Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này là: sự hình thành, tầm ảnh hưởng của nhân cách và văn thơ Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn hóa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Tạ Thị Thanh Huyền
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Hà Nội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Tạ Thị Thanh Huyền
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA NAM BỘ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62 22 01 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS TRẦN NHO THÌN
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Lãnh đạo và cán bộ các phòng ban, Ban Chủ nhiệm và các thầy cô trong Khoa Văn học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Trần Nho Thìn - người hướng dẫn khoa học đã luôn tận tình chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận án
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám đốc, Trưởng ban Sách Phi hư cấu cùng các đồng nghiệp tại Công ty Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam, nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận án Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, ủng hộ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tác giả
Tạ Thị Thanh Huyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Nho Thìn Kết quả nghiên cứu của đề tài là trung thực, không trùng lặp với công trình của một tác giả nào khác đã công bố trước đây Các nhận xét, đánh giá sử dụng của các tác giả, cơ quan, tổ chức khác đều được trích dẫn theo đúng quy định hiện hành về Quy cách trình bày luận án Nếu có phát hiện bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2019
Tác giả
Tạ Thị Thanh Huyền
Trang 51
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài 4
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp mới của luận án 7
6 Cấu trúc của luận án 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
1.1 Giới thiệu hướng tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu 9
1.1.1 Hướng tiếp cận địa văn hóa 9
1.1.2 Các phương pháp nghiên cứu 14
1.2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu nói chung và lịch sử nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu từ góc nhìn văn hóa 16
1.2.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu nói chung 16
1.2.2 Lịch sử nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu từ góc nhìn văn hóa 21
CHƯƠNG 2: CÁC LỚP TRẦM TÍCH CỦA BA CHỦ THỂ CHÍNH KHMER, VIỆT, HOA TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA NAM BỘ TỪ ĐẦU THẾ KỶ XVII ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX 29
2.1 Khái quát về không gian địa lý Nam Bộ 29
2.2 Các lớp trầm tích văn hóa của ba chủ thể chính Khmer, Việt, Hoa 31
2.2.1 Lớp văn hóa của người Khmer 31
2.2.2 Lớp văn hóa của người Việt: nhóm người theo đạo Thiên Chúa và nhóm người không theo đạo Thiên Chúa 33
2.2.3 Lớp văn hóa của người Hoa 49
2.3 Hệ thống nhân vật tiêu biểu, nghi lễ và giá trị trong không gian văn hóa Nam Bộ thế kỷ XIX 55
2.3.1 Hệ thống nhân vật tiêu biểu trong văn hóa Nam Bộ 55
2.3.2 Hệ thống nghi lễ trong văn hóa Nam Bộ 57
2.3.3 Những giá trị văn hóa Nam Bộ tiêu biểu 61
Trang 62
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG TỪ KHÔNG GIAN VĂN HÓA NAM BỘ TỚI
SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU 66 63 3.1 Ảnh hưởng của Nho giáo ở Nam Bộ trong thơ văn của Nguyễn Đình
Chiểu 66
3.1.1 Tư tưởng “chính khí” trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu 66
3.1.2 Những biểu hiện “lệch chuẩn” của Nho giáo Nam Bộ trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu 69
3.1.3 Tư tưởng bài Phật giáo, bài Thiên Chúa giáo và cự tuyệt văn minh phương Tây trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu 70
3.2 Ảnh hưởng của các tín ngưỡng - tôn giáo và nghi lễ của văn hóa Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu 78
3.2.1 Ảnh hưởng của triết lý âm - dương ngũ hành và tín ngưỡng thờ Huyền Thiên Thượng Đế 78
3.2.2 Ảnh hưởng của quan niệm về âm chất - âm công 80
3.3 Ảnh hưởng của các giá trị Nho giáo và bình dân trong văn hóa Nam Bộ tới sự xây dựng các kiểu mẫu nhân cách lý tưởng trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu 81
3.3.1 Lục Vân Tiên - kiểu mẫu nhân cách quân tử đặc sắc Nam Bộ 82
3.3.2 Kiều Nguyệt Nga - kiểu mẫu nhân cách liệt nữ 89
3.3.3 Kỳ Nhân Sư - kiểu mẫu nhân cách ẩn sĩ 98
3.3.4 Trương Định, Phan Tòng - các gương anh hùng kháng chiến 108
3.3.5 Người nghĩa binh nông dân - tập thể anh hùng vô danh 110
3.4 Ảnh hưởng của các thành tựu văn học - nghệ thuật Việt, Hoa trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu 113
3.4.1 Ảnh hưởng của tiểu thuyết Minh-Thanh 113
3.4.2 Ảnh hưởng của truyện thơ Nôm 119
