiến, 2014], với tỷ lệ ly hôn ít hơn4 Niềm tin và các giá trị đạo đức của tôn giáo này được coi là nguyên nhân chính lý giải cho thực tế xã hội này Với tư cách là một thiết chế xã hội, đạo Công giáo có những quy định nghiêm ngặt, chặt chẽ về mối quan hệ vợ chồng và trong mọi tình huống ly hôn, li dị là điều cấm kỵ Tuy nhiên, kết quả của hôn nhân là việc không ly hôn, chung sống với nhau trọn đời không phản ánh chính xác mối quan hệ giữa vợ và chồng của người Công giáo Bởi quan hệ vợ chồng thực chất cũng là một dạng quan hệ

xã hội, những mâu thuẫn bất đồng trong đời sống vợ chồng là chuyện tự nhiên, không tránh khỏi Vậy người Công giáo làm cách nào để dung hòa giữa tiến trình hôn nhân có mâu thuẫn với kết quả hướng tới là không ly hôn,

ly dị, đó chính là điều rất đáng quan tâm và nghiên cứu

Trang 13

Nghiên cứu về mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo chính là tìm ra các nhân tố thuộc về tôn giáo đã và đang tích cực trong việc điều tiết mối quan hệ này Từ đó thấy rằng, đạo Công giáo không tìm cách để “giải phóng”, triệt tiêu mâu thuẫn giữa vợ và chồng, mà là điều chỉnh quan hệ này trong việc kiểm soát về nhận thức, hành vi của các chủ thể trong quá trình mâu thuẫn, từ đó làm giảm những tác động tiêu cực của mâu thuẫn tới quan

hệ hôn nhân, thúc đẩy xu hướng hòa giải, đàm phán tiến tới sự đồng thuận trong quan hệ vợ chồng và xây dựng đời sống hôn nhân hạnh phúc

Thành phố Hà Nội là địa bàn nghiên cứu điển hình bởi sự biến đổi mạnh mẽ về kinh tế - văn hóa - chính trị - xã hội - tôn giáo và những tác động của các thiết chế xã hội đó tới gia đình, cho nên những thách thức của gia đình Việt Nam nói chung có thể xem là những vấn đề mà các gia đình ở Hà Nội đang phải đối mặt Thêm vào đó, Hà Nội cũng được coi là một trong những trung tâm tập trung số lượng tín đồ theo đạo Công giáo đông đảo khoảng 175.000 người5 (theo số liệu của Ban tôn giáo Chính phủ) Vì những

lý do đó, việc nghiên cứu về “Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo

ở Hà Nội hiện nay” hướng hai mục tiêu cơ bản: tìm hiểu thực trạng mâu

thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo,và xem xét vai trò của đạo Công giáo đến mối quan hệ hôn nhân, trong trạng thái rất đặc biệt là mâu thuẫn giữa

5

http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/gia-dinh/vi-sao-nguoi-cong-giao-co-ti-le-ly-hon-thap-280342.html

Trang 14

nghiên cứu, bổ sung các chiều cạnh thực tiễn cho lý thuyết thêm phong phú và kiểm chứng sự phù hợp của các lý thuyết trong thực tế Lý thuyết xung đột xã hội được làm sáng tỏ qua việc phân tích về mức độ phổ biến của mâu thuẫn, các yếu tố tác động đến mâu thuẫn, xem xét các khía cạnh khác nhau của mâu thuẫn Lý thuyết về chức năng của gia đình giúp ích cho việc lý giải về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng trong quá trình thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình Lý thuyết chức năng về tôn giáo sẽ giúp cho việc giải thích vai trò của tôn giáo trong việc can thiệp vào mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo trên địa bàn Hà Nội hiện nay Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm giàu thêm nguồn tri thức khi nghiên cứu về hôn nhân, gia đình Công giáo, hay những nghiên cứu về mâu thuẫn vợ chồng đã có từ trước

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đóng góp cho việc nâng cao tri thức, hiểu biết về mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo Luận án giúp cho việc mô tả bức tranh khái quát thực trạng mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo:

về mức độ xuất hiện mâu thuẫn, các chiều cạnh khác nhau của mâu thuẫn về nhận thức, thái độ, cảm xúc, hành vi, ứng xử của vợ chồng trong mâu thuẫn,

xu hướng giải quyết mâu thuẫn giữa vợ và chồng trong gia đình Công giáo Qua đó, đánh giá về vai trò của đạo đức tôn giáo, niềm tin, thực hành, các cam kết tôn giáo đối với mâu thuẫn vợ chồng Kết quả nghiên cứu của luận án

có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức quan tâm đến gia đình Công giáo và mối quan hệ vợ chồng trong gia đình Công giáo

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về các khái niệm, lý thuyết xung đột, lý thuyết chức năng về gia đình và tôn giáo, luận án hướng đến làm sáng tỏ thực

Trang 15

trạng mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo và vai trò của đạo Công giáo trong việc giải quyết mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân gia đình Công giáo trên địa bàn Hà Nội hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhận diện mức độ phổ biến cũng như các chiều cạnh mâu thuẫn giữa

vợ và chồng trong gia đình Công giáo trong 12 tháng qua Phân tích những yếu tố tác động đến mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình

- Tìm hiểu nguyên nhân của mâu thuẫn vợ chồng và xu hướng giải quyết các mâu thuẫn đó trong gia đình Công giáo

- Phân tích về vai trò của tôn giáo trong việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng

và bàn luận về mối quan hệ giữa tôn giáo và hôn nhân của người Công giáo

4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo

ở Hà Nội

Khách thể nghiên cứu: gia đình Công giáo ở Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay có 13

giáo xứ bao gồm giáo xứ Chính tòa Hà Nội, An Thái, Cát Thuế, Cổ Nhuế, Cửa Bắc, Đông Lao, Đông Trì, Giang Xá, Hà Đông, Hàm Long, Hàng Bột, Lai Yên, Nam Dư, Phùng Khoang, Thái Hà, Thình Liệt, Thượng Thụy, Thụy Ứng, Vạn Phúc Do hạn chế về nguồn lực cá nhân nên nghiên cứu chỉ tập trung vào trường hợp tại giáo xứ Hà Đông vì những lý do chính như sau: Thứ nhất, giáo xứ Hà Đông là một xứ Đạo nổi tiếng lâu đời thuộc Tổng giáo phận Hà Nội với số lượng giáo dân tương đối đông đảo, bao gồm có 4 nhà thờ: nhà thờ chính xứ Hà Đông (phường Lê Lợi - quận Hà Đông) và 3 nhà thờ giáo họ trực thuộc giáo xứ Hà Đông: Mai Lĩnh (xã Mai Lĩnh – Quận

Trang 16

Hà Đông), La Tinh Trại (phường Yên Nghĩa – quận Hà Đông), Yên Lộ (phường Yên Nghĩa – quận Hà Đông) Bên cạnh số giáo dân chính gốc (khoảng 1.050 giáo dân)6, giáo xứ còn có nhiều giáo dân di cư từ các tỉnh thành lân cận sinh sống, lao động và học tập trên địa bàn cũng trở thành giáo dân của giáo xứ Hà Đông Đây cũng chính là tình hình chung của các giáo xứ khác trên đại bàn thành phố Hà Nội

Thêm nữa, nằm tại trung tâm của thành phố Hà Đông cũ, cho nên giáo dân ở đây mang những đặc điểm có tính đặc thù của một giáo xứ ở thành thị, với sự đa dạng về ngành nghề, lứa tuổi, trình độ học vấn, thu nhập, mức độ niềm tin và thực hành tôn giáo tương đối đa dạng

Vì vậy, không gian nghiên cứu được giới hạn tại 1 nhà thờ chính xứ và 3 nhà thờ giáo họ, và số giáo dân được khảo sát nghiên cứu có sự phân bố tương đối đồng đều trong địa bàn quận Hà Đông chứ không chỉ tập trung vào

số lượng giáo dân tại Nhà thờ chính xứ

- Phạm vi thời gian: nghiên cứu về „mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình

