Khảo cứu các nguồn tài liệu trong nước cho thấy Ďa phần các nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu khía cạnh sức khỏe tâm thần của hay những yếu tố văn hóa - xã hội trong cách nuôi dạy của cá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
Nguyễn Thị Chính
SỰ THÍCH ỨNG VỚI VAI TRÒ LÀM MẸ CỦA PHỤ NỮ SAU KHI SINH CON
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội, 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
Nguyễn Thị Chính
SỰ THÍCH ỨNG VỚI VAI TRÒ LÀM MẸ CỦA PHỤ NỮ SAU KHI SINH CON
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 62 31 04 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS Trần Thị Minh Đức
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
Người hướng dẫn khoa học
GS.TS Trần Quốc Thành GS.TS Trần Thị Minh Đức
Hà Nội, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam Ďoan Ďây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn của giáo viên Các dữ liệu, kết qủa nghiên cứu trong luận án là trung thực và khách quan với dữ liệu thu Ďược từ Ďiều tra thực tiễn
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Chính
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Người mà tôi muốn gửi lời cảm ơn Ďầu tiên chính là GS.TS Trần Thị Minh Đức Đối với tôi, cô không chỉ là người thầy dìu dắt tôi trên con Ďường học tập từ thời Ďại học cho Ďến khi làm nghiên cứu sinh mà cô còn là người chỉ dạy cho tôi nhiều Ďiều trong cuộc sống, Ďộng viên, giúp Ďỡ tôi vượt qua những chặng Ďường khó khăn Chính vì vậy, tôi vô cùng biết ơn cô như một ân nhân lớn trong cuộc Ďời của mình Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể cán bộ, giảng viên của Khoa Tâm lý học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG Hà Nội Đây chính là chiếc nôi tôi gắn bó trong một chặng Ďường gần 20 năm qua Hình ảnh các thầy cô của khoa (cũng như một số thầy cô cộng tác giảng dạy ở Ďây) trong tôi là những con người Ďam mê khoa học, nhiệt huyết với chuyên môn và giàu lòng nhân
ái với sinh viên, học viên Các thầy cô là một Ďộng lực lớn giúp tôi có thể hoàn thành luận án
Tôi cũng trân trọng gửi lời cảm ơn tới lãnh Ďạo trường ĐH Tân Trào - tỉnh Tuyên Quang và tập thể giảng viên của Khoa Tâm lý - Giáo dục & Công tác xã hội
- nơi tôi Ďang công tác Nếu không có sự tạo Ďiều kiện của cơ quan, chưa chắc tôi Ďã
có thể là nghiên cứu sinh trong thời Ďiểm này và cũng như sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc hoàn thành luận án
Để hoàn thành luận án này, tôi Ďã nhận Ďược sự giúp Ďỡ rất nhiều từ của bạn bè, Ďồng môn cả về khoa học và những khía cạnh khác trong cuộc sống Tôi luôn trân quý tình cảm mà họ dành cho mình Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các
em sinh viên Ďã giúp Ďỡ tôi trong quá trình Ďiều tra và nhập dữ liệu
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các tập thể cán bộ y tế tại các cơ sở tiêm chủng là: phường Ỉ la, phường Minh Xuân, phường Tân Quang, (Tuyên Quang), Trạm y
tế Thanh Xuân Trung, Trung tâm tiêm chủng tại Nguyễn Chí Thanh (Hà Nội) và Ďặc biệt hơn 300 bà mẹ Ďang nuôi con nhỏ Ďã dành thời gian và nhiệt tình giúp tôi
có Ďược các thông tin cho công trình nghiên cứu của mình
Sau cùng, tôi xin cảm ơn các thành viên trong gia Ďình của mình Ďã cùng tôi trải qua những vất vả, khó khăn Ďể hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu sinh
Tác giả luận án Nguyễn Thị Chính
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG 4
DANH MỤC SƠ ĐỒ 6
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lí do chọn Ďề tài 8
2 Mục Ďích nghiên cứu 9
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 10
4 Giả thuyết nghiên cứu 10
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
6 Giới hạn nghiên cứu 11
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 12
8 Đóng góp mới của luận án 13
9 Cấu trúc của luận án 15
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÍCH ỨNG VỚI VAI TRÒ LÀM MẸ CỦA PHỤ NỮ SAU SINH 16
1.1 Các nghiên cứu về thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh
trên thế giới 16
1.1.1 Hướng nghiên cứu về các chỉ báo thích ứng với vai trò làm mẹ
của phụ nữ sau sinh 17
1.1.2 Hướng nghiên cứu về quá trình thích ứng với vai trò làm mẹ
của phụ nữ sau sinh 19
1.1.3 Hướng nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe tâm thần của phụ nữ
sau sinh 22
1.1.4 Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với vai trò
làm mẹ của phụ nữ sau sinh 26
Trang 61.2 Các nghiên cứu về thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh
ở Việt Nam 34
1.2.1 Các yếu tố văn hóa - xã hội ảnh hưởng tới thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh 35
1.2.2 Hướng nghiên cứu về sức khỏe tinh thần của phụ nữ sau sinh
ở Việt Nam 38
Tiểu kết chương 1 42
Chương 2 LÍ LUẬN VỀ SỰ THÍCH ỨNG VỚI VAI TRÒ LÀM MẸ CỦA PHỤ NỮ SAU SINH 44
2.1 Vai trò làm mẹ 44
2.1.1 Khái niệm vai trò làm mẹ 44
2.1.2 Các khía cạnh của vai trò làm mẹ 45
2.2 Phụ nữ sau sinh 48
2.2.1 Khái niệm 48
2.2.2 Đặc điểm của phụ nữ sau sinh 48
2.3 Thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh 51
2.3.1 Cách tiếp cận về thích ứng 51
2.3.2 Lí thuyết về thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh 55
2.3.3 Khái niệm thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh 58
2.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ
sau sinh 61
Tiểu kết chương 2 67
Chương 3 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 69
3.1 Vài nét về Ďịa bàn và khách thể nghiên cứu 69
3.1.1 Về địa bàn nghiên cứu 69
3.1.2 Về khách thể nghiên cứu 70
3.2 Tổ chức nghiên cứu 71
3.2.1 Giai đoạn nghiên cứu lí luận 71
3.2.2 Giai đoạn thiết kế công cụ điều tra 72
3.2.3 Giai đoạn điều tra chính thức 72
3.2.4 Xử lí dữ liệu và viết báo cáo 73
Trang 73.3 Các phương pháp nghiên cứu 73
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 73
3.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 74
3.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 85
3.3.4 Phương pháp phân tích chân dung tâm lí 86
3.3.5 Phương pháp xử lí số liệu nghiên cứu bằng thống kê toán học 86
Tiểu kết chương 3 93
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SỰ THÍCH ỨNG VỚI VAI TRÒ
LÀM MẸ CỦA PHỤ NỮ SAU SINH 94
4.1 Thực trạng thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh 94
4.1.1 Mức độ thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh 94
4.1.2 Một số yếu tố liên quan đến sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh 108
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng Ďến thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ
sau sinh 124
4.2.1 Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng tới sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh 124
4.2.2 Mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng với vai trò
làm mẹ của phụ nữ sau sinh 132
4.3 Nghiên cứu chân dung tâm lí Ďiển hình 141
4.3.1 Trường hợp 1: Phụ nữ sau sinh thích ứng ở mức độ thích ứng thấp
với vai trò làm mẹ 141
4.3.2 Trường hợp 2: Phụ nữ sau sinh thích ứng cao với vai trò làm mẹ 145
Tiểu kết chương 4 147
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 153
TÀI LIỆU THAM KHẢO 154
PHỤ LỤC 167
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các rối nhiễu tâm thần sau sinh 51
Bảng 3.1 Đặc Ďiểm khách thể nghiên cứu 71
Bảng 3.2 Độ tin cậy Cronbach Alpha của các thang Ďo 79
Bảng 3.3 Các nhân tố của thang hài lòng về vai trò làm mẹ 81
Bảng 3.4 Các nhân tố của thang Ďo tự tin trong vai trò làm mẹ 82
Bảng 3.5 Phân tích nhân tố thang Ďo hành vi Ďáp ứng 84
Bảng 3.6 Các giá trị kiểm Ďịnh hiệu lực của các thang Ďo thích ứng với VTLM 87
Bảng 3.7 Cách phân chia và kết quả mức Ďộ thích ứng với vai trò làm mẹ 90
Bảng 3.8 Các mức Ďộ nguy cơ trầm cảm sau sinh 91
Bảng 4.1 Những trải nghiệm tích cực khi trở thành người mẹ của phụ nữ
sau sinh 99
Bảng 4.2 Trải nghiệm tiêu cực của phụ nữ sau sinh khi trở thành người mẹ 100
Bảng 4.3 Sự tự tin hiểu con của phụ nữ sau sinh 101
Bảng 4.4 Sự tự tin trong chăm sóc con của phụ nữ sau sinh 102
Bảng 4.5 Sự tự tin của phụ nữ sau sinh Ďối với việc xử trí các vấn Ďề của trẻ 104
Bảng 4.6 Sự tự tin về bản thân trong vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh 105
Bảng 4.7 Sự Ďáp ứng hành vi trong vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh 107
Bảng 4.8 So sánh Ďặc Ďiểm của trẻ và thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ
sau sinh (p) 109
Bảng 4.9 So sánh thích ứng với vai trò làm mẹ theo Ďặc Ďiểm nhân khẩu - xã hội của phụ nữ sau sinh (p) 110
Bảng 4.10 Sự khác biệt về thích ứng với VTLM về lần sinh con 111
Bảng 4.11 Trình Ďộ học vấn và thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ
sau sinh 113
Bảng 4.12 Thời gian sau sinh và thích ứng với vai trò làm mẹ 114
Bảng 4.13 Đặc Ďiểm về thể chất của phụ nữ sau sinh và thích ứng với
VTLM (p) 115
Bảng 4.14 Mức Ďộ bị biến chứng sau sinh và Ďộ thích ứng với VTLM 117
Trang 9Bảng 4.15 Mức Ďộ thích ứng với VTLM và Ďặc Ďiểm tâm lí - xã hội
của phụ nữ sau sinh (p) 119
Bảng 4.16 Mối quan hệ với mẹ ruột và thích ứng với vai trò làm mẹ (ĐTB) 122
Bảng 4.17 Khu vực và Ďịa bàn nghiên cứu và thích ứng với vai trò làm mẹ 123
Bảng 4.18 Một số Ďặc Ďiểm phát triển của trẻ 125
Bảng 4.19 Sự chuẩn bị của người mẹ trước khi sinh con 126
Bảng 4.20 Sự hài lòng của phụ nữ sau sinh về con 128