3.4.3 Ảnh hưởng của tuồng 122
CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU TỚI KHÔNG GIAN VĂN HÓA NAM BỘ 125
4.1 Nguyễn Đình Chiểu - một nhân cách truyền cảm hứng lớn lao 125
4.1.1 Con người không khuất lụy nghịch cảnh 125
Trang 73
4.1.2 Bậc thầy đáng kính của người dân Nam Bộ 127 4.1.3 Kẻ sĩ bất khuất, trung thành với lý tưởng 129
4.2 Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn hóa Nam Bộ 130
4.2.1 Nguyễn Đình Chiểu - người truyền bá những tư tưởng Nho giáo chính thống từ không gian văn hóa Huế vào không gian văn hóa Nam Bộ 130
4.2.2 Khảo sát trường hợp: ảnh hưởng của Lục Vân Tiên - tiếp nhận thuận
chiều và “phản tiếp nhận” 137
KẾT LUẬN 179 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 184 TÀI LIỆU THAM KHẢO 185 PHỤ LỤC 201
Trang 8Nguyễn Đình Chiểu là tác gia trung đại đầu tiên của vùng đất Nam Bộ, và của cả Việt Nam, sáng tác hướng tới độc giả đại chúng trong toàn bộ sự nghiệp văn chương của ông Với một số phận khác thường, nhân cách đáng kính trọng, cùng sự nghiệp văn chương có tầm ảnh hưởng lớn lao, lâu dài, hầu như thời nào Nguyễn Đình Chiểu cũng thu hút sự quan tâm của cả chính quyền lẫn nhân dân Hơn một thế kỷ trôi qua kể từ khi nhà thơ từ giã cuộc đời, danh mục tư liệu về ông
đã xấp xỉ con số 700 với nhiều góc độ tiếp cận Hầu hết trong số đó là những bài viết có dung lượng không lớn, tập trung giải quyết một vấn đề nhỏ, hoặc một vấn
đề lớn nhưng ở bình diện khái quát Chuyên khảo Nguyễn Đình Chiểu từ quan
điểm thi pháp học của Nguyễn Phong Nam tập trung vào các thành tố bên trong
của các tác phẩm Lịch sử tiếp nhận Nguyễn Đình Chiểu quan tâm đến đời sống
của các tác phẩm trong quá trình tiếp nhận, nhưng tác giả mới chỉ dừng ở việc khảo sát tình hình tiếp nhận tác phẩm và nhân cách Nguyễn Đình Chiểu trong văn học nghệ thuật qua các thời kỳ Chưa có công trình nào tiến hành khảo sát, phân tích toàn diện mối quan hệ giữa nhân cách và sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu với văn hóa Nam Bộ - môi trường văn hóa đã nuôi dưỡng tài năng văn chương của ông, cung cấp những “cú hích” cần thiết để tài năng ấy bộc lộ, đồng thời cũng nhận ảnh hưởng ngược lại từ chính ông Một công trình như vậy là một sự bổ sung
và đóng góp quan trọng cho sự nghiệp nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu
Trang 95
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này là: sự hình thành, tầm ảnh hưởng của nhân cách và văn thơ Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn hóa Nam Bộ - một không gian văn hóa non trẻ nhưng độc đáo của đất nước thống nhất Việt Nam với các lớp trầm tích văn hóa đa dạng, liên tục bị biến cố lịch
sử khuấy đảo khiến cho chúng không ngừng tương tác với nhau để rồi hình thành nên những hằng số và biến số chi phối cuộc sống cùng với tính cách văn hóa của con người nơi đây
Với đối tượng nghiên cứu như vậy, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu của luận án là quá trình hình thành, biến đổi của không gian văn hóa Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX (giai đoạn giao thời) cùng toàn bộ cuộc đời cùng sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu với tư cách là một nhân vật văn hóa Những tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu được chúng tôi tham khảo và trích
dẫn từ công trình Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (gồm 2 tập) do Ca Văn Thỉnh,
Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải, Nhà xuất bản Văn học ấn hành (1997) Những giai thoại về cuộc đời và nhân cách Nguyễn Đình
Chiểu chúng tôi tham khảo cũng như trích dẫn từ công trình Nguyễn Đình Chiểu -
về tác gia và tác phẩm do Nguyễn Ngọc Thiện tuyển chọn, Nhà xuất bản Giáo dục
ấn hành (2001), Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc đời do Thạch Phương chủ biên (1982), Ty Văn hóa và thông tin Bến Tre xuất bản
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Có thể coi Nguyễn Đình Chiểu là nhân vật đại diện cho một số giá trị văn hóa cốt lõi của Nam Bộ Vì vậy, việc nghiên cứu nhân cách và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu không thể tách rời việc nghiên cứu văn học - văn hóa Nam Bộ với những nét đặc thù đòi hỏi phải hết sức lưu ý khi tiếp cận Mục đích của luận án là đặt Nguyễn Đình Chiểu và sáng tác của ông vào hệ tọa độ văn hóa Nam Bộ để xác định các thành tố văn hóa đã tác động đến sự hình thành nhân cách
và văn chương của ông, đồng thời xem xét ảnh hưởng ở chiều ngược lại từ phía ông tới văn hóa Nam Bộ Từ đó, luận án rút ra kết luận về vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng của Nguyễn Đình Chiểu tới tiến trình phát triển của không gian văn hóa Nam Bộ
Với mục đích nghiên cứu như vậy, chúng tôi xác định những nhiệm vụ nghiên cứu của luận án như sau:
Trang 106
1) Xác định vị trí, tầm ảnh hưởng của các chủ thể văn hóa và các lớp trầm tích văn hóa mà các chủ thể này đã tạo ra trong quá trình cộng cư trên vùng đất Nam Bộ, từ đó rút ra hệ thống biểu tượng, nghi lễ, giá trị chiếm ưu thế trong không gian văn hóa Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX
2) Khảo sát các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu để xác định các nhân vật
và hệ giá trị của lớp trầm tích văn hóa nào hiện diện trong đó; phân tích cách tác giả sử dụng, cải biến các nhân vật và hệ giá trị đó cho phù hợp với nhãn quan Nho giáo của ông; liên hệ với bối cảnh thời đại cùng các tác giả, tác phẩm khác có liên quan để lý giải nguyên nhân của sự lựa chọn
3) Khảo sát các giai thoại về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu để rút ra nhận định chính xác về ông như một nhân cách văn hóa kiểu mẫu và truyền cảm hứng của vùng đất Nam Bộ
4) Khảo sát sự tiếp nhận đối với các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trong
ca dao, dân ca Nam Bộ và Nam Trung Bộ, trong sáng tác của các tác giả văn học miền Nam đầu thế kỷ XX theo hai xu hướng: tiếp nhận và phản tiếp nhận
5) Khảo sát các giai thoại về những tấm gương anh hùng nghĩa hiệp giống như Lục Vân Tiên ngoài đời thực để thấy, đối với một phận không nhỏ người dân Nam Bộ, nhân vật của Nguyễn Đình Chiểu đã trở thành một kiểu mẫu nam nhân lý tưởng
4 Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng, mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu như vậy đòi hỏi chúng tôi
phải áp dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu liên ngành
Tuy nhiên, phương pháp chủ đạo của chúng tôi trong luận án là phương pháp
tiếp cận văn hóa, cụ thể là các quan điểm về “văn hóa”, “vùng văn hóa” và “không
gian văn hóa” Về “văn hóa”, chúng tôi sử dụng quan điểm của Gerrt Hofstede - hình dung văn hóa gồm bốn lớp: lớp ngoài cùng là biểu tượng, lớp tiếp theo là nhân vật, lớp thứ ba là nghi lễ và lớp lõi trong cùng là giá trị Về “vùng văn hóa”
và “vùng văn hóa Nam Bộ”, chúng tôi theo quan điểm của các nhà nghiên cứu trong nước như Ngô Đức Thịnh, Đinh Gia Khánh - Cù Huy Cận Trần Quốc Vượng Về “không gian văn hóa”, chúng tôi vận dụng quan điểm của Michel Foucault, trong đó ông bác bỏ mô hình thời gian tuyến tính truyền thống và thay bằng mô hình “chồng xếp” - xem thời gian là các lớp “trầm tích” của văn hóa trong một không gian xác định và các lớp trầm tích này, với tư cách là bộ phận của
“quá khứ văn hóa”, không lắng đọng mà liên tục chịu sự khuấy đảo của hoàn cảnh
Trang 117
để được “làm mới”, “tái tạo”, sử dụng lại một vài phần rồi từ đó hình thành nên các lớp trầm tích mới bồi đắp cho không gian văn hóa Quá trình tương tác liên tục của các chủ thể với quá khứ văn hóa trong một không gian văn hóa nhất định vừa làm biến đổi vừa tăng thêm bề dầy cho truyền thống văn hóa đó Vận dụng những
lý thuyết về văn hóa và không gian văn hóa nói trên, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát truyền thống văn hóa của Nam Bộ nơi sinh ra nhân cách và văn tài của Nguyễn Đình Chiểu, ở chiều ngược lại, nhà thơ đã góp phần củng cố những giá trị cốt lõi của văn hóa Nam Bộ và tạo dựng những giá trị mới, tác động mạnh mẽ tới lối sống, nếp nghĩ và văn chương của vùng đất này
Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử xã hội để phác thảo
diện mạo của không gian văn hóa Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX một cách hoàn chỉnh với các dữ kiện chọn lọc về các tộc người cộng cư trên đất Nam Bộ, về cuộc đời và nhân cách của Nguyễn Đình Chiểu
Khi khảo sát và phân tích, lý giải quan niệm phân biệt Hoa - Di, sự xung đột giữa Nho giáo và Thiên chúa giáo, giữa chủ nghĩa trọng thương, vị lợi của thực dân với quan điểm trọng nông, đặt nghĩa đứng trước lợi của nhà nho, chúng tôi
cũng vận dụng cách tiếp cận của hình tượng học (Imagology)
Phương pháp nghiên cứu tiếp nhận và phản tiếp nhận được vận dụng để nghiên cứu đời sống của truyện Nôm Lục Vân Tiên - tác phẩm thành công nhất của
Nguyễn Đình Chiểu - trong văn chương Nam Bộ đầu thế kỷ XX
Vì luận án viết về một tác gia văn học Nam Bộ, đặt trong hệ tọa độ của
không gian văn hóa Nam Bộ nên phương pháp phỏng vấn chuyên gia cũng là một
phương pháp cần thiết để đảm bảo tính khách quan và độ chính xác
Ngoài ra, trong những phần cụ thể, chúng tôi cũng tiến hành các thao tác so
sánh, đối chiếu, thống kê Ví dụ như so sánh Truyện Kiều với truyện Lục Vân
Tiên, so sánh Lục Vân Tiên với một số tiểu thuyết Minh-Thanh, so sánh Dương Từ
Hà Mậu với Tây Dương Gia Tô bí lục và các tài liệu về lịch sử xung đột giữa Nho
giáo với Thiên Chúa giáo ở các nước Đông Á, so sánh quan niệm Hoa-Di, bài
