Quá trình phát triển của các nước công nghiệp mới đã mang đến sự quan tâm lớn của các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực trong việc nghiên cứu, khai phá các cơ sở lý thuyết, các tác nhân,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HOÀNG HẢI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
PGS.TS Vũ Cao Đàm
1 PGS.TS Mai Hà
2 PGS.TS Phạm Văn Quyết
Hà Nội – 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện Các trích dẫn và số liệu sử dụng phân tích trong luận án được dẫn nguồn với độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi
Kết quả tìm kiếm, phát hiện trong luận án thể hiện quan điểm khoa học của cá nhân đối với vấn đề nghiên cứu này tại Việt Nam không liên quan đến định hướng, quan điểm của cơ quan nơi tôi đang công tác
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Hoàng Hải
Trang 3
- Các thầy, cô công tác tại tại Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là PGS.TS
Vũ Cao Đàm, PGS.TS Trần Văn Hải, PGS.TS Đào Thanh Trường đã truyền đạt nhiều kiến thức, quan điểm khoa học rất có giá trị, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập, nghiên cứu của tác giả tại Trường Đại học Khoa học,
Xã hội và Nhân văn
- TS Trịnh Ngọc Thạch và các thành viên của Đề tài cấp nhà nước
“Nghiên cứu thực trạng và đề xuất chính sách, giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo (innovation) của doanh nghiệp Việt Nam” (Mã số: KX01.25/16- 20) đã hỗ trợ tác giả tài liệu, thông tin rất thiết thực trong quá trình triển khai và hoàn thiện nội dung nghiên cứu của Luận văn
- Các lãnh đạo và đồng nghiệp công tác tại Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học
và Công nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tác giả thực hiện các nội dung nghiên cứu của Luận văn
Tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến GS Hoàng Văn Phong, Nguyên
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về những chia sẻ kinh nghiệm và tri thức vô cùng quý giá, đã khơi nguồn để tác giả quyết định theo đuổi nghiên cứu này
Do thời gian và năng lực bản thân có hạn, Luận văn này không tránh khỏi còn những hạn chế, khiếm khuyết nhất định, tác giả rất mong nhận được
sự thông cảm và chia sẻ
Xin trân trọng cảm ơn !
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Hoàng Hải
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết nghiên cứu 1
2 Ý nghĩa của nghiên cứu 2
2.1 Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu 2
2.2 Ý nghĩa thực tế của nghiên cứu 3
2.3 Tính mới của Luận án 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 4
5 Phương pháp và tiếp cận nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp nghiên cứu 5
5.2 Các hướng tiếp cận chủ yếu 6
6 Nguồn dữ liệu và công cụ hỗ trợ nghiên cứu 7
6.1 Nguồn dữ liệu 7
6.2 Công cụ hỗ trợ nghiên cứu: 7
7 Phạm vi nghiên cứu 7
8 Cấu trúc Luận án 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 10
1.1 Nghiên cứu có tính chất lý luận về năng lực công nghệ và chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp 10
1.1.1 Nghiên cứu về vai trò của công nghệ, năng lực công nghệ trong hoạt động của doanh nghiệp 10
1.1.2 Nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp 13
1.2 Nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của một số quốc gia 15
1.2.1 Nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của các nước OECD 15
1.2.2 Nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của Hàn Quốc 16
1.2.3 Nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của Malaysia 17
Trang 5iv
1.3 Nghiên cứu về năng lực công nghệ và chính sách phát triển năng lực công
nghệ trong công nghiệp ở Việt Nam 18
1.3.1 Nghiên cứu về năng lực công nghệ 18
1.3.2 Nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ 21
1.4 Tiểu kết Chương 1 25
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP 27
2.1 Hệ khái niệm công cụ 27
2.1.1 Công nghệ 27
2.1.2 Công nghiệp chế tạo, chế biến 27
2.1.3 Năng lực công nghệ trong công nghiệp 29
2.1.3.1 Khái niệm năng lực công nghệ 29
2.1.3.2 Khung cấu trúc năng lực công nghệ trong công nghiệp 30
2.1.3.3 Đo lường năng lực công nghệ trong công nghiệp 36
2.1.4 Chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp 38
2.1.4.1 Chính sách công 38
2.1.4.2 Chính sách phát triển năng lực công nghệ 39
2.1.4.3 Các nội dung hàm chứa trong chính sách phát triển công nghệ 40 2.1.4.4 Các quan điểm tiếp cận chính sách phát triển năng lực công nghệ41 2.1.4.5 Các nhân tố ảnh hướng đến chính sách triển năng lực công nghệ49 2.2 Phương thức phát triển năng lực công nghệ trong doanh nghiệp ở các quốc gia 54
2.2.1 Phương thức ở các quốc gia phát triển 54
2.2.2 Phương thức ở các quốc gia đang học hỏi công nghệ 56
2.3 Một số bài học kinh nghiệm về phát triển năng lực công nghệ dựa trên chính sách can thiệp nhà nước của một số quốc gia 59
2.3.1 Chính sách thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ của Hàn Quốc59 2.3.2 Chính sách thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ công nghiệp của Đài Loan 66
2.4 Tiểu kết Chương 2 69
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 72
3.1 Chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp ở Việt Nam 72
Trang 63.1.1 Chính sách thúc đẩy chuyển giao, nhập khẩu công nghệ 72
3.1.2 Chính sách phát triển thị trường công nghệ 73
3.1.3 Chính sách nâng cao chất lượng lao động 75
3.1.4 Chính sách hỗ trợ thuế 77
3.1.5 Chính sách hỗ trợ thương mại hóa công nghệ 78
3.1.6 Chính sách hỗ trợ giải mã, ươm tạo công nghệ 79
3.1.7 Chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng 80
3.1.8 Chính sách nâng cao năng lực sáng tạo, phát triển công nghệ mới83 3.1.8.1 Chính sách đầu tư của nhà nước cho hoạt động KH&CN 83
3.1.8.2 Chính sách đối với nhiệm vụ nghiên cứu – triển khai để phát triển năng lực nghiên cứu trong nước 84
3.1.8.3 Chính sách đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập 85 3.1.8.4 Chính sách sử dụng, trọng dụng nhân lực KH&CN 87
3.2 Thực trạng năng lực công nghệ trong doanh nghiệp công nghiệp 88
3.2.1 Năng lực khai thác – sử dụng – vận hành công nghệ 88
3.2.2 Năng lực cải tiến – nâng cấp 95
3.2.3 Năng lực nghiên cứu – sáng tạo công nghệ mới 98
3.3 Các ảnh hưởng của chính sách phát triển năng lực công nghệ ở Việt Nam 102
3.3.1 Chính sách thúc đẩy năng lực khai thác- vận hành công nghệ 102
3.3.1.1 Chính sách thúc đẩy chuyển giao, nhập khẩu công nghệ 102
3.3.1.2 Chính sách phát triển thị trường công nghệ 107
3.3.1.3 Chính sách nâng cao chất lượng lao động 108
3.3.1.4 Chính sách hỗ trợ thuế 111
3.3.2 Chính sách thúc đẩy phát triển năng lực cải tiến – nâng cấp công nghệ 113
3.3.2.1 Chính sách hỗ trợ thương mại hóa công nghệ 113
3.3.2.2 Chính sách hỗ trợ giải mã, ươm tạo công nghệ 114
3.3.2.3.Chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng cho hoạt động KH&CN 114
3.3.3 Chính sách nâng cao năng lực sáng tạo, phát triển công nghệ mới 118
3.3.3.1 Chính sách đầu tư của nhà nước cho khoa học và công nghệ 118
3.3.3.2 Cơ chế quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ 119
Trang 7vi
3.3.3.3 Chính sách đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập120
3.3.3.4 Chính sách đãi ngộ, tôn vinh nhân lực KH&CN 121
3.4 Tiểu kết Chương 3 122
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ TRONG CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 127
4.1 Cơ sở đề xuất giải pháp chính sách 127
4.1.1 Cơ sở phân tích thực trạng NLCN và chính sách phát triển NLCN trong doanh nghiệp 127
4.1.2 Cơ sở về trình độ phát triển và xu thế của Việt Nam 128
4.1.2.1 Về trình độ phát triển 128
4.1.2.2 Về xu phát triển 129
4.2 Giải pháp chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp131 4.2.1 Chính sách nâng cao năng lực khai thác – vận hành công nghệ 131 4.2.1.1 Về nhập khẩu, chuyển giao công nghệ 131
4.2.1.2 Về phát triển thị trường công nghệ 134
4.2.1.3 Về nâng cao chất lượng lao động 135
4.2.1.4 Về hỗ trợ thuế 138
4.2.2 Chính sách thúc đẩy phát triển năng lực thích nghi - cải tiến công nghệ 139
4.2.2.1 Về hỗ trợ thương mại hóa công nghệ 139
4.2.2.2 Về hỗ trợ giải mã, ươm tạo công nghệ 141
4.2.2.3 Về tài chính, tín dụng 143
4.2.3 Giải pháp chính sách thúc đẩy phát triển năng lực nghiên cứu – sáng tạo công nghệ mới 147
4.2.3.1 Về đầu tư cho khoa học và công nghệ 147
4.2.3.2 Về quản lý nhiệm vụ KH&CN liên quan đến doanh nghiệp 148
4.2.3.3 Về tổ chức và nhân lực khoa học và công nghệ 152
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 157
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 161
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
Trang 8BẢNG SỐ LIỆU CHƯƠNG 2:
Bảng 2.1 Phân loại nhóm ngành công nghiệp chế tạo, chế biến ở Việt Nam theo ISIC
28
Bảng 2.2: Khung cấu trúc năng lực công nghệ 33
Bảng 2.3: Tiếp cận khung cấu trúc về NLCN của Luận án 35
Bảng 2.4: Nhận dạng các cấp độ năng lực công nghệ 35
Bảng 2.5: Khung đề xuất chỉ số đo lường năng lực công nghệ của doanh nghiệp 37
Bảng 2.6: Chính sách công nghệ theo chiều ngang của một số quốc gia 46
Bảng 2.7: Chính sách phát triển công nghệ theo chiều dọc 47
Bảng 2.8: Khung tiếp cận chính sách 48
Bảng 2.9: Đặc trưng trong phát triển năng lực công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp 53
Bảng 2.10: Hệ thống các chính sách tài hỗ trợ phát triển công nghệ của Hàn Quốc 62
Bảng 2.11: Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp các ngành kỹ thuật/10.000 dân của các nước 67
Bảng 2.12: Khung phân tích chính sách phát triển năng lực công nghệ 70
CHƯƠNG 3: Bảng 3.1:Trình độ chuyên môn của lực lượng lao động Việt Nam 76
Bảng 3.2: Chi NSNN cho KH&CN theo nguồn 83
Bảng 3.3: Khả năng tham gia vào chuỗi sản xuất của các doanh nghiệp Asean (%) 89
Bảng 3.4: Trình độ của lao động có việc làm năm 2015 (%) 90
Bảng 3.5: Trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp 90
Bảng 3.6: Vị trí quyết định trong quá trình thực hiện hoạt động công nghệ 91
Bảng 3.7: Mức độ công nghệ được tiếp nhận trong các doanh nghiệp 92
Bảng 3.8: Nguồn gốc công nghệ đang sử dụng 93
Bảng 3.9: Mức độ tự động hóa trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp công nghiệp 95
Bảng 3.10: Tổng chi của doanh nghiệp công nghiệp cho hoạt động nghiên cứu 99
Bảng 3.11: Sáng chế/giải pháp hữu ích của khu vực nghiên cứu và doanh nghiệp giai đoạn 2003-2013 102
Bảng 3 12: Bốn giai đoạn phát triển kinh tế và yêu cầu đối với nguồn nhân lực tại các nước đang phát triển 110
Trang 9viii
Bảng 3.13: Ý kiến doanh nghiệp về chính sách thuế đối với hoạt động khoa học và công
nghệ 112