Công giáo ở Hà Nội hiện nay‟, nên đề tài tập trung vào tìm hiểu mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo ở thời điểm hiện tại, cụ thể thời gian thực hiện nghiên cứu là từ 2016 đến 2018 Khách thể của nghiên cứu là các cặp đôi người Công giáo ở Hà Nội đang trong tình trạng hôn nhân là có vợ/có chồng hợp pháp tính đến thời điểm thực hiện nghiên cứu, do vậy căn cứ theo năm kết hôn của các cặp vợ chồng trong mẫu khảo sát, chiều thời gian của vấn đề nghiên cứu được thực hiện với những người Công giáo kết hôn từ năm 1970 đến 2017 Tuy nhiên, tiếp cận nghiên cứu vấn đề ở thời điểm hiện tại, nên thực trạng mâu thuẫn vợ chồng được đo lường cụ thể những mâu thuẫn đã phát sinh trong vòng 12 tháng tính đến thời điểm khảo sát

6

http://www.giaoxugiaohovietnam.com/HaNoi/01-Giao-Phan-HaNoi-HaDong.htm

Trang 17

- Phạm vi về mặt nội dung

+ Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo được xem xét dưới nhiều góc cạnh khác nhau bao gồm: tần suất của mâu thuẫn, các yếu tố tác động đến việc xuất hiện mâu thuẫn vợ chồng trong 12 tháng qua; các chiều cạnh cơ bản của mâu thuẫn như nhận thức, hành vi - ứng xử, tâm lý - cảm xúc của vợ chồng khi mâu thuẫn xảy ra; nguyên nhân và xu hướng giải quyết mâu thuẫn giữa vợ và chồng trong gia đình Công giáo Từ đó xem xét vai trò của niềm tin và nghi lễ, đạo đức tôn giáo, cam kết tôn giáo đối với mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo hiện nay

+ Về đối tượng khảo sát: là giáo dân đang sinh sống, làm việc và thường xuyên tham dự các thành lễ ở các Nhà thờ của giáo xứ Hà Đông (có thể là giáo dân của giáo xứ Hà Đông hoặc giáo dân di cư từ các giáo xứ khác, nhưng hiện tại đang sinh hoạt tôn giáo chủ yếu ở giáo xứ Hà Đông), đang sống đời sống hôn nhân vợ chồng (không nghiên cứu những đối tượng hiện không sống cùng

vợ hoặc chồng) Ngoài ra, còn tiến hành khảo sát một số đối tượng khác có liên qua đến đời sống hôn nhân gia đình của người Công giáo như: linh mục, ông trùm, bà quản ở các nhà thờ của giáo xứ, trưởng các nhóm, hội đoàn

Để có thể hiểu đầy đủ về mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo, cần đặt gia đình trong bối cảnh kinh tế - xã hội để phân tích những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến gia đình và mối quan hệ vợ chồng Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, mâu thuẫn vợ chồng chỉ giới hạn xem xét các yếu tố chủ quan, bên trong của hôn nhân gia đình Công giáo (các đặc điểm về hôn nhân, quy mô, loại hình gia đình và đặc trưng tôn giáo; sự tương đồng – khác biệt vợ chồng) có ảnh hưởng tới mâu thuẫn giữa vợ và chồng trong gia đình Công giáo, chứ chưa xem xét sự tác động của các yếu tố khách quan

Trang 18

5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Mức độ mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo 12 tháng qua như thế nào? Những yếu tố nào tác động đến mâu thuẫn thuẫn vợ chồng trong gia đình? Có những loại hình/chiều cạnh mâu thuẫn nào giữa vợ - chồng trong gia đình Công giáo?

- Nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng mâu thuẫn giữa vợ và chồng trong gia đình Công giáo là gì? Xu hướng giải quyết các mâu thuẫn đó trong gia đình Công giáo ra sao?

- Niềm tin, thực hành, và các giá trị đạo đức Công giáo có vai trò gì trong quá trình giải quyết và xử lý mâu thuẫn? Hay nói cách khác, đạo Công giáo có vai trò như thế nào trong việc trợ giúp vợ chồng Công giáo đối mặt

và vượt qua mâu thuẫn, những khủng hoảng trong đời sống hôn nhân?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Mâu thuẫn giữa vợ và chồng trong gia đình Công giáo trong 12 tháng qua mang tính phổ biến, tập trung vào những vấn đề thuộc về các chức năng

cơ bản của gia đình

Mâu thuẫn biểu hiện qua nhận thức, thái độ, hành vi, ứng xử, tâm lý, cảm xúc của vợ và chồng trong gia đình Công giáo chủ yếu ở mức độ không nghiêm trọng, và có xu hướng được giải quyết một cách ôn hòa Việc cùng chia sẻ các giá trị đạo đức tôn giáo giúp ngăn chặn, phòng ngừa sự xuất hiện của mâu thuẫn giữa vợ và chồng Niềm tin và thực hành tôn giáo làm giảm mức độ nghiêm trọng của hành vi mâu thuẫn Các cam kết tôn giáo thúc đẩy các cặp vợ chồng lựa giải quyết mâu thuẫn theo chiều hướng ôn hòa Giáo lý đạo Công giáo có vai trò tích cực và hỗ trợ các các nhân vượt qua khủng hoảng và làm giảm những tác động tiêu cực của mâu thuẫn lên mối quan hệ vợ chồng

Trang 19

6 Khung phân tích

Điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội của Việt Nam

Hôn nhân, gia đình Công giáo

Đặc điểm hôn nhân,

gia đình Công giáo

Niềm tin, thực hành tôn, đạo đức, cam kết tôn giáo

Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo

Nguyên nhân mâu thuẫn

Xu hướng giải quyết mâu thuẫn

Trang 20

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung chính của luận án được kết cấu trong 4 chương như sau:

- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Đây là chương tập trung phân tích những luận điểm chính mà các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài đã bàn đến mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình và mối quan hệ giữa tôn giáo và hôn nhân Những nghiên cứu về mâu thuẫn giữa vợ và chồng được tìm hiểu trong luận án liên quan đến các vấn đề về: mức độ của mâu thuẫn, biểu hiện, nguyên nhân, hệ quả của mâu thuẫn giữa

vợ và chồng trong gia đình Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tôn giáo và hôn nhân tập trung vào tìm hiểu những tác động âm tính và dương tính của tôn giáo đối với sự ổn định và bền vững của hôn nhân, cũng như những tác động của tôn giáo đến quá trình vận hành các chức năng của gia đình

- Chương 2: Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Trong chương này sẽ phân tích các khái niệm về gia đình, gia đình Công giáo, mâu thuẫn, mâu thuẫn vợ chồng Một số lý thuyết được áp dụng trong luận án bao gồm: lý thuyết mâu thuẫn, lý thuyết chức năng về tôn giáo, lý thuyết chức năng về gia đình để lý giải hiện trạng mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình, cũng như vai trò, sự can thiệp của tôn giáo đến tình trạng mâu thuẫn hôn nhân Những căn cứ và định hướng từ khái niệm và lý thuyết giúp ích cho việc thiết

kế nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp và xây dựng bộ công cụ khảo sát định tính và định lượng

Bên cạnh đó phần phương pháp nghiên cứu cũng sẽ được trình bày cụ thể trong chương 2 gồm: phương pháp luận nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích tài liệu, quan sát, phỏng vấn sâu, điều tra bằng bảng hỏi Thêm vào đó, cơ sở thực tiễn của nghiên cứu này còn là quan điểm

Trang 21

của đạo Công giáo về hôn nhân gia đình, cũng như những đặc điểm cơ bản nhất về hôn nhân và gia đình Công giáo trên địa bàn Hà Nội hiện nay