Thiên Chúa, chống văn minh phương Tây của Nguyễn Đình Chiểu với các văn thân sĩ phu đương thời để làm rõ những sự tiếp nhận và phản tiếp nhận đối với các tác giả, tác phẩm có nguồn gốc Việt và Hoa, những điểm dị - đồng của Nguyễn Đình Chiểu so với các trí thức đương thời trước những vấn đề thời sự của đất nước
Trang 128
5 Đóng góp mới của luận án
Đóng góp của luận án có hai mặt Thứ nhất là xác định và phân tích các nhân
tố văn hóa Nam Bộ cấu thành nên nhân cách và văn chương của Nguyễn Đình Chiểu Các nhân tố đó là: văn hóa của lưu dân gốc Hoa, văn hóa của lưu dân Việt, văn hóa vùng Thuận - Quảng mà trung tâm là kinh đô Huế - nơi hội tụ tinh hoa văn hóa cả nước thời bấy giờ, công cuộc Nho giáo hóa và Việt hóa của triều Nguyễn, chủ trương bài Thiên Chúa giáo và chống phương Tây của triều đình cùng đại đa số văn thân sĩ phu, phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Bộ
Đóng góp quan trọng thứ hai là xác định vị trí và tầm ảnh hưởng của Nguyễn Đình Chiểu cùng sự nghiệp văn chương của ông trong không gian văn hóa Nam
Bộ cả với người đương thời cùng các thế hệ sau; chỉ ra được những kiểu mẫu nhân cách và giá trị văn hóa bền vững với thời gian mà Nguyễn Đình Chiểu đã tổng hợp, tạo dựng, góp phần lưu truyền
Những khám phá mới về Nguyễn Đình Chiểu và không gian văn hóa Nam
Bộ trong luận án có thể ứng dụng trong việc giảng dạy trong nhà trường phổ thông, cao đẳng - đại học nhằm khơi gợi hứng thú đối với một bộ phận độc đáo của di sản văn học dân tộc mà trước đây, do định hướng tiếp cận có phần xơ cứng, chưa thu hút được sự quan tâm xứng đáng từ đại chúng
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả có liên quan đến luận án và Phụ lục, luận án bao gồm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Các lớp trầm tích của ba chủ thể văn hóa chính Khmer, Việt, Hoa trong không gian văn hóa Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX
Chương 3: Ảnh hưởng từ không gian văn hóa Nam Bộ tới sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
Chương 4: Ảnh hưởng của Nguyễn Đình Chiểu tới không gian văn hóa Nam Bộ
Trang 139
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu hướng tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu
1.1.1 Hướng tiếp cận địa văn hóa
Về khái niệm “vùng văn hóa” và xác định “vùng văn hóa Nam Bộ”
Trên thế giới, khái niệm “vùng văn hóa” (cultural area) là khái niệm thuộc lĩnh vực nhân học văn hóa, ban đầu do các giám tuyển (museum curator) và các nhà dân tộc học từ cuối thế kỷ XIX sáng tạo ra để phục vụ việc sắp xếp cho các cuộc trưng bày, được Clark Wissler rồi sau đó là Alfred L Kroeber phát triển (Kroeber 1931) và được sử dụng trong các ngành khoa học xã hội cho đến tận ngày nay Khái niệm này dựa trên nhiều tiêu chí, nhưng quan trọng nhất vẫn là
ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ vừa là công cụ giao tiếp hữu hiệu để thống nhất các vùng
văn hóa, vừa là rào cản khiến cho việc giao lưu văn hóa gặp trở ngại Trong tình hình Việt Nam, những biến cố lịch sử gắn liền với quá trình Nam tiến của dân tộc Đại Việt kể từ thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX đã từng bước khiến cho tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính của đại đa số người dân và toàn bộ các vùng miền Dù trên toàn bộ lãnh thổ có nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau, nhưng tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ chính thức trong cả nước từ hơn hai trăm năm nay Vì vậy, việc phân vùng văn hóa ở Việt Nam trong mấy thập kỷ trở lại đây ít được tiến hành ít dựa theo tiêu chí ngôn ngữ (dù có tính đến phương ngữ) mà chủ yếu theo các yếu tố địa lý, lịch sử, kinh tế, phong tục tập quán, tín ngưỡng và tôn giáo, quy tắc hành xử, đặc điểm sinh hoạt trong đời sống hằng ngày, thành tựu văn hóa - nghệ thuật… Vấn đề phân vùng văn hóa trong lãnh thổ Việt Nam đã được nhiều
học giả bàn tới như Ngô Đức Thịnh với Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở
Việt Nam (1993), Đinh Gia Khánh - Cù Huy Cận với Các vùng văn hóa Việt Nam
(1995), Trần Quốc Vượng với Việt Nam cái nhìn địa văn hóa (1998) Theo định
nghĩa của Ngô Đức Thịnh: “Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế -
xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu - ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong
vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật
chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác” (Ngô Đức Thịnh 1993: 64)
Trang 14từ thế kỷ XVII, khi những lưu dân người Hoa và người Việt bắt đầu tới định cư và tạo thành các cộng đồng lưu dân, cho đến hết giai đoạn giao thời đầu thế kỷ XX, khi quá trình hiện đại hóa và Âu hóa diễn ra trên vùng đất này, để xác định các lớp trầm tích văn hóa đã định hình nên biệt sắc của vùng và được thể hiện qua thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
