1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh dân ca của người nùng ở lạng sơn (việt nam) và người choang ở quảng tây (trung quốc)

105 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 3,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện tại, người Nùng hiện diện ở hầu khắp các tỉnh, thành từ Bắc chí Nam, tuy nhiên, chỉ chủ yếu tập trung tại các tỉnh như LạngSơn 314.295 người, Cao Bằng 157.607 người, Bắc Giang 76.35

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

YANG DONG MEI

(Dương Đông Mị)

SO SÁNH DÂN CA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở LẠNG SƠN (VIỆT NAM)

VÀ NGƯỜI CHOANG Ở QUẢNG TÂY (TRUNG QUỐC)

LUẬN VĂN THẠC SĨVIỆT NAM HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

YANG DONG MEI

(Dương Đông Mị)

SO SÁNH DÂN CA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở LẠNG SƠN (VIỆT NAM)

VÀ NGƯỜI CHOANG Ở QUẢNG TÂY (TRUNG QUỐC)

Chuyên ngành: Việt Nam học

Mã số : 60220113

LUẬN VĂN THẠC SĨVIỆT NAM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Bích Lan

Hà Nội - 2019

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích của luận văn 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀGIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả Việt Nam 5

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả Trung Quốc 7

1.1.3 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 12

1.2 Một số khái niệm 13

1.3 Giới thiệu tộc người nghiên cứu 14

1.4 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 17

1.4.1 Về người Nùng ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn 17

1.4.2 Về người Choang ở huyện Long Châu, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây 18

Tiểu kết chương 1 20

Trang 4

CHƯƠNG 2.DÂN CA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN CAO LỘC,TỈNH

LẠNG SƠN 23

2.1 Các thể loại dân ca 23

2.2 Hình thức diễn xướng 32

2.3 Trường hợp diễn xướng 33

2.4 Xu hướng biến đổi 35

2.5 Thực trạng bảo tồn và phát huy 39

Tiểu kết Chương 2 42

CHƯƠNG 3.DÂN CA CỦA NGƯỜI CHOANG Ở HUYỆN LONG CHÂU KHU TỰ TRỊ DÂN TỘC CHOANG QUẢNG TÂY 44

3.1 Các thể loại dân ca 44

3.2 Hình thức diễn xướng 53

3.3 Trường hợp diễn xướng 53

3.4 Xu hướng biến đổi 57

3.5 Thực trạng bảo tồn và phát huy 62

Tiểu kết Chương 3 68

CHƯƠNG 4.MỘT VÀI SO SÁNH VỀ DÂN CA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở TỈNH LẠNG SƠN VÀ NGƯỜI CHOANG Ở KHU TỰ TRỊ DÂN TỘC CHOANG QUẢNG TÂY 71

4.1 Về thể loại dân ca 71

4.2 Về hình thức diễn xướng 73

Trang 5

4.3 Về trường hợp diễn xướng 74

4.4 Về xu hướng biến đổi 75

4.5 Về thực trạng bảo tồn và phát huy 78

4.6 Một số khuyến nghị 80

Tiểu kết Chương 4 83

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 93

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam được biết đến là một quốc gia đa tộc người với nền văn hóa thống nhất trong đa dạng Các tộc người đã cùng sinhsống, gắn kết và tương trợ lẫn nhau trong suốt quá trình lịch sử Bức tranh văn hóa Việt Nam được kết thànhtừ những bản sắc văn hóa đặc trưng, riêng có của mỗi tộc người

Người Nùng là một trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam Theo số liệu từ Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, người Nùng ở Việt Nam có 968.800 người, là tộc người có dân số đông thứ 7 trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam Hiện tại, người Nùng hiện diện ở hầu khắp các tỉnh, thành từ Bắc chí Nam, tuy nhiên, chỉ chủ yếu tập trung tại các tỉnh như LạngSơn (314.295 người), Cao Bằng (157.607 người), Bắc Giang (76.354 người), Hà Giang (71.338 người), Bắc Kạn (27.505 người),…Trong văn hóa dân gian của người Nùng, dân ca là một trong những loại hình văn hóa đặc trưng, tiêu biểu của tộc người vàđược duy trì chủ yếu với hình thức truyền miệng từ thế hệ này nối tiếp thế hệ kia Với

họ, dân ca là một phương tiện giao tiếp và biểu đạt tình cảm giữ các cá nhân trong cộng đồng Những bài hát dân ca thường được cất lên từ sự rung động của con tim, thể hiện tình cảm, nỗi lòng của người hát với nhữngngười xung quanh Nội dung của những bài dân ca phong phú, sâu sắc và được truyền tải dưới những hình thức nghệ thuật đa dạng

Trung Quốc cũng là một quốc gia đa dân tộc và Choang là một dân tộc thiểu số có dân số đông nhất tại đây Dân tộc này chủ yếu được phân bố ởQuảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu và Hồ Nam, trong đó, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây là nơi cư trú tập đông nhất củangườiChoang

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, núi liền núi, sông liền sông Quan hệ ngoại giao, kinh tế và giao lưu văn hóa giữa hai nước đã được hình thành từ rất lâu đời Người Choang ở Trung Quốc có quan hệ gần gũi và

Trang 7

nhiều điểm tương đồng với người Nùng ở Việt Nam.Những nghiên cứu về loại hình dân ca của từng tộc người, Nùng hoặc Choang đã xuất hiện từ lâu ở Việt Nam hoặc Trung Quốc Tuy nhiên, với nhiều nguyên nhân, trong lịch sử nghiên cứu, các công trình nghiên cứu về dân ca của cả hai tộc người này từ góc nhìn so sánh còn rất hiếm thấy Vì vậy, qua nghiên cứu này, chúng tôi hi vọng sẽ không chỉ làm sáng tỏ thể loại, hình thức diễn xướng, xu hướng biến đổi,… mà còn đi tìm sự tương đồng cũng như khác biệt trong dân ca của dân tộc Nùng vàChoang - nhữngdân tộc vốn có chung một nguồn gốc lịch sử, nhưng hiện đang cư trú ở hai quốc gia khác nhau, nơi có những sự khác biệt nhất định về bối cảnh chính trị cũng như điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội

2 Mục đích của luận văn

Mục đích nghiên cứucủa đề tài này là nghiên cứu một cách có hệ thốngvề dân ca của người Nùng ở Việt Nam và người Choang ở Trung Quốc, tìm ra sự tương đồng và khác biệt Từ đó, đề xuất các khuyến nghị nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của loại hình văn hóa này ở mỗi quốc gia, đồng thời, góp phần thúc đẩy sự giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dân ca của người Nùng và người Choang, bao gồm các khía cạnh như:thể loại, hình thức diễn xướng, trường

hợp diễn xướng, xu hướng biến đổi,

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là người Nùng ở huyện

Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam và người Choang ở huyện Long Châu,khu

tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc

- Về thời gian:Đề tài nghiên cứu dân ca hai dân tộc Nùng và Choang

trong bối cảnh hiện nay Cụ thể, ở Việt Nam là từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới đất nước (năm 1986) đến nay và ở Trung Quốc là những năm 1980 đến

Trang 8

nay – thời kỳ mà văn hóa phi vật thể của các tộc người được chú trọng bảo tồn, kế thừa và được tạo ra những cơ hội phát triển mới

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cách tiếp cận

Đềtài dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc về xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới, với những cách tiếp cận cụ thể như sau:

- Tiếpcận từ góc nhìn Dân tộc học/Nhân học: Biến đổi văn hóa liên

quan đến việc lựa chọn và thực hành văn hóa của chủ thể văn hóa Vì vậy, kết quả nghiên cứu cũng như những đề xuất, khuyến nghị về bảo tồn và phát huy các giá trị của loại hình dân ca ở 2 tộc người được nghiên cứu cần phải dựa trên cơ sở là quan điểm của chủ thể văn hóa và gắn với lợi ích của họ

- Tiếp cận liên ngành: các khía cạnh của dân ca liên quan đến điều kiện

sống, bối cảnh xã hội, quan hệ giao lưu giữa các tộc người…Trong nghiên cứu này, mỗi nội dung nghiên cứu của đề tài đều được bám sát tình hình và điều kiện cụ thể tại các địa phương, văn hóa của mỗi tộc người Những đề xuất nhằm bảo tồn dân ca nói riêng và văn hóa truyền thống của mỗi tộc người nói chung đều dựa vào điều kiện cụ thể tại địa phương, quốc gia nơi họ sinh sống.Vì vậy, ngoài tiếp cận dân tộc học/nhân học, nghiên cứu này còn tiếp cận liên ngành với các lĩnh vực như: địa lý học, văn hóa học, xã hội học, tôn giáo học

- Tiếp cận phát triển: Văn hóa gắn liền với phát triển bền vững của mỗi

tộc người Nghiên cứu về dân ca của các tộc người Nùng và Choang là nhằm phát huy các yếu tố tích cực của một loại hình văn hóa truyền thống, gắn liền với nó là mục tiêu phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của cộng đồng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng quan tài liệu Đây là phương phápđầu tiên, được sử

dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, baogồm tổng quan các tài liệu đã xuất bản