- Chương 3: Mức độ và các chiều cạnh mâu thuẫn giữa vợ và chồng trong gia đình Công giáo ở Hà Nội hiện nay Trong chương này sẽ tập trung

làm rõ các nội dung cụ thể như sau: thứ nhất, mức độ phổ biến của mâu thuẫn

vợ - chồng trong 12 tháng qua và các yếu tố tác động; thứ hai, các chiều cạnh của mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo bao gồm: chiều cạnh nhận thức, chiều cạnh hành vi, chiều cạnh tâm lý cảm xúc của mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình Công giáo Đồng thời phân tích vai trò của niềm tin, thực hành, các giá trị đạo đức tôn giáo trong việc ngăn chặn, phòng ngừa sự xuất hiện mâu thuẫn, cũng như làm giảm những biểu hiện, tác động tiêu cực về nhận thức, thái

độ, hành vi, cảm xúc của vợ chồng khi mâu thuẫn xảy ra

- Chương 4: Nguyên nhân và những xu hướng giải quyết mâu thuẫn giữa

vợ và chồng trong gia đình Công giáo ở Hà Nội hiện nay Trong chương này

tập trung làm sáng tỏ 4 vấn đề cơ bản: (1)nguyên nhân của mâu thuẫn; (2) xu hướng giải quyết mâu thuẫn giữa vợ và chồng; (3) vai trò của tôn giáo trong việc giải quyết mâu thuẫn; (4) bàn luận về vai trò của tôn giáo với quan hệ hôn nhân của người Công giáo

8 Những đóng góp mới của luận án

Đây là một nghiên cứu có tính chất mô tả bức tranh xã hội là chủ yếu, nhưng điểm mới của luận án nằm ở chỗ nghiên cứu này đồng thời có tính chất khám phá mối quan hệ giữa tôn giáo (cụ thể là đạo Công giáo) với hôn nhân của những người theo đạo Công giáo

Thứ nhất, về mặt khái niệm nghiên cứu làm rõ hơn khái niệm “mâu

thuẫn” đồng thời thao tác thành các chỉ báo cụ thể cho việc đo lường Bên cạnh đó làm sáng tỏ hơn khái niệm “gia đình Công giáo” dưới tiếp cận của khoa học

Trang 22

Thứ hai, nghiên cứu không chỉ mô tả đơn thuần thực trạng mâu thuẫn

giữa vợ và chồng trong gia đình Công giáo, mà còn chỉ ra các thành tố tôn giáo cụ thể tác động quá trình mâu thuẫn như: các giá trị đạo đức của tôn giáo, niềm tin Công giáo, thực hành tôn giáo, cam kết tôn giáo Các giá trị này

có vai trò nhất định trong từng giai đoạn của mâu thuẫn vợ chồng

Thứ ba, nghiên cứu này nhìn nhận mâu thuẫn không đơn giản là hiện

tượng mà là quá trình trong đó các chủ thể có sự điều tiết về hành vi, cảm xúc, nhu cầu của bản thân, kết thúc của quá trình này được tiếp cận theo hướng mẫu thuẫn giữa vợ và chồng không nhằm để phá vỡ quan hệ mà nhằm hướng tới sự điều chỉnh góp phần vào sự ổn định và bền vững của hôn nhân

Thứ tư, đóng góp của nghiên cứu này còn nằm chính trong đối tượng

nghiên cứu, vì hiện nay ở Việt Nam chưa có nghiên cứu Xã hội học nào đánh giá tác động của đạo Công giáo đến mối quan hệ vợ chồng của người Công giáo, mà mới chỉ có một vài nghiên cứu đánh giá tác động của đạo Công giáo đến việc thực hiện một số các chức năng cụ thể của gia đình như: duy trì nòi giống, giáo dục con cái

Cuối cùng, nghiên cứu này được tiếp cận dưới góc độ của Xã hội học

Gia đình, Xã hội học Tôn giáo Tuy nhiên, những đóng góp của nghiên cứu cho chuyên ngành Xã hội học tôn giáo được thể hiện rõ nét hơn cả, trong việc đánh giá những tác động qua lại của thiết chế tôn giáo đối với xã hội, nhóm,

cá nhân

Trang 23

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Dẫn nhập

Nghiên cứu này tiến hành điểm lại những tài liệu trong nước và nước ngoài chủ yếu là của các nhà xã hội học nghiên cứu về mâu thuẫn vợ chồng nói chung, và mâu thuẫn vợ chồng trong những gia đình có tôn giáo nói riêng với những kết quả chủ yếu như: mức độ phổ biến của mâu thuẫn, các biểu hiện và nguyên nhân của mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng cũng như những

hệ quả của nó đối với mối quan hệ này, mối quan hệ giữa tôn giáo và hôn nhân.Từ đó bàn luận về các kết quả nghiên cứu, những thành tựu có thể kế thừa từ những nghiên cứu đi trước cũng như những khoảng trống còn tồn tại

có thể mở ra hướng nghiên cứu mới liên quan đến vấn đề mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình

Các tài liệu trong nước được tập hợp chủ yếu từ các công trình nghiên cứu thực nghiệm của các nhà xã hội học đã có nhiều năm nghiên cứu về các vấn đề của gia đình đã được công bố trên các tạp chí có uy tín, sách tham khảo, chuyên khảo, giáo trình… được giới hạn trong vòng 20 năm trở lại đây với kỳ vọng nhận diện được các vấn đề của gia đình khi Việt Nam đã có những gặt hái bước đầu sau tiến trình đổi mới Từ đó khoanh vùng nguồn tài liệu tập trung vào vấn đề mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình, để xem xét những thành tựu về mặt nội dung cũng như phương pháp mà các nhà nghiên cứu đã chỉ ra về vấn đề này So với tài liệu trong nước, việc sử dụng các tài liệu nước ngoài trong luận án này có sự tương đồng, chủ yếu là những nghiên cứu về gia đình của các nhà xã hội học đã công bố trên các tạp chí uy tín, chủ yếu là của Mỹ, với phạm vi thời gian cho các nguồn tài liệu dài hơn Sở dĩ như vậy, vì những thành tựu nghiên cứu về mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình của các nhà nghiên cứu nước ngoài đã có từ rất lâu, rất nhiều vấn đề đã

Trang 24

được làm sáng tỏ mà các nhà nghiên cứu trong nước có thể kế thừa cho bối cảnh của xã hội Việt Nam sau những năm đổi mới Kết quả của quá trình tổng quan tài liệu cho thấy, các vấn đề của gia đình trong đó có mâu thuẫn vợ chồng được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thống nhất ở nhiều nội dung quan trọng

1.1 Những nghiên cứu về mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình

1.1.1 Mức độ phổ biến của mâu thuẫn

Điểm lại nghiên cứu của các nhà xã hội học nước ta về mối quan hệ vợ chồng, các bằng thực nghiệm đều chỉ ra mâu thuẫn vợ chồng là hiện tượng phổ biến

Mâu thuẫn vợ chồng được hiểu “là tất cả những hình thức bất đồng ý kiến, tranh luận hay mức độ cao hơn là cãi nhau” giữa vợ và chồng trong gia đình [Trịnh Thái Quang, 2007: 76], là biểu hiện của sự bất đồng về tình cảm, một hậu quả chắc chắn xảy ra do sự khác nhau giữa vợ và chồng, sự khác nhau không thể tránh được giữa hai người sống liên tục với nhau trong sự thân mật, “sẽ là không hợp lý nếu cho rằng hai con người khác nhau sẽ luôn muốn làm một công việc, theo cùng một cách và trong cùng một thời gian” [Vũ Tuấn Huy, 2003: 19] Người Việt Nam có câu “bát đũa còn có khi xô” để chỉ đời sống hôn nhân không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng, cho nên mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình là một hiện tượng phổ biến [Vũ Mạnh Lợi, Vũ Tuấn Huy, 1999], là điều tất yếu của quá trình vận động và phát triển xã hội, là điều khó tránh khỏi trong các mối quan hệ của con người, đặc biệt trong quan hệ vợ chồng [Nguyễn Đình Tuấn, 2005] Điểm lại những nghiên cứu đi trước có thể thấy, khái niệm mâu thuẫn vợ chồng trong các nghiên cứu đa phần được tiếp cận với nghĩa rộng là mâu thuẫn giữa các cặp đôi là vợ chồng hoặc chung sống như vợ chồng và được hiểu

là toàn bộ quá trình xung đột giữa vợ và chồng bao gồm từ bất đồng quan

Trang 25

điểm, tranh luận, cãi nhau bằng ngôn từ/ phi ngôn từ đến những hành động bạo lực [Trần Thị Vân Nương, 2016]