Về khái niệm “Không gian văn hóa” và xác định không gian văn hóa Nam Bộ
Khái niệm “không gian”, theo cách hiểu phổ biến nhất hiện nay, là cách định
vị và định hướng chủ yếu của chúng ta trong thế giới trên mọi phương diện: vật lý,
xã hội và vũ trụ Với sự xuất hiện của con người, khái niệm không gian không còn thuần túy gắn với tự nhiên mà nó còn gắn với các hoạt động sinh tồn và sáng tạo của con người Vì vậy, khái niệm không gian lại gồm hai khái niệm nhánh: không gian địa lý tự nhiên và không gian văn hóa Hai khái niệm này, trên thực tế, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ Không gian địa lý cung cấp các điều kiện tự nhiên để hình thành không gian văn hóa Các đặc điểm tự nhiên của một không gian địa lý xác định như địa hình (sông, núi, biển, đồng bằng), khí hậu đóng vai trò quyết định đối với văn hóa của một khu vực, từ hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt thường nhật, chiến tranh, di cư cho tới lĩnh vực văn hóa tinh thần như tín ngưỡng tôn giáo,
lễ hội, văn học nghệ thuật, vui chơi giải trí Không gian văn hóa ra đời từ sự tương tác của con người với không gian địa lý tự nhiên, vì vậy, để tìm hiểu một không gian văn hóa, chúng ta sẽ phải tìm hiểu cả không gian địa lý và các cư dân
cư trú trên đó Ví dụ như, vùng Nam Bộ đất rộng người thưa, chưa được khai phá nhiều nên thu hút các dòng dân di cư Việt từ miền Bắc và miền Trung, thậm chí cả người Hoa từ vùng Hoa Nam tới tìm kiếm cơ hội sống tốt hơn, tạo nên tính đa dạng về tộc người cùng sự hợp huyết cả về sinh học lẫn văn hóa mà không vùng nào khác ở Việt Nam có được; nơi đây có hai hệ thống sông Cửu Long và Đồng Nai bồi đắp nên các đồng bằng màu mỡ, tạo ra hệ thống sông ngòi chằng chịt với nguồn lợi thủy sản phong phú khiến cho cuộc sống dễ dàng hơn so với các vùng khác nên con người Nam Bộ có tính cách văn hóa đặc trưng là hào hiệp, không
Trang 1511
tính toán căn cơ; địa hình tự nhiên chủ yếu là đồng bằng và sông ngòi nên thuận lợi cho giao thông đường thủy nội địa và qua lại với Cao Miên, lại thêm đường bờ biển dài với các cảng nước sâu thuận lợi cho giao thông và giao thương quốc tế khiến cho Nam Bộ trở thành một không gian không khép kín mà có sự tương tác liên tục với nhiều luồng văn hóa Âu - Á; nhưng đồng thời, về mặt quân sự, điều kiện tự nhiên như vậy lại tạo ra điểm yếu chết người cho Nam Bộ là dễ công mà khó thủ khiến cho Nam Bộ trở thành mục tiêu tấn công của thực dân Pháp sau thất bại tại Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược và công cuộc khai thác thuộc địa một lần nữa làm biến đổi toàn bộ vùng đất Nam Bộ từ nửa sau thế kỷ XIX
Văn hóa do con người tạo ra nên không nhất thành bất biến mà liên tục thay đổi trong không gian và theo thời gian Đó là sự thay đổi dựa trên chứ không phải
là đoạn tuyệt với văn hóa của quá khứ R St Clair và A Williams đã vận dụng mô
hình không - thời gian do Michel Foucault đề xuất trong Khảo cổ học về tri thức
(Archeology of Knowledge) để lý giải những động năng của không gian văn hóa như trong Bảng 1.1 dưới đây:
Bảng 1.1: Sự trầm tích của không gian văn hóa Thời gian tuyến tính Thời gian trầm tích
Thời gian được căn cứ vào sự chuyển
động trong không gian
Thời gian được tri nhận qua những vỉa tầng của không gian văn hóa Hiện tại lồng trong quá khứ; tương lai lồng trong hiện tại
Không gian không thay đổi, chỉ có thời
gian thay đổi
Cả không gian và thời gian thay đổi và được thể hiện theo các vỉa tầng dọc
Có thể có bốn mô hình thời gian tuyến
tính Trong hai mô hình, thời gian
chuyển động trong không gian (tương
lai tiếp cận hiện tại); trong hai mô hình
còn lại, con người chuyển động trong
không gian, còn thời gian vẫn đứng yên
(trong đó có một mô hình hiện tại tiếp
cận tương lai)
Thời gian gắn với không gian văn hóa Hiện tại lồng trong quá khứ, tương lai lồng trong hiện tại, quá khứ - hiện tại đồng hiện diện
Trang 1612
Quá khứ Hiện tại Tương lai
Thời gian tuyến tính: vận động theo
tuyến tính trong không gian
Thời gian khảo cổ học: sự lắng đọng của các lớp không gian qua thời gian Không gian không thay đổi, chỉ thời
gian thay đổi
Không gian thay đổi theo thời gian;
cả thời gian và không gian đều trải qua
sự thay đổi