Bảng 3.14: Ý kiến doanh nghiệp về chính sách ưu đãi tín dụng đối với hoạt động khoa học và công nghệ của doanh nghiệp 117
CHƯƠNG 4: Bảng 4.1 Đặc trưng của nền kinh tế và GDP bình quân đầu người 128
Bảng 4.2: Đề xuất phân luồng chính sách hỗ trợ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 152
HÌNH MINH HỌA CHƯƠNG 2: Hình 2.1: Mô hình chính sách công nghệ hướng theo nhiệm vụ đặt hàng 43
Hình 2.2: Mô hình chính sách công nghệ theo hướng lan tỏa 44
Hình 2.3: Quỹ đạo phát triển năng lực công nghệ ở các nước phát triển 56
Hình 2.4: Sự gắn kết của hai quỹ đạo công nghệ 58
CHƯƠNG 3: Hình 3.1: Lý do thực hiện cải tiến, nâng cấp công nghệ của doanh nghiệp(%) 96
Hình 3.2: Mức độ thực hiện cải tiến – nâng cấp 97
Hình 3.3: Nguồn vốn được huy động cho cải tiến, nâng cấp (đơn vị %) 98
Hình 3.4: Kết quả kỳ vọng khi thực hiện hoạt động NC-TK (% doanh nghiệp) 98
Hình 3.5 Nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng cho nghiên cứu (% doanh nghiệp) 99
Hình 3.6: Sáng chế/giải pháp hữu ích của doanh nghiệp giai đoạn 2003-2013 100
Hình 3.7: Các lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam giai đoạn 2000-2014 101
CHƯƠNG 4 Hình 4.1 Các nhóm trụ cột cơ bản đối với nền kinh tế 128
HỘP CHƯƠNG 3 Hộp 3.1: Trường hợp nghiên cứu về vướng mắc trong triển khai Chương trình tìm kiếm và chuyển giao công nghệ nước ngoài đến năm 2020 (Quyết định 1069/QĐ-TTg) 105
Trang 10CHƯƠNG 4
Hộp 4.1: Nghiên cứu trường hợp về quản lý nhập khẩu và phổ biến công nghệ của Hàn Quốc 133 Hộp 4.2: Trường hợp nghiên cứu về hỗ trợ thương mại hóa công nghệ của Malaysia 140 Hộp 4.3: Trường hợp nghiên cứu về hỗ trợ bảo lãnh tín dụng công nghệ của Quỹ KOTEC, Hàn Quốc 145 Hộp 4.4: Trường hợp nghiên cứu về quy định đánh giá đề xuất dự án công nghệ của Chương trình FIRST 148 Hộp 4.5: Trường hợp nghiên cứu về tiêu chí đánh giá chất lượng dự án công nghệ của doanh nghiệp theo Chương trình FIRST 150 Hộp 4.6: Trường hợp nghiên cứu về mô hình Viện khoa học và công nghệ Hàn Quốc 154 Hộp 4.7: Trường hợp nghiên cứu về mô hình Design Factory của Phần Lan 155
Trang 11ISIC Phân loại tiêu chuẩn công nghiệp quốc tế
KH&CN Khoa học và Công nghệ
KT-XH Kinh tế - Xã hội
MVA Giá trị gia tăng trong công nghiệp chế tạo
NC&TK Nghiên cứu và Triển khai
NLCN Năng lực công nghệ
NSNN Ngân sách nhà nước
OECD Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế
UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu
Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm Công nghệ vừa là thành tựu, vừa là công cụ quan trọng bậc nhất của sự phát triển, trở thành thước đo của sự văn minh, khiến cho xã hội thời sau khác biệt với xã hội thời trước về chất, về cách thức tạo ra của cải vật chất cho xã hội Với cách nhìn về công nghệ như vậy, những nỗ lực để đưa nền kinh tế đạt đến một trình độ phát triển mới cũng đồng nghĩa với việc vươn tới một bước phát triển cao hơn về khả năng tiếp thu, thích nghi, làm chủ và sáng tạo công nghệ mới
Bối cảnh quốc tế và khu vực trong những thập niên vừa qua đã cho thấy, các quốc gia trên thế giới đều có những nỗ lực can thiệp nhằm sớm đạt được năng lực công nghệ có thể bắt kịp và cạnh tranh với các nước đi trước Mặc dù có sự tập trung, huy động nguồn lực để phát triển năng lực công nghệ, nhưng không phải quốc gia nào cũng thành công trong việc san bằng khoảng cách với các quốc gia đi trước
Trong số các quốc gia đạt được thành công trong bắt kịp về năng lực công nghệ,
có nổi lên mô hình của các quốc gia công nghiệp mới (Newly Industralizing Countries)
ở Châu Á trong thập niên 1980 Cách thức can thiệp có chọn lọc của nhà nước vào chính sách công nghiệp ở các quốc gia này đã tạo tiền đề quan trọng để phát triển năng lực công nghệ quốc gia Từ đó, không chỉ tạo nên động lực tăng trưởng mạnh về kinh tế mà còn đưa các quốc gia này trở thành các cường quốc về công nghệ trong một số lĩnh vực công nghiệp
Quá trình phát triển của các nước công nghiệp mới đã mang đến sự quan tâm lớn của các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực trong việc nghiên cứu, khai phá các cơ
sở lý thuyết, các tác nhân, bài học kinh nghiệm, trong đó có vấn đề về năng lực công nghệ trong công nghiệp, ẩn chứa phía sau những thành tựu thần kỳ mà các quốc gia Đông Á đã đạt được để từ đó gợi mở các định hướng lý luận cho các nước đang phát triển học hỏi, kế thừa
Đối với Việt Nam, cùng với tư duy đổi mới về kinh tế, Đảng và Nhà nước đã
có những quan tâm và định hướng để phát triển khoa học và công nghệ, coi khoa học
và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực, then chốt, nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội đất nước Trên cơ sở các định hướng lớn của Đảng, nhiều nỗ lực của
Trang 132
nhà nước đã được triển khai thực hiện nhằm phát triển năng lực công nghệ trong các ngành, lĩnh vực, tạo động lực để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa Tuy nhiên, cho đến nay các nỗ lực của nhà nước dù có đạt được một số kết quả đáng khích lệ nhưng
về cơ bản vẫn chưa thể thu hẹp được khoảng cách về năng lực công nghệ với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới
Xem xét kinh nghiệm của các nước trên thế giới và thực tiễn hiện nay ở Việt Nam, có thể nhận thấy, mặc dù cùng có chung quyết tâm phát triển năng lực công nghệ quốc gia, nhưng sau khoảng thời gian 30 năm, trong khi các quốc gia công nghiệp mới đạt được các thành công cả trên phương diện kinh tế và xây dựng năng lực công nghệ thì Việt Nam vẫn ở vị trí tụt hậu so với nhiều nước trên cả hai khía cạnh này Sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước khác là ở chỗ các can thiệp chính sách
để thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ vẫn chưa gắn chặt với các mục tiêu công nghiệp, đồng thời cơ chế và các khía cạnh can thiệp chính sách chưa thực sự nhất quán, rõ ràng và đồng bộ Nói cách khác là chưa định hình được một mô hình chính sách thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp tương tự như nhiều quốc gia đi trước đã tiến hành
Trên cơ sở nhận định như vậy, việc đề xuất đề tài nghiên cứu "Chính sách
thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp ở Việt Nam" là cần thiết
Đây là đề tài có nội dung nghiên cứu mới, sẽ góp phần tạo dựng nên bức tranh về các nhiệm vụ, yêu cầu cần có sự can thiệp chính sách theo cơ chế phù hợp để thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp ở Việt Nam Qua đó, sẽ cung cấp cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách khoa học và công nghệ những thông tin về thực tiễn chính sách phát triển năng lực công nghệ trong thời gian qua, đồng thời bổ sung thêm những luận cứ khoa học đóng góp cho các nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của Việt Nam
2 Ý nghĩa của nghiên cứu
2.1 Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu
Nghiên cứu của Luận án góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế can thiệp của nhà nước thông qua chính sách để thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ trong doanh nghiệp công nghiệp ở Việt Nam Nghiên cứu cũng tập trung vào xem xét và gợi mở hướng tiếp cận để đo lường năng lực công nghệ của doanh nghiệp
Trang 14để làm cơ sở phân tích, đánh giá tác động, ảnh hưởng của chính sách thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ đến doanh nghiệp công nghiệp
2.2 Ý nghĩa thực tế của nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu về chính sách thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp chưa được thực hiện ở Việt Nam Đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần tạo dựng nên bức tranh về các nhiệm vụ, yêu cầu cần có sự can thiệp chính sách theo cơ chế phù hợp để thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp ở Việt Nam
Qua đó, sẽ cung cấp cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách khoa học
và công nghệ những thông tin về thực tiễn chính sách phát triển năng lực công nghệ trong thời gian qua, đồng thời bổ sung thêm những luận cứ khoa học đóng góp cho các nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của Việt Nam
2.3 Tính mới của Luận án
- Về lý luận, Luận án sử dụng tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia (National Innovation System) để xem xét mối tương tác, ảnh hưởng của các thiết chế, chính sách của nhà nước, nỗ lực của doanh nghiệp, năng lực của khu vực nghiên cứu trong việc thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, Luận án nhìn nhận doanh nghiệp là trung tâm của hoạt động đổi mới, sáng tạo, phát triển công nghệ, do vậy, các cơ chế, chính sách can thiệp của nhà nước để thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ cần dựa trên nhu cầu, động lực của doanh nghiệp kết hợp với năng lực nghiên cứu và triển khai của khu vực viện – trường thay vì chỉ tập trung vào các định hướng, quyết tâm của Nhà nước mang tính trên xuống (top-down) hay đặt kỳ vọng vào sự đóng góp, đột phá từ các thành quả nghiên cứu của các viện – trường để tạo lập năng lực công nghệ trong doanh nghiệp
- Về thực tiễn, dựa trên tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia, Luận án đưa ra mô hình tiếp cận chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp dựa trên nhu cầu thị trường và tác động có chọn lọc của nhà nước đối với các nỗ lực công nghệ của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, Luận án cố gắng đưa ra các giải pháp hiệu chỉnh về nội dung và định hướng chính sách để phát triển năng lực công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 154
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là: Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện chính
sách phát triển công nghệ góp phần nâng cao năng lực công nghệ cho các doanh nghiệp Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Xác định cơ sở lý luận về phát triển năng lực công nghệ trong doanh nghiệp công nghiệp, các can thiệp bằng chính sách của nhà nước để phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp;
- Phân tích thực trạng năng lực công nghệ của doanh nghiệp và chính sách phát triển năng lực công nghệ trong doanh nghiệp công nghiệp ở Việt Nam;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển công nghệ góp phần nâng
cao năng lực công nghệ cho các doanh nghiệp công nghiệp ở Việt Nam
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu của Luận án tập trung vào xem xét chính sách của Nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam Theo đó, nội dung nghiên cứu sẽ bám sát các câu hỏi nghiên cứu sau:
i) Cơ sở khoa học của chính sách phát triển năng lực công nghệ trong ngành công nghiệp là gì?