Trang 9

liên quan đến dân ca của dân tộc Nùng, dân tộc Choang và thu thập các tài liệu thứ cấp tại địa bàn nghiên cứu liên quan đến nội dung của đề tài

- Phương pháp điền dã dân tộc học Đây được xem là phương pháp chủ

đạo, với các công cụ như quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm vớinhiều đối tượng, thành phần trong cộng đồng dân cư, phỏng vấn hồi cố được

áp dụng để tìm hiểu các yếu tố văn hóa truyền thống hiện không còn được duy trì trong cộng đồng dân tộc Bên cạnh đó, các kỹ thuật chụp ảnh, bảng biểu, ghi âm cũng được áp dụng để bổ trợ cho những phương pháp khác

- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh Từ các số liệu thu thập

được, đề tài tiến hành phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, để đem lại những thông tin cần thiết cho nghiên cứu.Để tìm ra sự tương đồng và khác biệt, đề tài tiến hành so sánh lịch đại và đồng đại về những đặc điểm, nội dung và hình thức của loại hình dân ca giữa 2 dân tộc được nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia Mục đích là nhằmtranh thủ ý kiến từ các

chuyên gia có kinh nghiệm nghiên cứu về văn hóa và về các tộc người được nghiên cứu.Ngoài việc tranh thủ ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học,

đề tài còn thực hiện những cuộc thảo luận nhanh nhằm thu thập và tham khảo ý kiến của các nhà quản lý địa phương ở các địa bàn được lựa chọn nghiên cứu

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Mục lục,Phụ lục, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương:

Chương I.Tổng quan tình hìnhnghiên cứu và giới thiệuđịa bàn nghiên

cứu

Chương II Dân ca của người Nùng ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

Chương III Dân ca của người Choang ở huyện Long Châu, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây

Chương IV.Một vài so sánh về dân ca của người Nùng ở tỉnh Lạng Sơn

và người Choang ở khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây

Trang 10

CHƯƠNG 1

TỔNG QUANTÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ

GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứucủa các tác giả Việt Nam

Ở Việt Nam, dân tộc Nùng có chung nguồn gốc lịch sử với dân tộc Tày,nên đã có khá nhiều công trình nghiên cứu chung về văn hóa Tày Nùng

Riêng về lĩnh vực dân ca, có thể nhắc đếnLượn cọi Tày Nùng:Sli, lượn Dân

ca trữ tình Tày Nùng của Vi Hồng (Nxb Văn hóa, 1979); Dân ca trữ tình/Cungvăn lược của Lê Bích Ngân sưu tầm và biên soạn (Nxb Văn hóa dân tộc, 1987); Sli lượn hát đôi của người Tày Nùngở Cao Bằng của Hoàng

Thị Quỳnh Nha (Nxb Văn hóa thông tin, 2003); Trước đây, người Nùng và người Tày thường chung sống, lao động sản xuất trong cùng một không gian

cư trú nhất định nên trong sinh hoạt văn hóa, họ có rất nhiều điểm tươngđồng Tuy nhiên, không ít những những đặc trưng, những nét độc đáo riêng trong văn hóa của từng tộc người cũng được các nhà nghiên cứu tìm tòi, phân tích.Trong những công trình nghiên cứu riêng về dân ca người Nùng,đáng lưu

ýlàDân ca Nùng của Mông Ky Slay, Lê Chí Quế, Hoàng Huy Phát sưu tầm,

tuyển, dịch vàbiên soạn (Nxb Văn hóa dân tộc, 1992) Cuốn sách này tập trung giới thiệumột phần vốn dân ca của hai nhóm địa phương dân tộc Nùng

là Nùng Cháo vàNùng Phàn Slình, trong đó có các bài đồng dao, các khúc hát tang lễ, Cỏ Lẳu, Sli Ngoài ra, còn một số công trình sưu tập từng thể loại dân

ca của người Nùng ở tỉnh Lạng Sơn nhưBáo slao sli tò toóp của Mã Thế Vinh sưu tầm, biên dịch và giới thiệu (Nxb Lao Động, 2011); Cỏ lẳu và sli Nùng Phản Slình Lạng Sơn do Hoàng San sưu tầm và Mã Thế Vinh biên dịch (Nxb.Lao Động, 2012);Sli lớn – dân ca của người Nùng Phàn Slình – Lạng Sơn do Hoàng Tuấn Cư, Hoàng Văn Mộc sưu tầm, Lâm Xuân Đào, Hoàng

Tuấn Cư dịch (Nxb Hội nhà văn, 2016); Những công trình trên đã cho thấy

Trang 11

kho tàng dân ca người Nùng khá đồ sộ về quy mô và phong phú về thể loại, làn điệucũng như nội dung phản ánh

Do người Nùng Việt Nam và người Choang Trung Quốc có quan hệ chặt chẽ, nghiên cứu so sánh về hai tộc người này đã được một số học giả Việt

Nam quan tâm; trong đó phải kể đến “Một số hình thức tín ngưỡng dân gian của người Tày, Nùng Việt Nam và người Choang Trung Quốc” của tác giả

Nguyễn Thị Yên (2004) Thông qua nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam và dân tộcChoang ở Trung Quốc đều thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái Các nhóm dân tộc này có nhiều điểm tương đồng về nguồn gốc lịch sử, địa bàn cư trú, dẫn đến nhiều điểm tương đồng về văn hóa và phong tục tập quán Tác giả đã trình bày những điểm tương đồng cụ thể về tôn giáo tín ngưỡng của hai tộc người này và phân tích nguyên nhân của sự tương đồng đó

Bên cạnh các công trình liên quan đến người Choang Trung Quốc, có một số tài liệu đã đề cập trực tiếp đến dân ca người Choang Quảng Tây Có

thể kể ra những nghiên cứu như: So sánh kết cấu vần luật trong ca dao của tộc người Choang ở Trung Quốc và trong ca dao của tộc người Việt ở Việt Namcủa tác giả Kiều Thu Hoạch dịch, Vi Thụ Quan (2005); Từ lễ hội Lồng Tồng dân tộc Choang bàn về tết mồng Ba tháng Ba ở Việt Nam của Nguyễn Ngọc Thơ (2008); Ca dao dân tộc Choang - Quảng Tây (so sánh với ca dao dân tộc Tày Nùng – Lạng Sơn) của Hoàng Diệp Hằng (2013),…

Trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thơ, thông qua nghiên cứu về lễ hội truyền thống của người Choang Quảng Tây Trung Quốc – lễ hội Long Tong, tác giả kêu gọi sự coi trọng các hình thức văn hóa dân gian của dân tộc và kiến nghị phục hồi lễ hội mồng Ba tháng Ba truyền thống của người Việt Nam

Ca dao là phần lời của dân ca, là những bài thơ dân gian mang phong

cách nghệ thuật chung với lời thơ dân ca Trong bài “So sánh kết cấu vần luật trong ca dao của tộc người Choang ở Trung Quốc và trong ca dao của tộc

Trang 12

người Việt ở Việt Nam”, thông qua so sánh kết cấu vần luật trong các hình

thức ca dao của hai tộc người Choang – Việt, tác giả cho thấy kết cấu vần luật của hai tộc người này đại thể giống nhau, và đã phân tích bối cảnh văn hóa của sự tương đồng về vần luật trong ca dao hai dân tộc Choang – Việt Luận

văn thạc sỹ của Hoàng Diệp Hằng “Ca dao dân tộc Choang – Quảng Tây (so sánh với ca dao dân tộc Tày Nùng – Lạng Sơn)” đã tập trung nghiên cứu ca

dao dân tộc Choang ở các khía cạnh như nguồn gốc văn hóa, nội dung và những phương diện nghệ thuật, trong đó có sự so sánh với ca dao của dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giảTrung Quốc

Do sự tác động của các chính sách nhà nước Trung Quốc, các vấn đề về văn hóa dân gian ngày càng được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Từ thập

kỷ 80 của thế kỷ XX, dân ca người Choang ngày càng được coi trọng trong bối cảnh khuyến khích bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian truyền thống Hội nghị về dân ca người Choang lần đầu tiên được triệu tập tại Học viện Dân tộc Quảng Tây vào năm 1984 Tình hình nghiên cứu về dân ca người Choang cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, kể từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX đến nay.Trong đó, các hướng nghiên cứu chủ yếu bao gồm: nghiên cứu về nguồn gốc lịch sử, nghiên cứu về nội dung và hình thức, nghiên cứu về bản thể âm nhạc, nghiên cứu về sự bảo tồn và phát huy Trong số những công trình nghiên cứu tiêu biểu, phải kể đến những bài viết được công bố trên các tạp chí

Trang 13

-周作秋( ),谈壮歌的形式问题;广西师范学院学报 ( ):

(Châu Tác Thu (1982), Thảo luận về hình thức dân ca Choang; Báo

Học viện Sư phạm Quảng Tây, 04 (004), trang 22-29)

(Hoàng Cách (1989), Khái lược dân ca dân tộc Choang Quảng Tây;

Báo Đại học Quảng Tây, 01(016), trang 64-72)