Bảng 4.21 Biểu hiện trầm cảm của phụ nữ sau sinh 128
Bảng 4.22 Sự trợ giúp của các Ďối tượng xung quanh 129
Bảng 4.23 Các nguồn lực hỗ trợ việc thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ
sau sinh 130
Bảng 4.24 Sự hỗ trợ của người chồng Ďối với sự thích ứng với VTLM 131
Bảng 4.25 Tương quan giữa các biến ảnh hưởng và thích ứng với VTLM 133
Bảng 4.26 Các yếu tố ảnh hưởng Ďến sự thích ứng với VTLM của phụ nữ sau sinh
theo mô hình hồi quy tuyến tính 135
Bảng 4.27 Dự báo về sự hài lòng với vai trò làm mẹ 136
Bảng 4.28 Dự báo sự tự tin trong vai trò làm mẹ 137
Bảng 4.29 Dự báo thích ứng ở hành vi Ďáp ứng vai trò làm mẹ 138
Bảng 4.30 Dự báo thích ứng với vai trò làm mẹ 139
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Mô hình thích ứng với vai trò làm mẹ của Mercer 57
Sơ đồ 2.2 Sơ Ďồ tổng quát lí luận thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ
sau sinh 68
Sơ đồ 4.1 Mối tương quan giữa các mặt biểu hiện thích ứng với vai trò làm mẹ
của phụ nữ sau sinh 96
Sơ đồ 4.2 Tổng hợp khả năng dự báo của các yếu tố ảnh hưởng Ďến thích ứng
với vai trò làm mẹ 140
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Kiểm Ďịnh phân bố chuẩn của dữ liệu 89
Biểu đồ 4.1 Mức Ďộ thích ứng với vai trò làm mẹ ở từng mặt biểu hiện
và thích ứng nói chung 95
Biểu đồ 4.2 Mức Ďộ ốm nghén và thích ứng với vai trò làm mẹ (ĐTB) 116
Biểu đồ 4.3 So sánh mức Ďộ Ďáp ứng sữa mẹ và thích ứng với vai trò làm mẹ (ĐTB) 118
Biểu đồ 4.4 So sánh sự chủ Ďộng - bị Ďộng mang thai và thích ứng với vai trò
làm mẹ của phụ nữ sau sinh (ĐTB) 120
Biểu đồ 4.5 So sánh kinh nghiệm làm mẹ và thích ứng với vai trò làm mẹ
(ĐTB) 121
Trang 11THCS, THPT, TC/CĐ/ĐH Trung học cơ sở, Trung học phổ thông,
Trung cấp/Cao Ďẳng/Đại học
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sinh con là vừa là một hiện tượng sinh học nhưng trở thành người mẹ là một hiện tượng xã hội Để Ďạt Ďược vai trò làm mẹ, người phụ nữ cần có một quá trình thích ứng với một loạt sự biến Ďổi của cuộc sống Đây là giai Ďoạn chuyển Ďổi to lớn, từ việc sống riêng với cá nhân mình sang cuộc sống của hai người, vì Ďời sống của con có liên quan chặt chẽ với cuộc sống của người mẹ Do Ďó, người mẹ cần có quá trình thích ứng với hoàn cảnh sống mới Ďể cân bằng Ďời sống tinh thần của mình cũng như có thể tạo dựng Ďược bản sắc cá nhân trong chặng Ďường mới của cuộc Ďời
Làm mẹ là một thiên chức thiêng liêng mang lại nhiều niềm vui nhưng cũng có nhiều thách thức, khó khăn Ďến với Ďời sống của người phụ nữ Hầu hết, các nghiên cứu Ďều Ďồng thuận rằng làm mẹ không phải là Ďiều dễ dàng, nhất là giai Ďoạn Ďầu tiên Người mẹ không những phải Ďảm nhận chức năng chăm sóc, bảo vệ Ďứa trẻ mà còn cần cố gắng trở thành ―một người mẹ Ďủ tốt‖ trong quan hệ Ďối tượng với trẻ, giúp trẻ thỏa mãn cả nhu cầu phát triển thể chất lẫn tâm lí [dẫn theo 28] Đây là công việc Ďem lại nhiều gánh nặng cho người phụ nữ khiến cho không ít người trong số họ gặp phải các vấn Ďề sức khỏe nói chung và sức khỏe tâm thần nói riêng như trầm cảm, lo âu, stress sau sinh, rối loạn gắn bó, v.v Theo chẩn Ďoán và thống kê cho rối loạn tâm thần (Hiệp hội Tâm thần Mỹ, 2000) có Ďến 70% phụ nữ phải trải qua hiện tượng thoáng buồn sau sinh (baby blues), 10-15% bị trầm cảm sau sinh [dẫn theo 98] Khi một người mẹ gặp khó khăn tâm lí thì không chỉ ảnh hưởng Ďến chất lượng sống của chính họ mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ Thực trạng về rối nhiễu tâm trí của phụ nữ sau sinh Ďang ngày càng Ďược xã hội quan tâm và lo ngại Trên thế giới và ở Việt Nam, một số những vụ án gây rúng Ďộng xã hội mà người gây ra là những bà mẹ mới sinh con Do Ďó, việc tìm hiểu thực trạng thích ứng với vai trò làm
mẹ của phụ nữ sau khi sinh con (sau Ďây gọi tắt là phụ nữ sau sinh - PNSS) cũng như các yếu tố có liên quan tới sự thích ứng này là một vấn Ďề Ďáng quan tâm Các kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng khoa học cho việc xây dựng các biện pháp
Trang 13tăng cường sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh, qua Ďó góp phần nâng cao chất lượng sống cho bản thân người mẹ, cho trẻ thơ và gia Ďình
Trên thế giới, các nghiên cứu về thích ứng với vai trò làm mẹ (VTLM) Ďã Ďược quan tâm nghiên cứu từ cuối thế kỉ trước Song, chủ Ďề này còn khá mới mẻ Ďối với phần lớn các nhà khoa học ở Việt Nam Khảo cứu các nguồn tài liệu trong nước cho thấy Ďa phần các nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu khía cạnh sức khỏe tâm thần của hay những yếu tố văn hóa - xã hội trong cách nuôi dạy của các bà mẹ mới sinh ở Việt Nam mà chưa chú trọng tới tầm quan trọng của sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh Do Ďó, có thể nói rằng sự thích ứng với vai trò làm
mẹ của phụ nữ sau sinh ở Việt Nam có Ďặc Ďiểm gì khác so với các nghiên cứu trên thế giới là một vấn Ďề còn chưa Ďược làm rõ
Về mặt lí luận, thích ứng là một hiện tượng tâm lí Ďã từ lâu Ďược các nhà tâm lí học quan tâm nghiên cứu Nhưng cho Ďến nay, các công trình nghiên cứu về thích ứng chủ yếu Ďặt ra với những biến Ďổi của môi trường bên ngoài như thích ứng học tập, thích ứng nghề nghiệp, thích ứng văn hóa, thích ứng với biến Ďổi khí hậu, Những công trình nghiên cứu về thích ứng với một giai Ďoạn phát triển của cuộc sống hay với những yêu cầu Ďặt ra từ thế giới nội tâm của chủ thể như việc thích ứng với vai trò làm mẹ còn chưa nhiều Do vậy, việc tìm hiểu sự thích ứng của PNSS với vai trò làm mẹ là một Ďóng góp thực tiễn cho khái niệm thích ứng trong lí luận tâm lí học
Với những ý nghĩa về mặt lí luận và thực tiễn như vậy, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu Ďề tài ―Sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau khi sinh con”
nhằm làm rõ thực trạng vấn Ďề này ở Việt Nam, Ďể từ Ďó Ďưa ra những giải pháp giúp cho các bà mẹ mới sinh nâng cao Ďược khả năng thích ứng với vai trò làm mẹ Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng góp phần làm phong phú và sâu sắc hơn lí luận tâm lí học về thích ứng
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận và thực tiễn về sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh và các yếu tố ảnh hưởng Ďến sự thích ứng này; từ Ďó Ďưa ra các khuyến nghị nhằm tăng cường sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh
Trang 143 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức Ďộ thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh và các yếu tố ảnh hưởng Ďến sự thích ứng Ďó
3.2 Khách thể nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu gồm 312 phụ nữ sau khi sinh con từ 0 - 12 tháng thuộc Ďịa bàn thành phố Tuyên Quang và thành phố Hà Nội Trong Ďó, có 20 người vừa là khách thể Ďiều tra bằng bảng hỏi vừa là khách thể phỏng vấn sâu
4 Giả thuyết nghiên cứu
4.1 Về mức Ďộ thích ứng của các biểu hiện thích ứng với vai trò làm mẹ: Trong
ba mặt biểu hiện thích ứng với vai trò làm mẹ mà nghiên cứu Ďưa ra thì sự hài lòng với vai trò làm mẹ có mức Ďộ thích ứng cao nhất, Ďứng thứ hai là sự tự tin với vai trò làm mẹ và Ďứng cuối cùng là hành vi Ďáp ứng vai trò làm mẹ
4.2 Về ảnh hưởng của các biểu hiện Ďến sự thích ứng với vai trò làm mẹ: Giải thích cho sự biến thiên của sự thích ứng với vai trò làm mẹ nhiều nhất là sự hài lòng với vai trò làm mẹ, thứ hai là sự tự tin với vai trò làm mẹ và cuối cùng là hành vi Ďáp ứng vai trò làm mẹ
4.3 Về các yếu tố ảnh hưởng Ďến sự thích ứng với vai trò làm mẹ: Mức Ďộ thích ứng của phụ nữ sau sinh phụ thuộc vào Ďặc Ďiểm của trẻ; Ďặc Ďiểm nhân khẩu - xã hội, tâm lí và thể chất của người mẹ cũng như sự trợ giúp xã hội Ďối với phụ nữ sau sinh Trong số các yếu tố ảnh hưởng mà nghiên cứu Ďưa ra thì sự hỗ trợ xã hội, Ďặc biệt là sự hỗ trợ của người chồng có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất Ďến sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lí luận
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới về vấn Ďề thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh
- Làm sáng tỏ khái niệm Thích ứng, Vai trò làm mẹ, chỉ ra Ďặc Ďiểm của Phụ
nữ sau sinh; Từ Ďó xây dựng khái niệm công cụ Thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh, chỉ ra các biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng tới sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh
Trang 155.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Xây dựng bộ công cụ Ďể phục vụ cho việc nghiên cứu theo mục Ďích Ďã Ďề ra
- Khảo sát thực trạng về biểu hiện và mức Ďộ sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau khi sinh từ 0-12 tháng
- Khảo sát thực trạng và phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng với
sự thích ứng của phụ nữ sau sinh với vai trò làm mẹ
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
- Thời kì mang thai và sau sinh có sự thay Ďổi về rất nhiều khía cạnh ở người phụ nữ: thể chất, tâm lí, mối quan hệ xã hội Trong luận án, chúng tôi chỉ nghiên cứu tập trung vào sự thích ứng với sự thay Ďổi về mặt tâm lí - xã hội
- Luận án không nghiên cứu quá trình hay các giai Ďoạn thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh mà chỉ tập trung làm rõ sự thích ứng của người mẹ sau sinh Ďược thể hiện qua những Ďặc Ďiểm tâm lí nào