ii) Thực trạng chính sách phát triển năng lực công nghệ trong ngành công nghiệp Việt Nam thời gian qua như thế nào?
iii) Chính sách phát triển công nghệ thời gian qua có ảnh hưởng như thế nào tới việc nâng cao năng lực công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam?
iv) Cần hoàn thiện các chính sách phát triển công nghệ như thế nào để góp phần nâng cao năng lực công nghệ cho các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam?
Tổng hợp các nội dung, kiến thức nghiên cứu nước ngoài về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong doanh nghiệp công nghiệp ở các quốc gia đã công nghiệp hóa thành công nói riêng (các quốc gia công nghiệp hóa mới, New Industrializing Countries) và các nước đang phát triển nói chung đã gợi mở giả thuyết
nghiên cứu cho trường hợp ở Việt Nam là chính sách phát triển năng lực công nghệ
Trang 16trong doanh nghiệp công nghiệp đã cơ bản được định hình, một số hành lang chính sách được thực thi, mang đến tác động tích cực cho doanh nghiệp Tuy nhiên, đây mới chỉ là các tác động đơn lẻ, về tổng thể, vẫn còn có khoảng trống giữa nhu cầu, yêu cầu phát triển năng lực công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp với các kỳ vọng, mong muốn từ các chính sách được ban hành Khoảng trống chính sách này có thể liên quan đến thực trạng trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam, quan điểm tiếp cận trong thiết kế chính sách, sự gắn kết giữa các chính sách theo mô hình tiếp cận nhất quán,
5 Phương pháp và tiếp cận nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
+ Nghiên cứu tài liệu: Trong nghiên cứu này, tác giả thu thập các công trình
nghiên cứu của trong và ngoài nước, các văn bản, tài liệu liên quan đến cơ chế, chính sách phát triển năng lực công nghệ hiện hành của Việt Nam Dựa theo các tài liệu thu thập, tác giả rà roát, xem xét các nội dung của các công trình nghiên cứu, tài liệu để nhận dạng và phân tích được các trường phái, quan điểm trong nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ ở trong nước và nước ngoài Từ đó, tiến hành xem xét, phân tích được thực tiễn trong phát triển năng lực công nghệ của Việt Nam, làm
có sở để đưa ra giải pháp hoàn thiện chính sách trong thời gian tới
Với các tài liệu sử dụng để nghiên cứu, phân tích, đặc biệt liên quan đến cơ sở
lý luận, nhận dạng các khái niệm, xu thế tiếp cận có thể không hoàn toàn là các ấn phẩm mới xuất bản mà căn cứ theo giá trị của từng công trình nghiên cứu, có thể từ nhiều năm trước
+ Phân tích số liệu điều tra: nghiên cứu này có khai thác, tổng hợp và liên kết
các số liệu điều tra liên quan đến phát triển năng lực công nghệ của doanh nghiệp để làm rõ các luận điểm khoa học và giải pháp để xuất của Luận án Số liệu thứ cấp được
kế thừa từ kết quả nghiên cứu của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), số liệu sơ cấp được khai thác từ kết quả điều tra của Viện Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) Đây là hai nguồn số liệu được tổ chức điều tra ở diện rộng và cùng hướng đến nhóm doanh nghiệp trong ngành chế tạo – chế biến (VCCI điều tra 1.500 doanh nghiệp, CIEM điều tra 8.000 doanh nghiệp) nên có độ tin cậy và khá toàn diện Nghiên cứu này không sử dụng nguyên mẫu điều tra của các tổ chức mà kế thừa
và sử dụng có chọn lọc một số số liệu điều tra để thực hiện đo lường năng lực công
Trang 176
nghệ của doanh nghiệp theo hướng nghiên cứu của Luận án, làm cơ sở để phân tích, nhận dạng vấn đề và đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách phù hợp cho Việt Nam trong thời gian tới
+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Để làm rõ một số luận điểm của Luận
án bên cạnh việc khai thác các số liệu để phân tích, các nhận định, đánh giá từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, các mô tả một số trường hợp nghiên cứu
cụ thể sẽ giúp bổ sung, làm rõ hơn các luận điểm đã đưa ra Theo đó, nghiên cứu này
có khai thác, tổng hợp kinh nghiệm nước ngoài và trong nước thành các ví dụ trường hợp nghiên cứu để cung cấp thêm luận cứ cho các nội dung của nghiên cứu này Các nghiên cứu trường hợp này sẽ được thể hiện dưới dạng các hộp mô tả trong Luận án
5.2 Các hướng tiếp cận chủ yếu
Trong các tiếp cận nghiên cứu liên quan đến hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới, tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia (National Innovation System) được nhiều nhà nghiên cứu, tổ chức quốc tế (ví dụ như OECD [103]) sử dụng, đặc biệt là trong các phân tích, đánh giá mang tính hệ thống hay ở cấp độ vĩ mô về khoa học, công nghệ và đổi mới của quốc gia Về tổng thể, tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia hướng vào việc xem xét sự lan tỏa, ảnh hưởng của tri thức khoa học đến các hoạt động kinh
tế - xã hội; sự liên kết, gắn kết giữa các thành tố nhà nước – doanh nghiệp – nghiên cứu trong việc tạo lập tri thức khoa học, phát triển năng lực nghiên cứu, năng lực công nghệ phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội; và sự tương tác, ảnh hưởng của cơ chế, chính sách, luật pháp đối với các nỗ lực phát triển năng lực nghiên cứu, năng lực công nghệ của tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp nói chung ở một quốc gia
Luận án nghiên cứu này sẽ cơ bản dựa theo tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia
để thực hiện phân tích và đề xuất cơ chế, chính sách phát triển năng lực công nghệ trong mối quan hệ gắn kết giữa nhà nước – doanh nghiệp – nghiên cứu (viện – trường)
ở Việt Nam
Bên cạnh đó, tiếp cận lịch sử - logic cũng sẽ được Luận án sử dụng để đưa ra các luận cứ, phân tích và đề xuất giải pháp trong khung khổ nghiên cứu này Tiếp cận lịch sử nhằm tái hiện, xem xét bối cảnh, vận động trong quá khứ của quan điểm, nhận thức và cách thức thực thi chính sách để có nhận định, đánh giá khách quan Đồng thời, tiếp cận logic, cũng để giúp nghiên cứu này xem xét các vấn đề của chính sách dưới góc độ của các vận động, quy trình có tính tất yếu, khách quan của lịch sử và
Trang 18hiện tại Từ đó có thể đưa ra được các đánh giá, giải pháp phù hợp với quy luật và xu thế chung của quốc tế cũng như ở trong nước
6 Nguồn dữ liệu và công cụ hỗ trợ nghiên cứu
+ Số liệu thống kê của các tổ chức quốc tế (UNIDO, World Bank)
6.2 Công cụ hỗ trợ nghiên cứu:
Phần mềm máy tính Word, Excel được sử dụng để trực quan, đồ họa và xử lý
số liệu thu thập được
7 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đối tượng nghiên cứu của Luận án là chính sách phát triển
năng lực công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp thuộc nhóm ngành chế tạo, chế biến ở Việt Nam (sau đây được gọi tắt là chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp), trong đó tập trung vào xem xét thực trạng năng lực công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp, chính sách phát triển năng lực công nghệ và các ảnh hưởng, tác động của chính sách đến phát triển năng lực công nghệ của doanh nghiệp
để có cơ sở đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách ở Việt Nam
- Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực
công nghệ trong công nghiệp ở Việt Nam và đồng thời có xem xét, học hỏi kinh nghiệm, thực tiễn chính sách của một số quốc gia trên thế giới
- Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực
công nghệ Việt Nam trong giai đoạn từ 2006 đến nay trên cơ sở xem xét thời điểm Luật Chuyển giao công nghệ (2006) và hệ thống các văn bản chính sách liên quan đến
Trang 198
phát triển công nghệ được ban hành và đi vào thực tiễn Tuy nhiên, Luận án cũng có những xem xét, nhận định về một số chính sách liên quan đến công nghệ từ giai đoạn trước 2006 do các văn bản này vẫn còn hiệu lực và tác động nhất định đến thực trạng phát triển công nghệ của doanh nghiệp Bên cạnh đó, Luận án có khai thác, sử dụng các số liệu từ điều tra, thống kê (như trình bày ở mục 6.1) theo cách cố gắng bám sát yêu cầu của nội dung nghiên cứu và bảo đảm tính cập nhật nhất trong khoảng thời gian thực hiện Luận án này
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Giới thiệu tổng quan các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về vấn đề phát triển năng lực công nghệ và chính sách phát triển năng lực công nghệ trong doanh nghiệp
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong doanh nghiệp công nghiệp
Nội dung Chương này tập trung vào trình bày: hệ khái niệm công cụ; vấn đề phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp; mô hình chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp
Chương 3: Thực trạng năng lực công nghệ trong công nghiệp và chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp ở Việt Nam
Chương này tập trung vào nhận dạng thực trạng về chính sách và về năng lực công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp (thuộc nhóm ngành chế tạo, chế biến)