Truyền thống ngày chợ hội dân ca “Mùng Ba Tháng Ba dân tộc Choang” và việc xây dựng thương hiệu văn hóa ngày lễ; Báo Học viện Sư phạm Quảng

Tây,03(018), trang 106-111)

Ngoài các công trình nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chívà báo

Trang 14

chí,ngày càng nhiều học giả chọn dân ca người Choang làm đềtài nghiên cứu cho khóa luận cử nhân, luận văn thạc sỹ, Về luận văn Thạc sỹ, có thể kể đến:

(Lý Vĩ Hoa, Sự tuyên truyền và chuyển hình hiện đại của văn hóa dân

ca dân tộc Choang; Đại học Sư phạm Quảng Tây, Quế Lâm, 2006)

Hoàn cảnh hiện nay của dân ca người Choang; Đại học Sư phạm Quảng

(Thái A Lợi, Nghiên cứu về khai thác ngành du lịch văn hóa hộichợ dân

ca người Choang ở thành phố Nam Ninh; Học viện Sư phạm Quảng Tây,

Nam Ninh, 2011)…

Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu về sự bảo tồn và phát huy của dân ca người Choang,trong đó, đáng lưu ý hơn cả là luận văn của Thái A Lợi,khi tác giả đã phân tích được tiềm năng du lịch của hội chợdân ca

và đề xuất những giải phápđể phát triển du lịch văn hóadân tộc Thông qua những công trình nghiên cứu trên, người đọc thấy được những triển vọng của các loại hình văn hóa dân gian của dân tộc trong phục vụ phát triển ngành du lịch

Trong số những công trình về dân ca người Choang Quảng Tây, cómột

số tác giả Trung Quốc đề cập đến cả người Nùng ở Việt Nam, tiêu biểu là một

Trang 15

số luận văn Thạc sỹ và luận án Tiến sỹ như: 黄小奕跨境壮语研究 华中科技大学 武汉 (Hoàng Tiểu Dịch, Nghiên cứu về tiếng Choang vượt cảnh;

Đại học Khoa học kỹ thuật Hoa Trung, Vũ Hán, 2005); 蒲春春壮 岱侬语熟

sánh của tục ngữ tiếng Tày Nùng và tiếng Choang,Đại học Dân tộc Quảng

研究 广西民族大学 南宁 (Âu Dương Vũ, Nghiên cứu về ngữ âm của phương ngữ nam bộ tiếng Choang Trung Quốc và tiếng Tày Nùng Việt Nam

từ góc nhìn so sánh, Đại học Dân tộc Quảng Tây, 2015);…Những công trình

trên chủ yếu nghiên cứu về ngôn ngữ của dân tộc Tày-Nùng Việt Nam và dân tộc Choang Trung Quốc, chỉ ra những điểm tương đồng trong ngôn ngữ của hai nhóm dân tộc này, đồng thời cho thấysự liênquan giữa tiếng Tày-Nùng với tiếng Choang

Một số nghiên cứu khác đã chứng minh, dân tộc Choang Quảng Tây và dân tộc Tày, Nùng Việt Nam có quan hệ gần gũi, qua việc tìm ra khá nhiều điểm tương đồng về tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán và văn hóa xã hội giữa hai tộc người này Có thể kể đến: 阮庆如 中越边境地区岱侬壮三

Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng nguyên thủy của dân tộc Choang, Tày, Nùng ở khu vực biên giới Việt-Trung từ góc nhìn so sánh, Đại học Sư phạm

Hoa Đông, Thượng Hải,2012); 卢越胜中越边境地区岱 壮 侬族历史社会

hóa xã hội lịch sử của dân tộc Choang, Nùng và Tày ở khu vực biên giới

Trang 16

Việt-Trung từ góc nhìn so sánh, Đại học Sư phạm Hoa Đông, Thượng Hải,

và khác biệt cũng như nguyên nhân của sự khác biệt trong các khía cạnh được nghiên cứu ở 2 dân tộc này.Ngoài ra, không thể không nhắc tới một số công trình được công bố trên các tạp chí chuyên ngành như:杨然 越南岱

Trang 17

国家认同–基于实地田野调查 文山学院学报 (Vương Minh

Phú (2012), Đồng cảm dân tộc và văn hóa của người Nùng Việt Nam và người Pu Nông khu biên giới châu Văn Sơn Trung Quốc – căn cứ vào sự điều tra điền dã thực địa, Báo Học viện Văn Sơn, 25(01), trang 29-32);

Có thể thấy rằng, ở Trung Quốc, các vấn đề liên quan đến văn hóa của người Choang và người Nùng đã được khá nhiều học giả quan tâm, nhưng nghiên cứu riêng về dân ca của hai tộc người này còn chưa nhiều, nhất là từ góc nhìn so sánh giữa người Choang ở Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây với người Nùng ở tỉnh Lạng Sơn

1.1.3.Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Kể từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX đến nay, các công trình nghiên cứu về dân ca của từng tộc người, Nùng hoặc Choang đã xuất hiện khá nhiều ở Việt Nam hoặc Trung Quốc trong bối cảnh khuyến khích bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể Bên cạnh đó, do có quan hệ gần gũi, các vấn đề liên quan đến hai tộc người này cũng được không ít học giả quan tâm trong cùng một nghiên cứu; trong đó, bao gồm tác giả ngoài Việt Nam và Trung Quốc

Tạp chí Journal of Southeast Asian Studies đã công bố bài viết Người Choang, các dân tộc ít người vùng biên giới Việt-Hoa trong triều đại nhà Tống của tác

giả Jeffrey G.Barlow (1987) Trong đó, tác giả đã đề cập đến người Choang ở khu biên giới Việt – Trung và nguồn gốc lịch sử của các nhóm dân tộc ở khu vực này Tác giả cho rằng ở Việt Nam, người Choang được xác định trong lịch sử là người Nùng Giáo sư người Nhật Shigeyuki Tsukada cũng quan tâm

tới 2 tộc người này trong một số nghiên cứu như Sự giao lưu và quan hệ dân tộc giữa dân tộc Nùng Việt Nam và dân tộc Choang Trung Quốc (Báo Đại học Dân tộc Quảng Tây, 2007) và Sự giao lưu của các dân tộc Việt Nam và dân tộc Choang Quảng Tây Trung Quốc (Hội nghị Trung Quốc, 2009) Qua đó,

chỉ ra mối quan hệ, nguồn gốc lịch sử cũng như quá trình giao lưu văn hóa và

Trang 18

kinh tế giữa hai tộc người này

1.2 Một số khái niệm

Dân ca

Dân ca là một bộ phận của văn học dân gian, được khởi nguyên và lưu truyền trong dân gian ở một cộng đồng, một quốc gia hoặc khu vực và trở thành văn hóa đặc biệt của họ, đa phận bài dân ca không rõ người sáng tác Dân ca của nhân dân lao động thông thường được lưu truyền bằng cách truyền miệng từ thế hệ này nối tiếp thế hệ kia Nội dung chủ yếu đề cập đến thế sự, là lời ca thán, là lời nhắc nhở, lời khuyên, lời cười nhạo, là câu châm biếm, câu mỉa mai thói hư ở đời của một ai đó, về một sự việc nào đó Đặc điểm của dân ca là biểu đạt tư tưởng, tình cảm, ý chí, yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân lao động, mang tính hiện thực, là một bộ phận cấu thành quan trọng trong các các loại hình văn hóa dân tộc Thuật ngữ “dân ca” lần đầu xuất hiện vào thế kỷ XIX1, được sử dụng để chỉ các loại hình âm nhạc như:

âm nhạc truyền miệng; âm nhạc của tầng lớp thấp; âm nhạc mà người sáng tác là vô danh Những điều này tương phản với các thể loại âm nhạc thương mại và cổ điển

Dân ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cổ truyền của Việt Nam, với nhiều làn điệu từ khắp các vùng miền, các cộng đồng tộc người, với hình thức

có nhạc hoặc không có nhạc Các làn điệu dân ca thể hiện phong cách bình dân, giản dị, gần gũi với cuộc sống lao động Các dịp để biểu diễn dân ca thường là các dịp hội, hè, đình đám, Ngày thường, người ta cũng hát dân ca trong quá trình lao động sản xuất để quên đi sự mệt nhọc; cũng có khi là dịp thể hiện tình yêu đôi lứa, tình cảm giữa người với người Hát dân ca là một trong những nét đẹp văn hóa của dân tộc Nùng Từ xa xưa, người Nùng đã coi dân ca là phương tiện giao tiếp, lời tâm sự tỏ tình với người khác giới Hát dân ca là sự rung động của con tim, thể hiện tình cảm, nỗi lòng của mình với

1 https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_ca

Trang 19

mọi người

Dân ca Trung Quốc là một trong những thể loại của âm nhạc dân gian dân tộc, là một nghệ thuật ca hát được sáng tác và phát triển qua truyền khẩu trong cuộc sống thực tiễn của người dân lao động Trong đó, dân ca người Choang rất phát triển, bất cứ nam nữ, thiếu nhi hay người già đều thích hát Với họ, hát dân ca đã trở thành một “món ăn tinh thần” không thể thiếu trong

đời sống thường ngày

1.3 Giới thiệu tộc người nghiên cứu

Người Nùng

Người Nùng ở Việt Namgồm các nhóm địa phương: Nùng Xuồng, Nùng Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín,