Để làm sáng tỏ mức độ phổ biến của mâu thuẫn vợ chồng, phương pháp thống kê, định lượng với các câu hỏi hướng đến xem xét tần xuất, mức độ, tính thường xuyên của mâu thuẫn hay được sử dụng Nghiên cứu “tác động của những yếu tố kinh tế - xã hội đến sự biến đổi của gia đình” do Viện Xã hội học tiến hành tại Thái Bình (1994) và Nam Định (1996) chỉ ra trong khoảng thời gian một năm trước thời điểm nghiên cứu, kết quả tương ứng là

có 94% và 80% hộ gia đình thừa nhận có ít nhất một sự bất đồng giữa vợ và chồng về các vấn đề trong đời sống gia đình Nghiên cứu thử nghiệm “Biến đổi gia đình ở Việt Nam” do Viện Xã hội học và Trung tâm nghiên cứu Dân

số, Đại học Michigan, Mỹ tiến hành nghiên cứu từ 800 hộ gia đình ở Hải Dương năm 2001 cho biết, khoảng 75% hộ gia đình có ít nhất một lần mà người trả lời nói rằng xảy ra mâu thuẫn giữa vợ và chồng về một vấn đề bất

kỳ nào đó Điều này cho thấy có rất ít gia đình không xảy ra mâu thuẫn giữa

vợ và chồng trong đời sống hàng ngày [Vũ Tuấn Huy, 2003]

Kết quả nghiên cứu của đề tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia do Trần Thị Kim Xuyến và các cộng sự thực hiện từ năm 2008 đến 2010 với tiêu đề

“Những biến đổi của gia đình nông thôn ven đô ở Nam Bộ trong bối cảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa” tiến hành tại hai xã ven đô của thành phố Cần Thơ, Mỹ Tho, và một xã gần thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương với mẫu điều tra 600 hộ, đã chỉ ra mức độ phổ biến trong mâu thuẫn giữa vợ và chồng theo hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm và chưa bao giờ, trong đó tần số xảy ra bất đồng ý kiến giữa vợ chồng không quá cao, chủ yếu theo tính theo hàng tháng và hàng năm Thêm vào đó có sự khác biệt về mức độ bất đồng, mâu thuẫn giữa vợ và chồng theo loại hình gia đình, theo đó gia đình mở rộng

có ưu thế hơn trong giải quyết vấn đề mâu thuẫn gia đình, khi mà tỷ lệ chưa

Trang 26

bao giờ xảy ra bất đồng ý kiến của gia đình mở rộng nhiều gần gấp đôi so với gia đình hạt nhân (40,7% so với 27,3%) với lí do sự dày dặn kinh nghiệm của gia đình mở rộng với sự thiếu kinh nghiệm khi cùng lúc tham gia nhiều vai trò

xã hội của các thành viên trong gia đình hạt nhân [Trần Thị Kim Xuyến & cộng sự, 2013]

Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu trước đó của đề tài KX.05.01 thuộc chương trình KX.05 khi tiến hành cuộc điều tra xã hội học “Người Việt Nam trong quan niệm của các tầng lớp dân cư tiêu biểu” năm 2003 tại 6 tỉnh thành Hà Nội, Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ cho thấy “mâu thuẫn gia đình là khá phổ biến với các hình thức và mức

độ khác nhau” [Nguyễn Đình Tuấn, 2005] như mâu thuẫn trong lối sống, tiền bạc, con cái, họ tộc, chăn gối với các mức độ từ nhẹ đến rất nghiêm trọng Hay nghiên cứu của Trịnh Thái Quang năm 2007 tiến hành tại Tiền Giang với

300 trường hợp được khảo sát đã chỉ ra mâu thuẫn vợ chồng là hiện tượng tương đối phổ biến với các mức độ khác nhau Bằng cách thống kê số lần cãi nhau giữa vợ và chồng trong vòng 12 tháng đã cho thấy hầu hết các cặp vợ chồng đều từng xảy ra mâu thuẫn và thường xảy ra ở những hộ gia đình trẻ tuổi Một kết quả khá đặc biệt trong nghiên cứu này là những hộ gia đình có mức sống khá thì mâu thuẫn lại xảy ra nhiều Các mức độ của mâu thuẫn được thể hiện thành ba phương án trả lời là “thỉnh thoảng”, “ít khi‟, “không bao giờ”, kết quả cho thấy ở hai mức độ thỉnh thoảng và ít khi tỷ lệ tương ứng là 41,7% và 33,7%, thang đo “thỉnh thoảng” ở đây được định nghĩa là mức độ xảy ra hàng tháng, vì thế có thể thấy rằng tỷ lệ các cặp vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn thường xuyên khá cao [Trịnh Thái Quang, 2007]

Tóm lại, hầu hết các nghiên cứu về mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình

cả trong và ngoài nước đều đi tới kết luận: mâu thuẫn là phổ biến, và phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp định lượng đo lường tần suất mâu

Trang 27

thuẫn xuất hiện trong một khoảng thời gian nhất định nào đó, theo tuần, theo tháng, hoặc theo năm, từ đó chỉ ra được mức độ thường xuyên của các mâu thuẫn ở các gia đình là khác nhau

1.1.2 Biểu hiện của mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình

Mâu thuẫn vợ chồng có nhiều cách thức biểu hiện khác nhau, phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của mâu thuẫn “Hình thức biểu hiện của mâu thuẫn gia đình rất đa dạng từ nhẹ như thái độ khó chịu, im lặng, giận dỗi, đến phản ứng ra mặt, bất hợp tác, sử dụng bạo lực tinh thần, lời nói mắng chửi, cãi nhau đến bạo lực thân thể, đánh đập nhau” [Lê Thi, 2009] Trong nghiên cứu của [Trần Thị Kim Xuyến, 2013], có bốn cách ứng xử được đưa ra khi có mâu thuẫn xảy ra: không nói gì; hành vi có yếu tố bạo lực tinh thần - lăng mạ, chửi bới, nhạo báng; hành vi có yếu tố bạo lực thân thể - đánh, xô, ném đồ đạc vào người; trừng phạt bằng cách ly – đuổi ra khỏi nhà Trong 4 nhóm biểu hiện trên thì im lặng là cách ứng phó phổ biến của cả vợ lẫn người chồng khi xảy

ra mâu thuẫn trong số mẫu nghiên cứu

Biểu hiện cao nhất của mâu thuẫn vợ chồng là hiện tượng bạo lực, bạo lực gia đình là những hành vi ngược đãi, đánh đập hoặc sỉ nhục của một hoặc nhiều thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khỏe, tâm thần, tính mạng của một hay nhiều thành viên khác [Vũ Mạnh Lợi và cộng sự, 1999; Lê Thị Quý, 2009] Nếu gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt, là hình thức thu nhỏ của xã hội thì bạo lực gia đình cũng là một hình thức thu nhỏ và đặc biệt của bạo lực xã hội Tuy nhiên, sự khác biệt giữa bạo lực gia đình với các dạng thức bạo lực xã hội khác là ở chỗ bạo lực gia đình lại diễn

ra giữa những người thân, những người có cùng huyết thống, hôn nhân, những người sống dưới một mái nhà, nơi được coi là tổ ấm hạnh phúc của mỗi người [Trần Thị Kim Xuyến, 2013] Các nghiên cứu cũng chỉ rõ không phải mâu thuẫn nào trong hôn nhân cũng dẫn đến những xung đột mang tính