ở Việt Nam dựa trên các số liệu điều tra, khảo sát doanh nghiệp Theo đó sẽ xem xét các tác động, ảnh hưởng của chính sách đối với phát triển năng lực công nghệ trong doanh nghiệp ở Việt Nam thời gian qua Trên cơ sở xem xét thực trạng và phân tích tác động chính sách, những tác động tích cực và những hạn chế, tồn tại đối với vấn đề phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp ở Việt Nam cũng sẽ được nhận dạng
và đưa ra
Trang 20Chương 4: Giải pháp chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp
ở Việt Nam
Nội dung của Chương này là đưa ra các đề xuất về mô hình và giải pháp chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn sắp tới
Trang 2110
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu có tính chất lý luận về năng lực công nghệ và chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp
1.1.1 Nghiên cứu về vai trò của công nghệ, năng lực công nghệ trong hoạt động của doanh nghiệp
Công nghiệp hóa thành công ở nhiều quốc gia đã không chỉ khẳng định vị trí của doanh nghiệp công nghiệp trong quá trình nâng cấp hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế mà cũng đồng thời mở ra những hướng nghiên cứu, tiếp cận toàn diện hơn về các nhân tố, tác nhân giúp cho doanh nghiệp thực hiện được sứ mệnh đó
Joseph Schumpeter, người mở đường cho Kinh tế học đổi mới cho rằng không chỉ vốn và lao động theo quan điểm của kinh tế học truyền thống, mà các thiết chế tổ chức, các nhà doanh nghiệp và đổi mới công nghệ chính là trái tim của nền kinh tế
và là động lực cho tăng trưởng [65]
Các công trình nghiên cứu của Schumpeter [65, 66] cung cấp những luận giải quan trọng về mối quan hệ giữa doanh nghiệp và phát triển công nghệ, Schumpeter nhấn mạnh vai trò của nghiên cứu đối với “lợi nhuận doanh nghiệp” ản chất của nghiên cứu là tạo ra các sản phẩm tri thức/công nghệ mới có thể ứng dụng được, nên
sẽ rất sai lầm nếu khẳng định doanh nghiệp và công nghệ là hai yếu tố riêng biệt trong tăng trưởng sản lượng đầu ra Doanh nghiệp và tiến bộ công nghệ là hai khái niệm có quan hệ chặt chẽ, doanh nghiệp là động lực thúc đẩy cho công nghệ phát triển Dựa trên sự gắn kết chặt chẽ với công nghệ, các doanh nghiệp sẽ có vai trò khởi xướng các thay đổi về kinh tế
Về mối tương quan giữa thúc đẩy phát triển công nghệ, vai trò của doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế, Schumpeter lập luận rằng sự phát triển kinh tế là kết quả của khả năng sáng tạo của nhà doanh nghiệp và việc áp dụng các phương pháp sản xuất mới của họ Công nghệ, dù diễn ra bên trong hệ thống kinh tế hay bên trong những phòng thí nghiệm nghiên cứu và phát triển của các nhà cạnh tranh độc quyền cũng là để dẫn đường cho động cơ tăng trưởng
Dựa trên quan sát của các cuộc cách mạng công nghiệp trong quá khứ, Schumpeter đã nhận dạng được sự phát triển của các mô hình kinh tế - công nghệ
Trang 22được thúc đẩy bởi hai loại đổi mới tạo nên: đổi mới cơ bản (radical innovation) và đổi mới tiệm tiến (incremental innovation) Quá trình đổi mới cơ bản mở ra một mô hình kinh tế - công nghệ mới bằng việc đưa các sản phẩm mới, các quy trình sản xuất tiên phong, và tạo ra sức đẩy cho làn sóng đổi mới thắng thế Trong khi đổi mới cơ bản mang lại lợi nhuận to lớn cho một doanh nghiệp hay một ngành nào đó, thì các doanh nghiệp, các ngành khác cũng bắt đầu áp dụng các tiến bộ này, đưa làn sóng đổi mới lên đến mức cao nhất Chu kỳ này tiến đến giai đoạn các công nghệ mới đã trở nên phổ biến, thì những đổi mới tiệm tiến sẽ thay thế cho đổi mới cơ bản, kế thừa và phát huy những thành quả của đổi mới cơ bản, đưa những công nghệ mới này sang các ngành sản xuất lớn khác và hơn nữa là sang các quốc gia khác
Cùng với sự thừa nhận về vai trò của công nghệ, đổi mới công nghệ trong thúc đẩy phát triển kinh tế, đã có những nghiên cứu tập trung sâu hơn vào các cơ chế tác động, ảnh hưởng của công nghệ đối với quá trình phát triển của quốc gia Theo đó, quan niệm về “Năng lực công nghệ” (Technological Capability), đã dần được định hình và thừa nhận trong các nghiên cứu của nhiều quốc gia
Trung tâm Chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái ình Dương (APCTT) từ những năm 1990 đã có những nghiên cứu và hệ thống hóa rất căn bản về vấn đề phát triển năng lực công nghệ Tài liệu nghiên cứu của APCTT [2] đã đưa ra các khái niệm quan trọng về công nghệ, năng lực công nghệ, trình độ công nghệ, môi trường công nghệ, hàm lượng công nghệ, nhận dạng được vai trò và tác động của công nghệ đối với phát triển Quan trọng hơn, tài liệu này đã cung cấp các lý luận một cách có hệ thống về nguyên lý phát triển dựa vào công nghệ, các phương pháp đánh giá hàm lượng công nghệ, môi trường công nghệ, trình độ công nghệ, năng lực công nghệ và nhu cầu công nghệ Hệ lý thuyết này đã cung cấp nhiều quan điểm tiếp cận rất có giá trị cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách phát triển công nghệ trong một thời gian khá dài, đặc biệt ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, nghiên cứu theo hướng này của APCTT tập chung nhiều vào xem xét công nghệ và các yếu tố liên quan (năng lực, trình độ công nghệ) ở trạng thái sẵn có mà không có quan tâm nhiều đến cơ chế thúc đẩy khởi sinh năng lực công nghệ hay trình độ công nghệ trong doanh nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng không đặt quá trình phát triển công nghệ trong bối cảnh biến động của thị trường theo đặc thù của nền kinh tế phát triển hay nền kinh tế đang phát triển Ngoài ra, do chỉ giới hạn trong kinh nghiệm của Ấn Độ và một số
Trang 23và đổi mới là yếu tố then chốt đối với các nước đang phát triển để đạt được các vị trí dẫn đầu thế giới trong các ngành công nghiệp khác nhau không chỉ trên phương diện bắt kịp về các công nghệ tiên phong của quốc tế mà còn tạo ra các xu thế công nghệ mới, dẫn dắt công nghiệp của thế giới Các báo cáo của UNIDO [114, 115] đã khẳng định năng lực công nghệ (NLCN) là một tác nhân thiết yếu trong quá trình phát triển kinh tế và sự phát triển công nghiệp của một quốc gia lệ thuộc vào khả năng của các doanh nghiệp trong việc phát triển và bảo đảm năng lực công nghệ và duy trì khả năng cạnh tranh
Trên nền tảng nhận dạng về NLCN trong doanh nghiệp công nghiệp, hay còn gọi là năng lực công nghệ công nghiệp, các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài đã tiếp tục xem xét về quá trình phát triển năng lực công nghệ Về cơ bản việc phát triển năng lực công nghệ hàm chứa các khía cạnh sau: NLCN là một quá trình học hỏi và tích lũy; xây dựng năng lực công nghệ phải xuất phát từ khu vực doanh nghiệp công nghiệp; doanh nghiệp là trung tâm của các hoạt động xây dựng năng lực công nghệ nhưng để bảo đảm cho các nỗ lực của doanh nghiệp trong một ngành, một quốc gia được thực hiện một cách “hoàn hảo nhất” trong các điều kiện biến động khách quan của quy luật thị trường, nhất thiết phải có sự tham gia, can thiệp của chính phủ
Cùng với các nghiên cứu làm rõ về vấn đề phát triển năng lực công nghệ, đã có những nghiên cứu xem xét về những khía cạnh của phát triển năng lực công nghệ ở các nước đang phát triển Nghiên cứu của Lall [94], Jomo và Felker [81] đã nhận diện
10 vấn đề trong quá trình phát triển năng lực của các nước đi sau Nghiên cứu của Figueredo [80] xác định 9 đặc trưng trong phát triển năng lực ở các nước đang phát triển là: Có chủ đích; Rủi ro và tốn kém; Không rõ ràng; Theo lối mòn; Mức đặc thù
Trang 24cao; Nhiều liên kết phức tạp; Nhiều cấp độ nỗ lực; Phát triển ở mức độ khác nhau; Kết hợp nội lực và ngoại lực
1.1.2 Nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp
Trên nền tảng quan điểm công nhận sự thay đổi về công nghệ như là động lực chính tạo ra tăng trưởng kinh tế, các nghiên cứu dựa trên nền tảng kinh tế học tiến hóa, Nelson và Winter [100], Nelson [99], Metcalfe [97,98], Lall và Teubal [90], Litan [35]
đã làm sáng tỏ cơ chế của sự thay đổi về công nghệ bằng cách đặt đổi mới công nghệ
và cơ chế phổ biến công nghệ (technology difusion) ở vị trí trung tâm Hệ quan điểm này khái quát sự phát triển kinh tế của thế giới như một quá trình năng động, tiến triển liên tục từ mô hình kinh tế - công nghệ cũ sang mô hình mới, được thúc đẩy bởi cả quá trình đổi mới cơ bản - tạo ra động lực chính và đổi mới tiệm tiến giúp phát tán đổi mới cơ bản đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Trường phái này còn phân tích sự tương tác giữa các thể chế và sự thay đổi công nghệ Thực tế, lý thuyết này có thể được sử dụng để luận giải việc các nước đang phát triển đi sau có thể thu được lợi hay nâng cao được năng suất nhờ quá trình truyền bá công nghệ bằng cách dựa vào nhà
nước như một công cụ điều tiết
Hệ quan điểm này trở thành kim chỉ nam cho các nỗ lực chính sách của các nước đang phát triển Bởi vì ở đó, thị trường đang trong quá trình bắt đầu định hình các nguyên tắc giao dịch lớn, chưa có kinh nghiệm đối với việc khắc phục các thất bại thị trường do sự bất đối xứng thông tin và tri thức quá lớn giữa các thực thể trong nền kinh tế và đặc biệt là với các đối tác từ các nước phát triển Do vậy, việc hình thành các cơ chế can thiệp bằng chính sách của nhà nước là không thể tránh khỏi [28] Khi xem xét năng lực công nghệ là một quá trình tích lũy và học hỏi thì sự can thiệp chính sách để nhiệm vụ này được thực hiện một cách có hiệu quả với chi phí hợp lý sẽ có ý nghĩa quyết định đối với tương lại tạo lập khả năng cạnh tranh sản phẩm, hàng hóa dựa trên nền tảng công nghệ của các quốc gia đang đặt mục tiêu bắt kịp với các nước phát triển đi trước