Ngôn ngữ, tiếng nói của người Nùng thuộc ngữ chi Tai của ngữ hệ Tai-Kadai Người Nùng dùng chữ Hán hay chữ Nôm Nùng (được phát triển khoảng thế kỷ XVII) để ghi chép thơ ca và truyện cổ dân gian Trước đây, hầu hết người Nùng đều không biết chữ, chỉ có những người giàu có mới được đi học, nhưng là học chữ Hán hoặc tiếng Pháp Hiện nay, phần lớn người Nùng đều không biết viết chữ của dân tộc mình Trẻ em đến trường được học chữ Quốc ngữ của người Việt Năm 1924, tiếng Nùng lần đầu tiên được ghi theo hệ chữ Latinh nhờ linh mục người Pháp François M Savina Viện Ngôn ngữ học Mùa hè (Summer Institute of Linguistics) trước năm 1975 cũng có một bộ chữ cho người Nùng Phàn Slình sống ở miền Nam Việt Nam Ở miền Bắc Việt Nam có thêm phương ngữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ Quốc ngữ từ năm 19612

Văn học dân gian của người Nùng rất phong phú về nội dung và

đa dạng về thể loại Trong đó, dân ca là một trong những loại hình văn hóa đặc trưng, tiêu biểu của họ Ngôi nhà truyền thống tiêu biểu cho người Nùng

là ngôi nhà sàn, lợp ngói máng, dưới gầm sàn là chuồng gia cầm, thậm chí cả

2 https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_N%C3%B9ng

Trang 20

gia súc Nguyên liệu để làm nhà là gỗ, tre, ngói, là những thứ có sẵn tại chỗ Nguồn sống chính của người Nùng là lúa và ngô Trồng trọt là hoạt động sinh

kế chính của người Nùng, họ kết hợp làm ruộng nước ở các vùng khe dọc với trồng lúa cạn trên các sườn đồi Các ngành nghề thủ công của người Nùng cũng khá phát triển, gồm nghề dệt, nghề mộc, nghề đan lát, nghề gốm sứ Ngoài ra, họ còn giữ kinh tế hái lượm và săn bắt, nhưng chỉ có vai trò bổ trợ

Họ có quan hệ gần gũi với người Choang sống dọc biên giới với Việt - Trung Tại Trung Quốc, người Nùng cùng với người Tày được xếp vào dân tộc Choang

Người Choang

Người Choang (Zhuang) là một trong 55 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc Theo thống kê dân số lần thứ VI toàn quốc năm 2010, tổng dân số người Choang là 16.926.381 người, là tộc người có dân số đông nhất trong cộng đồng các dân tộc thiểu số của Trung Quốc Người Choangsống chủ yếu ở khu

tự trị dân tộc Choang Quảng Tây phía nam Trung Quốc Ngoài ra, có một số sống ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Qúy Châu và Hồ Nam.Zhuang (壮)、

Bu Zhuang (布壮) ban đầu là tên tự xưng của dân tộc Choang (Zhuang) Trong các sử sách chữ Hán, dịch sang “撞”、“獞”, phát âm giống với “壮” và

“僮” (phát âm: Zhuang/Choang) Sau khi thành lập Trung Quốc mới, thống nhất viết bằng “僮” Sau đó, theo quyết định của Chính phủ thời kỳ đó và sự đồng ý của nhân dân dân tộc Choang, năm 1965, chữ “僮” được thay bằng chữ “壮” (phát âm giống nhau là Zhuang/Choang) Chữ “壮” có ý nghĩa mạnh

Trang 21

khỏe.Từđó đến nay, dân tộc Choang được thống nhất gọi là“壮族”3 Người Choang có hơn 10 nhóm địa phương và có các tên tự gọi như: Bu Zhuang (布

壮, Bố Choang), Bu Nong (布侬, Bố Nùng, Pu Nong), Bu Tu (布土, Bố Thổ),

Bu Yue (布越, Bố Việt), Bu Man (布曼, Bố Man), Bu Dai (布傣, Bố Thái),

Bu Liao (布僚, Bố Lão), Bu Long (布陇, Bố Lung), Bu Pian (布偏, Bố Thiên), Bu Yang (布央, Bố Ương), Bu An (布安, Bố An), Bu Min (布敏, Bố Mẫn)[33, tr.4-6],

Về ngôn ngữ,tiếng Choang thuộc ngữ chi Tai, bị ảnh hưởng nhiều bởi các phương ngữ của tiếng Hán Tiếng Choang chia thành hai phương ngữ Nam và Bắc, nhưng kết cấu ngữ pháp và từ vựng cơ bản đại thể giống nhau Tiếng Choang chuẩn dựa trên một phương ngữ phía bắc gọi là Choang Ung Bắc,được sử dụng tại huyện Vũ Minh Quảng Tây Người Choang có chữ cổ riêng của dân tộc mình là chữ khối vuông Choang, nhưng không được sử dụng phổ biến, chủ yếu là những người già, thầy mo, nghệ nhân, dùng để ghi chép, viết kinh thư, biên soạn kịch bản và dân ca Năm 1955, chính phủ Trung Quốc tổ chức xây dựng bộ chữ Choang mới dựa trên chữ Latinh Từ đó, chữ Choang mới được phát triển, sử dụng rộng rãi hơn và bắt đầu được dạy ở các cấp trường học ở khu dân tộc Choang vào thập kỷ 80 của thế kỷXX Với sự phát triển kinh tế- xã hội, tiếng Hán ngày càng được sử dụng phổ biến đã khiến cho tiếng Choang dần bị mai một ở các thành phố, ngay cả ở những thị trấn và huyện lỵ - nơi chữ Choang vốn được sử dụng nhiều cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ Hiện nay, đa số người Choang không thể viết được chữ Choang của dân tộc mình Văn học dân gian người Choang được sáng tác và

3 壮族_百度百科 https://baike.baidu.com/item/%E5%A3%AE%E6%97%8F/125251?fr=aladdin

Trang 22

lưu truyền bằng miệng với các thể loại chủ yếu như thần thoại, truyền thuyết, dân ca và kịch dân gian.Họ tin vàođa thần, không có tín ngưỡng và tôn giáo thống nhấtvới 2 hình thức: một là lấy sự vật tự nhiênđể làm đối tượng sùng bái, thuộc hình tháinguyên thủy, hai là giáo sỹ thông qua những nghi thức nhất định (đọc kinh và cầu nguyện,….)[33, tr.14]

Ngôi nhà truyền thống của người Choang là ngôi nhà sàn, dưới gầm sàn

là chuồng nhốt gia cầm Nguyên liệu để làm nhà là tre, gỗ và ngói Với sự phát triển của xã hội, những ngôi nhà truyền thốngđã dần dần được thay thế bởinhững ngôi nhà cao tầng Về thức ăn, thực phẩm chính của người Choang

là gạo, thực phẩm phụ có ngô và khoai Về hoạt động kinh tế, trồng lúa nước

là nghề chính của người Choang, ngoài ra, họ thường trồng rau củ quanh vườn nhà và đất đồi Chăn nuôi và nghề thủ công của người Choang cũng khá

phát triển, đặc biệt là dệt vải

1.4 Giới thiệuđịa bàn nghiên cứu

1.4.1 Về người Nùng ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

Dân tộc Nùng ở Lạng Sơn có ba nhóm khác nhau là Nùng Phàn Slình,

Nùng Cháo và Nùng Inh.Theo Dã sử và địa chí Lạng Sơn thì người Nùng ở

Lạng Sơn từ Vạn Thành, Long Châu và Long An của Quảng Tây, Trung Quốc đến, trong đó, người Nùng Phàn Slình di cư vào Lạng Sơn muộn hơn các nhánh khác[11, tr.11-12].Người Nùng ở huyện Cao Lộc chủ yếulàNùng Phàn Slình

Cao Lộc là một huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn, giáp biên giới Việt -Trung Huyện nằm ở phía bắc tỉnh Lạng Sơn; phía bắc và phía đông của huyện là khu

tự trị dân tộc Choang Quảng Tây Trung Quốc, phía nam là huyện Văn Lãng

và Văn Quan của tỉnh Lạng Sơn Với diện tích 644km2

, dân số là 74,588người (năm 2010), huyện có 2 thị trấn là Đồng Đăng, Cao Lộc và 21 xã; gồm 5 dân tộc cùng sinh sống là: Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa Thị trấn Cao Lộc cách thành phố Lạng Sơn 3 km về hướng đông bắc và cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị khoảng 15km, nối sang thành phố Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc

Trang 23

Ngoài ra cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, địa bàn huyện Cao Lộc còn có cửa khẩu Đồng Đăng, các trục giao thông đường bộ và đường sắt quốc tế, quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B liên kết với tất cả các huyện, với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ.Đây cũng là điểm cuối của đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn4.Những năm trước đây, Cao Lộc vốn là một huyện nghèo của tỉnh Lạng Sơn Nguồn sống kinh tế chủ yếulà trồng trọt; ngoài ra còn có chăn nuôi gia súc, gia cầm

và phát triển một số ngành thủ công Những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước, huyện đã tập trung mọi tiềm lực để khai thác lợi thế biên giới và kinh tế cửa khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tếđúng hướng Nhờ đó, các hoạt động thương mại – dịch vụ phát triển ngày càng sôi động, đem lại cho huyện nguồn thu cơ bản, đưa Cao Lộc từ huyện nghèo trở thành một trong nhữnghuyện khá của tỉnh Lạng Sơn5