Trang 28

bạo lực, đồng thời, nguyên nhân chính của bạo lực gia đình trong nhiều trường hợp cũng là nguyên nhân của mâu thuẫn giữa vợ và chồng [Vũ Tuấn Huy, 2009] Tuy nhiên vẫn phải thừa nhận rằng giữa mâu thuẫn và bạo lực gia đình có mối quan hệ tương đối chặt chẽ, những hộ gia đình càng nhiều mâu thuẫn thì càng có khả năng xảy ra bạo lực nhiều hơn Mối quan hệ này đặc biệt mạnh mẽ ở những hộ gia đình trẻ tuổi [Trịnh Thái Quang, 2007] Nạn nhân của bạo lực gia đình thường là phụ nữ, nhiều người tin rằng nam giới có quyền dạy vợ (chứ không phải là ngược lại), chính vì quan niệm trên mà nhiều phụ nữ cam chịu sống trong những cuộc hôn nhân đầy bạo lực [Mai Huy Bích, 2011]

Tóm lại, mâu thuẫn vợ chồng có thể chia thành hai nhóm biểu hiện chính: thứ nhất, là những trạng thái tâm lý tiêu cực của các chủ thể (như hờn dỗi, khó chịu, in lặng, bất hợp tác…), biểu hiện này thể hiện mức độ đầu tiên của mâu thuẫn, mức độ nhẹ Thứ hai, nếu mâu thuẫn tiếp tục gia tăng, các biểu hiện có thể đi xa hơn, thể hiện cụ thể hơn trong hành động, hành vi, các biểu hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động; mà nghiêm trọng hơn cả đó là hành

vi bạo lực trong quan hệ vợ chồng Tuy nhiên, trong hầu hết các xung đột mâu thuẫn vợ chồng, việc phân chia thành hai nhóm biểu hiện này chỉ mang tính tương đối, vì nó có thể thể hiện ra bên ngoài tất cả những biểu hiện này, cũng có thể không, hoặc đôi khi những biểu hiện bên ngoài đó cũng không phản ánh hết đước mức độ, tính chất nghiêm trọng của mâu thuẫn

1.1.3 Nguyên nhân của mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình

Các nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa vợ và chồng, có thể chia

ra thành các nhóm nguyên nhân:

Thứ nhất, mâu thuẫn và mức độ mâu thuẫn vợ chồng có thể đến từ sự

khác biệt về những đặc điểm của cá nhân, gia đình “Theo Spainier và Lewis,

Trang 29

đó là những biến số chia sẻ những đặc điểm cùng nhóm như tuổi, chủng tộc, giai cấp, tôn giáo, các giá trị; những biến số phản ánh nguồn lực như trình độ học vấn, thời gian tìm hiểu, kỹ năng, sự tự trọng, sức khỏe Điều này phù hợp với những nghiên cứu trước đó của Bumppass và Sweet (1972), Lewis và Spanier (1979), Atkinson và Glass, (1985) đã chỉ ra những cuộc hôn nhân mà

vợ chồng khác nhau về tuổi tác, tôn giáo và học vấn thường có nhiều xung đột

và dẫn đến sự đổ vỡ hôn nhân” [dẫn theo Vũ Tuấn Huy, 2003:23] Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Đình Tuấn (2005) với những kết quả thu được

là tương đối phù hợp với những phát hiện trước đó khi thấy rằng các yếu tố học vấn, nghề nghiệp, địa bàn cư trú và tuổi ảnh hưởng khá mạnh đến sự xuất hiện mâu thuẫn và mức độ mâu thuẫn gia đình Điều này lý giải sâu sắc cho một kinh nghiệm dân gian của người Việt Nam mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị đó là: hôn nhân đối lứa cần thiết phải cân nhắc đến sự tương đồng “môn đăng hộ đối” hay “nồi nào úp vung nấy” nhằm giảm thiểu sự khác biệt về địa vị xã hội, các đặc điểm của cá nhân, gia đình, dòng họ… với niềm tin rằng, sự tương đồng càng lớn giữa người nam và nữ cũng như gia đình của họ là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân bền vững, ít mâu thuẫn xung đột

Thứ hai, xung đột tâm lý được coi là nguồn gốc sâu xa của mâu thuẫn

Tác giả Nguyễn Đình Xuân (1993) đã mô tả nguyên nhân làm nảy sinh xung đột trong gia đình là do xung đột tâm lý, bất đồng hay khác nhau về nhu cầu, thị hiếu… giữa các thành viên trong gia đình, tuy nhiên, không phải mọi sự khác biệt đều dẫn đến xung đột mà chỉ khi nào chúng ta không biết bàn bạc, nhường nhịn, thông cảm cho nhau thì mới nảy sinh ra xung đột Huston (1994) cho rằng sự khác biệt về tính cách như thường xuyên lo lắng, trầm uất, luôn nhìn nhận mọi thứ một cách tiêu cực… cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh mâu thuẫn trong đời sống gia đình Hướng tiếp cận coi

Trang 30

trạng thái tâm lý chủ quan của con người là một trong những nguồn gốc sâu

xa của mâu thuẫn đã đặt ra vấn đề, cá nhân, các cặp vợ chồng phải tôn trọng

sự khác biệt của nhau, chia sẻ, thổ lộ những cảm xúc tích cực là biện pháp hữu hiệu để hiểu nhau và giảm thiểu mâu thuẫn Tuy nhiên, với cách tiếp cận này, đã bỏ qua một yếu tố quan trọng đó là, trạng thái tâm lý con người không hoàn toàn tự nhiên, bẩm sinh, mà nó còn là sản phẩm của chính hoàn cảnh môi trường sống

Thứ ba, biến đổi xã hội được coi là nhân tố khách quan ở tầm vĩ mô

“khiến cho gia đình phải đối diện với rất nhiều vấn đề như: cấu trúc, chức năng gia đình thay đổi, định hướng giá trị, các mối quan hệ trong gia đình thay đổi, ly hôn, ly tán, xung đột và bạo lực gia đình” [Nguyễn Thị Hồng Nga, 2009] Trong gia đình tồn tại nhiều mâu thuẫn, xung đột giữa cái cũ và cái mới, truyền thống và hiện đại, đổi mới và bảo tồn… gây áp lực không nhỏ đến các cuộc hôn nhân, các cặp vợ chồng trong quá trình lựa chọn (lựa chọn trong chính sự khác biệt của cả hai) Thêm vào đó theo Sillar, A và Dun, T, (2000) nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng trong đời sống hôn nhân, đó là hiện tượng đánh giá không đúng những điều kiện của đời sống hôn nhân, nhận định này phần nào cũng làm sáng tỏ sự khó khăn của các cặp vợ chồng trong quá trình lựa chọn cho đời sống hôn nhân của mình

Thứ tư, dưới góc độ tiếp cận về giới, bất bình đẳng giới được coi là

nguyên nhân sâu xa cho những bất hòa mâu thuẫn trong gia đình Theo tác giả

Lê Thị Quý (2007) nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn và bất hòa trong quan hệ vợ chồng nằm ở sự bất bình đẳng về giới, đặc biệt đối tượng chịu sự bất công đó là phụ nữ, họ phải đảm nhận nhiều trách nhiệm nhưng lại không được người nam giới (người chồng) tạo điều kiện và ủng hộ Khi người phụ

nữ còn bị áp đặt, không được tôn trọng trong hôn nhân thì mâu thuẫn vẫn luôn tồn tại trong quan hệ vợ chồng và “khi quan niệm truyền thống về giới còn

Trang 31

được bảo lưu, thì mâu thuẫn gia đình là điều khó tránh khỏi” [Nguyễn Đình Tuấn, 2005]

Bên cạnh những nguyên nhân kể trên, những năm gần đây các nghiên cứu còn tập trung vào việc chỉ ra những nguyên nhân cụ thể, trực tiếp dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng như: khó khăn về kinh tế, sự khác biệt trong giáo dục, chăm sóc con cái, tình dục, rượu v v [Trần Thị Kim Xuyến 2013; Lê Thi 2009; Vũ Mạnh Lợi, Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh 1999]