[Nguồn: R St Clair Robert, A C T Williams, A C Thome Williams 2008] Foucault mô tả không gian văn hóa bao gồm các lớp không gian tích tụ lại qua thời gian, kết quả là một không gian bao gồm nhiều tầng vỉa mà ông gọi là các lớp trầm tích Các lớp trầm tích này không bao giờ “hóa thạch” mà có thể bị khuấy lên bất cứ lúc nào do những đổi thay hay biến động trong không gian văn hóa Theo mô hình này, thời gian được lồng (embeded) vào không gian, hiện tại lồng trong quá khứ, tương lai lồng trong hiện tại Nó khác với mô hình thời gian tuyến tính theo quan niệm truyền thống R St Clair, A Williams, A C Thome Williams phát triển mô hình không - thời gian này chi tiết hơn nữa khi mô tả thời gian như là sự tích lũy các tầng lớp tập quán xã hội trong không gian văn hóa Theo quan điểm của các tác giả trên, sở dĩ người ta có thể hiểu được hiện tại là bởi
nó bắt nguồn từ quá khứ, được chuẩn bị sẵn từ trong quá khứ; những nghi thức, những kịch bản xã hội và những tập tục chi phối sự tương tác giữa người với người trong cuộc sống hằng ngày đã có từ trước; hiện tại và quá khứ gặp gỡ nhau
và đồng-hiện diện (co-present); quá khứ không bao giờ chết đi, nó chỉ được định nghĩa lại, sửa đổi, hoặc làm mới để phù hợp với hiện tại (R St Clair, A Williams,
A C Thome Williams 2008: 2) Điều này lý giải cho sự tồn tại bền bỉ của những quan niệm giá trị hay thành tố văn hóa trong một không gian văn hóa
Tiến thêm một bước nữa, Joel Bonnemaison lý giải về các không gian văn hóa được tái tạo bởi các cộng đồng dân nhập cư (immigrant) Theo ông, khi không gian sống thay đổi thì những giá trị văn hóa mà con người mang theo từ không gian văn hóa cũ cũng sẽ phải thay đổi theo, nhưng chúng sẽ không hoàn toàn biến mất, ít ra là trong thế hệ di cư đầu tiên Joel Bonnemaison nhận định rằng, trong các cuộc di cư của con người, “Lối sống của các nền văn hóa khác xâm nhập vào
Trang 1713
các không gian văn hóa ở những khu vực mà một cộng đồng di cư tới trong hiện tại Đồng hiện diện lúc này không chỉ là sự pha trộn giữa văn hóa cũ và văn hóa mới, mà còn là các nền văn hóa khác nhau pha trộn với nhau” (Joel Bonnemaison 2005: 10) Mặt khác, những người được đưa tới các nền văn hóa mới thường đem theo những giá trị và tập quán của họ ở không gian văn hóa cũ (Joel Bonnemaison 2005: 10) Sự lưu luyến căn tính cũ và nguyện vọng phục dựng không gian văn hóa quê hương của một số cộng đồng có ý thức bản sắc cao, điển hình như cộng đồng người Hoa, người Ý, người Mễ, người Việt trên đất Mỹ, có căn nguyên bởi
“không gian văn hóa là một không gian mang tính biểu tượng chứa đầy cảm xúc
và ý nghĩa, và ở dạng biểu hiện mạnh nhất, nó trở nên giống với một vùng đất
thánh” (Joel Bonnemaison 2005: 47) Sự lý giải này có thể áp dụng cho cộng đồng
người Hoa gốc Hoa Nam, vốn là những di thần nhà Minh có tư tưởng “bài Mãn phục Minh” và cộng đồng người Việt từ miền Bắc và miền Trung di cư tới Nam
Bộ trong các thế kỷ XVII-XVIII
Nhìn sâu vào căn tính văn hóa cá nhân (personal cultural identity) của những nhóm dân di cư này, theo Rubén G Rumbaut, do “bị đặt vào cùng lúc hai thế giới văn hóa, họ phải tự định nghĩa bản thân trong mối tương quan với các nhóm cư dân được tham chiếu tới khác (nhiều khi là không cùng tổ quốc/quê hương bản quán và ngôn ngữ mẹ đẻ với họ)” (Rumbaut 2005: 304) Trong quá trình xây dựng căn tính mới, họ đụng độ, tiếp nhận, thích nghi, đồng hóa rất nhiều quy ước, giá trị và kỳ vọng của những nhóm khác Kết quả của quá trình này là một căn tính “lai ghép” (hybrid identity) chịu ảnh hưởng của những nền tảng kinh
tế - xã hội của cả văn hóa gốc lẫn văn hóa nơi họ đang sinh sống (Rumbaut: 2001) Những quan điểm nói trên sẽ được chúng tôi vận dụng để nghiên cứu hiện tượng Nguyễn Đình Chiểu - một nhà nho Việt có trải nghiệm văn hóa ở cả miền Trung quê cha (Huế) lẫn Nam Bộ quê mẹ (Gia Định) và sáng tạo văn học trong không gian văn hóa Nam Bộ suốt quãng đời thăng trầm trải dài hơn nửa thế kỷ
Khái niệm “không gian văn hóa” (cultural space) và khái niệm “vùng văn hóa” (cultural area), theo Damien Ehrhardt, được phân biệt bởi chính các khái niệm “không gian” và “vùng” như trong bảng sau:
Bảng 1.2 Sự phân biệt khái niệm “vùng” và khái niệm “không gian”
Hai chiều Ba chiều hoặc nhiều hơn
Hạn định, có phân giới Không hạn định, không có đường biên xác định
Trang 181.1.2 Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận văn hóa
Trong luận án này, chúng tôi vận dụng các quan điểm ký hiệu học văn hóa của Geertz Clifford xem “văn hóa là những mạng lưới và phân tích chúng không phải là việc của khoa học thực nghiệm mà của khoa học chú giải đi tìm nghĩa (meaning)” (dẫn theo Trần Nho Thìn 2017: 16-17), kết hợp với quan điểm của Gerrt Hofstede xem các thành tố của văn hóa như các lớp vỏ củ hành: lớp ngoài
cùng là biểu tượng (sự vật có tính vật chất mang chức năng biểu hiện một tư
tưởng, một ý nghĩa trừu tượng, ví dụ như những cặp biểu tượng hoa-bướm, thuyền, cọc-trâu biểu thị cho vai trò chủ động của người nam và thụ động của
bến-người nữ trong tình yêu), lớp tiếp theo là các nhân vật tiêu biểu (là những con