- Khung lí luận của luận án Ďược xây dựng dựa trên cách tiếp cận của tâm lí học xã hội, trong Ďó có sử dụng các kết quả nghiên cứu liên ngành (chủ yếu trong lĩnh vực Ďiều dưỡng, y tế công cộng)
6.2 Giới hạn về khách thể và địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện với nhóm khách thể là những bà mẹ và trẻ Ďang ở trạng thái khỏe mạnh Cả mẹ và trẻ không bị bệnh hoặc rối nhiễu tâm trí, Ďang Ďược Ďiều trị ở các cơ sở y tế
Nghiên cứu sẽ Ďầy Ďủ và hoàn thiện hơn về sự thích ứng với vai trò làm mẹ nếu có thể tiến hành khảo sát từ khi người phụ nữ mang thai Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi tiến hành khảo sát vào giai Ďoạn phụ nữ sau sinh
từ 0-12 tháng
Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên nhóm phụ nữ sau sinh ở Ďịa bàn nội và ngoại thành thành phố Tuyên Quang và nội thành thành phố Hà Nội Nghiên cứu chọn mẫu theo cách tiện lợi, chủ yếu từ các cơ sở tiêm chủng cho trẻ em
Trang 167 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Quan điểm phương pháp luận
Luận án Ďược thực hiện theo hướng tâm lí học xã hội, dựa trên các lí luận về tương tác và ảnh hưởng xã hội Do vậy, luận án có một số nguyên tắc mang tính phương pháp luận sau Ďây:
7.1.1 Nguyên tắc hoạt động
Quan Ďiểm của Tâm lí học Mác xít khẳng Ďịnh rằng tâm lí Ďược hình thành và biểu hiện qua hoạt Ďộng Hoạt Ďộng của con người Ďược xem như là một hiện tượng phức tạp, gồm nhiều mặt, nhiều mức Ďộ khác nhau
Như vậy, sự thích ứng với vai trò làm mẹ Ďược hình thành và biểu lộ thông qua hoạt Ďộng làm mẹ Do Ďó, nghiên cứu về sự thích ứng với vai trò làm mẹ không thể không xem xét hoạt Ďộng làm mẹ của phụ nữ như: chăm sóc con, hiểu con, Ďảm bảo
sự an toàn cho con, và các yếu tố tâm lí Ďối với việc sinh con như: kế hoạch sinh son, sự chuẩn bị làm mẹ, sự hài lòng về Ďứa trẻ,
7.1.2 Nguyên tắc phát triển
Theo nguyên tắc phát triển, mọi hiện tượng tâm lí Ďều có quá trình nảy sinh, vận Ďộng, phát triển và biến Ďổi chứ không bất biến, cố Ďịnh Do Ďó, sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh không phải là một hiện tượng tâm lí tĩnh mà là một quá trình hình thành và phát triển với nhiều biến chuyển, biến Ďộng phức tạp Vì vậy, trong nghiên cứu này sẽ xem xét Ďến giai Ďoạn nào trong khoảng thời gian 0-12 tháng thì người mẹ Ďạt Ďược thích ứng bằng cách so sánh các nhóm phụ nữ sau sinh ở các giai Ďoạn khác nhau qua phiếu Ďiều tra và thông qua các cuộc phỏng vấn sâu
Trang 177.1.4 Nguyên tắc tiếp cận liên ngành
Việc trở thành người mẹ có liên quan Ďến các yếu tố: sinh học, tâm lí, xã hội
và văn hóa Để phân tích về hiện tượng thích ứng với vai trò làm mẹ một cách sâu sắc và toàn diện, ngoài các tri thức về tâm lí học cần sử dụng các tri thức của nhiều ngành khoa học liên quan như xã hội học, y tế, tâm thần học, Ďiều dưỡng học, văn hóa học, truyền thông Do vậy, nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận liên ngành
7.2 Các phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu này chúng tôi sử dụng kết hợp giữa phương pháp Ďịnh tính và Ďịnh lượng, bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp Ďiều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp
- Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học
8 Đóng góp mới của luận án
8.1 Về mặt lí luận
Tổng quan nghiên cứu Ďã chỉ ra bốn xu hướng chính trong nghiên cứu về thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh trên thế giới và Việt Nam hiện nay, bao gồm: 1/Hướng nghiên cứu về các chỉ báo của sự thích ứng với vai trò làm
mẹ, 2/Hướng nghiên cứu về quá trình thích ứng của phụ nữ sau sinh với vai trò làm
mẹ, 3/Hướng nghiên cứu về các vấn Ďề sức khỏe tâm thần (SKTT) của phụ nữ sau sinh và 4/Hướng nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng Ďến sự thích ứng với vai trò làm mẹ; Trên cơ sở phân tích các dữ liệu thu Ďược, luận án Ďã cho thấy thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh còn là một vấn Ďề mới mẻ cần Ďược nghiên cứu
Hệ thống lí luận về thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh Ďã Ďược xây dựng một cách chặt chẽ Nghiên cứu cho thấy cách tiếp cận về thích ứng thường theo hai xu hướng: 1/Hướng nhấn mạnh Ďến quá trình biến Ďổi tâm lí của cá nhân Ďể phù hợp với những thay Ďổi của yêu cầu môi trường hoặc 2/Hướng nhấn mạnh Ďến yếu tố cân bằng, sự hài hòa về mặt nội tâm của chủ thể Luận án Ďã Ďi sâu phân tích mô hình Đạt Ďược vai trò làm mẹ (Maternal Role Attainment) của
Trang 18Romana Mercer - một mô hình thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh Ďã Ďược áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới với Ďiểm nổi bật là mối quan hệ giữa hệ thống các yếu tố ảnh hưởng và sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh Dựa vào nội hàm khái niệm vai trò làm mẹ cũng như các dấu hiệu của sự thích ứng, luận án Ďã xác Ďịnh cấu trúc của sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh bao gồm các biểu hiện: sự hài lòng với vai trò làm mẹ, sự tự tin trong vai trò làm mẹ và hành vi Ďáp ứng vai trò làm mẹ
Với kết quả nghiên cứu về mặt lí luận và thực tiễn luận án Ďã cung cấp nguồn
dữ liệu phong phú về mối quan hệ giữa thích ứng với vai trò làm mẹ với ba nhóm yếu tố liên quan, bao gồm: Ďặc Ďiểm của trẻ, Ďặc Ďiểm tâm lí - thể chất - xã hội của phụ nữ sau sinh và sự hỗ trợ xã hội Ďối với người mẹ Kết quả nghiên cứu cho thấy
sự ảnh hưởng của các yếu tố liên quan Ďến sự thích ứng của phụ nữ sau sinh ở Việt Nam có những Ďiểm giống và khác so với các nghiên cứu khác ở trên thế giới
8.2 Về mặt thực tiễn
Nhờ phương pháp kiểm Ďịnh thống kê thang Ďo thích ứng với vai trò làm mẹ có
Ďủ Ďộ tin cậy và hiệu lực Ďể Ďánh giá Ďịnh lượng về thực trạng thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh
Khi Ďánh giá về các yếu tố ảnh hưởng, kết quả nghiên cứu chỉ ra những yếu tố trực tiếp liên quan Ďến quá trình làm mẹ mới tạo ra sự khác biệt về thích ứng của phụ nữ sau sinh, chẳng hạn như: phát triển của con, những yếu tố về Ďặc Ďiểm thể chất mức Ďộ nghén, lượng sữa mẹ, biến chứng sau sinh) cũng như tâm lí của người
mẹ (mang thai chủ Ďộng/bị Ďộng, kinh nghiệm chăm sóc trẻ nhỏ, mối quan hệ với
mẹ ruột) của người mẹ trong quá trình mang thai và sinh con Trong khi Ďó, các yếu
tố gián tiếp liên quan Ďến quá trình làm mẹ như: Ďộ tuổi, học vấn, nghề nghiệp của người mẹ, giới tính của con, Ďặc Ďiểm của trẻ lúc mới sinh, cấu trúc gia Ďình, việc kiêng cữ sau sinh, không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong sự thích ứng với vai trò làm mẹ
Trong 7 yếu tố dự báo (phân tích bằng mô hình hồi quy Ďơn biến và Ďa biến) Ďến thích ứng với vai trò làm mẹ, yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất Ďến sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh là: sự hài lòng của người mẹ về trẻ, tiếp Ďó
Trang 19là sự phát triển của trẻ, sự chuẩn bị trước khi sinh và nguồn lực hỗ trợ trong quá trình làm mẹ Trong khi Ďó, sự giúp Ďỡ của người chồng hay những Ďối tượng xung quanh cũng như những dấu hiệu của trầm cảm sau sinh không phải là yếu tố ảnh hưởng nhiều Ďến sự thích ứng này
Những kết quả của luận án Ďã giúp tác giả Ďưa ra những khuyến nghị phù hợp Ďối với các chị em phụ nữ Ďang thời kì mang thai và sau sinh, Ďối với gia Ďình và cộng Ďồng của họ cũng như Ďội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cũng như lĩnh vực chính sách, truyền thông Cụ thể, luận án Ďã Ďưa ra những bằng chứng Ďể tăng cường sự thích ứng thì trước hết các bà mẹ, cần phải chuẩn bị chu Ďáo trước cuộc sinh con và tăng cường sự tôn trọng Ďặc Ďiểm của trẻ; gia Ďình và cộng Ďồng cần tích cực quan tâm Ďến các bà mẹ mới sinh, không chỉ là các chăm lo
về vật chất mà việc hỗ trợ tinh thần còn cần thiết hơn
Đề tài cũng gợi mở một số vấn Ďề cần Ďược tiếp tục mở rộng trong các nghiên cứu tiếp theo như: sự thích ứng với vai trò làm mẹ trong các thời kì làm mẹ (nghiên cứu theo chiều dọc), sự thích ứng với vai trò làm mẹ ở phụ nữ sau sinh có Ďặc Ďiểm Ďặc biệt như sinh con sớm hoặc lớn tuổi, mối quan hệ giữa Ďặc Ďiểm nhân cách và thích ứng với vai trò làm mẹ,
Nghiên cứu về thích ứng vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh có thể Ďược dùng như một tài liệu học tập cho sinh viên trong lĩnh vực Tâm lí học Xã hội và Tâm lí học Tham vấn, Tâm lí học Gia Ďình
9 Cấu trúc của luận án
Sau phần mở Ďầu là 4 chương nội dung của luận án:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÍCH ỨNG
VỚI VAI TRÒ LÀM MẸ CỦA PHỤ NỮ SAU SINH
Các tài liệu cho thấy từ thế kỉ XIV - XVIII, các nhà nghiên cứu cho rằng việc trở thành cha mẹ Ďã Ďược xem là quá trình chuyển Ďổi Ďầy khó khăn và lo lắng [34] Nhưng phải Ďến những năm 50 của thế kỷ XX thì vấn Ďề này mới Ďược nghiên cứu một cách mạnh mẽ, nhiều nhất là ở Mỹ, Anh và Australia [85] [42]
Quá trình tổng quan tài liệu cho thấy các nghiên cứu về thích ứng với vai trò làm mẹ không có sự mâu thuẫn, Ďối lập nhau về cách tiếp cận Sự khác biệt của các nghiên cứu là ở việc nhấn mạnh Ďến vấn Ďề nào trong sự thích ứng với vai trò làm
mẹ Căn cứ vào sự khác biệt Ďó, có thể chia các nghiên cứu về thích ứng với vai trò làm mẹ của các tác giả trên thế giới theo 4 hướng nghiên cứu sau:
1.1 Hướng nghiên cứu về các chỉ báo thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh
Hướng nghiên cứu này tập trung trả lời câu hỏi: Sự thích ứng của phụ nữ sau sinh với vai trò làm mẹ Ďược biểu hiện ở những khía cạnh nào?