Có thể nói, các nghiên cứu của Việt Nam cũng như nước ngoài đã chỉ ra

sự đa dạng trong việc lý giải nguyên nhân của mâu thuẫn, xung đột trong đời sống vợ chồng Điều này cho thấy, khi nghiên cứu về mâu thuẫn vợ chồng, nhà nghiên cứu phải “thấu hiểu” được nguyên nhân, động cơ sâu xa của mâu thuẫn Bởi dường như những nguyên nhân này không riêng rẽ mà chúng có mối liên hệ, dắt mối với nhau, thâm chí còn che lấp nhau, làm mờ những nguyên nhân đích thực bằng những biểu hiện bề ngoài của những mâu thuẫn xung đột Có những nguyên nhân là căn bản, chính yếu, có những nguyên nhân mang tính phụ thuộc, thứ cấp Có những nguyên nhân tồn tại bền bỉ lâu dài là bản chất của xung đột, tuy nhiên cũng có những xung đột chỉ là những va chạm thoáng qua bởi những lý do không mấy chính đáng Thêm vào đó, nguyên nhân của mâu thuẫn cũng mang tính thời sự, vì trong mỗi giai đoạn khác nhau trong “đường đời” của gia đình, thường bao giờ cũng

có những dạng mâu thuẫn chủ đạo Do đó, có thể coi việc truy tìm các nguyên nhân của mâu thuẫn như là căn cứ cơ bản để xem xét các loại hình của mâu thuẫn vợ chồng

1.1.4 Những hệ quả của mâu thuẫn vợ - chồng trong gia đình

Mâu thuẫn vợ chồng là hiện tượng không thể tránh khỏi, tác động của mâu thuẫn lên mối quan hệ này được chỉ ra trong các nghiên cứu chủ yếu là

Trang 32

những tác động âm tính [Vũ Mạnh Lợi, Vũ Tuấn Huy, 1999; Vũ Tuấn Huy, 2003; Trịnh Thái Quang, 2007; Vaughan, 1986; William M Pinsof, 2005…] Trước hết, mẫu thuẫn tác động trực tiếp đến các chủ thể của mối quan hệ này, đó là tình trạng tổn thương về mặt tâm lý, rạn nứt mối quan hệ vợ chồng,

sự phai nhạt tình cảm, trách nhiệm và sự nhiệt tình dành cho nhau Hệ quả nặng nề hơn nữa là tình trạng bạo lực trong quan hệ vợ chồng, với nguy cơ đổ

vỡ, ly thân và thậm chí là dẫn tới tình trạng chấm dứt mối quan hệ - ly hôn Các nghiên cứu cũng chỉ ra mâu thuẫn vợ chồng có liên quan đến hàng loạt các triệu chứng trầm cảm, chứng ăn uống vô độ, lạm dụng rượu, nát rượu và

sử dụng rượu bia ngoài gia đình [Fincham, 2003] Đặc biệt, mâu thuẫn hôn nhân ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống gia đình, sự hình thành tính cách và tương lai của trẻ [Grych,J.H & Finchan, 2001]

Mâu thuẫn giữa cha mẹ tác động không nhỏ đến con cái, tác giả Nguyễn Khắc Viện (1993) khi nghiên cứu về xung đột gia đình gây tổn thương tâm lý đối với trẻ em cho rằng, trẻ em là đối tượng chịu ảnh hưởng lớn nhất của xung đột gia đình, ly hôn làm tổn thương và gây ra rất nhiều chứng bệnh nhiễu tâm ở trẻ em Khi cha mẹ và con cái không còn sống chung với nhau, tình cảm của con cái với bố mẹ có nhiều thiệt thòi nhất là trong trường hợp con cái ở với một bên

có ác cảm, thù ghét bên kia Điều đó có thể làm cho nhiều em đánh giá thấp tầm quan trọng của cha mẹ chúng trong cuộc sống và sự bền chặt của mối quan hệ cha mẹ - con cái [Lê Thi, 1996] Thêm đó, các nghiên cứu về trẻ em lang thang đường phố ở Việt Nam đã chỉ ra thực tế một trong những nguyên nhân của hiện tượng này là do tình trạng bạo lực trong gia đình, cha mẹ li thân hoặc đã li hôn [Nguyễn Thanh Tâm và cộng sự, 2002; Nguyễn Hải Hữu, 2002] Sự thiếu vắng cha mẹ và sự bất hòa trong gia đình cũng được coi là nguyên nhân làm cho các

em không được chăm sóc, từ đó dễ bị kẻ xấu lợi dụng, cưỡng hiếp hoặc rủ rê đi vào con đường mại dâm [Đỗ Năng Khánh, 2002]

Trang 33

Hệ quả tiếp theo của mâu thuẫn vợ chồng đó là tình trạng bạo lực, theo tác giả Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh (2007), một trong những cách giải quyết xung đột tiêu cực giữa vợ và chồng là sử dụng bạo lực, hay nói cách khác, bạo lực chính là những biểu hiện bề ngoài của mâu thuẫn, xung đột giữa

vợ và chồng Nhận xét này phù hợp với nghiên cứu thực nghiệm trước đó của tác giả Hà Thị Minh Khương (2005: 185) tại Tiền Giang: “Sự hài lòng về cuộc sống gia đình sau hôn nhân và quan điểm về một gia đình hạnh phúc” được đăng trên Kỷ yếu khoa học do Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2007 Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những kết luận quan trọng như “ giữa mâu thuẫn và bạo lực trong gia đình có một mối quan hệ tương đối mạnh mẽ, … ở những hộ gia đình càng nhiều mâu thuẫn thì càng có khả năng xảy ra bạo lực nhiều hơn và mối quan hệ này đặc biệt mạnh mẽ ở những hộ gia đình trẻ tuổi” Các nhóm nguyên nhân chính cho tình trạng này bao gồm kinh tế; kỳ vọng về vai trò; tình cảm; nuôi dạy con cái; thói quen, tính cách và

sở thích.Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy bạo lực không phải

là cách thức để giải quyết mâu thuẫn, thậm chí nó làm cho tình trạng mâu thuẫn trở nên đặc biệt nghiêm trọng và khó giải quyết, và “bạo lực không phải

là cách giải quyết xung đột vợ chồng tốt nhất” [Đoàn Xuân Mượu, 2012]

Ly hôn là hậu quả nặng nề nhất của mâu thuẫn, “theo Levinger, Nicky Hart (1976), phần lớn các trường hợp ly hôn là do sự tôn trọng và ưa thích mà một cặp vợ chồng vẫn có với nhau đã mất đi trước khi họ ly thân, thay vào đó

là sự thù địch và bất tin, những cuộc cãi cọ thường rất gay gắt” [trích theo Nguyễn Thị Hồng Nga, 2009] Và những mâu thuẫn gắn với việc sử dụng bạo lực trong gia đình thường là những lý do dẫn đến các vụ ly thân, ly hôn [Lê Thi, 2009] Nghiên cứu về hiện tượng ly hôn, nhà xã hội học người Mỹ, Vaughan (1986) có đóng góp lớn vào phương pháp luận và thực tiễn về vần

đề này khi bà tập trung vào việc xem xét quá trình “tách cặp” và các cặp vợ

Trang 34

chồng chuyển ra khỏi mối quan hệ hôn nhân như thế nào chứ không phải là nguyên nhân Quá trình này có người khởi sướng khi họ trở nên không hài lòng với quan hệ vợ chồng, họ hy vọng họ có thể thay đổi được người còn lại theo những kỳ vọng và mong muốn của mình, nhưng khi không thành công, thì người khởi xướng chỉ chú ý đến những khuyết điểm thiếu sót, mặt tiêu cực của quan hệ vợ chồng và của người kia “Người khởi xướng đầy bất mãn ngày càng tập trung vào những sai sót, mà giảm tối thiểu những mặt được” [Vaughan, 1986: 28] Sau đó, họ tập trung vào việc phát triển những mối quan

hệ mới, làm cho hố sâu ngăn cách ngày càng cách biệt Họ bắt đầu xem xét đến khả năng ly hôn trong sự cân nhắc thiệt hơn, giữa cái được và cái mất Cách tiếp cận của Vaughan mới mẻ ở chỗ bà khảo sát chuyện tan rã hôn nhân như một quá trình và xem xét tất cả các bước trong quá trình này, cách thức

mà các bước ấy nối nhau, bước này tạo điều kiện cho bước tiếp theo xảy ra Nghiên cứu của Vaughan là một gợi ý sâu sắc cho những nghiên cứu sau này khi xem xét mâu thuẫn vợ chồng không đơn giản chỉ là hiện tượng, mà là một quá trình có bắt đầu, diễn biến và những hệ quả khi nó kết thúc, nó có người khởi xướng, người giải quyết và người hòa giải…