người có những phẩm chất được một nền văn hóa đánh giá cao, do đó đóng vai trò như hình mẫu cho hành vi, ví dụ như những tướng lĩnh Nhật thời Phát-xít bị thế giới xem là tội phạm chiến tranh nhưng lại được tôn thờ như những anh hùng hy
sinh vì nước tại Nhật Bản), lớp thứ ba là nghi lễ (những hành vi, cử chỉ, trang
phục, ngôn từ, vẻ mặt được quy ước và chi phối quan hệ tương tác giữa người với người, ví dụ như quy ước “nam ngoại nữ nội”, quy tắc “nam nữ thụ thụ bất
thân”) và lớp cốt lõi là quan niệm về giá trị (sự phân biệt, đề cao, lựa chọn giữa
yếu tố này với yếu tố khác, đặc điểm này với đặc điểm kia) (dẫn theo Trần Nho Thìn 2017: 17) ví dụ như các quan điểm “trọng thương” và “trọng nông”… để
Trang 1915
khảo sát và hệ thống hóa các biểu tượng, nhân vật, nghi lễ và giá trị của văn hóa Nam Bộ ảnh hưởng tới sự hình thành nhân cách và sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội
Nghiên cứu lịch sử xã hội (social study) vốn là một lĩnh vực thuộc sử học, nghiên cứu các kinh nghiệm sống trong quá khứ của một xã hội nào đó, bao gồm: đời sống thường nhật, văn hóa vật chất, phong tục tập quán và các quan niệm luân lý Lĩnh vực này phát triển mạnh vào thập niên 1960-1970 và hiện nay vẫn được
sử dụng phổ biến trong các khoa nghiên cứu lịch sử tại Anh, Canada, Pháp, Đức
và Hoa Kỳ Hướng tiếp cận và lý giải các hiện tượng văn học từ góc độ lịch sử xã hội (social study of literature) bắt đầu rộ lên vào những năm 1970 và đầu những năm 1980 Phương pháp này cũng có thể áp dụng với cả những thành phần nhỏ hơn của văn học, ví dụ như tác giả: nguồn gốc xuất thân, giáo dục, quan hệ xã hội, nhóm văn chương, quan hệ với giới truyền thông và xuất bản, giải thưởng và huy
chương, đối tượng độc giả…
Các phương pháp của hình tượng học
Theo các tác giả công trình Hình tượng học: Sự kiến tạo trong văn hóa và sự
mô tả trong văn chương về tính cách dân tộc, lĩnh vực nghiên cứu này vốn khởi
nguồn từ văn học so sánh (comparative literature) rồi được khai triển rộng rãi trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác Đối tượng của Hình tượng học
là “diễn ngôn” (Manfred Beller, Joep Leerson 2007: xiii) Cụ thể hơn, “Hình
tượng học quan tâm đến loại hình học của các mô tả về đặc trưng dân tộc và các
thuộc tính dân tộc, cùng với sự phổ biến và triển khai chúng trong lĩnh vực văn
chương” (Manfred Beller, Joep Leerson 2007: xiv)
Mục đích của ngành này là: “mô tả nguồn gốc, quá trình hình thành và chức năng của các định kiến và khuôn quan niệm dân tộc, đưa chúng ra ngoài ánh sáng
để phân tích và giúp con người nhận thức chúng bằng lý trí” (Manfred Beller, Joep Leerson 2007: 12), xem xét lại theo định hướng phê phán và có hệ thống truyền thống văn hóa của việc tạo dựng các thành kiến dân tộc để chứng minh rằng “các
mô tả về đặc trưng của một dân tộc chỉ có tính quy ước và đồn đại chứ không phải được nhận định dựa trên kinh nghiệm hay là những phát biểu có cơ sở thực tiễn” (Manfred Beller, Joep Leerson: xiii) Việc “giải huyền thoại”, “giải ảo” thành công các quan niệm tưởng tượng về dân tộc sẽ góp phần loại bỏ tận gốc các quan niệm phân biệt và xung đột dân tộc
Trang 2016
Phương pháp nghiên cứu tiếp nhận và phản tiếp nhận
Mối liên hệ giữa tác giả - văn bản - độc giả đã được giới nghiên cứu văn học quan tâm từ lâu Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: tác phẩm, sau khi rời khỏi tay
“cha đẻ” của nó là tác giả, sẽ có một cuộc đời riêng với nhiều phiên bản tùy theo
sự tiếp nhận của độc giả Trong bài viết “Quá trình đọc: Cách tiếp cận từ hiện tượng luận”, Wolfgang Iser chỉ ra rằng việc đọc là một quá trình “điền vào chỗ trống có sẵn trong một văn bản” (dẫn theo Nguyễn Nam 2005: 7) Hơn nữa, độc giả đánh giá văn bản từ những nền tảng tri thức của chính họ vốn bị chi phối bởi môi trường văn hóa, lịch sử, chính trị - xã hội và trên cơ sở là những gì họ đã đọc Tác phẩm của một nhà văn có thể trực tiếp hay gián tiếp là sự hồi đáp đối với một hay nhiều văn bản cụ thể nào đó bởi mọi tác giả dứt khoát trước tiên phải là một độc giả (Nguyễn Nam 2005: 7) Quá trình này chính là đối tượng nghiên cứu của
lý thuyết tiếp nhận
Liên hệ mật thiết với lý thuyết tiếp nhận là lý thuyết liên văn bản do Kristeva
đề xướng, dựa trên các kết quả nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học F de Saussure