Mercer Ramona là một trong các tác giả Ďược nhắc tới nhiều nhất theo hướng tiếp cận này Từ nhiều công trình nghiên cứu khác nhau trong khoảng hơn 20 năm, Mercer Ďã xác Ďịnh các chỉ báo của thích ứng với vai trò làm mẹ và xây dựng nên lí thuyết thích ứng với vai trò làm mẹ (Maternal role Attainment - MRA) Trong mô hình thích ứng với vai trò làm mẹ MRA, Mercer (1991) Ďã Ďưa ra các chỉ báo cho
sự thích ứng thành công với vai trò làm mẹ, bao gồm: sự tự tin, sự hài lòng, sự chấp nhận, khả năng linh hoạt, thái Ďộ với việc chăm sóc trẻ, mối quan hệ gắn bó Cho Ďến nay, Mercer là người Ďầu tiên và duy nhất xây dựng lí thuyết về thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh Lí thuyết của Mercer có ý nghĩa Ďối với cả lĩnh
vực nghiên cứu và thực hành tại nhiều quốc gia trên thế giới [29]
Trong một nghiên cứu tổng quan lí luận, tác giả Fouquier F K (2013) phát hiện
ra rằng từ 1975 - 2007 có 25 trong 212 bài báo công bố nghiên cứu về thích ứng làm mẹ Ďã sử dụng lí thuyết MRA của Mercer Trong Ďó có 9 công trình nghiên cứu
về lí thuyết, 11 bài công bố về các yếu tố ảnh hưởng tới thích ứng với vai trò làm
mẹ và 6 bài mô tả mối quan hệ gắn bó - một trong những thành tố của MRA [62]
Trang 21Trong số các nghiên cứu Ďã ứng dụng mô hình thích ứng với vai trò làm mẹ (Maternal role Attainment - MRA) của Mercer, công trình Ďược biết Ďến nhiều nhất
là cuốn sách “Thích ứng tâm lí với thai kì - 7 khía cạnh của sự phát triển vai trò
làm mẹ” (Psychosocial Adaptation to Pregnancy Seven Dimensions of Maternal
Role Development) của nhóm tác giả Regina Lederman và Karen Weis (2009) Cuốn sách là tập hợp kết quả từ các công trình nghiên cứu của hai tác giả từ năm
1981 cho Ďến những năm 2006 Từ kết quả của ba công trình nghiên cứu, hai tác giả
Ďã khái quát nên 7 khía cạnh của sự thích ứng với vai trò làm mẹ, bao gồm: Sự chấp nhận thai nhi; Xác Ďịnh vai trò làm mẹ; Mối quan hệ của thai phụ với mẹ của mình; Mối quan hệ của thai phụ với chồng; Sự chuẩn bị sinh nở; Nỗi sợ Ďau và sợ mất kiểm soát trước khi sinh và Lo ngại suy giảm sự tự tin sau sinh Đặc biệt Ďối với giai Ďoạn sau sinh, Regina & cs cho rằng sự tự tin và sự hài lòng của người mẹ là chỉ báo cho sự thích ứng với vai trò làm mẹ [111]
Khi xem xét thích ứng của phụ nữ sau sinh theo lí thuyết MRA, các tác giả thường coi các biểu hiện của thích ứng gồm sự hài lòng với vai trò làm mẹ, sự tự tin
về năng lực làm mẹ và mối quan hệ gắn bó mẹ - con Đồng thời, các tác giả cũng Ďưa
ra biến số ảnh hưởng tới sự thích ứng như: Ďặc Ďiểm của người mẹ (tuổi, tình trạng hôn nhân, sự căng thẳng, sự tự tin dựa vào kinh nghiệm, Ďánh giá của người mẹ về trải nghiệm sinh nở, trạng thái tâm lí và Ďặc trưng nhân cách), Ďặc Ďiểm của trẻ (tính khí, tình trạng sức khỏe), sự hỗ trợ xã hội và những căng thẳng trong cuộc sống [62] Ngoài các chỉ báo về sự thích ứng với vai trò làm mẹ do Mercer xây dựng, một
số tác giả khác khi nghiên cứu về thích ứng với vai trò làm mẹ ở thời kì sau sinh có Ďưa ra một số biểu hiện khác Ví dụ, tác giả Alphonso (1981) cho rằng phụ nữ sau sinh cần thích ứng sau sinh với 5 lĩnh vực: hoạt Ďộng hàng ngày, quá trình chuyển
dạ và sinh con, tương tác mẹ - con, hoạt Ďộng xã hội và tự Ďánh giá của phụ nữ sau sinh [dẫn theo 76] Một số tác giả khác Ďã áp dụng mô hình thích ứng Callista Roy - một mô hình Ďược sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác Theo Roy, sự thích ứng của cá nhân chịu ảnh hưởng bởi Ďặc Ďiểm của 4 yếu tố của mỗi cá nhân: chức năng sinh học, sự nhận thức, các vai trò xã hội mà người Ďó Ďảm nhận và mối quan hệ tương tác với người khác Kết quả của
Trang 22quá trình này là sự thích ứng hiệu quả hoặc không Tulman L & Fawcett J.(2003), Weiss M (2009) Ďã sử dụng mô hình thích ứng của Roy Ďể xem xét sự thích ứng của phụ nữ ở các khía cạnh: sức khỏe thể chất và tâm lí xã hội, trạng thái chức năng
và các mối quan hệ gia Ďình Trong khía cạnh sức khỏe tâm lí xã hội, tác giả có Ďưa
ra các chỉ số thuộc về sự tự nhận thức của người phụ nữ như sự chấp nhận, sự thỏa mãn, sự tự tin và những cảm giác sợ hãi, mất kiểm soát [127], [132]
Như vậy, dù diễn Ďạt bằng nhiều thuật ngữ khác nhau và chưa có sự thống nhất giữa các tác giả về chỉ báo thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh, nhưng nhìn chung, những biểu hiện thường Ďược Ďề cập nhất khi nói Ďến thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh là: sự hài lòng với vai trò làm mẹ, có năng lực làm mẹ biểu hiện qua sự tự tin và sự tương tác mẹ - con (Flagler, 1990; Fowles, 1996; Mercer, 1985b, 1986b; Tarkka, 2003; Walker & cs, 1986a, 1986b) [dẫn theo 131, tr18]
Trong ba khía cạnh của thích ứng với vai trò làm mẹ (hài lòng, tự tin, mối quan
hệ gắn bó), một số tác giả Ďặc biệt quan tâm tới mối quan hệ gắn bó mẹ - con sớm Theo nhận Ďịnh của Diane Benoit (2004), lí thuyết gắn bó là một trong những lí thuyết phổ biến nhất và Ďược thực nghiệm có liên quan Ďến việc làm mẹ Gắn bó mẹ
- con là một khía cạnh cụ thể của mối quan hệ giữa trẻ và người mẹ với mục Ďích làm cho trẻ cảm thấy an toàn và Ďược bảo vệ Để hình thành Ďược mối quan hệ gắn
bó, người mẹ phải thiết lập Ďược hệ thống hành vi Ďáp ứng vai trò làm mẹ [39] Bên cạnh các nghiên cứu Ďi sâu vào mối quan hệ gắn bó mẹ - con hay hành vi Ďáp ứng từ phía người mẹ Ďể Ďảm bảo mối quan hệ gắn bó thì có một số tác giả Ďi sâu nghiên cứu về năng lực làm mẹ (maternal competence) phản ánh bằng kiến thức
và kĩ năng nuôi dạy con Đánh giá thích ứng với vai trò làm mẹ ở khía cạnh năng lực làm mẹ, các nhà nghiên cứu Ďưa ra chỉ báo sự tự tin hay tự hiệu quả (theo cách gọi của Bandura) [118]
Tóm lại, ở cách tiếp cận các chỉ báo hay kết quả của quá trình thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh, các nhà nghiên cứu Ďã Ďưa ra khá nhiều biến số, nổi bật lên là sự hài lòng của người mẹ, sự tự tin về năng lực làm mẹ và mối quan hệ gắn bó giữa người mẹ và trẻ sơ sinh
Trang 231.1.2 Hướng nghiên cứu về quá trình thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh
Trong hướng tiếp cận này, các tác giả coi việc làm mẹ là một quá trình phát triển tâm lí - xã hội của cá nhân người mẹ Dù về mốc thời gian của quá trình này không Ďược các tác giả thống nhất, song Ďiểm chung giữa các nghiên cứu là quá trình thích ứng Ďược chia thành nhiều giai Ďoạn và sự thích ứng thành công có nghĩa
là người mẹ hình thành Ďược một bản sắc mới - bản sắc làm mẹ Trong hướng nghiên cứu này có hai quan Ďiểm tiếp cận: Quan Ďiểm coi trọng yếu tố cá nhân và quan Ďiểm coi trọng yếu tố xã hội
Theo quan Ďiểm tiếp cận cá nhân về quá trình thích ứng với vai trò làm mẹ, Reva Rubin (1984) cho rằng: Đối với phụ nữ, mang thai và sinh con là một sự kiện kích thích sự thích nghi bản sắc làm mẹ, gây ra sự tái tổ chức quan hệ và thúc Ďẩy
sự trưởng thành cá nhân [dẫn theo 49] Rubin cho rằng quá trình thích ứng với vai trò làm mẹ bắt Ďầu hình thành từ khi người phụ nữ mang thai và Ďạt Ďược ở tuần thứ
6 sau sinh Sự thích ứng này bao gồm các quá trình: bắt chước, sắm vai, tưởng tượng, phóng chiếu và xác Ďịnh bản sắc Ban Ďầu, người phụ nữ tìm kiếm thông tin, tìm kiếm hình mẫu - quan sát và bắt chước, thêm hoặc bớt những gì từ quan sát hành vi người khác; sau Ďó họ tưởng tượng, xây dựng hình ảnh bản thân với vai trò làm mẹ [dẫn theo 95, tr2-3] Theo Rubin, việc Ďạt Ďược vai trò làm mẹ chia thành 3 giai Ďoạn: 1/Giai Ďoạn ―Nhập cuộc‖ (diễn ra trong khoảng 1-2 ngày sau sinh): Ở giai Ďoạn này, người mẹ còn thụ Ďộng và phụ thuộc; 2/Giai Ďoạn ―Nắm giữ‖ (từ ngày thứ 3 cho tới khoảng 6 tuần sau sinh): Đây là giai Ďoạn người mẹ dần tự tin và cảm thấy quen thuộc với vai trò làm mẹ và 3/Giai Ďoạn ―Trình diễn‖ (từ 6 tuần sau sinh trở Ďi): Người mẹ hiện thực hóa vai trò làm mẹ của mình [dẫn theo 108, tr7] Mercer (2004) cũng chịu ảnh hưởng của từ cách tiếp cận của Rubin, tác giả không tính tới yếu tố văn hóa khi xem xét sự thích ứng của phụ nữ sau sinh Mercer phân chia quá trình thích ứng làm mẹ thành các giai Ďoạn: 1/Giai Ďoạn chuẩn bị và sẵn sàng khi mang thai; 2/Giai Ďoạn phục hồi sức khoẻ, học tập và tăng cường sự gắn bó; 3/Giai Ďoạn tiến tới trạng thái ―bình thường mới‖ trong thời gian 2 tháng Ďầu tiên và 4/Giai Ďoạn Ďạt Ďược bản sắc làm mẹ (từ khoảng 4 tháng trở Ďi) [dẫn theo 108]
Trang 24Khác với quan Ďiểm tiếp cận ở góc Ďộ cá nhân, quan Ďiểm xã hội về thời kì làm
mẹ tin rằng chất lượng kinh nghiệm của người mẹ phụ thuộc vào cách thức trong Ďó vai trò Ďược thể chế và Ďánh giá trong xã hội Trong cách tiếp cận này, yếu tố xã hội Ďược xem là tạo hình và ảnh hưởng tới kinh nghiệm làm mẹ của người phụ nữ Ví
dụ như kinh nghiệm thời thơ ấu có thể tác Ďộng Ďến sự thích ứng làm mẹ [35]
Từ quan Ďiểm tiếp cận xã hội, tác giả Barlow (1997) Ďã khẳng Ďịnh: Làm mẹ - là một trải nghiệm tâm lí, bao gồm: (1) Giai Ďoạn ―Ďính ước‖ tương Ďương với năm Ďầu làm mẹ; (2) Giai Ďoạn ―Nhập cuộc‖ từ sau một năm trở Ďi Trong giai Ďoạn Ďầu tiên (1 năm Ďầu), Barlow chỉ ra có 4 quá trình tâm lí diễn ra:
- Hình thành các ý tưởng làm mẹ: Việc quyết Ďịnh có con là một quá trình tâm
lí, ở Ďó chứa Ďựng yếu tố nội tâm, giá trị xã hội và yếu tố hôn nhân Yếu tố nội tâm
có liên quan sâu sắc Ďến kinh nghiệm cá nhân Những phụ nữ ảnh hưởng bởi những kinh nghiệm thời thơ ấu tiêu cực, việc làm mẹ có ý nghĩa khắc phục quá khứ của họ