Như vậy, các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau về những tác động

âm tính của mâu thuẫn lên mối quan hệ vợ chồng, cũng như những hệ quả của

nó đối với con cái Đồng thời, gợi mở cho sự cần thiết phải quản lý tốt xung đột mâu thuẫn vợ chồng để không dẫn đến hệ quả phá vỡ mối quan hệ này

1.2 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa tôn giáo và hôn nhân

Mối quan hệ giữa tôn giáo và hôn nhân là chủ đề được quan tâm nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua Nghiên cứu về chủ đề này thường được dựa trên giả định rằng những cặp vợ chồng có tôn giáo có cuộc hôn nhân hạnh phúc và

ổn định hơn các cặp vợ chồng không có tôn giáo [Sullivan, 2001] Những kết quả thực nghiệm dường như hỗ trợ ý tưởng này, một số nghiên cứu cho rằng

Trang 35

so với các cặp đôi không theo tôn giáo, cặp vợ chồng theo tôn giáo có sự hài lòng trong hôn nhân cao hơn [Kunz và cộng sự 1977; Anthony 1993], ít có khả năng phát sinh bạo lực gia đình [Ellison và cộng sự 1999], ít có khả năng

ly hôn [Bahr và cộng sự 1985]; giảm nguy cơ xung đột, và tăng cường khả năng sinh sản [Nathaniel và cộng sự 2006; Mahoney và cộng sự 2001; Sherkat và cộng sự] Như vậy, vai trò của tôn giáo đối với đời sống hôn nhân

đã được ghi nhận trong một số nghiên cứu trên thế giới Trên cơ sở điểm lại các quan điểm về vai trò của tôn giáo đối với đời sống hôn nhân trên thế giới, tác giả bàn luận thêm về vấn đề nghiên cứu mối quan hệ giữa tôn giáo và hôn nhân trong bối cảnh Việt Nam từ góc độ xã hội học

1.2.1 Tôn giáo và tính bền vững của hôn nhân

Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hôn nhân và tôn giáo trên thế giới

đã xem tôn giáo vừa là nhân tố góp phần vào sự bền vững của hôn nhân nhưng cũng đồng thời là nhân tố có thể dẫn đến xung đột trong gia đình

Từ khía cạnh tôn giáo góp phần vào tính bền vững hôn nhân, các nghiên cứu đã tập trung vào một số khía cạnh như: 1) sự tham gia tôn giáo khuyến khích

và tăng cường sự gắn kết giữa các cặp đôi, 2) sự chia sẻ các giá trị đạo đức tôn giáo góp phần ngăn ngừa xung đột trong đời sống gia đình, 3) giáo lý và thực hành tôn giáo là nguồn lực tham gia vào giải quyết xung đột trong gia đình Các tôn giáo thường không khuyến khích việc ly hôn, chẳng hạn đối với Công giáo thì “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết” thì “loài người không được phân ly” [Mt 19,4-97

; Mc 10, 6-98], hôn nhân được xem là một trong bảy phép bí tích Sự ràng buộc của giáo luật đối với người theo đạo buộc các cặp vợ chồng phải sống chung thủy và không được phép ly hôn Theo giáo luật Công giáo, đặc điểm của hôn nhân là đơn nhất và bất khả phân ly: “những đặc tính

Trang 36

chính yếu của hôn nhân là sự đơn nhất và sự bất khả phân ly, những đặc tính này có một sự bền vững đặc biệt trong hôn nhân Kitô giáo, có tính cách Bí tích” [Điều 1056 giáo luật] Khác với Công giáo, Phật giáo tuy không đặt ra các luật lệ đối với hôn nhân song cũng đưa ra các nguyên tắc đạo đức đối với đời sống hôn nhân Trong kinh Đảnh Lễ Sáu Phương đức Phật đã dạy:

“Chồng đối với vợ thì phải thương yêu vợ, chung thủy với vợ, săn sóc đời sống vật chất cho vợ, trao cho vợ quyền quản lý những công việc trong gia đình, kính trọng gia đình vợ; Còn vợ đối với chồng thì phải thương kính chồng, chung thủy với chồng, quản lý gia đình tốt, siêng năng làm việc, đối đãi thân thiện với gia đình chồng và bạn bè của chồng” [Quảng Trí 2010] Những quan niệm về hôn nhân của tôn giáo như vậy thường khuyến khích sự hòa thuận, sự bền vững trong đời sống hôn nhân gia đình Các nghiên cứu cho thấy, các cặp vợ chồng khi đưa nhau đến Nhà thờ và thực hiện việc cam kết hôn nhân vĩnh viễn đã khuyến khích họ tăng cường sự hòa giải khi có mâu thuẫn xuất hiện Bởi theo quan niệm của một số tôn giáo, ly hôn là điều cấm kỵ, nên các cặp đôi cần tìm cách giải quyết vấn đề nảy sinh trong hôn nhân để tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân Tôn giáo được xem là nhân

tố giúp ổn định hôn nhân [Lehrer và cộng sự 1993; Booth và cộng sự 1995; Wilson cộng sự 1996], đặc biệt ở những cặp đôi có sự tương đồng về niềm tin và thực hành tôn giáo Tất cả các cặp vợ chồng trong nghiên cứu của Holeman (2003) khẳng định rằng cả hai vợ chồng đã cam kết với tiến trình hòa giải để đạt được sự hài hòa dài hạn khi họ kết hôn Việc cầu nguyện thúc đẩy quá trình giao tiếp trong hôn nhân diễn ra cởi mở hơn, Butler và cộng sự (2002) nhận thấy rằng lời cầu nguyện tạo điều kiện cho vợ chồng cảm thông, tăng cường sự tập trung, và khuyến khích các cặp vợ chồng trách nhiệm cho

sự hòa giải và giải quyết vấn đề

Trang 37

Sự cam kết gắn bó với nhau qua nghi lễ tôn giáo về hôn nhân làm gia tăng sự gắn kết của các cặp đôi Pearce và Axinn (1998) nhấn mạnh, tôn giáo cũng như một lực lượng tích hợp trong xã hội, vì vậy chia sẻ kinh nghiệm tôn giáo có thể làm tăng sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình [trích theo Waite và cộng sự 2003] Holeman (2003) phát hiện ra rằng các cặp vợ chồng theo tôn giáo được thúc đẩy để được tha thứ cho người khác để tỏ lòng biết ơn với Đức Chúa Trời Niềm tin và thực hành tôn giáo dường như có chức năng như một liều thuốc trong đó xung đột vợ chồng được ngăn chặn, giải quyết, khắc phục [dẫn theo Nathaniel M Lambert, 2006] Như vậy, có thể thấy, sự tha thứ mà các tôn giáo mong mỏi ở các tín đồ của mình là rất quan trọng nhằm điều hòa mối quan hệ hôn nhân, giúp cho hôn nhân bền vững

Một số nghiên cứu đã chỉ ra hôn nhân của các cặp đôi cùng tôn giáo có tính ổn định hơn các cặp đôi khác bởi tôn giáo có thể là một nguồn lực giải quyết xung đột trong đời sống hôn nhân Dudley và cộng sự (1990) nhận thấy rằng đi lễ nhà thờ giúp các cặp đôi nhắc nhớ về vai trò và trách nhiệm của mình trong hôn nhân, đồng thời các cặp vợ chồng cùng tôn giáo dễ giải quyết xung đột hơn các cặp vợ chồng khác tôn giáo [trích theo Lehrer và cộng sự 1993] Bên cạnh đó, một số tôn giáo cũng cung cấp các chương trình tư vấn mục vụ về hôn nhân gia đình, khuyến khích các hoạt động nhằm tăng cường khả năng gắn kết các cặp đôi, làm giàu, phong phú đời sống hôn nhân gia đình [McManus, M., & McManus, 2003]