Xã Cao Lâu là một xã thuộc huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, tiếp giáp với Quảng Tây, Trung Quốc.Xã có diện tích 58,61 km², dân số năm 2018 là

3523 người, trong đó người Nùng chiếm 65.34%6 Xã bao gồm nhiều làng bản như Bản Xâm, Bản Rằn, Bản Đon, Pác Cuồng, Nà Va, Pò Nhùng, Bản Vàng, Còn Nàn, Co Sâu Người dân chủ yếu là dân tộc Nùng và Tày, vốn đã sinh sống lâu đời Khi Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng thì ngày càng có thêm nhiều người Kinh đến cư trú và lập nghiệp tại đây.Hiện nay, với sự hỗ trợ của Nhà nước cũng như sự nỗ lực tự thân, đời sống của các tộc người nơi đây ngày càng được nâng cao trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế,…

1.4.2 Về người Choang ở huyện Long Châu, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây

http://caoloc.langson.gov.vn/vi/huyen-cao-loc-pha-theo-huong-phat-trien-manh-bien-gioi-va-loi-kinh-te-cua-6 tư liệu do ủy ban xã Cao Lâu cung cấp

Trang 24

Dân tộc Choang có hơn 10 nhóm địa phương và có một số tên tự gọi như: Bu Zhuang (布壮, Bố Choang), Bu Nong (布侬, Bố Nùng), Bu Tu (布土,

Bố Thổ), Bu Yue (布越, Bố Việt), Bu Man (布曼, Bố Man), Bu Dai (布傣, Bố Thái), Bu Liao (布僚, Bố Lão), Bu Long (布陇, Bố Lung), Bu Pian (布偏, Bố Thiên), Bu Yang (布央, Bố Ương), Bu An (布安, Bố An), Bu Min (布敏, Bố Mẫn), Trong đó, người Choang ở huyện Long Châu, Quảng Tây chủ yếu thuộc nhóm Bu Nong, và có một phần nhỏ tập trung ở thị trấn Kim Long thuộc nhóm Bu Dai Theo một nghiên cứuthìhai nhóm này có một bộ phậndi

cư sang miền Bắc Việt Nam[33, tr.4-5]

Huyện Long Châu là một huyện thuộc thành phốSùng Tả khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc Huyện nằm ở phía tây namcủa Quảng Tây, cách thủ phủ Nam Ninh 239 km.Phía tây và phía nam giáp khu Giang Châu, huyện Ninh Minh và thành phố Bằng Tường; phía đông bắc giáp huyện Đại Tân; phía tây bắc giáp tỉnh Cao Bằng của Việt Nam Huyện có diện tích2317.8 km2, dân số năm 2010 là 260.200 người7; có 12 thị trấn và 123 thôn, với12 dân tộc cùng sinh sống, chủ yếu là: Choang, Hán,Miêu, Dao, Hồi, Động, trong đó, 95,89% là người Choang Long Châu là một thành thị văn hóa nổi tiếngvới hơn 1000 năm lịch sử vềthương mại vùng biên giới Năm

1889, Long Châu đã trở thành một cảng thương mại lục địa đối ngoại, là cảng thương mại mở cửa đối ngoại sớm nhất của Quảng Tây; đồng thời cũng là một cổng thông tin quan trọng của sự giao lưu kinh tế và văn hóa giữa Trung Quốc và các nướcĐông Nam Á với các tên “Trọng trấn biên cương”và “Hồng Kông nhỏ” Long Châu có nhiều danh lam thắng cảnh, vẻ đẹp tự nhiên, cảnh quan địa chất độc đáo, cũnglà nơi dưỡng sinh thiên nhiên tuyệt vời.Tuổi thọ bình quân người dân nơi đây rất cao, được gọi là “quê hương trường thọ

7 https://vi.wikipedia.org/wiki/Long_Ch%C3%A2u,_S%C3%B9ng_T%E1%BA%A3

Trang 25

Trung Quốc”.Loại hình hát then cổ của người Choang ở Long Châu rất nổi tiếng, và được xem là “quê hương của nghệ thuật hát then Trung Quốc”.Các

lễ hội dân gian như “Chợ hội Dân ca” ngày 13 tháng 4 (theo âm lịch) và “Lễ hội Nùng Động (cũng gọi là Lồng Tồng, 侬峒节)” cùng các phong tục tập quán của người Choang đều là tài nguyên du lịch sinh thái hấp dẫn cho Long Châu, thu hút được hàng nghìn khách du lịch đến tham quan.Nông nghiệp là hoạt động kinh tếchủ yếu của người dân huyện Long Châu, trong đó, trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn bao gồm cây lương thực và cây hànghóa8.Những năm gần đây, kinh tế cửa khẩu của huyện phát triển nhanh chóng Năm 2015, tổng lượng ngoại thương đã tăng lên vị trí thứ 2 trong 8 thành thịbiên giới của Quảng Tây9

Xã Vũ Đức nằm ở phía bắc của huyện Long Châu, phía đông giáp thị trấn Kim Long, phía nam giáp xã Thượng Long, phía tây kết nối với thị trấn Thủy Khẩu, phía bắc giáp Việt Nam với đường biên giới dài 25 km Đặc điểm địa hình toàn xã là tây bắc cao, đông nam thấp, phần lớn là khu núi đá Xã Vũ Đức có 8 thôn vớitổng diện tích toàn xã là 204 km2

và dân số 18.572 người10 Nông sản chính của xãlà lúa, ngô, đậu nành và lạc, cây hàng hóa có mía và khoai sắn,…

Trang 26

vật thểhiện nay, các vấn đềliên quan đến văn hóa dân gian, nhất là văn hóa dân gian của các tộc người thiểu sốđược ngày càng nhiều học giả quan tâm và nghiên cứu Một số học giả không chỉ giới hạn trong nghiên cứu về văn hóa dân gian của các dân tộc trong nước mà còn quan tâm đếncácdân tộc ở nước ngoài vốn có quan hệ gần gũi với các dân tộc trong nước Không ngoại lệ, người Nùng Việt Nam do có quan hệ gần gũi với người Choang Trung Quốc nên các vấn đề liên quan đến hai tộc người này, nhất là yếu tố văn hóa tộc người đang ngày càng được nhiều học giả, cả ở Việt Nam và Trung Quốc cùng quan tâm nghiên cứu.Các hướng nghiên cứudù khá đa dạng, nhưng chủ

đề về dân ca, và tiếp cận dưới góc nhìn so sánh còn hiếm thấy và nếu có, chỉ ở mức sơ lược Đặc biệt, chưa có một công trình nào lựa chọn địa bàn nghiên cứulà huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn,Việt Nam và huyện Long Châu, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc – nơi hai tộc người này vốn có những mối quan hệ gần gũi trên nhiều phương diện

Dân tộc Nùng ở Việt Nam có số lượng cư dân khá đông, đứng thứ 7 trong tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam Người Nùng ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn chủ yếu là Nùng Phàn Slình Cao Lộc là một huyện núi biên giớinằm ở phía Bắc Lạng Sơn,nơi có cửa khẩu quốc tế Hữu nghị nối sang thành phố Bằng Tường, khu tự trị Quảng Tây, Trung Quốc Huyệncó xuất phát điểm kinh tế tương đối thấp, trồng trọt là nghề chính của người Nùng ở đây Những năm gần đây, theo đường lối đổi mới của Nhà nước, huyện tập trung tiềm lực để khai thác lợi thế biên giới và kinh tế cửa khẩu, chuyển dịch

cơ cấu kinh tếđúng hướng, các hoạt động thương mại – dịch vụ phát triển ngày càng sôi động Người Choang là tộc người có dân số đông nhất trong cộng đồng các dân tộc thiểu số của Trung Quốc Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây là nơi cư trú tập trung nhất của người Choang và huyện Long Châu là một trong những nơi người Choang giữ gìn tốt bản sắc văn hóadân tộc mình Nông nghiệp là cơ sở kinh tế của huyện, trong đó, nghề trồng trọt chiếm

Trang 27

tỷtrọng lớn trong cơ cấu thu nhập Những năm gần đây, kinh tế cửa khẩu và du lịch của huyện cũng phát triển nhanh chóng, tạo những bước nhảy vọt về kinh

tế - xã hội Người Nùng vốn có quan hệ gần gũi với người Choang Trung Quốc,

vì thế ở vùng biên giới hai nước Việt – Trung, hai tộc người này có những quan

hệ khá gần gũi trên mọi khía cạnh của đời sống như kinh tế, xã hội và văn hóa

Trang 28

ca là hồn cốt, giữ vai trò và vị trí quan trọng Từ xa xưa, người Nùng đã coi dân ca là phương tiện giao tiếp, lời tâm sự tỏ tình với người khác giới Hát dân ca là sự rung động của con tim, thể hiện tình cảm, nỗi lòng của người hát với mọi người xung quanh Các làn điệu dân ca của dân tộc Nùng được hình thành từ quá trình lao động sản xuất, từ cuộc sống thường ngày,thể hiện tình cảm mộc mạc, dân dã