Để giải quyết các thách thức đối với việc phát triển năng lực công nghệ theo như nhận định của các trường phái kinh tế học, nhiều nhà nghiên cứu, Sharif [107], Chong-Ouk Lee [72], Teubal [110, 111], Lall [91, 92], Lall và Teubal [90], Ergas [78], Jong – Tsong Chiang [82], Kim and Dahlman [84], Dahlman và Westphal [73],
Trang 25đã vận dụng để xem xét mô hình chính sách phát triển năng lực công nghệ của Hàn Quốc giai đoạn 1960-1980
Dựa theo quan điểm thị trường là chủ thể điều tiết các hoạt động, nhu cầu của
xã hội, trong đó có hoạt động khoa học và công nghệ nói chung, hoạt động phát triển công nghệ nói riêng, Teubal [111] đưa ra quan điểm về thiết kế chính sách tác động đến phát triển công nghệ dựa trên các can thiệp nhằm giải quyết các khiếm khuyết về chức năng của thị trường, mang tính chất vĩ mô đối với chung nền kinh tế Quan điểm
này còn được gọi là chính sách phát triển công nghệ theo chiều ngang (Horizontal Technology Policy) Chính sách theo chiều ngang được Teubal [111] xác định là nhằm
thúc đẩy mang tính chức năng đối với các hoạt động công nghệ theo nhu cầu xã hội (Socially Desirable Technological Activities, STDAs) Chính sách dạng này không nhằm vào các lĩnh vực kinh tế hay ngành công nghiệp cụ thể mà mang tính phổ quát Hoạt động công nghệ theo nhu cầu xã hội (STDAs) được mô tả là các hoạt động phát triển công nghệ nhằm mang lại các giá trị chiến lược cho nền kinh tế và khắc phục các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường
Tiếp tục phát triển quan điểm chính sách theo chiều ngang, Lall và Teubal [90]
đã bổ sung quan điểm về chính sách theo chiều dọc (Vertical Technology Policy) Với
nhận định rằng trong một nền kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, việc tập trung nguồn lực và sự can thiệp của nhà nước để phát triển năng lực công nghệ trong một số lĩnh vực công nghiệp ưu tiên sẽ mang đến những cơ hội rõ ràng trong việc tạo nên những đầu tàu dẫn dắt nền kinh tế Các trường phái lý thuyết kinh tế như đã luận giải ở trên
Trang 26cũng đã cho thấy rằng, trong nhiều trường hợp can thiệp của chính phủ là thích đáng Chính phủ sẽ tìm cách khắc phục những mặt yếu kém của từng thị trường cụ thể trong ngành công nghiệp và phát triển công nghệ.Chính phủ cũng sẽ tập trung lựa chọn các chiến lược với cấp độ và các hình thức khác nhau Sự can thiệp có chọn lọc trong phát triển công nghệ đồng nghĩa với "lựa chọn người chiến thắng "hay tài trợ cho "nhà vô địch quốc gia" [99]
Chịu ảnh hưởng từ hệ quan điểm của Schumpeter về đổi mới dựa trên nền tảng phát triển công nghệ, Ergas [78], sau đó có Jong – Tsong Chiang [82], Cantner et al [71], đã có nghiên cứu và khảo sát các mô hình chính sách công nghệ của các nước phát triển để nhận dạng phương thức tạo lập các đổi mới mang tính tiệm tiến (incremental innovation) và đổi mới mang tính triệt để, đột phá (radical innovation) trong quá trình phát triển của các quốc gia này Nghiên cứu của Ergas [78] đã phân định hai loại mô hình chính sách tương ứng với xu thế mang tính tiệm tiến hay đột phá trong phát triển công nghệ là chính sách công nghệ định hướng theo nhiệm vụ (mision-oriented policy) và chính sách định hướng lan tỏa hay khuếch tán (diffusion-oriented policy) Jong – Tsong Chiang [82] đã mô tả cụ thể hơn về hai mô hình chính sách này, theo đó, chính sách định hướng theo nhiệm vụ mang tính chất từ trên xuống (top-down), khởi nguồn từ các đặt hàng hay ưu tiên của chính phủ trong khi chính sách định hướng theo khuếch tán lại mang tính chất từ dưới lên, xuất phát từ các nhu cầu của thị trường, hay khu vực sản xuất công nghiệp
1.2 Nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của một số quốc gia
1.2.1 Nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của các nước OECD
Các nước OECD hiện nay có trình độ phát triển về kinh tế và công nghệ cao hơn hẳn phần còn lại của thế giới Mặc dù vậy, nhu cầu và yêu cầu phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp luôn là ưu tiên hàng đầu của các quốc gia này Nghiên cứu của Ergas [78] và Cantner et al [71] đã cố gắng nhận dạng và hệ thống hóa mô hình chính sách của một số quốc gia OECD Dựa trên 06 nhóm tiêu chí: trạng thái vòng đời của công nghệ đặc thù, tỷ trọng đóng góp của khu vực công và khu vực tư cho NC&TK, hệ thống giáo dục – đào tạo, cơ hội thúc đẩy hợp tác NC&TK, nỗ lực tiêu chuẩn hóa, tỷ lệ chi cho NC&TK của khu vực quốc phòng, Ergas [78] đã phân
Trang 2716
tích và nhận dạng có 02 loại mô hình chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp là theo định hướng nhiệm vụ và theo định hướng khuếch tán Trên cơ sở nhận định này, tác giả đã thực hiện đánh giá và đưa ra phân nhóm các mô hình chính sách phát triển năng lực công nghệ tương ứng với các quốc gia OECD Theo phân định của Ergas, các quốc gia như Mỹ, Anh, Pháp thuộc nhóm theo đuổi ưu tiên chính sách định hướng nhiệm vụ, tập trung vào đầu tư lớn và dài hạn cho NC&TK để kỳ vọng đạt được các thành tựu đột phá về công nghệ, mang tính dẫn dắt các ngành công nghiệp Trong khi đó, các quốc gia như Đức, Thụy Điển, Thụy Sĩ theo đuổi chính sách định hướng lan tỏa với những ưu tiên tập trung đầu tư và hỗ trợ chính sách của nhà nước cho khu vực doanh nghiệp để thực hiện các đổi mới, cải tiến nhỏ có tính thích ứng cao với nhu cầu biến động của thị trường, qua đó nhanh chóng mang lại lợi ích kinh tế cho quốc gia Bên cạnh đó, Ergas [78] và Cantner [71] cũng đồng thời nhìn nhận việc phân định các ưu tiên chính sách của các nhóm quốc gia OECD cũng chỉ mang tính tương đối, theo từng giai đoạn, thời điểm vì trên thực tế không có quốc gia nào chỉ theo đuổi duy nhất một mô hình chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp
1.2.2 Nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của Hàn Quốc
Sự phát triển thần kỳ của các quốc gia Đông Á trong đó có Hàn Quốc giai đoạn 1960-1990 đã tập trung nhiều quan tâm của các nhà nghiên cứu quốc tế Bên cạnh các nghiên cứu về cơ chế can thiệp đặc trưng của nhà nước trong quá trình quốc gia này thực hiện công nghiệp hóa, cũng đã có nghiên cứu liên quan đến chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của Hàn Quốc
Kế thừa các quan điểm tiếp cận chính sách phát triển công nghệ theo yếu tố thị trường, theo chức năng, vị trí của công nghệ đối với các giai đoạn phát triển, Kim và Dahlman [84], Kim [80-82] đã gợi mở mô hình chính sách phát triển năng lực công nghệ trên cơ sở xem xét quá trình công nghiệp hóa thành công của Hàn Quốc Theo tiếp cận của các tác giả này, chính sách phát triển công nghệ cần được xem xét trên
các khía cạnh: i) cơ chế thị trường (Market mechanism) hướng đến thiết kế các chính
sách tăng cung – cầu trên thị trường, tạo lập năng lực công nghệ, tạo lập nhu cầu thị trường cho công nghệ, tạo lập mối liên kết hiệu quả giữa cung và cầu, gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động đổi mới, phát triển công nghệ với thương mại hóa sản phẩm; ii) dòng
Trang 28công nghệ (Technology flow) hướng đến các chính sách tiếp thu, học hỏi công nghệ
nước ngoài, xây dựng năng lực bản địa để có thể chủ động cải tiến, sáng tạo và thực
hiện lan tỏa công nghệ nhập khẩu; iii) động lực (Dynamic Perspective) hướng đến các
nỗ lực chính sách mang tính hệ thống, toàn diện để gắn kết các ưu tiên phát triển công nghiệp với các dòng công nghệ được ưu tiên tiếp nhận, chuyển giao từ nước ngoài hay công nghệ phát triển mới dựa trên năng lực NC&TK từ trong nước Sau khi kiểm chứng tiếp cận chính sách theo hướng này ở Hàn Quốc, các tác giả đã đưa ra nhận định về sự tương đồng trong sử dụng tiếp cận chính sách này trong phân tích chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp ở các nước đang theo đuổi công cuộc công nghiệp hóa như Hàn Quốc đã thực hiện
1.2.3 Nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của Malaysia
Malaysia là quốc gia trong khu vực ASEAN, thuộc nhóm thực hiện công nghiệp hóa sau Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan Các thành quả đạt được từ công nghiệp hóa quốc gia này đã được nghiên cứu, xem xét từ góc độ chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp Kondo [89] đã có nghiên cứu để nhận dạng chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của Malaysia Tác giả nhận định chính sách phát triển công nghệ hướng vào hỗ trợ phát triển công nghiệp với doanh nghiệp là trung tâm nên cần có những phân biệt nhất định với chính sách khoa học thường hướng vào các mục tiêu dài hạn của nghiên cứu do các tổ chức nghiên cứu công thực hiện Chính sách khoa học có thể hỗ trợ phát triển công nghiệp
về dài hạn chứ chưa thể giải quyết được kịp thời các vấn đề của công nghiệp trong ngắn hạn