Sự chia sẻ các giá trị đạo đức tôn giáo góp phần ngăn ngừa xung đột trong đời sống gia đình là khía cạnh được ghi nhận trong nghiên cứu của Scanzoni và Arnett 1987, Dudley và Konsinski 1990, Wallerstein và Blkeslee,

1995 Các giá trị tôn giáo khuyến khích cá nhân có lòng yêu thương, vị tha, sẵn sàng tha thứ, biết tôn trọng suy nghĩ và hành động của người khác Trong Kinh thánh Đạo Công giáo, những giá trị này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần:

Trang 38

Anh em hãy “yêu thương người thân cận như chính mình” [Lc 10,25-28],

“hãy yêu thương nhau như Đức Giê-su đã yêu thương” [Ga 13,34; 15,12]10

, tình yêu thương là không khăng khăng bắt người khác theo ý mình, người có tình yêu thương không đòi hỏi mọi việc phải theo ý mình, như thể ý kiến mình luôn luôn đúng, không thao túng người khác, không cố chấp vì tính cố chấp bộc lộ một mức độ kiêu ngạo “sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau” [Châm ngôn 16:18]11

Nếu thật sự yêu thương, thì cần phải tôn trọng quan điểm của người khác, và nếu có thể được, thì sẵn lòng nhân nhượng Tinh thần nhân nhượng hòa hợp đó là “chớ ai tìm lợi riêng cho mình, nhưng hãy tìm cho kẻ khác” [1Cô 10:24]12 Khi có tình yêu thương thì người ta thường không dễ dàng nóng giận vì lời nói hoặc hành động của người khác Trong đời sống hôn nhân, đây là những giá trị quan trọng giúp các cặp vợ chồng kiểm soát và điều tiết hành động của mình, đặc biệt trong việc quản lý

và kìm hãm các mâu thuẫn, xung đột Scanzoni và Arnett (1987) nhận thấy rằng thông qua các hoạt động tôn giáo chung và riêng, các đối tác thường đạt được trạng thái chung, hướng vào các giá trị của yêu thương và chăm sóc Có

lẽ, sự tham gia tôn giáo tăng cường những phẩm chất quan hệ làm giảm xung đột trong hôn nhân Dudley và cộng sự (1990: 82) cho thấy sự tham gia tôn giáo đã giúp các cặp vợ chồng thường xuyên “nghĩ đến những nhu cầu của người khác, biết yêu thương nhiều hơn và tha thứ, tôn trọng nhau trong ứng

xử, và giải quyết xung đột” Các nhà nghiên cứu khác cũng đã nhấn mạnh các đức tính như lòng vị tha là rất quan trọng với sự thân mật trong hôn nhân [Wallerstein và cộng sự 1995] Như vậy, giá trị đạo đức tôn giáo được xem là đóng vai trò định hướng cho hành vi của cá nhân trong tương tác hàng ngày,

Trang 39

góp phần giảm giảm thiểu và phòng ngừa những mâu thuẫn có thể phát sinh giữa vợ chồng khi cả hai cùng chia sẻ những định hướng giá trị tương đồng và cùng có sự tôn trọng, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau

Tôn giáo có thể tham gia giải quyết xung đột gia đình thông qua giáo lý

và thực hành tôn giáo đã được bàn luận qua một số nghiên cứu sau: Nghiên cứu của Ripley và các cộng sự (2001) đã xem Thánh Kinh đóng vai trò như một nhà tư vấn cho hôn nhân Greenberg và cộng sự (1998) tìm thấy lời cầu nguyện là quan trọng để làm mềm mối quan hệ, tạo điều kiện giải quyết xung đột Trong một nghiên cứu định tính, Marsh và cộng sự (2001) đã cố gắng làm sáng tỏ về cách tôn giáo có thể giúp các cặp vợ chồng đối phó hiệu quả với các cuộc xung đột trong hôn nhân Họ phát hiện ra rằng thực hành tôn giáo như lời cầu nguyện đã giúp các cặp vợ chồng Công giáo quản lý được sự tức giận của

họ trong cuộc xung đột trong hôn nhân [Nathaniel M Lambert, 2006]

Nghiên cứu của Curtis và cộng sự (2002) cho thấy rằng việc tham gia tôn giáo của người đàn ông tỉ lệ nghịch với những vấn đề của hôn nhân Những lời cầu nguyện cũng có tác dụng làm giảm sự tiêu cực, sự khinh miệt, và thù địch, cũng như phản ứng cảm xúc đối với người bạn đời [Butler và cộng sự 2002] Cuối cùng, các nghiên cứu khác [Holeman 2003] đã chỉ ra vai trò của tôn giáo trong việc giúp đỡ các cặp vợ chồng tha thứ cho nhau sau mỗi cuộc xung đột

Ngược lại với quan điểm xem tôn giáo có vai trò như chất keo nhằm làm tăng cường sự gắn kết giữa các cặp đôi trong đời sống hôn nhân thì cũng có một số nghiên cứu đã xem tôn giáo có thể là một nguồn gốc của xung đột trong hôn nhân đáng kể nếu các cặp vợ chồng không thống nhất trong vấn đề tôn giáo, Curtis và cộng sự (2002) phát hiện ra rằng sự khác biệt trong mô hình tham gia tôn giáo thường gắn liền với những bất đồng trong hôn nhân Call và cộng sự (1997) cho rằng nguy cơ ly hôn cao gấp gần ba lần khi người

Trang 40

vợ thường xuyên tham gia các nghi lễ tôn giáo nhưng người chồng không bao giờ tham dự Ellison và cộng sự (1999) phát hiện ra rằng sự khác biệt tôn giáo giữa vợ và chồng dẫn đến nguy cơ cao của bạo lực gia đình Nói chung, một

số dữ liệu đã chỉ ra một kết nối giữa các biểu thức nhất định về tôn giáo và kết quả không mong muốn, bao gồm cả quyền, lạm dụng, và khoan dung đối với lạm dụng [Dollahite, Marks, & Goodman 2004] Những phát hiện này rất quan trọng vì chúng chứng minh rằng tôn giáo có thể là nguồn gốc của sự bất hòa trong hôn nhân, đặc biệt là trong trường hợp không tương đồng tôn giáo Sự khác biệt về tôn giáo giữa các đối tác có thể là một lực lượng gây mất ổn định trong một cuộc hôn nhân Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy rằng khác biệt tôn giáo làm tăng nguy cơ xung đột trong hôn nhân và bất ổn, một phân tích chi tiết hơn của Lehrer và cộng sự (1993) nhằm kiểm tra các loại khác nhau của các đoàn thể tôn giáo cho thấy hôn nhân có nhiều hình thức khác nhau và sắc thái Một số cuộc hôn nhân liên tôn giáo giữa những thành viên của các hệ phái Tin lành khác nhau, tương đối ổn định Ngược lại, xác suất ly hôn là cao ở những đối tác có những niềm tin tôn giáo rất khác nhau hoặc là thành viên của các nhóm tôn giáo có xác định ranh giới mạnh mẽ

[Lehrer & Chiswick, 1993]

Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cũng ghi nhận một số phát hiện quan trọng giữa tôn giáo với các chiều cạnh khác của hôn nhân như: Tôn giáo có liên quan tới sự hài lòng đối với hôn nhân [Bahr và cộng sự, 1985; Anthony, 1993; Robinson, 1994], tăng khả năng đối phó với các vấn đề của hôn nhân [Pargament & Park, 1995]

Nhận xét về các nghiên cứu trước đây về tôn giáo và hôn nhân, Mahoney

và cộng sự (1999) chỉ ra rằng các nghiên cứu đó dựa trên biện pháp "ngoại biên" (phương pháp chung chung, không tỉ mỉ, chi tiết) là chủ yếu, bằng cách đánh giá mức độ đi nhà thờ hoặc tầm quan trọng của tôn giáo đối với cá nhân,

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w