Họ mong muốn tạo ra một cấu trúc gia Ďình mới khác với gia Ďình gốc của mình Việc có con là tăng giá trị xã hội của họ cũng là một yếu tố ảnh hưởng Ďến sự thích ứng với vai trò làm mẹ Ngoài ra, yếu tố hôn nhân, chẳng hạn như Ďánh giá khả năng làm cha của người Ďàn ông (bao gồm trình Ďộ giáo dục, thu nhập và Ďộng lực cho việc làm bố của họ) cũng tham gia vào quá trình hình thành ý tưởng làm mẹ
- Xây dựng biểu tưởng người mẹ: Từ kinh nghiệm về việc làm mẹ mà người
phụ nữ Ďã thu thập Ďược, người phụ nữ xây dựng nên một biểu tượng làm mẹ cho riêng mình
- Sẵn sàng với hoàn cảnh sống mới: Tất cả các mặt của Ďời sống tâm lí như tình
cảm, nhận thức và hành vi của người mẹ Ďều hướng Ďến hoàn cảnh sống mới với một ý thức mạnh mẽ về trách nhiệm Ďối với con
- Quá trình xã hội hóa bản thân: Những người phụ nữ Ďã có mẫu cha mẹ tiêu
cực thường dễ cảm thấy bị tổn thương và việc nuôi dạy con thách thức hơn Họ sử dụng chiến lược phát triển Ďồng cảm, coi những ký ức của mình như lời nhắc nhở
Ďể làm mẹ tốt hơn Ngoài ra, phụ nữ tích cực mở rộng kiến thức của mình, tham khảo ý kiến về con nuôi từ gia Ďình hay những khóa học,… [35]
Trang 25Như vậy, quá trình thích ứng làm mẹ theo Barlow chịu ảnh hưởng xuyên suốt bởi các giá trị xã hội, kinh nghiệm xã hội về việc làm mẹ từ quá khứ Ďến hiện tại của PNSS
Cả hai cách tiếp cận cá nhân hay xã hội về quá trình thích ứng với vai trò làm
mẹ trên Ďều bổ sung, hỗ trợ nhau, giúp chúng ta có thể hiểu Ďược quá trình thích ứng Ďó diễn ra như thế nào, bắt Ďầu từ Ďâu và trải qua những giai Ďoạn nào
Cho Ďến nay, các nghiên cứu về những mốc thời gian Ďể Ďánh dấu sự thích ứng của phụ nữ sau sinh với vai trò làm mẹ hay việc Ďạt Ďược bản sắc làm mẹ vẫn chưa thống nhất Hầu hết các tác giả Ďều cho rằng quá trình thích ứng với vai trò làm mẹ Ďược bắt Ďầu từ thời kì mang thai cho tới sau sinh nhưng không có sự thống nhất về mốc thời gian
Smith (1999) cho rằng quá trình thích ứng làm mẹ như sau: 3 tháng Ďầu mang thai là thời kì không chắc chắn; 6 tháng mang thai cho thấy sự thay Ďổi tự nhận thức, người mẹ rút lui khỏi thế giới công cộng; 9 tháng mang thai là giai Ďoạn người
mẹ chú ý bên ngoài, lo lắng về sự sinh nở và 5 tháng sau sinh người mẹ xác Ďịnh những ưu tiên và Ďạt Ďược sự thích ứng với vai trò làm mẹ [dẫn theo 118, tr84] Wright và cs (2000) cho rằng sự thích ứng làm mẹ thường Ďạt Ďược trong khoảng thời gian từ 9 tháng - 1 năm sau sinh Thời Ďiểm từ 3-9 tháng sau sinh Ďược xem là ―thời kì dữ dội‖ của quá trình Ďảm nhận vai trò làm mẹ Pickens (1982) và Millward (2006) thì khẳng Ďịnh thời Ďiểm Ďạt Ďược sự thích ứng làm mẹ phải từ sau
2 tháng trở lên Trong Ďó, Picken mô tả quá trình này bằng một loạt các hoạt Ďộng của người mẹ: rà soát, dự kiến, lên kế hoạch, tính toán chi phí, lượng hóa và Ďánh giá [dẫn theo 118, tr85]
Tóm lại, ở cách tiếp cận này cho thấy thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh không phải là một hiện tượng tâm lí có ngay sau khi người phụ nữ sinh con
mà cần có một quá trình Ďể Ďạt Ďược Quá trình thích ứng với vai trò làm mẹ diễn ra theo các giai Ďoạn khác nhau, mỗi giai Ďoạn có một nhiệm vụ cũng như thành tựu riêng Mặc dù các tác giả không thống nhất về mặt thời gian cho quá trình thích ứng với vai trò làm mẹ nhưng nhìn chung, người phụ nữ Ďạt Ďược vai trò làm mẹ sau ít nhất vài tháng
Trang 261.1.3 Hướng nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe tâm thần của phụ nữ sau sinh
Nghiên cứu về thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh Ďược các nhà tâm lí học tập trung nhiều hơn Ďến trạng thái tâm lí của phụ nữ sau sinh với hai thái cực: tích cực và tiêu cực Trong Ďó, các nghiên cứu về trải nghiệm tâm lí sau sinh có khuynh hướng nhấn mạnh Ďến mặt tiêu cực nhiều hơn mặt tích cực
Ở khía cạnh tích cực, nhóm tác giả Johannes H & cs (2010) trong một nghiên cứu về tác Ďộng của việc sinh con Ďến cấp Ďộ và nội dung của trạng thái tinh thần của phụ nữ sau sinh Kết quả cho thấy sự xuất hiện của trẻ sơ sinh không ảnh hưởng Ďến mức Ďộ hạnh phúc của phụ nữ nhưng có sự thay Ďổi về yếu tố tạo nên cảm nhận hạnh phúc Các bà mẹ cho biết có sự thay Ďổi tích cực trong tương tác với các thành viên trong gia Ďình nhờ vào sự quan tâm và chia sẻ việc chăm sóc trẻ từ người thân [81]
Ở một nghiên cứu khác, tác giả Green Josephine & cs (2007) khẳng Ďịnh rằng: Ďối với hầu hết phụ nữ, việc trở thành một người mẹ là một trải nghiệm tích cực Trong Ďó 79% tự hào vì là một người mẹ trong khi 72% không có sự thất vọng về làm mẹ [69]
Trong khi Ďó, mô tả về cảm xúc tiêu cực của phụ nữ sau sinh, Javadifar Nahid
và cs (2016) sử dụng bốn cụm từ: ―thiếu chuẩn bị”, “kiểm soát kém”, “cảm xúc làm
mẹ không trọn vẹn” và “mối quan hệ không ổn định‖ Sự xung Ďột nội tâm xuất
hiện trong mọi khía cạnh cảm xúc của người mẹ và tạo ra một trải nghiệm khó chịu cho tâm lí của họ [79] Tác giả George (2005) phát hiện ra rằng ở những bà mẹ sinh con lần Ďầu, họ cảm thấy bị choáng ngợp sau khi sinh con Sự thiếu chuẩn bị khiến
họ cảm thấy Ďây là thời kì nhiều trách nhiệm và dễ bị tổn thương Các bà mẹ phải
vật lộn với cảm giác ―bị kiệt sức”, “không khỏe”, “bị cô lập” trong quá trình thích
ứng với hoàn cảnh mới [66]
Ngoài những nghiên cứu về trạng thái tâm lí (tích cực hoặc tiêu cực) nói chung,
có nhiều tác giả Ďi sâu nghiên cứu về các rối loạn tâm lí thường gặp của các bà mẹ ở
giai Ďoạn này, nhiều nhất là rối loạn stress, trầm cảm và lo âu sau sinh
Stress sau sinh và ứng phó
Tác giả Fei-Ngai & cs (2012) khẳng Ďịnh stress sau sinh là một vấn Ďề xuất hiện
ở bất cứ nền văn hóa nào Nhóm tác giả Groer, Davis & Hemphill (2002) cho rằng:
Trang 27thời kỳ sau sinh như là một thời Ďiểm của niềm vui và sự hài lòng nhưng cũng là một thời kì dễ bị tổn thương và Ďôi khi Ďó là một cuộc khủng hoảng Các bà mẹ Ďã trải nghiệm rất nhiều căng thẳng sau sinh có nguy cơ Ďe dọa tới hạnh phúc của mình
và trẻ [dẫn theo 80, tr1]
Khi nghiên cứu các tác nhân gây stress cho các bà mẹ mới sinh, tác giả Gronowizt (2009) cho rằng stress sau sinh có thể do: Khó khăn/lo lắng trong việc Ďạt Ďược vai trò làm mẹ (lo lắng việc trẻ bị ốm, trẻ khóc, lo lắng việc nôn trớ của con, lo lắng con không thích ứng Ďược khi chuyển từ bú mẹ sang sữa công thức, lo lắng là con có thể ngừng thở); thiếu sự hỗ trợ xã hội (sự chấp nhận của chồng về Ďứa trẻ, chi phí gia Ďình tăng lên, chọn một cái tên thích hợp cho con); những thay Ďổi cơ thể (rạn bụng, thức Ďêm, ngủ không Ďủ) [70]
Horowitz & D'Amato (1999) Ďã xác Ďịnh bốn lí do chính: vai trò mới, nhiệm vụ mới, khó khăn về nguồn lực và khó khăn trong các mối quan hệ [dẫn theo 52, tr1] Maureen (2002) khẳng Ďịnh stress trong thời gian sau sinh có thể xuất phát từ vấn
Ďề sinh lí, nội tâm và tương tác giữa các cá nhân Tác nhân stress từ thể chất có thể
ở nhiều triệu chứng có thể có trong thời gian hậu sản như: Ďau tức ở vú, bệnh trĩ, các vấn Ďề tiêu hóa, các triệu chứng Ďường hô hấp, vấn Ďề về giấc ngủ và vấn Ďề về tình dục Tác nhân stress từ nội tâm biểu hiện qua sự căng thẳng có thể Ďến từ mối
lo ngại về cân nặng, các triệu chứng của trầm cảm Tác nhân stress từ sự tương tác xuất hiện qua sự thay Ďổi trong mối quan hệ hôn nhân, mối quan hệ nghề nghiệp và các mối quan hệ khác [dẫn theo 52]
Như vậy, sau sinh là thời Ďiểm người phụ nữ phải Ďối mặt với nhiều tác nhân có thể gây stress cho họ Do Ďó, Ďể thích ứng với vai trò làm mẹ, họ phải ứng phó Ďược với stress Ứng phó với stress là một quá trình trong quá trình thích ứng với vai trò làm mẹ của PNSS Một số tác giả Ďã Ďi sâu nghiên cứu về quá trình ứng phó với stress sau sinh Theo Emmanuel E (2005), quá trình ứng phó Ďể thích ứng làm mẹ gồm bốn giai Ďoạn:
- Phản ứng stress sau sinh là một phản ứng không Ďặc hiệu với một nhu cầu bên trong hay bên ngoài của cơ thể, từ Ďó có thể có một ảnh hưởng tốt hay xấu;
Trang 28- Phản ứng thích ứng sau sinh Ďòi hỏi người phụ nữ phải thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng: duy trì sự toàn vẹn của bản thân và gia Ďình, Ďồng thời nỗ lực Ďưa trẻ vào các hệ thống của bản thân và gia Ďình;
- Phản ứng kiểm soát chức năng sau sinh: người phụ nữ có thể duy trì hoạt Ďộng bình thường của mình, bao gồm: chăm sóc bản thân và trẻ, chăm sóc gia Ďình, hoạt Ďộng nghề nghiệp và các hoạt Ďộng khác của cuộc sống sau sinh; việc Ďạt Ďược và duy trì kiểm soát các chức năng là một yếu tố quan trọng Ďể thích ứng tâm lí-xã hội của phụ nữ sau sinh Khi người mẹ Ďạt Ďược sự kiểm soát chức năng họ sẽ cảm thấy
tự chủ và hài lòng với sự kiện sinh nở
- Phản ứng kết nối: Kết nối cung cấp một cảm giác về ý nghĩa, hạnh phúc và giá
trị Một người phụ nữ cảm thấy cảm xúc bị ngắt kết nối khi cô ấy không cảm thấy chấp nhận, Ďược yêu thương, cảm thấy có ích và Ďược tôn trọng [57]
Trên thực tế, PNSS có hai khuynh hướng ứng phó tích cực và tiêu cực Về ứng phó tích cực, tác giả DeMeis và Perkins (1996) cho rằng phản ứng ứng phó với stress sau sinh phổ biến nhất là giảm các nhiệm vụ Các bà mẹ thiết lập chiến lược
ưu tiên cho các hoạt Ďộng và nhiệm vụ nhất Ďịnh nhằm Ďạt Ďược các mục tiêu quan trọng nhất Một số tác giả khác như Elman & Gilbert (1984), Gilbert, Holahan & Manning (1981); Hall (1979), Kenney (2000) phát hiện ra rằng: nhiều phụ nữ sau sinh coi việc gia tăng hành vi hiện thực hóa vai trò là một chiến lược hiệu quả nhất [dẫn theo 91] Một số tác giả khác tập trung khai thác khả năng ứng phó của phụ nữ sau sinh ở từng hành Ďộng cụ thể Ví dụ, nghiên cứu của Deave và cs (2008) tập trung vào việc tăng thời gian giao tiếp giữa vợ chồng nhằm giảm sự căng thẳng; còn George (2005) lại khuyến khích những bà mẹ lần Ďầu ở Mỹ ở việc quản lí, lập kế hoạch và lên chiến lược ứng phó Trong khi nghiên cứu của Razurel và cs (2009) chỉ ra rằng các bà mẹ ứng phó với thời kì sau sinh bằng cách gia tăng sự hỗ trợ xã hội và phát huy nguồn lực cá nhân sẽ hiệu quả hơn [dẫn theo 52, tr30]