2.1 Các thể loại dân ca

Dân ca của người Nùng có nhiều thể loại, mỗi nhóm Nùng địa phương lại có cách hát, làn điệu, lối thể hiện khác nhau và nội dung các bài hát vô cùng phong phú Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu về dân ca của người Nùng Phàn Slình, một nhóm địa phương của dân tộc Nùng ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.Dựa trên kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước

và qua kết quả điền dã tại tỉnh Lạng Sơn cho thấy các thể loại dân ca của người Nùng nơi đâybao gồm: hát Sli,Cỏ Lảu, khúc hát tang lễ, hát Then, hát

ru, đồng dao

HátSli

Nói đến dân ca của người Nùng thì phải nói đến Sli.Cùng gọi là Sli nhưng các nhánh Nùng không giống nhau, trong đó, Nùng Phàn Slình gọi làSli Phàn Slình.Sli Phàn Slình khi hát hay có đôi và đặc biệt đôi đó phải hợp giọng Họ hát theo lối ứng khẩu và theo cảm xúc của mình.Sli là một thể loại dân ca rất phổ biến và độc đáo đối với dân tộc Nùng Sli của người Nùng được coi là một thể loại trữ tình, được thể hiện trongcác ngày hội, chợ phiên,

Trang 29

ngày cưới, ngày lên nhà mới, Người Nùngtrước đây hầu như ai cũng yêu thích và biết hát Sli,đặc biệt là tầng lớp thanh niên Trai, gái dân tộc Nùng hát Sli để kết giao tình bạn hoặc tìm bạn đời.Đặc điểm của hát Sli là hát không cần có nhạc cụ đệm, không có vũđạo kèm theo và có thể hát ở bất cứ lúc nào, chỗ nào, miễn là nơi đó có đối tượng hát

Vềthể loại, hát Sli là một hình thức hát thơ Sli là những bài văn vần, mỗi câu từ 5 đến 7 chữ, mỗi bài từ 4 đến 8 câu hoặc trường thiên vài trăm câu Nội dung của Sli rất phong phú và hấp dẫn Từ những hiện tượng tự nhiên như mây, mưa, trăng, sao, cây cỏ, núi đồi, các mùa, cho đến các câu chuyện lịch sử, văn hóa, xã hội đều là đề tài, nội dung trong các bài hát Sli.Trong lời của Sli có sự liên tưởng, vívon, so sánh thông qua những hình ảnh cụ thể để nói lên tình cảm, tâm trạng và nguyện vọng của con người.Trong các đề tài Sli, tình yêu nam nữ vẫn là nội dung chính yếu mà dân ca Nùng nói chung và hát Sli nói riêng hay đề cập tới Hát Sli giao duyên thường do 2đôi trai gái thể hiện theo lối đối đáp, hát không có bài cụ thể mà theo lối ứng khẩu và cảm xúc của người hát Người hát trước thường là người có giọng vang, tài tình và nhanh nhạy Khi bên này vừa ngừng tiếng Sli thì bên kia cũng phải có người nhanh chóng cất lời Sli để đáp lại như:

Chàng trai: Đến đây ta có đôi lời tâm sự/

Nhưng lại sợ đem phiền cho bạn

Cô gái:Tuy khó nói nhưng hãy cùng tâm sự/

Như mạ gặp nước như lúa gặp mây

Chàng trai: Trông nàng vừa đẹp lại vừa xinh/

Quả ngon lòng ngậm ngùi nhớ mãi

Cô gái: Rừng xanh xuất hiện đôi măng trúc/

Ruộng tốt xuất hiện bông lúa vàng.11

11 Dân ca Sli của người Nùng Phàn Slình ở Lạng Sơn

http://tapchidantoc.ubdt.gov.vn/2014-11-06/a9315580461993a59686b603c45f8c64-cema.htm

Trang 30

Trong cuốn Sli, lượn dân ca trữ tình Tày-Nùng, nhà nghiên cứu Vi Hồng cũng cho thấy rằng: “Người Nùng dùng từ Sli để chỉ toàn bộ dân ca mang tính trữ tình của họ cũng như người Tày dùng từ Lượn để chỉ hầu như toàn bộ dân ca của mình”.Hát Sli là hình thức hát phổ biến nhất của người

Nùng Hát Sli thể hiện sự ứng đối tài hoa của mỗi người với những lời sli ví von, bóng bẩy, hài hước, đôi khi lại xa xôi, ẩn chứa rất nhiều hàm ý

Cỏ Lảu

CỏLảu là một lối hát chỉ sử dụng trong đám cưới của dân tộc Nùng nói chung và người Nùng Phàn Slình nói riêng.Đó là một cách nói chuyện, một hình thức giao tiếpthông qua những bài hát, trong đó chứa đựng những tình cảm trân trọng đối với cha mẹ, họ hàng và những người có công vun đắp, tác thành cho đôi lứa Cỏ Lảu tức là kể chuyện cưới, là hình thức hát trong sinh hoạt đám cưới, là những bài hát xin vào cửa, xin trao lễ, mời nước mời rượu, khi đến đón dâu

Đám cưới của người Nùng Phàn Slình thường diễn ra hai, ba ngày Đoàn nhà trai đi đón dâu gồm có: chú rể và các phù rể, cô đón, thầy Mòi – người được nhận là cha nuôi, thay mặt nhà trai trong giao tiếp với nhà gái để tiến hành các bước củađám cưới Những thành viên của đoàn đón dâu được nhà trai lựa chọn cẩn thận và tin cẩn, thường là những người bạn vàhọ hàng thân thích hoặc là những người bên ngoại giỏi hát Cỏ Lảu Thông thường những người giỏi hát Cỏ Lảu mà đi đón dâu này phải đượcmời trước vài tháng để họ có thời gian tập luyện các bàihát.Đoàn nhà gái sang nhà trai, ngoài cô dâu còn phù dâu, Nàng Tai (cũng gọi là Mẹ Tai hoặc Bà ngoại nuôi) -người đại diện nhà gái đưa dâu về nhà trai, và một thiếu nữ khác mang vác, trông coi tư trang cho cô dâu Những người này cũng phải là người giỏi hát

Cỏ Lảuvà cũng phải có lời mời trước đó vài tháng để họ có thời gian chuẩn bị Khi đoàn đi đón dâu đến nhà trai, Cỏ Lảu được tiến hành chỉ với một, hai bài

ca ngợi thầy Mòi và cô đón Khi xin vào cửa đón dâu, các phù rể và phù dâu

Trang 31

ngồi quanh bàn trong sân, trên bàn hay có nước và rượu, các phù rể đại diện bên nhà trai và các phù dâu đại diện bên nhà gái, họ giao lưu với nhau bằng

Cỏ Lảu, hát đối đáp với nhau, thông thường bên nhà trai hát thắng mới được phép vào cửa đón dâu

Cỏ Lảuđược bắt đầu ở nhà trai bằng việc Nàng Tai dẫn cô dâu và phụ dâu đi ra mắt họ nhà trai Nàng Tai dẫn cô dâu đi chào trưởng họ và bố mẹ chồng Nàng Tai cất tiếng hát kể lại việc cảm ơn bố mẹ của chú rể về công lao nuôi dưỡng từ nhỏ tới chuyện đi tìm dâu và chuẩn bị lễ cưới của nhà trai, tiếng hát của Nàng Tai vừa dừnglại thì người đại diện bên nhà trai (thường là

bố chú rể) yêu cầu phải có một bài đáp lại để cảm ơn và ca ngợi Nàng Tai Nàng Tai tiếp tục đưa cô dâu đi chào họ hàng thân thích và bạn bè, khi đó những bài hát lại được tiếp diễn giữa Nàng Tai và các vị khách Bên cạnh đó, trong đám cưới còn hay có Sli, nam nữ hát đối đáp với nhau Cuộc hát như vậy kéo dài cho đến khi tàn tiệc cưới

Hiện nay, Cỏ Lảu ở trong đám cưới của người Nùngđã rất hiếmkhi diễn ra Người Nùng Phàn Slình ở huyện Cao Lộc nói rằng, từ những năm1990 trở lại đây thì hầu như không còn Cỏ Lảu nữa.Do nhiều nguyên nhân, những bài Cỏ Lảu sưu tầm không được nhiều bằng các bài hát Sli Dưới đây là một bài Cỏ Lảu

đã được dịch sang tiếng Việt trong cuốn Dân ca Nùng[8, tr.177]:

XUỐNG NHÀ Nhanh nhanh mà xuống gác Bước bước mà xuống thang Nàng pạu buổi sáng nay Mặc áo trắng áo hồng Mặc áo trắng bên trong Mặc áo hồng bên ngoài Nhiều người cùng đi kèm Nhiều người cùng theo với