Theo quan điểm này, Kondo [89] xem xét hệ thống chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp của Malaysia gồm có các loại như sau: tiếp nhận công nghệ từ nước ngoài, thúc đẩy NC&TK trong công nghiệp, tạo lập gắn kết giữa viện – trường – doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực (chú trọng vào lao động có
kỹ năng, kỹ thuật viên và sinh viên các ngành kỹ thuật, công nghệ), phát triển công nghệ trong các lĩnh vực phụ trợ công nghiệp, cải thiện tiêu chuẩn - chất lượng và tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Dựa trên phân tích chính sách, tác giả đã nhìn nhận hệ thống chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp ở Malaysia vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng của chính sách khoa học, nặng tính hàn lâm và nội
Trang 2918
dung chính sách vẫn dựa nhiều vào quan điểm, nhận định của khu vực nhà nước chứ chưa xuất phát từ thực tiễn của hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp
1.3 Nghiên cứu về năng lực công nghệ và chính sách phát triển năng lực công nghệ trong công nghiệp ở Việt Nam
1.3.1 Nghiên cứu về năng lực công nghệ
Về tình hình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến năng lực công nghệ, về tổng thể, có lẽ do chịu ảnh hưởng của hệ quan niệm kinh tế tập trung, tối giản vai trò của thị trường và doanh nghiệp nên các nghiên cứu trong nước giai đoạn những năm 1980-1990 ít có kế thừa hay học hỏi trực tiếp từ các quan điểm của Schumpeter hay
hệ kinh tế học đổi mới, kinh tế học thể chế mà thay vào đó là hệ quan điểm Marx và Engels về kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Công trình nghiên cứu năm 1989 của Vũ Cao Đàm [17] về hoàn thiện cơ chế kích thích đổi mới kỹ thuật trong các biện pháp quản lý sản xuất có nhiều quan điểm gần với hướng nghiên cứu như nêu ở trên
Dù vẫn phải dựa trên nền lý luận của Marx và Engels nhưng tác giả đã chỉ ra được tri thức hay trí tuệ đóng vai trò quyết định trong hoạt động sản xuất về lâu dài và để phát triển sản xuất, dù là nền kinh tế tư bản hay xã hội chủ nghĩa thì đều phải dựa trên nền tảng cạnh tranh thì mới có thể phát triển được Hơn nữa, để thúc đẩy được đổi mới công nghệ, mà xa hơn chính là phát triển năng lực công nghệ, thì điều kiện cần là tạo dựng được thiết chế kinh tế phù hợp và điều kiện đủ xuất phát từ nhu cầu của sự phát triển xã hội Điểm chưa rõ nét trong nghiên cứu của Vũ Cao Đàm là không đi sâu vào xem xét vai trò của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất và đổi mới công nghệ Sự chưa rõ nét có thể nguyên nhân từ độ mở của thể chế kinh tế đối với các vấn đề về doanh nghiệp và tư nhân lúc đó
Trong những năm 2000, có phát triển hướng nghiên cứu về năng lực nội sinh
về khoa học và công nghệ với các nghiên cứu của Nguyễn Sĩ Lộc [36,37], Nguyễn Danh Sơn [44] Theo hướng nghiên cứu này, năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ được hiểu là khả năng ra quyết định một cách có tổ chức của chủ thể về việc phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ vì các mục tiêu phát triển, giải quyết các nhu cầu xã hội của toàn dân [43] Cách hiểu như vậy có nhiều điểm tương đồng với khái niệm năng lực công nghệ khi cùng xem xét về tác động của khoa học và công nghệ nói chung đến phát triển Tuy nhiên, góc nhìn của năng lực nội sinh về khoa học
Trang 30và công nghệ đối với phát triển mang tính khái quát, quản lý ở tầm vĩ mô, không xem xét đến vai trò của doanh nghiệp và các cơ chế tác động cụ thể đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
Bên cạnh hướng nghiên cứu về năng lực nội sinh, đã xuất hiện một số nghiên cứu theo cách tiếp cận mới về năng lực công nghệ Nghiên cứu của Trần Ngọc Ca [7]
đã hệ thống hóa cơ bản các quan điểm và tiếp cận về năng lực công nghệ trong doanh nghiệp Dựa trên nhận định về năng lực công nghệ, tác giả đã nhận dạng một số xu hướng phát triển năng lực công nghệ ở Việt Nam trong giai đoạn những năm 1990
Nghiên cứu của Nguyễn Quang Hồng [28], đã có mô tả về năng lực công nghệ của doanh nghiệp cũng như nhận dạng một số tiêu thức đo lường năng lực công nghệ Nghiên cứu này cũng đã xác định 02 yếu tố cấu thành năng lực công nghệ là năng lực công nghệ nội tại của doanh nghiệp và năng lực khai thác tiềm lực bên ngoài của doanh nghiệp Lê Thành Ý [62] cũng có nghiên cứu về vấn đề năng lực công nghệ nhưng không mô tả về nội hàm của năng lực công nghệ mà tập trung vào xem xét một
số chỉ tiêu đo lường năng lực công nghệ Điểm chung của hai nghiên cứu này là chỉ giới hạn vào việc khai thác dòng đầu tư nước ngoài (FDI) cho việc nâng cao năng lực công nghệ
Cùng với các nghiên cứu trong nước có nhiều điểm tương đồng với quan điểm
về năng lực công nghệ của các tác giả nước ngoài nêu trên, đã những công trình nghiên cứu hướng vào xem xét, phân tích các vấn đề về khoa học và công nghệ nói chung và khía cạnh năng lực công nghệ hay đổi mới công nghệ ở Việt Nam nói riêng
Về đánh giá năng lực công nghệ, Gunter Renner [47] có trình bày về các khía cạnh cần quan tâm khi muốn xây dựng năng lực công nghệ ở Việt Nam Nguyễn Hoàng Anh [1] trong nghiên cứu về đánh giá năng lực đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đã dựa trên hệ tiếp cận của Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái ình Dương (APCTT) về đánh giá năng lực công nghệ để khuyến nghị các phương cách áp dụng ở Việt Nam [2]
Về đổi mới công nghệ, dù không cung cấp hay kế thừa các quan điểm nghiên cứu của tác giả nước ngoài nhưng các nghiên cứu của ùi Văn Long [38], Văn Tình [55], Lục Diệu Toán và cộng sự [5] Thái Văn Tân [51], Nguyễn Văn Dần [19], cung cấp những nhận định về thực trạng và các giải pháp cần thiết để thúc đẩy đổi mới công nghệ trong nước Nguyễn Mạnh Hùng [30] có dựa trên nhận định của
Trang 3120
APCTT về nguy cơ của các nước đang phát triển khi tiếp cận công nghệ từ các nước phát triển hoặc các công ty đa quốc gia để đề xuất giải pháp xây dựng năng lực công nghệ trong nước dựa trên quá trình xác định nhu cầu công nghệ, đánh giá trình độ công nghệ và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nghiên cứu gần đây của Mai Hà
và cộng sự [21, 22] đi theo hướng tiếp cận gần hơn với quan điểm của OECD và các
tổ chức quốc tế về đổi mới ở nghĩa rộng hơn so với đổi mới công nghệ Trên cơ sở nhìn nhận đổi mới là quá trình kết hợp các sáng tạo và các hoạt động liên quan mang lại giá trị bền vững, các tác giả đã nhận dạng được các hình thức giúp doanh nghiệp tích lũy được tri thức để thực hiện đổi mới là dựa trên NC&TK, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, quá trình vận hành sản xuất và quá trình tiếp thị các sản phẩm mới hoặc sản phẩm được cải tiến Các nhận định của nghiên cứu này về các cấu phần để kiến tạo đổi mới có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của Ernst và cộng sự [73]
Bên cạnh những nghiên cứu mang tính vĩ mô về vấn đề đổi mới công nghệ còn
có những nghiên cứu hướng vào các vấn đề của đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp Hoàng Xuân Long [39, 40] có nghiên cứu xem xét về vai trò tổ chức của doanh nghiệp trong đổi mới công nghệ; Vũ Xuân Nguyệt Hồng và cộng sự [29] tìm kiếm các giải pháp kích cầu thị trường khoa học và công nghệ dựa trên thúc đẩy đầu
tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp; Nguyễn Văn Thu [54] đề xuất cách tiếp cận gắn kết hữu cơ giữa chiến lược kinh doanh và chiến lược đổi mới công nghệ ở cấp doanh nghiệp; Hoàng Trần Hậu và cộng sự [26], Lê Thành Ý [61], Nguyễn Việt Hòa
và cộng sự [27], Lê Xuân Bá và cộng sự [3] tập trung sự quan tâm vào khía cạnh đầu
tư cho đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp
Về các vấn đề khoa học và công nghệ nói chung, nghiên cứu của Đặng Hữu [32] đã có những phân tích về bối cảnh kinh tế - xã hội của quốc tế để từ đó nhận dạng các thuận lợi và khó khăn trong thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu cũng đã cung cấp những nhận định, đánh giá về thực trạng, về các ưu tiên có thể trong phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong giai đoạn những năm 1990
Nghiên cứu của Vũ Đình Cự [12] về mối liên quan giữa KH&CN và lực lượng sản xuất cũng đã lần đầu đề cập đến các mô hình và cơ chế thúc đẩy phát triển năng lực công nghệ trong một quốc gia là mô hình tuyến tính và mô hình định hướng thị trường Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này lại tập trung nhiều vào khía cạnh các
Trang 32đóng góp về tính năng kỹ thuật của công nghệ đối với hoạt động sản xuất hơn là các đóng góp khác của công nghệ đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia
Nghiên cứu của Hoàng Đình Phu [45] về khoa học và công nghệ với các giá trị văn hóa cung cấp nhiều thông tin về các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trong lịch sử với các cuộc cách mạng công nghiệp.Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này không đi sâu vào vấn đề ảnh hưởng cách mạng khoa học và công nghệ với sự phát triển ở Việt Nam mà tập trung vào các ảnh hưởng về mặt văn hóa, xã hội của KH&CN đối với quốc tế và Việt Nam nói riêng