Bên cạnh xu hướng ứng phó tích cực, nghiên cứu của Chasteen và Kissman (2000) lại tìm thấy một số các chiến lược ứng phó thiếu lành mạnh ở PNSS như sử dụng rượu hoặc dùng ma túy, ăn quá nhiều, trầm buồn hoặc có hành vi thụ Ďộng Ngoài ra, các bà mẹ có chiến lược ứng phó không lành mạnh thường dẫn Ďến căng thẳng hơn do họ quá cầu toàn, ít tự tin vào năng lực làm mẹ của mình [dẫn theo 93]
Trang 29Bên cạnh các nghiên cứu về ứng phó với riêng stress sau sinh thì một số tác giả
Ďã áp dụng lí thuyết ứng phó với các sự kiện stress nói chung Ďể nghiên cứu về ứng phó với stress sau sinh Trong Ďó, lí thuyết về phong cách ứng phó với stress của Lazarus và Folkman là một trong các lí thuyết Ďược áp dụng nhiều nhất Ďể nghiên cứu về ứng phó với stress sau sinh Các tác giả sử dụng mô hình này Ďể chỉ ra các phong cách ứng phó, chiến lược ứng phó của phụ nữ sau sinh với stress Kết quả cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa kiểu ứng phó (bao gồm: né tránh, tập trung vào vấn Ďề, tập trung vào cảm xúc) với mức Ďộ stress và sự thích ứng của phụ
nữ sau sinh [dẫn theo 83], [dẫn theo 82]
Trầm cảm, lo âu sau sinh
Hầu hết các nghiên cứu về thời kì sau sinh chỉ ra rằng nếu stress không Ďược giải quyết các bà mẹ sẽ rơi vào trầm cảm hoặc rối loạn sau sang chấn
Tỉ lệ mắc trầm cảm sau sinh không thống nhất trong các nghiên cứu Trong nghiên cứu của Yonkers & cs (2001), khoảng 37% bà mẹ mới sinh có nguy cơ bị trầm cảm nhưng chỉ có khoảng 10% người tham gia nghiên cứu của Fowles (1998)
có nguy cơ này Nghiên cứu của Gaynes & cs (2005) Ďưa ra tỉ lệ mắc trầm cảm chỉ
là 1,0% - 5,9% cho các bà mẹ trong vòng một năm sau khi sinh [dẫn theo 45] Khi một người bị trầm cảm cuộc sống của họ sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực Fowles
E (1998) nghiên cứu trên các bà mẹ sinh con lần Ďầu trong vòng 9-14 tuần sau sinh cho thấy trầm cảm sau sinh thể hiện một mối quan hệ tiêu cực Ďáng kể với việc thích ứng với vai trò làm mẹ với hệ số tương quan âm tính [63] Tác giả Posmontier Barbara (2008) tiến hành so sánh giữa 23 phụ nữ sau sinh bị trầm cảm (Ďược xác Ďịnh bằng phỏng vấn lâm sàng) và 23 phụ nữ không có các triệu chứng này trong khoảng thời gian từ 6-26 tuần sau sinh cho thấy phụ nữ sau sinh bị trầm cảm có Ďược kết quả thấp hơn so với nhóm phụ nữ sau sinh không bị trầm cảm về trạng thái chức năng trong hoạt Ďộng cá nhân trong công việc nhà và hoạt Ďộng xã hội nhưng không khác biệt về sự chăm sóc trẻ [109] Tác giả Aktan (2012) cũng nghiên cứu về trạng thái chức năng tại 6 tuần sau sinh của các bà mẹ Ďã phát hiện ra rằng có mối tương quan Ďáng kể giữa lo âu và trạng thái chức năng sau sinh [31]
Trang 30Báo cáo của Bassi M (2017) cho thấy có mối tương quan nghịch có ý nghĩa giữa trầm cảm và cảm nhận hạnh phúc của phụ nữ sau sinh [37] Nghiên cứu của Fonseca & cs (2017) cho thấy các bà mẹ có triệu chứng trầm cảm thể hiện trạng thái rối loạn chức năng trong thời kì làm mẹ, họ thường xuyên có suy nghĩ tiêu cực hơn
và lòng từ bi thấp hơn [61]
Barr J A (2008) phát hiện ra rằng những bà mẹ bị TCSS trở nên ―mắc kẹt‖ trong quá trình làm mẹ Do Ďó, sự thích ứng với vai trò làm mẹ của họ bị trì hoãn thể hiện ở việc họ không Ďủ năng lực Ďể có các kĩ năng làm mẹ, thiếu sự gắn bó mẹ
- con Mặc dù, các bà mẹ bị trầm cảm vẫn tiếp tục công việc chăm sóc trẻ sơ sinh nhưng có thể thấy Ďó là một sự chăm sóc một cách ―cơ học‖ [36]
Tóm lại, có thể nói rằng, sinh con là một sự kiện stress cho nên, Ďể thích ứng Ďược với vai trò làm mẹ, người phụ nữ sau sinh phải thực hiện Ďược chiến lược ứng phó stress sau sinh hiệu quả Nếu thất bại, người phụ nữ có nguy cơ gặp phải các rối loạn tâm thần như stress, trầm cảm, lo âu, Các rối loạn tâm thần xuất hiện sẽ ảnh hưởng tiêu cực Ďến việc thích ứng hay nói cách khác là con Ďường thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh sẽ thất bại
1.1.4 Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với vai trò làm
mẹ của phụ nữ sau sinh
Ở ba hướng tiếp cận trên, các tác giả thường xem xét các yếu tố ảnh hưởng (cả tích cực và tiêu cực) Ďối với sự thích ứng với vai trò làm mẹ Ngoài ra, cũng có một
số công trình chỉ tập trung nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng tới
sự thích ứng của phụ nữ sau sinh Nhìn chung, có thể khái quát các yếu tố ảnh hưởng tới sự thích ứng thành các nhóm như: Ďặc Ďiểm của trẻ, các Ďặc Ďiểm tâm lí
cá nhân của phụ nữ sau sinh; các Ďặc Ďiểm về nhân khẩu - xã hội và sự hỗ trợ xã hội Ďối với phụ nữ sau sinh trong quá trình làm mẹ
1.1.4.1 Sức khỏe và tính khí của trẻ
Các nghiên cứu chỉ ra rằng sự trưởng thành trẻ sơ sinh, phát triển, sức khỏe và trẻ sơ sinh là một yếu tố liên quan Ďến trải nghiệm làm mẹ của phụ nữ sau sinh Pelchat & cs (2004) tìm thấy sự khác biệt Ďáng kể trong kinh nghiệm nuôi dạy con cái giữa cha mẹ có trẻ sơ sinh bị hở hàm ếch hoặc hội chứng Down so với các cha mẹ có con có sức khỏe bình thường [dẫn theo 118]
Trang 31Flagler (1998), Takka (2003), Teti (1991) nhận thấy hành vi của trẻ ảnh hưởng Ďến việc người mẹ thiết lập mối quan hệ tương tác mẹ - con Một Ďứa trẻ Ďược miêu
tả là dễ nuôi thể hiện có nếp ăn, ngủ, sự thoải mái và thích ứng với tình huống mới thúc Ďẩy sự hài lòng của người mẹ Những Ďứa trẻ khó nuôi (thể hiện ở: tâm trạng hay thay Ďổi, khó dự Ďoán, không có nếp ăn, ngủ và khó có cảm giác thoải mái) Các tác giả báo cáo mối tương quan có ý nghĩa giữa Ďiểm số năng lực làm mẹ thấp, Ďiểm số lo âu cao ở những bà mẹ có con Ďược coi là ―khó nuôi‖ [dẫn theo 118] Trong nghiên cứu của Brenda (1982) thì không có sự khác biệt giữa nhóm phụ
nữ sinh con Ďủ tháng so với nhóm phụ nữ sinh con thiếu tháng tại 6 tuần sau sinh về khía cạnh Ďáp ứng khi sinh nở và năng lực làm mẹ [dẫn theo 33]
1.1.4.2 Các yếu tố nhân khẩu ảnh hưởng tới sự thích ứng với vai trò làm mẹ
Những biến nhân khẩu tác Ďộng Ďến sự thích ứng với vai trò làm mẹ thường Ďược Ďề cập Ďến là: tuổi, trình Ďộ học vấn, thu nhập… Kết quả tổng quan tài liệu cho thấy, các kết luận không có sự thống nhất giữa các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về sự ảnh hưởng của các biến nhân khẩu Ďến sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh
Loo K K & cs (2018) xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố nhân khẩu - xã hội
và tính khí của trẻ với sự tự tin của phụ nữ sau sinh Kết quả cho thấy trình Ďộ học vấn, tuổi tác, thu nhập, sự hài lòng với Ďiều kiện gia Ďình và giới tính của trẻ không liên quan với sự thích ứng của người mẹ [90] Nhưng theo nghiên cứu của Grossman và cs (1980) thì trong vòng 2 tháng sau sinh, phụ nữ có thu nhập cao hơn thì ít lo lắng hơn so với phụ nữ có thu nhập và trình Ďộ học vấn thấp hơn Phát hiện này cũng tương Ďồng với kết quả nghiên cứu của Robinson và cs (1989) khi cho rằng những gia Ďình có thu nhập cao hơn thì ít có trải nghiệm khủng hoảng hơn các gia Ďình có thu nhập thấp hơn Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Hobbs và Wimbish (1977), thu nhập gia Ďình không liên quan Ďến thích ứng với vai trò làm mẹ Thậm chí, LeMasters (1957) báo cáo rằng những phụ nữ sau sinh có ngành nghề Ďòi hỏi tính chuyên nghiệp cao lại bị khủng hoảng nghiêm trọng hơn
Việc sinh con lần Ďầu hay con thứ là một biến quan trọng trong nhóm yếu tố nhân khẩu, nó có mối quan tương quan với sự hỗ trợ xã hội, năng lực làm mẹ và sự
Trang 32thích ứng với việc sinh nở Về khía cạnh lâm sàng, những phụ nữ sinh con lần Ďầu căng thẳng hơn phụ nữ sinh con thứ Tuy nhiên, giả Ďịnh này không Ďược tất cả các nghiên cứu ủng hộ Walker & cs (1986) nhận thấy rằng phụ nữ Ďẻ con so kém tự tin hơn trong việc chăm sóc trẻ so với phụ nữ sinh con thứ tại 4-6 tháng sau sinh Nhưng theo Grossman và cs (1980), phụ nữ sinh con lần Ďầu chăm con chu Ďáo hơn phụ nữ sinh con thứ Theo Mercer & Ferkedch (1995), tại thời Ďiểm 12 tháng sau sinh, năng lực làm mẹ không có liên quan Ďến việc sinh con Ďầu hay con thứ [dẫn theo 105] Stewart (1990) nói rằng giai Ďoạn này có thể cũng phức tạp như giai Ďoạn
ra Ďời của Ďứa trẻ Ďầu lòng, hoặc thậm chí nhiều hơn, bởi vì nó không chỉ Ďòi hỏi việc tổ chức lại mối quan hệ hôn nhân mà cả việc làm mẹ hiện tại [122] Theo Goldberg và Michaels (1988) cho rằng việc chuyển Ďổi thứ hai này, tuy ít kịch tính nhưng lại phức tạp hơn Condon & Esuvaranathan (1990) phát hiện ra phụ nữ sinh con thứ có mức Ďộ căng thẳng cao hơn ở giai Ďoạn sau sinh Righetti-Veltema& cs (1998) Ďánh giá trầm cảm tại 3 tháng sau khi sinh cho thấy phụ nữ sinh con thứ có nguy cơ về sức khỏe tâm thần cao hơn Tương tự, Vliegen & cs (2006) Ďã xác minh, trong năm Ďầu tiên, những bà mẹ nhiều con báo cáo mức Ďộ trầm cảm cao hơn so với các bà mẹ có một con [dẫn theo 65, tr3] Theo Zadinsky (1992), các tác nhân stress gia Ďình và cuộc sống dự báo sự thích ứng của phụ nữ sinh con thứ, tuy nhiên, Ďối với phụ nữ sinh con so thì các yếu tố này không có khả năng dự báo Mercer & Ferkedch (1995) cho biết rằng phụ nữ sinh con thứ trải nghiệm chuyện sinh nở tích cực hơn phụ nữ sinh con so Điều này thể hiện phổ biến ở thời gian Ďau Ďẻ của phụ