Trang 32

Thứ bậc chẳng thấp cao Theo mới nên đạo lí

Đi theo một rừng mới

Đi theo mười lượt bạn Sương mù xuống dăng dăng Sương kéo thành muôn sợi Sợi giăng trên núi đa Sợi giăng trên lũng xa Con đường đã cất giọng Cất giọng gọi xuống nhà

Khúc hát Tang lễ

Khúc hát Tang lễ là một thể loại dân ca chỉ dùng trong tang lễ của người Nùngvà đếnnay vẫn được sử dụng khá phổ biến, nhất là những địa bàn người Nùng cư trú tập trung Trong tang lễ của dân tộc Nùng có nhiều nghi lễ

và thủ tục khác nhau để người sống làm tròn nghĩa vụ cuối cùngvới ngườiqua đời Trong suốt quá trình diễn ra tang lễ, thầy Tào chủ trì các hoạt động, đảm nhận việc cúng lễ, đưa dẫn linh hồn người vừa mất về với tổ tiên Thân nhân của người vừa mất thì hát qua tiếng khóc theo các bài sẵn có mà thông thường

do thầy Tào cung cấp, kèm theo những cụ nhạc như cồng, trống,… Thân nhân dùng lời ca qua tiếng khóc của mình để biểu đạt tâm sự, tình cảm với người

đã mất, để chào khách, để tỏ lời cám ơn với thầy Tào,… Dưới đây là một

đoạn của bài ca đầu tiên Lấy nước đã được dịch sang tiếng Việt và được tập hợp trong cuốn sách Dân ca Nùng[8, tr.28-32]:

12 Người: chỉ người vừa mất

13 Thầy: chỉ thầy Mo, thầy Tào

Trang 33

Thuốc chữa cũng không dậy

Hôm nay Người ngã đi với sương

Hôm nay Người khuất đi với móc

Con Người cầm gạo trắng đi mời

Con Người cầm nắm gạo đi cậy

Mời thầy già bản xa

Mời thầy giỏi bản lớn

Mang bộ sách ba người vác

Mang bộ chéng tám người khiêng

Thầy lập bàn Thầy phía bên cửa

Yên vị bàn thờ chính giữa

Mời Người xuống bên cửa mà dựa

Mời Người xuống giữa nhà mà ở

Thầy đến gọi Người đi

Thầy đến mời Người dậy

Người hãy theo dấu chân Thầy đi

Người hãy theo gót chân Thầy mà bước

……

Bài ca này được coi như là tiếng khóc đầu tiên của thân nhân sau khi có người qua đời trong tang lễ, cũng là thủ tục đầu tiên của thầy Tào để chuẩn bị đưa người mất vào quan tài Thầy Tào Lý Văn Xuân có tên cấp sắc14

là Lý Bảo Điền (李宝田) ở xã Yên Trạch (người Nùng Phàn Slình, sinh năm 1970) cho biết rằng những khúc hát Tang lễ chỉ sử dụng trong tang lễ, bất cứ là thân nhân hay thầy Tào đều không được hát vào thường ngày hoặc ngày lễ khác (chỉ ngoài tháng Giêng thầy Tào có thể lấy ra để tập luyện cho thuộc lòng)

14 Tên cấp sắc: mỗi người làm thầy Tào đều có biệt danh mà thông thường do các thầy cấp sắc đặt để tránh tình trạng chùng với các cụ xưa, gọi là tên cấp sắc

Trang 34

Hát Then

Hát Then là một thể loại âm nhạc tín ngưỡng truyền thống lâu đời của người Nùng mà đến nay vẫn được sử dụng phổ biến Mỗi vùng, làn điệu Then lại có những nét độc đáo riêng, trong đó, Then của người Nùng ở Lạng Sơn với những làn điệu khi hát lên thì vui tươi, rộn ràng hơn các vùng khác.Then Lạng Sơn có nhiều giai điệu độc đáo, các nghi lễ khác nhau hoặc các giai đoạn khác nhau trong một nghi lễ sẽ có giai điệu khác nhau Lạng Sơn được xem là một trong những cái nôi của thể loại dân ca độc đáo này

“Then” có nghĩa là thiên, tức là Trời Hát Then cổ được coi là làn điệu hát thần thiên, là một loại hình nghệ thuật mang màu sắc tín ngưỡng, thuật lại một cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin một điều gì đó Theo tập tục từ

xa xưa, mỗi khi trong cuộc sống gặp hiện tượng lạ, không thể lý giải được là người Nùng thường tổ chức lễ cầu cúng, mời người làm Then đến đàn hát để cầu mong cho gia đình được bình yên, may mắn, mạnh khỏe, làm ăn thuận lợi Ngoài ra, hát Thencổ còn được sử dụng trong những dịp quan trọng khác như: hội làng cầu mùa hay trong từng gia đình vào dịp năm mới, vào nhà mới, lễ mừng thọ, lễ khai quang vàlễ khai trương của các doanh nghiệp,…Ngay cả những vấn đề cá nhân như cầu công danh, duyên số,…cũng có thể nhờ người làm Then giải hạn Người làmThen đàn hát với cây đàn tính nhờ lời ca tiếng hát của mình, đưa những nguyện ước đó đến với các đấng thần linh để biến những lời cầu mong đó thành hiện thực Trong các nghi lễ đó, hát Then cổ là một cuộc diễn xướng trường ca mang màu sắc tín ngưỡng, tường thuật lại cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin đấng thần linh giải quyết một tâm nguyện gì đó cho gia chủ.Người làmThen cổthường là những người có bối cảnh trong gia đình đã có nhiều đời làm Then hoặc có căn số phải làm Then.Họ xin học ở các thầyThen uy tín, chủ yếu học theo hình thức truyền miệng, ít khi có sách vở

Không thể không kể đến lễ cấp sắc của Then, đó là một việc lớn trong đời của người làm Then.Lễ cấp sắc thường được diễn ra ba ngày đêm với

Trang 35

nhiều thủ tục khác nhau, được coi như là lễ cấp chứng chỉ hành nghề cho học trò sau khi đã theo thầy học thành, người học Thencổ sau khi được cấp sắc mới được chính thức vào nghề Then có ba bậc đẳng cấp, bậc ba là đẳng cấp cao nhất

Trải qua quá trình hình thành và phát triển, những năm gần đây, hát Then không chỉ được trình diễn trong các hoạt động tâm linh tín ngưỡng mà còn được diễn xướngnhư một hình thức nghệ thuật dân gian độc đáo trong các lễ hội và hoạt động văn nghệ như hội diễn khu vực, các cuộc thi, Lược bỏ đi những yếu tố tâm linh tín ngưỡng mang màu sắc mê tín, hátThen đã thực sự góp phầnlàm sự phong phú đời sống văn hóa tinh thầncủa người dân Hiện nay,

ở Lạng Sơn, ngày càng nhiều lớp trẻ đi học hát Then và đàn tính, họ học với các thầy cô giảng dạy có sách vở ở trong nhà trường hoặc tạicác lớp mở dạy hát Các lớp học và câu lạc bộ Then được tổ chức khá phổ biến ở Lạng Sơn.Đội ngũ tham gia hát Then, đàn tính được tăng nhanh, góp phần khơi dậy niềm đam mê trong lòng công chúng yêu nghệ thuật hát Then, đàn tính

Có thể nói, hiện nayhát Thenlà loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian vừa mang yếu tố tâm linh vừa mang yếu tố văn hóa nghệ thuật.Nókhông chỉ thể hiện đời sống tâm linh phong phú, mà còn là sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian mang tính dân tộc độc đáo

Đồng dao

Đồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng của trẻem, là một trong những thành tố dân ca cấu thành nền văn hóa dân gian truyền thống.Đồng dao bao gồm nhiều loại: các bài hát của tre em, lời hát trong trò chơi, bài hát ru em, Đối với dân tộc Nùng, đồng dao thường vừa hát vừa kết hợp các trò chơi và gắn với những kiến thức về ngôn ngữ, địa danh làng bản Các bài hát diễn tả thế giới xung quanh vô cùng phong phú, gần gũi, mộc mạc, chân chất mà đằm thắm yêu thương Các chủ đề của đồng dao đa dạng, ngôn ngữ tinh tế, có vần điệu hoạt bát, sống động và vui vẻ Dưới đây là

Trang 36

một bài đồng dao của người Nùng ở Lạng Sơn đã được dịch sang tiếng

Việt và sưu tầm trong cuốn Dân ca Nùng[8, tr.21]:

Trời hãy mưa

Nước hãy lũ

Gà thiến trốn vào lồng

Ông vua trốn vào lồng

Con chó trốn vào hang

Con khỉ cười ha hả

Con ngựa cười hè hè

Trước đây, ở đâu có con trẻ là ở đó có đồng dao Nhưng ngày nay, cùng với các trò chơi dân gian, đồng dao không còn phổ biến như xưa nữa