Như vậy, đối với vấn đề phát triển năng lực công nghệ trong doanh nghiệp, các nghiên cứu nước ngoài đã chỉ ra rằng công nghệ và hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp là nhân tố quan trọng hàng đầu trong tạo lập các giá trị mới, mang đến sự tăng trưởng đột phá cho nền kinh tế Để có làm chủ được công nghệ, các doanh nghiệp cần thiết lập năng lực công nghệ thông qua quá trình học hỏi có chủ đích và mang tính hệ thống Quá trình phát triển năng lực công nghệ của doanh nghiệp cần có
sự hỗ trợ hợp lý từ nhà nước bên cạnh các nỗ lực tự thân của doanh nghiệp Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về vấn đề này nhưng chưa đầy đủ và phù hợp với thực
tế diễn ra trên thế giới do chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng kinh tế kế hoạch hóa tập trung
1.3.2 Nghiên cứu về chính sách phát triển năng lực công nghệ
Trong nghiên cứu về chính sách công nghệ ở Việt Nam, có những thời điểm các tác giả nước ngoài thường gắn vấn đề công nghệ với phát triển công nghiệp hay quá trình công nghiệp hóa Theo hướng này, có nhiều nghiên cứu trong nước cung cấp
lý luận và thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam như Đỗ Hoài Nam [41], Ngô Đăng Thành và cộng sự [52], Tạ á Hưng [31], Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung vào xem xét các khía cạnh của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của một quốc gia, những nội dung xem xét vai trò, ảnh hưởng của công nghệ có được
đề cập nhưng không có những phân tích, đánh giá sâu
Đối với nghiên cứu về chính sách công nghiệp, Ohno [43] trong công trình nghiên cứu đề xuất một chiến lược phát triển công nghệ, dù có những nhận định, đánh giá rất xác đáng về bức tranh công nghiệp và các vấn đề cần giải quyết ở Việt Nam nhưng các vấn đề về chính sách công nghệ vẫn chưa được đặt ra và xem xét một cách đầy đủ và cẩn trọng Gần đây hơn, Perkins và cộng sự [44] đã giới thiệu nghiên cứu
Trang 33Xem xét các công trình nghiên cứu trên phương diện chính sách khoa học và công nghệ nói chung, có một số nghiên cứu có liên quan như sau:
Nghiên cứu năm 1996 của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN [60] về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cách mạng công nghệ là một sự hệ thống hóa các nguyên lý và mô hình phát triển dựa vào công nghệ của thế giới và định hướng về kịch bản phát triển cho Việt Nam.Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào mục đích và kết quả có thể nhận thấy khi thực hiện công nghiệp hóa, các phân tích, nhận diện sâu hơn về cơ chế, phương tiện, trong đó có yếu tố công nghệ, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa lại không được thể hiện rõ nét
Nghiên cứu của IDRC [33] về chính sách KH&CN và đổi mới của Việt Nam
đã dựa trên một hệ quan điểm tiếp cận rất hiện đại, có kế thừa từ các trường phái lý thuyết như đã nêu ở phần trên để phân tích, đánh giá chính sách KH&CN ở Việt Nam giai đoạn những năm 1990 và để làm cơ sở cho những đề xuất chính sách những năm
2000 Đây là một công trình nghiên cứu công phu, có sự tham gia của các nhà nghiên cứu quốc tế và nhiều nhà nghiên cứu chính sách, quản lý hàng đầu Việt Nam Các đánh giá và nhận định từ công trình nghiên cứu này rất có giá trị thực tiễn và đặc biệt tương thích với nhiều định hướng chính sách KH&CN của nhiều quốc gia trên thế giới đang trong quá trình thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, vì nhiều
lý do nên các kết quả nghiên cứu này đã không thể được chuyển hóa thành các văn bản chính sách cũng như là ít được kế thừa, tiếp tục phát triển trong những nghiên cứu
ở giai đoạn sau
Nguyễn Danh Sơn và cộng sự [48] có nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển KH&CN và phát triển kinh tế Đây là một trong những công trình nghiên cứu có nhiều nội dung đề cập đến cơ sở khoa học về mối liên quan của phát triển kinh tế và phát triển khoa học và công nghệ Sử dụng nền tảng lý thuyết của Solow về tăng
Trang 34trưởng kinh tế, các nội dung nghiên cứu đã có những phân tích, dẫn luận về vai trò của công nghệ, các đóng góp của khoa học và công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế qua các giai đoạn của thế giới cũng như gợi mở những quan điểm tiếp cận cho phát triển kinh tế dựa vào khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Nghiên cứu của Trần Ngọc Ca [8] về cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam đã cung cấp những gợi mở về hoạt động đổi mới công nghệ, các kinh nghiệm hữu ích ở một số quốc gia công nghiệp đi trước để trên cơ sở đó có những phân tích, nhận định về hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp ở Việt Nam, đề xuất các kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động này trong khu vực doanh nghiệp.Tuy nhiên, nghiên cứu này tập trung nhiều vào việc kiểm chứng các giả thuyết liên quan đến đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp gồm: tác động của chính sách tài chính, tác động của chính sách nhân lực và các ảnh hưởng của nhân tố ngoài chính sách
Nghiên cứu của Đặng Duy Thịnh và cộng sự [112] về hệ thống tổ chức nghiên cứu - triển khai của Việt Nam những năm 1990 (Vietnam’s research and development system in the 1990s: Structural and Functional Changes) đã cung cấp những phân tích, đánh giá rất có giá trị về quá trình chuyển dịch chức năng và cấu trúc của các tổ chức nghiên cứu - triển khai Việt Nam trong giai đoạn từ sau Đổi mới đến 2000 Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này mới dừng lại ở những đánh giá hiện trạng, nhận dạng các phương thức chuyển dịch của tổ chức nghiên cứu - triển khai cũng những nỗ lực và tác động của nhà nước đối với các hoạt động của tổ chức nghiên cứu trong cả giai đoạn này Các nghiên cứu, đánh giá về cơ chế ảnh hưởng của hệ thống tổ chức nghiên cứu đối với các hoạt động KH&CN nói riêng và hoạt động phát triển công nghiệp nói chung lại chưa được rõ nét vì đây không phải là mục tiêu của dự án nghiên cứu này
Nghiên cứu của OECD [101] về chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới ở Việt Nam là một sự hệ thống hóa lại toàn bộ các kết quả KH&CN và nỗ lực chính sách có liên quan trong giai đoạn từ 2000-2010 Dựa trên các số liệu tương đối hệ thống và có khả năng so sánh quốc tế, công trình nghiên cứu này đã cung cấp nhiều nhận định, đánh giá xác đáng về thực trạng hệ thống KH&CN và đổi mới ở Việt Nam, định vị được vị thế của nền KH&CN Việt Nam trên trường quốc tế và đồng thời gợi
Trang 35và theo hướng đặt hàng của Ergas [78], Jong-Tsong Chiang [82] là những tổng kết có giá trị, cần phải học hỏi và tiếp tục xem xét trong bối cảnh của các quốc gia khác nhau
Một điểm nữa cũng cần quan tâm là quá trình phát triển thần tốc của các quốc gia Đông Á trong giai đoạn 1960-1980 đã cung cấp nhiều luận cứ thực tiễn cho các nghiên cứu theo quan điểm tiếp cận kinh tế - công nghệ Trên thực tế, sự khôn ngoan trong thiết kế các chính sách để quản lý, điều hành về kinh tế, công nghiệp và gồm cả phát triển năng lực công nghệ của chính phủ các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, đã góp phần làm rõ những giả thuyết, nhận định về sự gắn kết giữa phát triển kinh tế và năng lực công nghệ là có cơ sở Đồng thời, bổ sung được những mô hình chính sách mang tính đặc thù về phát triển năng lực công nghệ có sự phù hợp với hoàn cảnh của các nước đang phát triển như nghiên cứu của Kim và Dahlman [83] và Kim [86] đã chỉ ra
Trong khi đó, các nghiên cứu của Việt Nam về cơ chế, chính sách phát triển năng lực công nghệ cơ bản chỉ dừng ở những nỗ lực của nhà nước đối với phát triển khoa học và công nghệ nói chung, với nền tảng quan điểm xây dựng năng lực công nghệ dựa trên hoạt động nghiên cứu và triển khai nội tại, chưa xem xét tách biệt giữa các chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học (mang tính hàn lâm, gắn với tổ chức khoa học và công nghệ) và chính sách phát triển năng lực công nghệ (mang tính thị trường, gắn với doanh nghiệp) Cũng đã có một số nghiên cứu về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và triển khai trong các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhưng nội dung này chưa hàm chứa được đầy đủ vấn đề phát triển năng lực công nghệ trong doanh nghiệp, đồng thời chưa xem xét thấu đáo về tác động của chính sách đối với phát triển năng lực công nghệ của doanh doanh nghiệp
Trang 361.4 Tiểu kết Chương 1
Về các nghiên cứu ở nước ngoài, các trình bày ở trên đã cho thấy rằng vấn đề
về phát triển công nghệ gắn với phát triển kinh tế, với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài thực hiện Đến nay, hệ thống lý luận đã cơ bản định hình và mô tả được sự gắn kết giữa kinh tế và phát triển công nghệ, với doanh nghiệp là trung tâm Thông qua nền tảng lý luận này, các vấn đề