nữ sinh con thứ thường ngắn hơn Grace (1993) nhận thấy phụ nữ sinh con thứ cũng hài lòng hơn với VTLM so với những phụ nữ sinh con Ďầu ở tháng thứ 6 sau sinh [dẫn theo 97, tr49] Shannon (2005) cũng phát hiện rằng phụ nữ Ďẻ con thứ tự tin hơn so với phụ nữ sinh con Ďầu lòng trong giai Ďoạn sau sinh mặc dù sự tự tin tăng lên theo thời gian ở nhóm phụ nữ sinh con Ďầu lòng và giảm theo thời gian Ďối với phụ nữ sinh con thứ Kapp (1998) nghiên cứu 104 phụ nữ sau sinh 2 tuần thì thấy sự khác biệt về mức Ďộ tự tin và quản lí cảm xúc giữa nhóm phụ nữ sau sinh sinh con Ďầu và nhóm phụ nữ sau sinh nhưng sau hai tuần thì sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê [dẫn theo 116]
Trang 33Về trình Ďộ học vấn, các tác giả nhận thấy trình Ďộ học vấn có tương quan thuận với mức Ďộ khủng hoảng sau khi sinh (LeMasters, 1957) và tương quan nghịch với
tự Ďánh giá của cha mẹ cũng như khả năng chăm sóc (Pridham, Lytton, Chang, & Rudedge, 1991) Trong khi Ďó, nghiên cứu của Curry (1983), Dyer (1963), Hobbs & Wimbish (1977) thấy rằng giáo dục không liên quan Ďến kinh nghiệm sinh nở cũng như không liên quan Ďến sự thích ứng làm mẹ Grossman & cs (1980) phát hiện mức Ďộ lo âu và trầm cảm thấp hơn ở những phụ nữ có trình Ďộ học vấn cao hơn Grace (1993) kết luận rằng người tốt nghiệp Ďại học dành nhiều thời gian tập trung vào trẻ sơ sinh của họ hơn so với PNSS không học Ďại học [dẫn theo 76, tr46] Nghiên cứu của Chevalier A & cs (2007) Ďã phát hiện vấn Ďề giáo dục có tương quan thuận với cân nặng của trẻ khi sinh ra [46] Sự ảnh hưởng tích cực của trình Ďộ học vấn Ďến sự thích ứng làm mẹ thường Ďược Ďánh giá ở hoạt Ďộng nuôi dưỡng và sức khỏe của trẻ Các tác giả cho rằng, PNSS có trình Ďộ học vấn cao sẽ có nhiều hiểu biết hơn về sự chăm sóc trẻ sơ sinh Ngoài ra, theo Chen Y và cs (2009) phụ
nữ sau sinh có học vấn cao cũng thường là người có chỉ số sức khỏe cao hơn và Ďiều này gián tiếp ảnh hưởng Ďến sự thích ứng làm mẹ [44]
Về tác Ďộng của những khóa Ďào tạo ngắn hạn Ďối với sự thích ứng với vai trò làm mẹ, Howe C.J (2002) nhận thấy những phụ nữ tham gia các lớp học về chăm sóc con cái thích việc nuôi dưỡng và dành thời gian cho con cái nhiều hơn so với những phụ nữ chưa từng tham gia lớp học nào [76, tr16]
Về Ďộ tuổi của người mẹ, nhiều nhà nghiên cứu (Dyer, 1963; Curry, 1983; Fowles, 1994; Hobbs, 1965; Pridham & cs, 1991) báo cáo rằng, tuổi tác không tương quan Ďáng kể với sự thích ứng của PNSS Ngược lại, nghiên cứu của Grossman (1980), Mercer (1986b) cho rằng tuổi tác mang lại lợi thế cho sự thích ứng của phụ nữ sau sinh - họ thấy rằng phụ nữ lớn tuổi dễ thích ứng hơn trong việc chăm sóc trẻ sơ sinh Russell (1974) cũng thấy rằng phụ nữ nhiều tuổi có sự hài lòng với việc làm mẹ hơn so với phụ nữ ít tuổi Mặt khác, nghiên cứu của Heinig (2006) cho thấy những bà mẹ trẻ tuổi Ďánh giá tích cực hơn về khả năng ứng phó với cuộc sống mới so với nhóm những bà mẹ lớn tuổi [dẫn theo 40]
Mercer (1985a; 1985b, 1986b) xem xét sự khác biệt trong vai trò làm mẹ cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa ba nhóm tuổi: nhóm dưới 20 tuổi,
Trang 34nhóm 20-29 tuổi và nhóm 30-42 tuổi Các bà mẹ ở lứa tuổi vị thành niên có ít nguồn lực tâm lí - xã hội Ďể thực hiện vai trò người mẹ nhưng họ lại có sự hài lòng lớn hơn trong vai trò làm mẹ ở tháng thứ 8 so với nhóm 20-29 tuổi và phụ nữ trong nhóm tuổi 30-42 Trong nhóm tuổi 30-42, những phụ nữ càng lớn tuổi thì họ càng
có sự hài lòng cao hơn) [dẫn theo 97]
Về Ďịa bàn sinh sống, Gronowitz C (2009) thấy rằng giữa hai nhóm phụ nữ sau sinh ở nông thôn và thành thị ở Thái Lan có sự khác biệt không Ďáng kể về mức Ďộ stress và tình trạng sức khỏe [70, tr1] Theo các nghiên cứu của y tế thì phụ nữ sau sinh ở thành thị có kiến thức nuôi dưỡng trẻ sơ sinh, khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em cao hơn phụ nữ sau sinh nông thôn dù sự chênh lệch không nhiều (Unicef, 2008 2014) [128]
Về cấu trúc gia Ďình, các bà mẹ Ďơn thân báo cáo mức Ďộ căng thẳng với vai trò làm mẹ cao hơn so với phụ nữ sau sinh có chồng Tuy nhiên, không có sự khác biệt giữa về sự căng thẳng giữa phụ nữ sau sinh có trải nghiệm gia Ďình bất ổn và những người có gia Ďình ổn Ďịnh [105] Copeland & Harbaugh (2004) nhận thấy rằng không có ý nghĩa thống kê sự khác biệt Ďáng kể giữa người mẹ kết hôn và người mẹ Ďộc thân Tuy nhiên, tổng Ďiểm số tổng thể về năng lực người mẹ Ďơn thân thấp hơn các phụ nữ sau sinh có chồng [dẫn theo 116]
Như vậy, các kết luận về sự ảnh hưởng của biến nhân khẩu Ďến thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh theo nhiều chiều phức tạp chứ không chỉ Ďơn giản, một chiều Các yếu tố nhân khẩu Ďược các tác giả quan tâm nhiều nhất là: lần sinh con, học vấn/giáo dục, Ďộ tuổi, Ďịa bàn sinh sống và cấu trúc gia Ďình
1.1.4.3 Các yếu tố tâm lí - xã hội ảnh hưởng tới sự thích ứng với vai trò làm mẹ
Có nhiều yếu tố tâm lí - xã hội bao gồm Ďặc Ďiểm tâm lí của người mẹ cũng như
sự hỗ trợ từ các mối quan hệ xung quanh của người mẹ Ďược xem là các yếu tố có ảnh hưởng Ďến việc thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh
Lòng tự trọng
Lòng tự trọng là một phần quan trọng trong tự nhận thức- Ďó là sự tự Ďánh giá
về bản thân: tốt, xấu hay trung bình của PNSS [38, tr1] Trong thực tế có hai cách xem xét về lòng tự trọng của phụ nữ sau sinh: một là xem xét lòng tự trọng nói
Trang 35chung, hai là lòng tự trọng liên quan Ďến việc làm mẹ Lòng tự trọng nói chung liên quan Ďến việc kết nối và hấp dẫn hơn trong mối quan hệ với người khác, tăng cường mức Ďộ hạnh phúc và sự hài lòng, Ďồng thời khiến cho cá nhân người Ďó mạnh mẽ hơn trong việc từ chối những hành vi nguy cơ và kháng cự lại bạo lực, bắt nạt… [38, tr2] Lòng tự trọng liên quan Ďến việc làm mẹ Ďược xem xét tương tự như sự tự tin về năng lực chăm sóc con và việc trở thành người mẹ [96]
Các nghiên cứu Ďều chỉ ra rằng lòng tự trọng là một yếu tố tâm lí ảnh hưởng Ďến sự thích ứng với vai trò làm mẹ của PNSS Tarkka (2003), Mercer & cs (1994, 1995) thấy rằng lòng tự trọng có ảnh hưởng tích cực Ďến sự thích ứng làm mẹ [dẫn theo 82, tr63] Một số tác giả Crawford (1984), Cronenwett (1985a, 1985b), Tinsley
& Parke (1984) cho rằng những phụ nữ sau sinh có lòng tự trọng thấp thường trải nghiệm sự xung Ďột vai trò và cảm giác mâu thuẫn trong việc thực hiện hành vi chăm sóc con [dẫn theo 114, tr4]
Tâm lí sẵn sàng trước sinh
Shereshefsky & Yarrow (1973) phát hiện ra rằng sự tự chấp nhận trước khi sinh (tâm lí sẵn sàng có con) có tương quan thuận với sự chấp nhận vai trò Ďáp ứng của người mẹ Ďối với con [dẫn theo 111, tr215]
Paris Bolton & Spielman (2011) phát hiện ra rằng phụ nữ trải qua trầm cảm thì
ít dành thời gian cho trẻ, cảm thấy tội lỗi và không hoàn thành vai trò làm mẹ, có mức Ďộ tự tin thấp và bị hạn chế khả năng hiểu về tín hiệu của trẻ trong quá trình giao tiếp Takka (2003) cho biết tâm trạng người mẹ là yếu tố dự báo quan trọng nhất của năng lực làm mẹ trong một nghiên cứu ở PNSS 8 tháng sau sinh Trong nghiên cứu của Ngai & Chan (2010) trầm cảm trước sinh cũng là một yếu tố dự báo
và có tương quan với năng lực làm mẹ [dẫn theo 33]
Đặc điểm dân tộc
Biến dân tộc và văn hóa có thể ảnh hưởng Ďến sự xuất hiện của các sự kiện và hoạt Ďộng trong cuộc sống của một người Chẳng hạn như cách thức mà họ giải thích các sự kiện và Ďương Ďầu với nó; khả năng họ tiếp cận Ďược với các nguồn lực xã hội
và cá nhân; cũng như Ďịnh hướng và yêu cầu môi trường Ďặt ra (Revenson, 1990; Szapocznik & Kurtines năm 1993; Taylor & cs, 1997) Ví dụ, nền văn hóa Latin Ďã
Trang 36coi việc sinh con thiên về phía thuyết Ďịnh mệnh và niềm tin rằng thế giới "Ďược Ďiều khiển bởi lực lượng tự nhiên và siêu nhiên bên ngoài "(Arce &Torres- Matrullo, 1982) Vì vậy, phụ nữ sau sinh gốc Tây Ban Nha sẽ có sự lạc quan và làm chủ thấp hơn (Mirowsky & Ross, 1984) Trong một nghiên cứu của Williams (1990), tại Hoa
Kỳ, nhóm dân tộc thiểu số nhìn nhận việc mang thai và sinh con thông qua các giá trị
và chuẩn mực văn hóa, Ďiều này gây ảnh hưởng tới tình trạng kinh tế xã hội Ďặc biệt
là thu nhập và giáo dục [dẫn theo 113, tr2] Trong nghiên cứu của Cleopatra và cs (2010) những phụ nữ gốc Phi có trình Ďộ kinh tế - xã hội thấp hơn nên cũng có những tác Ďộng tiêu cực và mức Ďộ căng thẳng cao hơn [dẫn theo 30, tr1]
Cho con bú sữa mẹ hay sữa công thức
Việc nuôi con bằng sữa mẹ hay sữa công thức (bú bình) là câu hỏi Ďặt ra với mỗi người mẹ mới Theo Bloom (1981) và Gulick (1982), chất lượng chăm sóc Ďược nâng cao bằng việc cho con bú sữa mẹ, sự nhạy cảm với nhu cầu của con của các bà mẹ Ďược tăng lên thông qua việc cho bú thường xuyên và trực tiếp Mercer
và Stainton (1984) báo cáo rằng phụ nữ sau sinh cho con bú mẹ tự tin về năng lực làm mẹ hơn phụ nữ sau sinh cho con bú bình Dickman (1979) báo cáo rằng phụ nữ sau sinh cho con bú có sức khỏe tinh thần cao hơn và giảm nguy cơ trầm cảm sau sinh Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác báo cáo rằng một số phụ nữ sau sinh cho con bú bình thì cảm thấy tiện lợi hơn, do vậy sẽ làm tăng sự hài lòng với việc làm
mẹ của họ (Kearley, 1988) [dẫn theo 89]
Sự hỗ trợ xã hội
Hầu hết các tài liệu Ďều thống nhất rằng các bà mẹ nhận Ďược hỗ trợ xã hội cao hơn thì căng thẳng ít hơn sau khi sinh, ít bị trầm cảm và thích ứng tốt hơn trong việc làm mẹ (Albright, 1993; Bost & cs, 2002; Hung, Tompkins & Dienemann, 2005; Luo, 2006) Mạng lưới hỗ trợ xã hội có thể giúp tạo ra những mong Ďợi lành mạnh hơn và thực tế hơn, hướng dẫn tốt hơn cho các bà mẹ Một nguồn lực hỗ trợ hay thay thế người mẹ (khi cần) thực hiện vai trò chăm sóc trẻ hoặc chăm sóc bản thân người mẹ Trong mạng lưới hỗ trợ xã hội thì sự hỗ trợ của người chồng Ďược coi là