HátRu

Hát ru là một thể loại đặt biệt trong kho tàng âm nhạc dân gian và đã tồn tại lâu dài trên thế giới.Hát ru thường là những bài hát nhẹ nhàng,đơn giản, giúp trẻ con dễ đi vào giấc ngủ Phần lớn các câu trong bài hát ru lấy từ ca dao, đồng dao, hay trích từ các loại thơ hoặc hò dân gian được truyền miệng

từ bà xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau Đối với dân tộc Nùng, hát ru là một thể loại dân ca phổ biến khắp nơi ở các vùng người Nùng cư trú tập trung.Cùng với những bài đồng dao, hát ru chủ yếu là lời ca dành riêng cho các em nhỏ Đa phần người hát ru là các bà, các cô dì và các chị em gái.Ngay

từ hồi thơ ấu, các em đã được đắm chìm trong tiếng hát, lời ca, những lời ru ngọt ngào của người bà, người mẹ, người chị Người Nùng thường hát ru con bên nôi, khi địu con để làm những công việc gia đình hay hay khi địu con đinương Hát ru kể chuyện chân thật, nội dung kể về công việc, các con vật, công ơn cha mẹ, cộng đồng, ca ngợi quê hương tươi đẹp, Lời ru mộc mạc, giản dị, chân thành, và giàu hình ảnh Dưới đây là một bài hát ru mà chúng tôighi lại được khi khảo sát tại huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn,do bà Hoàng Thị Sim (người Nùng Phàn Slình, sinh năm 1964) ở xã Yên Trạch thể

Trang 37

hiện.Tạmdịch như sau:

Con ơi con ngủ cho ngoan

Mẹ đi cấy chưa về Con ngủ trong võng ngoan nhé

Mẹ con đi bắt con tôm chưa về

Mẹ con đi làm ở xa chưa về

Về nhà con chưa được bú Còn đi tắm rửa sạch sẽ bà mới đưa cho mẹ bú Con được ăn, được bú con ngủ cho ngon

Hát ru có kết cấu đơn giản, dễ nhớ, gần gũi với tâm sinh lý trẻ, giaiđiệu nhẹ nhàng, nội dung chân chất, mang tình cảmđằm thắm yêu thương,là nguồn sữa tinh thần nuôi dưỡng tâm hồn con người từ thủa còn trên nôi

2.2 Hình thức diễn xướng

Với sự đa dạng về thể loại, dân ca Nùng cũng có nhiều hình thức diễn xướng khác nhau Phần lớn dân ca của người Nùng ở huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn được diễn xướng không cần nhạc cụ đệm, không có vũ đạo kèm theo Hình thức diễn xướng có hát đối đáp, hát đơn ca và hợp xướng, trong đó, hát đối đáp nam nữ là hình thức diễn xướng chủ yếu đối với hát Sli nói riêng

và hát dân ca nói chung.Hát Sli là một thể loại dân ca phổ biến nhất đối với người Nùng ở Lạng Sơn, cuộc hát Sli thường do 2 đôi trai gái thể hiện theo lối đối đáp, nhưng số người tham gia mỗi bên có thể lên đến hơn chục người, hát không có bài vở cụ thể mà mang tính ngẫu hứng, hát đến đâu ứng tác đến đó.Hai đôi trai gái hát đối đáp với nhau là hình thức diễn xướng chủ yếu đối với Sli Nùng nói riêng mà hát dân ca nói chung, ngoài ra, cũng có thể là một hoặc một vài đôi trai gái Hơn nữa, trừ hát đối đáp nam nữ còn có thể là một vài bạn bè tụ hợp mà hát cho vui hoặc lúc khi đi xuống đồng, đi chăn trâu, đi trên đường,…thì có thể hát một mình để thư giãn Bên cạnh đó, lớp thiếu nhi thì hay hát đồng dao, họ thường hát với những bạn bè bằng tuổi theo lối hát

Trang 38

cùngnhau Hát ru thì là hát một mình, người hát thường là các bà, cô dì, các chị em gái, hát với giọng nhẹ nhàng để ru con ngủ

Khác với những loại hình dân ca không cần nhạc cụ đệm, hát Then thì

là một loại hình dân ca được diễn xướng theo hình thức vừa hát vừa đàn bằng cây đàn tính Cuộc diễn xướng Then mới có thể hát đơn ca hoặc hát tập thể, thông qua lời Then mới để ca ngợi thiên nhiên và cuộc sống ấm no, hạnh phúc hiện nay Ngoài ra, hát Tang lễ cũng thường có những nhạc cụ kèm theo như: cồng, chũm chọe, trống,…

Chợ hộidân ca (chợ hộihát)

Trang 39

Chợ hội là nơi thanh niên nam nữ khắp nơi đến trẩy hội và hát giao duyên15

Người Tày – Nùng đi hội chợ, mục đích chính không phải trao đổi mua bán hàng hóa, mà là để giao lưu văn hóa, đặc biệt là nhu cầu tìm bạn đời của thanh niên nam nữ đến tuổi trưởng thành Và như vậy, chợ hội đã từng là không gian sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong đời sống tinh thần của họ Hoạt động này chủ yếu diễn ra trong sinh hoạt văn hóa người Tày – Nùng Tiếng Tày – Nùng gọi phiên “chợ” này là “Hang hội”, “Hang toán”, “Hang lượn” Chợ hội hát được tổ chức rải rác trong năm và trong một năm, mỗi nơi thông thường chỉ tổ chức một lần Những hội chợ dân ca nổi tiếng như Chợhội Kỳ Lừa 27/3 (theo âm lịch) được tổ chức tại trung tâm huyện thành phố Lạng Sơn – chợ Kỳ Lừa, người Nùng đến dự từ các thành thị xã.Ngày nay, chợ hội được tổ chức với quy mô hạn chế, người đến dự không được đôngnhư trước đây

Các ngày lễ tết

Những ngày lễ hội truyền thống của người Nùng là những ngày liên quan đến sự chuyển đổi của thời tiết trong năm và liên quan đến nghề nghiệp chính – trồng trọt của họ như lễ hội “LồngTồng” , có nghĩa là xuống đồng, được tổ chức trong thời gian từ ngày mùng 3 tết cho đến hết tháng Giêng Trong phần nghi lễ của lễ hội Lồng Tồng, các thầy cúng được mời đến làm pháp để cầu trời cho mưa gió thuận hòa, mùa màng tốt tươi Ngoài phần lễ, các thanh niên nam nữ vui hội, hát Sli giao duyên, mời bạn về nhà vui chơi,

ăn uống Các ngày tết khác nhưTết năm mới (theo âm lịch), ngày Quốc Khánh 2/9 (theodương lịch), TếtNguyên đán (theo dương lịch),…cũng được người Nùng tổ chức với các hoạt động biểu diễn văn nghệ và trò chơi dân gian.Trong đó, nam nữ thanh niên gặp gỡ, giao lưu, hát Sli ở giữa chợ, trên

15

http://vncvanhoa.vass.gov.vn/UserControls/News/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/noidung/doituongnghien cuu/vanhoadangian/Lists/phongtuclehoi&ListId=22c5cc0e-eb22-44f2-b47a-f5743bea838f&SiteId=99302971 -c1c8-4193-a7ce-2c46027c0c8e&ItemID=36&SiteRootID=0186ffff-c45a-4115-9955-1ebadc8612da#_ftn4

Trang 40

sườn núi, dọc các nẻo đường vào phố,…Ngoài ra, người Nùng cũng hay hát Sli vào những ngày cưới, ngày sinh nhật, mừng thọ,…

Các nghi lễ tín ngưỡng dân gian

Trong đời sống tinh thần, dân tộc Nùng hiện nay vẫnđang thực hành nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian phong phú Các nghi lễ dân gian như cầu mùa, tang ma, trừ tà chữa bệnh,… vẫn được duy trì Hát then cổ, hát Sli và những khúc hát tang lễ được diễn ra trong các nghi lễ này để ca ngợi, cầu xin thần linh, hay bày tỏ tình cảm của người hát

Các hoạt động văn nghệ

Mức sống ngày càng được nâng cao đã khiến người Nùng quan tâm nhiều hơn tới đời sống văn hóa tinh thần, đặc biệt là nhu cầu hưởng thụ văn hóa cũng như phục hồi các nét đẹp văn hóa truyền thống tộc người Các cộng động văn nghệ dân gian như câu lạc bộ hát Then, câu lạc bộ Đàn và hát dân ca tỉnh Lạng Sơn,…được thành lậptừ vùng nông thôn lan đến thành thị Các hoạt động văn nghệ như các cuộc thi, hội diễn, liên hoan, giao lưu văn nghệ,…được tổ chức thường xuyên Các loại hình dân ca được diễn lên sâu khấu, tạo ra sức lan tỏa thật mạnh mẽ, đóng góp vào việc truyền bá văn hóa dân giandân tộc

Ngoài ở chợ phiên và vào các ngày lễ tết, các loại hình dân ca người Nùng như hát Sli, hát ru con, đồng dao, hát Thencòncó thể hát ở trong nhà, ngoài đồng, chốn đình làng,… hay bất cứchỗ nào, lúc nào, miễn là có đối tượng hát hay mình muốn hát

2.4 Xu hướng biến đổi

Ở Việt Nam từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới đến nay,sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập, mở cửa, sự phát triển của kinh tế - xã hội đã dẫn đến những xu hướng biến đổi khác nhau của văn hóa truyền thống, nhất là văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số Trong đó, dân

ca của dân tộc Nùng ở Lạng Sơn cũng không nằm ngoài sự biến đổi đó

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w