về năng lực công nghệ, quá trình phát triển năng lực công nghệ và hệ thống thiết chế, chính sách kèm theo cũng đã được nhận diện và thừa nhận có vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế không chỉ ở các nước phát triển mà còn cả ở các nước đang phát triển
Về tình hình nghiên cứu ở Việt Nam, có thể nhận thấy rằng nghiên cứu về chủ
đề phát triển năng lực công nghệ chưa được khai thác nhiều, vẫn còn rất nhiều những khoảng trống về lý luận cũng như là chính sách cần phải thực hiện Trên thực tế, cũng
đã có những nghiên cứu về phát triển khoa học và công nghệ nói chung, về chính sách khoa học và công nghệ nói riêng nhưng nếu đối chiếu với hướng tiếp cận nghiên cứu của quốc tế, có thể nhận thấy những tồn tại như sau:
Thứ nhất, có lẽ vì chịu ảnh hưởng của các quan điểm tiếp cận kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp nên hầu hết các công trình nghiên cứu này ít khi dẫn chiếu quan điểm của các trường phái kinh tế - công nghệ hiện đại đang được quốc tế thừa nhận
mà thường dựa trên các nguyên lý, lý luận của kinh tế tập trung bao cấp để đưa ra các nhận định hay giải pháp cho tình hình ở Việt Nam Cách tiếp cận như vậy dẫn đến việc quá coi trọng sự can thiệp bằng mệnh lệnh, điều khiển của nhà nước mà xem nhẹ
sự vận động của cơ chế thị trường, cũng như sự tự chủ và năng lực tự thân của khu vực doanh nghiệp công nghiệp
Thứ hai, các công trình nghiên cứu trong nước cho đến nay vẫn hầu hết hướng
sự quan tâm vào cả hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động công nghệ Trên thực tế, đây vốn là hai hoạt động có sự khác biệt nhau tương đối về kết quả đầu ra và
cơ chế tác động, can thiệp để điều chỉnh từ chính sách
Thứ ba, các quan điểm về năng lực công nghệ, trình độ công nghệ trong nghiên cứu ở Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của hệ lý thuyết của Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái ình Dương (APCTT) thông qua bộ cẩm nang về phương pháp luận lập kế hoạch phát triển năng lực công nghệ Khảo sát nghiên cứu về chủ đề
Trang 37Thứ nhất, tiếp cận chính sách sẽ xem xét vai trò can thiệp của nhà nước mang tính định hướng, dẫn dắt các hoạt động phát triển năng lực công nghệ của doanh nghiệp và đặc biệt là phải theo vận hành tổng thể của kinh tế thị trường Đây có thể không phải là quan điểm mới trong các nghiên cứu quốc tế nhưng ở Việt Nam đến nay chưa có nghiên cứu như vậy đối với nội dung này Ở chiều ngược lại, tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tiếp cận chính sách chịu ảnh hưởng của quan điểm kinh tế kế hoạch hóa tập trung nên dẫn đến việc quá coi trọng các can thiệp mang tính trực tiếp của Nhà nước trong khi lại ít quan tâm đến các yếu tố của thị trường Tiếp cận chính sách trong nghiên cứu này sẽ mang tính cân bằng hơn
Thứ hai, thay vì nghiên cứu về chính sách khoa học và công nghệ nói chung, nghiên cứu này tập trung vào chính sách công nghệ dựa trên các khía cạnh, vấn đề của phát triển năng lực công nghệ trong khu vực doanh nghiệp Đây là nội dung nghiên cứu mới, xem xét vấn đề chính sách công nghệ trong doanh nghiệp dựa trên các phân tích, đo lường năng lực công nghệ trong doanh nghiệp để từ đó xem xét, đối chiếu với thực trạng và ảnh hưởng của chính sách nhà nước Trên cơ sở đó, nghiên cứu sẽ nhận dạng, phân tích được các vấn đề của chính sách hiện tại, hướng đến được đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong thời gian tới ở Việt Nam
Thứ ba, để thực hiện được việc phân tích, đo lường năng lực công nghệ của doanh nghiệp có sự gắn kết với hệ thống chính sách của nhà nước, nghiên cứu này sẽ tập trung vào phân tích để có thể đưa ra được khung phân tích chính sách dựa trên năng lực công nghệ của doanh nghiệp bảo đảm có tính logic và khoa học, kế thừa được kinh nghiệm của quốc tế và phù hợp với bối cảnh, điều kiện của Việt Nam
Trang 38CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP CÔNG
Từ cách hiểu này Kakazu [83] đã có nhận dạng thêm về công nghệ khi gắn với
hoạt động công nghiệp khi đưa ra định nghĩa công nghệ công nghiệp (Industrial Technology) là những công nghệ (là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật, phương
tiện hàm chứa tri thức công nghệ) được ứng dụng vào hoạt động sản xuất ở quy mô
công nghiệp Một cách ngắn gọn hơn, công nghệ công nghiệp là cách hiểu công nghệ được gắn với hoạt động sản xuất công nghiệp
2.1.2 Công nghiệp chế tạo, chế biến
Theo cách hiểu chung công nghiệp là một ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất, một bộ phận cấu thành cơ bản của nền sản xuất xã hội Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ thuật
Trong thực tế, dựa vào hoạt động công nghiệp, các nước Tây Âu và Bắc Mỹ đã thực hiện thành công qua trình công nghiệp hóa, đưa nền sản xuất của quốc gia trên một trình độ mới, mang lại giá trị kinh tế vượt qua lĩnh vực sản xuất có tính truyền thống là nông nghiệp
Phân loại lĩnh vực công nghiệp có thể dựa trên nhiều cách tiếp cận khác nhau + Dựa trên loại sản phẩm, các ngành công nghiệp được phân loại thành: công nghiệp xây dựng, công nghiệp hóa chất, công nghiệp dầu khí, công nghiệp ô tô, công nghiệp điện tử,…
+ Dựa trên loại thị trường, theo tiếp cận củaMSCI and Standard & Poor's (S&P),các ngành công nghiệp được phân loại thành: công nghiệp năng lượng,
Trang 39có Việt Nam Theo phân loại ISIC (2008), các ngành công nghiệp được phân thành 21 nhóm lớn, được phân loại đến mã cấp 3 Trong các nhóm lớn, UNIDO đã có phân định riêng nhóm ngành công nghiệp chế tạo, chế biến (Manufacturing Industry) với các phân loại mã cấp 3 tương ứng
Ở Việt Nam, dựa vào ISIC, nhóm ngành công nghiệp chế tạo, chế biến được phân loại cụ thể đến cấp 2 gồm 22 phân nhóm nhỏ (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Phân loại nhóm ngành công nghiệp chế tạo, chế biến ở Việt Nam theo ISIC
1 Chế biến thực phẩm và đồ uống
2 Dệt may
3 May mặc, quần áo, nhuộm và lông vũ
4 May đồ da, hành lý, túi xách, yên cương, dụng cụ lao động và giày dép
5 Chế biến gỗ và các sản phẩm gỗ, trừ đồ nội thất gỗ, chế biến các sản phẩm làm từ rơm
và nguyên liệu đan lát
6 Chế tạo giấy và sản phẩm giấy
7 Xuất bản, in ấn, tái chế các ấn phầm truyền thông
8 Chế tạo than cốc, lọc sản phẩm hóa dầu và nguyên liệu hạt nhân
9 Chế tạo hóa chất và sản phẩm hóa chất
10 Chế tạo cao su và sản phẩm nhựa
11 Chế tạo các sản phẩm khai khoáng phi kim loại
12 Chế tạo kim loại cơ bản
13 Chế tạo các sản phẩm kim loại lắp ghép, trừ máy móc và thiết bị
14 Chế tạo máy móc và thiết bị
15 Chế tạo văn phòng, máy móc kế toán và máy tính
16 Chế tạo máy móc thiết bị điện
17 Chế tạo đài bán dẫn, vô tuyến, thiết bị và máy móc truyền thông
18 Chế tạo dụng cụ y tế, thiết bị chính xác và thiết bị quang học, đồng hồ và đồng hồ đeo tay
19 Chế tạo động cơ xe máy, xe móc và xe kéo một cầu
20 Chế tạo những thiết bị vân tải khác
21 Chế tạo đồ gỗ
22 Các ngành kim loại cơ bản
Nguồn: CIEM [11]
Trang 402.1.3 Năng lực công nghệ trong công nghiệp
2.1.3.1 Khái niệm năng lực công nghệ
Theo nghiên cứu năm 1992 của OECD, năng lực công nghệ được định nghĩa là:
"Các nỗ lực để nắm bắt được một lượng lớn các loại tri thức và kỹ năng cần thiết để tiếp thu, thích nghi, sử dụng, cải tiến và sáng tạo công nghệ Năng lực công nghệ vượt
ra ngoài giới hạn của bí quyết kỹ thuật mà còn hàm chứa cả tri thức về cấu trúc và quy trình mang tính tổ chức cũng như là tri thức về các dạng hành vi của người làm
và khách hàng Các doanh nghiệp cần phải trang bị những giá trị và năng lực bổ sung để có thể sáng tạo, hiệu chỉnh và cải thiện năng lực công nghệ của bản thân".(Mathew và Dong-Sung Cho [955, pp.99])
Tổ chức Lao động thế giới (ILO) 1986) định nghĩa NLCN: “khả năng của một đất nước trong việc lựa chọn, tiếp nhận, tạo ra và ứng dụng các công nghệ để đóng góp vào việc đạt được các mục tiêu phát triển quốc gia”(Enos [77, pp.11]) Bell và Pavitt [61, pp.261] cho rằng“Năng lực công nghệ bao gồm các nguồn lực cần thiết để tạo ra, quản lý được các thay đổi về kỹ thuật, bao gồm các kỹ năng, tri thức, kinh nghiệm, các liên kết và cấu trúc mang tính thể chế”
Nghiên cứu của Sharif [107, pp.227] phân định NLCN gồm: Năng lực tiếp nhận (Acquiring): Tiếp nhận các nguồn lực đầu vào thiết yếu cho doanh nghiệp; Năng lực chuyển hóa (Converting): Chuyển dịch các nguồn lực đầu vào sẵn có thành các sản phẩm thị trường; Năng lực giao thương (Vending): bố trí phân bổ, bán hàng và các dịch vụ đối với sản phẩm tạo ra; Năng lực hiệu chỉnh (Modifying): Thích nghi và cải tiến sản phẩm và quy trình; Năng lực thiết kế (Designing): Chuyển hóa các ý tưởng thành các vật mẫu có thể sản xuất được; Năng lực làm mới (Generating): Thương mại hóa được máy móc và quy trình mới
Lall [92, pp.14] trong nghiên cứu về năng lực công nghệ và quá trình công
nghiệp hóa của các nước Đông Á đã định nghĩa NLCN là “tổng hợp các kỹ năng, kinh nghiệm và nỗ lực để các doanh nghiệp của một quốc gia có thể tiếp cận, mua, sử dụng, thích nghi, cải tiến và tạo ra công nghệ”
Trong nghiên cứu về con đường phát triển công nghệ của Hàn Quốc, Kim [80, pp.4] đã nhận dạng năng lực công nghệ là khả năng tận dụng hiệu quả các tri thức