sự hỗ trợ tốt hơn cả sự thích ứng làm mẹ của phụ nữ sau sinh (Cox & cs, 1989; Goldstein & cs, 1996) Tình bạn cũng là một nguồn hỗ trợ quan trọng trong khoảng
Trang 37thời gian này (Goldstein & Genero, 1995; Crnic & Greenberg, 1990; Richardson, Barbour, & Bubenzer, 1995) Bost & cs (2002) cho rằng tình bạn cũng có ảnh hưởng Ďặc biệt cho phụ nữ trong quá trình chuyển Ďổi Ďể làm mẹ Ngoài ra, các nghiên cứu cũng cho thấy rằng sự hỗ trợ của các tổ chức cộng Ďồng Ďóng vai trò quan trọng nhưng sự hỗ trợ từ bạn bè và gia Ďình là sự hỗ trợ cấp thiết Ďối với người
mẹ (Crockenberg, 1981; Crnic & cs, 1983) [dẫn theo 97]
Tác Ďộng của sự hỗ trợ xã hội Ďược khẳng Ďịnh trong nghiên cứu của Barbara Conrad & cs (1992) Kết quả cho thấy rằng yếu tố quan trọng ảnh hưởng Ďến sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh là sự hỗ trợ tích cực từ xã hội, nhận thức của bà mẹ về nuôi dạy con và kĩ năng làm mẹ Đồng thời sự thích ứng này bị ảnh hưởng tiêu cực bởi tình trạng trầm cảm của bà mẹ Hỗ trợ xã hội, kiến thức của phụ
nữ sau sinh về nuôi dạy con cái, kĩ năng làm mẹ và trầm cảm của phụ nữ sau sinh giải thích 34% sự khác biệt trong việc thích ứng với vai trò làm mẹ [dẫn theo 100]
Halman, Oakley và Lederman (1995) tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống
kê giữa niềm tin của người mẹ với việc thực hiện nhiệm vụ làm mẹ, sự hài lòng với vai trò làm mẹ và sự hỗ trợ từ gia Ďình và bạn bè Reece (1995) cũng nhận thấy rằng
sự hỗ trợ từ gia Ďình và bạn bè có tương quan với sự tự tin trong vai trò làm mẹ của mình Phụ nữ sống gần gũi hơn với cha mẹ cũng có mức Ďộ căng thẳng thấp hơn khi Ďảm nhận vai trò người mẹ [dẫn theo 106]
Sự hỗ trợ của các chuyên gia Ďiều dưỡng, bác sỹ, y tá trong bệnh viện cũng là một yếu tố giúp tăng cường sự thích ứng của phụ nữ sau sinh Trong một nghiên cứu của Karp (2008), phụ nữ sau sinh Ďược hỗ trợ bằng tư vấn và hướng dẫn thực hành trong việc cho con bú ở trong bệnh viện cảm thấy tự tin hơn Ďể cho con bú khi xuất viện [84, tr21]
Trong những thập kỷ gần Ďây, thuyết nữ quyền thay Ďổi xã hội xem có trách nhiệm nuôi dạy con; Tuy nhiên, Lupton (2000) trích dẫn một số nghiên cứu từ những năm 1980 và 1990, trong phần giới thiệu giấy của mình, trong Ďó chỉ ra rằng phụ nữ và nam giới vẫn coi mẹ là một phần quan trọng nhất trong cuộc Ďời của một Ďứa trẻ, trong khi người cha chủ yếu vẫn mang vai trò của các trụ cột gia Ďình Gần Ďây, Ďã có một sự thay Ďổi Ďáng chú ý trong những quan niệm Phụ nữ bây giờ mong Ďợi hợp tác nhiều hơn từ các Ďối tác của họ [64]
Trang 38Tóm lại, sự hỗ trợ xã hội Ďược Ďề cập trong các nghiên cứu về thích ứng với vai trò làm mẹ như là một yếu tố ảnh hưởng quan trọng với nhiều khía cạnh như: mạng lưới hỗ trợ, nội dung hỗ trợ và cả Ďánh giá của phụ nữ sau sinh Ďối với sự hỗ trợ này Như vậy, sự ảnh hưởng của các yếu tố Ďặc Ďiểm của trẻ, các Ďặc Ďiểm nhân khẩu
và Ďặc Ďiểm tâm lí - xã hội của phụ nữ sau sinh Ďối với sự thích ứng với vai trò làm
mẹ Ďã Ďược nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới xem xét Điều Ďó cho thấy sự thích ứng với vai trò làm mẹ là một hiện tượng tâm lí có liên quan Ďến nhiều khía cạnh trong Ďời sống của người phụ nữ sau sinh
Quá trình tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới cho thấy vấn Ďề thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh có thể Ďược tiếp cận ở nhiều góc cạnh khác nhau: 1/Tiếp cận theo chiều dọc là quá trình thích ứng với vai trò làm mẹ; 2&3/ Tiếp cận theo lát cắt ngang là kết quả của quá trình thích ứng với các chỉ báo của sự thích ứng (quá trình thích ứng thành công) hay các vấn Ďề sức khỏe tâm thần của PNSS (quá trình thích ứng khó khăn/thất bại) và 4/Các yếu tố ảnh hưởng Ďến sự thích ứng với vai trò làm mẹ của PNSS Ở cả 4 xu hướng nghiên cứu này, phương pháp các tác giả sử dụng nhiều nhất là phỏng vấn sâu, phương pháp thang Ďo và sử dụng trắc nghiệm Một số nghiên cứu Ďã sử dụng phương pháp quan sát lâm sàng Thực nghiệm tác Ďộng (bằng tư vấn và hướng dẫn thực hành cho các bà mẹ) cũng là một phương pháp Ďược một số tác giả sử dụng Ďể Ďánh giá biện pháp can thiệp nâng cao sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh Khách thể nghiên cứu thường là những phụ nữ sau sinh từ 0-12 tháng Ďược thu thập theo cách thuận tiện (như sinh nở ở một sơ sở y tế)
1.2 Các nghiên cứu về thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh Việt Nam
Ở Việt Nam, những công trình khoa học về phụ nữ sau sinh Ďã Ďược các nhà nghiên cứu quan tâm từ lâu nhưng các nghiên cứu phần lớn ở lĩnh vực y tế công cộng, những nghiên cứu về mặt tâm lí thời kì sau sinh còn chưa nhiều Tổng quan tài liệu (bao gồm cả những bài báo công bố quốc tế) về thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy ngoài một số nghiên cứu Ďược thực hiện bởi các tác giả trong nước thì có một số nghiên cứu Ďược thực hiện bởi
Trang 39các tác giả nước ngoài trong những công trình nghiên cứu xuyên văn hóa hoặc nghiên cứu với mẫu là nhóm các bà mẹ Việt Nam ở nước ngoài
Nhìn chung, những nghiên cứu về thích ứng với vai trò làm mẹ với mẫu là các
bà mẹ Việt Nam Ďược tiếp cận theo 2 hướng sau Ďây:
1.2.1 Các yếu tố văn hóa - xã hội ảnh hưởng tới thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh
Ở hướng nghiên cứu này các tác giả quan tâm Ďến Ďặc trưng văn hóa của phụ
nữ sau sinh Việt Nam trong quá trình thích ứng với vai trò làm mẹ bằng cách so sánh với các nhóm phụ nữ sau sinh ở các nước khác
Một nghiên cứu với mẫu Ďược thu thập là 210 bà mẹ Nhật Bản và 132 bà mẹ Việt Nam của nhóm tác giả Goto A và cộng sự người Việt Nam (2007) cho thấy tỉ
lệ các bà mẹ không tự tin với vai trò làm mẹ ở Việt Nam cao hơn ở Nhật Bản (các
bà mẹ Nhật là 48%, Việt Nam 63%) Các bà mẹ thiếu tự tin ở cả hai quốc gia Ďều cảm thấy ít thời gian hạnh phúc và thư giãn với việc nuôi con, Ďồng thời sự tự tin làm mẹ có liên quan Ďến kinh nghiệm nuôi con nhỏ Nghiên cứu cho thấy sự tự tin làm mẹ của các bà mẹ Nhật liên quan nhiều Ďến việc mang thai chủ Ďộng hay bị Ďộng, Ďến tình trạng công việc Trong khi Ďó, sự tự tin của các bà mẹ ở Việt Nam lại liên quan nhiều hơn Ďến trình Ďộ học vấn [68]
Một nghiên cứu khám phá bằng phỏng vấn sâu với 22 bà mẹ dưới 20 tuổi (Ďang mang thai hoặc sau sinh) ở nông thôn Việt Nam của nhóm tác giả Klingberg Allvin
& cs(2008) Ďã phát hiện ra rằng có sự mâu thuẫn trong quá trình thích ứng với vai trò làm mẹ của các bà mẹ tuổi vị thành niên Họ vừa cảm thấy bối rối vì mình còn quá trẻ nhưng vừa hạnh phúc vì việc sinh con mang lại sự hài lòng cho chồng và gia Ďình Ďôi bên của họ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các bà mẹ tuổi vị thành niên ở Việt Nam bị yếu thế trong việc quyết Ďịnh việc mang thai và sinh nở Hệ quả, việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản bị hạn chế [86]
Từ góc Ďộ tiếp cận y tế công cộng, tác giả Phạm Phương Lan (2014) có công trình nghiên cứu về thực hành chăm sóc sau sinh của bà mẹ ở bệnh viện và ở nhà Ďối với 389 bà mẹ ở thành thị và 373 bà mẹ ở nông thôn Nghiên cứu Ďã phát hiện
ra rằng: về kiến thức chăm sóc sau sinh nói chung chỉ có 36,2% và về thực hành
Trang 40chăm sóc sau sinh chỉ có 34,6% các bà mẹ Ďạt yêu cầu theo chuẩn Ďánh giá của tổ chức y tế thế giới Tuổi bà mẹ, số con là những yếu tố tác Ďộng Ďến kiến thức và thực hành về chăm sóc sau sinh Các bà mẹ trên 30 tuổi, Ďã sinh con lần thứ 2 trở lên có kiến thức và thực hành chăm sóc sau sinh tốt hơn [9] Như vậy, ta có thể nhận thấy tuổi tác là một yếu tố ảnh hưởng Ďến sự thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh Việt Nam
Từ lĩnh vực dinh dưỡng, nhóm tác giả Babington L & Patel B (2008) phát hiện
ra rằng những bà mẹ cho con bú sữa mẹ tin rằng trẻ khỏe mạnh hơn so với sữa công thức nhưng lại báo cáo rằng họ gặp khó khăn hơn trong việc duy trì công việc và các chức năng khác trong gia Ďình [32] Như vậy, chúng ta có thể hiểu cách thích ứng với vai trò làm mẹ sẽ khác nhau theo cách mà họ cho con bú sữa mẹ hay cho con bú sữa công thức
Một nghiên cứu Ďược tiến hành bởi Murray L & cs (2018) với mẫu là 23 phụ
nữ sau sinh từ 0-6 tháng Ďược lựa chọn từ hai Ďịa Ďiểm thành thị và nông thôn ở tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam Trong Ďó, có 5 vấn Ďề Ďược thảo luận, bao gồm: kĩ năng xử lí khi trẻ khóc, tìm hiểu nguyên nhân khi trẻ có vấn Ďề hành vi, sự hiểu biết
về nguyên nhân khiến trẻ khóc, Ďáp ứng tình cảm của người chăm sóc và hoàn cảnh gia Ďình Nghiên cứu cho thấy một thực tế là việc chăm sóc trẻ sơ sinh thường Ďược thực hiện bởi nhiều thành viên (ở các thế hệ khác nhau) trong gia Ďình, nhất là sự chăm sóc hàng ngày Đặc trưng của các bà mẹ Việt Nam là các hoạt Ďộng chăm sóc Ďược thực hiện ngay lập tức khi trẻ có dấu hiệu khó chịu, cho con bú sữa mẹ và cho trẻ ngủ chung giường với bố mẹ Hầu hết các bà mẹ Ďều nhận Ďược lời khuyên về việc chăm sóc trẻ từ các thành viên trong gia Ďình Mặc dù, thực tế trẻ khóc là do Ďói hoặc bị cô Ďơn nhưng niềm tin truyền thống cho rằng trẻ bị ―ma trêu‖ hoặc bị
―nóng‖ Khi mới làm mẹ, phụ nữ sau sinh mô tả rằng họ cảm thấy lo lắng, thất vọng
và bất lực liên quan Ďến những hành vi bất ổn ở trẻ sơ sinh của họ [99] Từ kết quả nghiên cứu của Murray L & cs, ta nhận thấy việc thích ứng với vai trò làm mẹ của phụ nữ sau sinh chịu ảnh hưởng rất nhiều từ các thành viên trong gia Ďình
Trong một nghiên cứu Ďịnh tính với mẫu là 11 phụ nữ nhập cư người Việt Nam tại Hàn Quốc, nhóm tác giả Cho HH & cs (2014) cho thấy có sự xung Ďột tâm lí