và lý thuyết về đối thoại của M Bakhtin bàn về mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các văn bản trong một mạng lưới, trong đó Bakhtin cho rằng “viết là đọc lại những phần cốt lõi của các tác phẩm văn chương trước đó và văn bản ấy vừa là sự hấp thụ vừa là sự hồi đáp văn bản khác” (dẫn theo Nguyễn Nam 2005: 9) Nhà lý thuyết cấu trúc luận Gerard Genette đi sâu vào một khía cạnh của mối liên hệ giữa các văn bản và cho rằng: trong một văn bản có sự hiện diện cùng lúc của nhiều lớp văn bản, và vì thế mà tác phẩm văn chương là sự viết lại những gì đã được viết ra trước đó nhưng không hoàn toàn sao chép nguyên bản (dẫn theo Nguyễn Nam 2005: 9) Tuy nhiên, các tác phẩm không chỉ bị ràng buộc trong những mạng lưới nội dung mà còn chịu sự quy định [của thi pháp] của các thể loại cụ thể Tzvetan Todorov xem thể loại là một “thiết chế” (institution) đặt ra “chân trời kỳ vọng” dành cho độc giả và quy định “kiểu viết” dành cho tác giả (dẫn theo Nguyễn Nam 2005: 11)
Lý thuyết tiếp nhận thường được hiểu theo hướng thuận chiều, tương đồng Tuy nhiên, theo Trần Đình Sử, còn có hiện tượng “phản tiếp nhận” thường dễ bị những người theo quan điểm tiếp nhận truyền thống xem là “tiếp nhận sai”, hay
“hiểu lầm” (Trần Đình Sử 1996: 141) Đặc trưng của phản tiếp nhận, như ông chỉ
ra, “là tìm thấy tư tưởng của tác phẩm ngược chiều với khuynh hướng tư tưởng
Trang 2117
của tác giả, cắt nghĩa ngược lại với khuynh hướng tác giả, hay nói cách khác là sáng tạo ra một tư tưởng mới mà nguyên tác không có” (Trần Đình Sử 1996: 142) Đồng thời, ông cũng nhận định rằng: “Phản tiếp nhận là một hiện tượng văn hóa, biểu hiện yêu cầu đổi mới, đi ngược truyền thống của thế hệ mới so với người đi trước, thường xẩy ra trong các thời đại có bước ngoặt lịch sử hoặc tiếp xúc với một nền văn hóa khác „Phản tiếp nhận‟ là một cách tiếp nhận tác phẩm dưới một
„hệ hình‟ mới, một hiện tượng hợp quy luật của những thời đang biến đổi” (Trần Đình Sử 1996: 143)
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Vì luận án viết về một tác gia văn học Nam Bộ, đặt trong hệ tọa độ của không gian văn hóa Nam Bộ nên phương pháp phỏng vấn chuyên gia là cần thiết
để đảm bảo tính khách quan và độ chính xác Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn ba chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau của Nam Bộ và có liên quan ít
hay nhiều đến các nội dung trong luận án
1.2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu nói chung và lịch
sử nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu từ góc nhìn văn hóa
1.2.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu nói chung
Trong số xấp xỉ 700 công trình và bài viết về Nguyễn Đình Chiểu tính cho tới nay, có một số công trình nghiên cứu đã tiến hành kiểm kê, phân loại, đánh giá
các tư liệu về Nguyễn Đình Chiểu một cách khoa học như Nguyễn Đình Chiểu từ
quan điểm thi pháp học của Nguyễn Phong Nam và gần đây nhất là Lịch sử tiếp nhận Nguyễn Đình Chiểu của Lê Văn Hỷ Vì vậy, chúng tôi sẽ không lặp lại quá
trình này mà chỉ điểm lại một cách khái quát nhất các hướng tiếp cận trong lịch sử nghiên cứu tác gia Nguyễn Đình Chiểu
Hướng tiếp cận tiểu sử tác giả
Hướng tiếp cận từ góc độ tiểu sử tác giả xuất hiện đầu tiên, với các công trình của những người có quan hệ thân cận với tác giả như: “Tiểu sử cụ Đồ Chiểu”
của Mai Huỳnh Hoa, Nỗi lòng Đồ Chiểu của Phan Văn Hùm, về sau này có những
bài viết mang tính tổng hợp và khái quát sâu hơn như “Nguyễn Đình Chiểu - thân
thế và sự nghiệp” của Nguyễn Thạch Giang (in trong Nguyễn Đình Chiểu toàn
tập) Với trường hợp Nguyễn Đình Chiểu, những thông tin tiểu sử có căn cứ và
đáng tin cậy của những nhà nghiên cứu trên đã giúp ích cho thế hệ sau
Hướng tiếp cận lịch sử tư tưởng và đạo đức học
Trang 2218
Hướng nghiên cứu lịch sử tư tưởng và đạo đức học giữ vai trò chủ đạo trong nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu ở miền Bắc từ năm 1954 cho tới 1986 (ở miền Nam từ 1975-1986) có các công trình tiêu biểu: “Nguyễn Đình Chiểu: ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” của Phạm Văn Đồng, “Nguyễn Đình Chiểu - nhà thơ yêu nước lớn của nhân dân Việt Nam” của Đặng Thai Mai, “Nguyễn Đình Chiểu, đạo làm người” của Trần Văn Giàu, “Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn, một tấm gương chói ngời tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam” của Hoài Thanh, “Nguyễn Đình Chiểu, lá cờ đầu của nền thơ văn yêu nước thời kỳ cận đại” của Trần Thanh Mại, “Nguyễn Đình Chiểu, người chiến sĩ yêu nước nổi hồi trống xuất trận đầu tiên của nhân dân Nam Bộ đánh đuổi quân giặc cướp nước phương Tây” của Nguyễn Khánh Toàn, “Nguồn gốc và quá trình hình thành chủ nghĩa anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu” của Nguyễn Đổng Chi, “Tính nhân dân của Nguyễn Đình Chiểu” của Phan Ngọc, “Từ lý tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước” của Nguyễn Đình Chú, “Sự vận dụng Nho giáo trên lập trường nhân dân của Nguyễn Đình Chiểu” của Nguyễn Đức Sự, “Nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc: Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)” của Hồ Sĩ Hiệp - Hoài Anh , trong đó chúng tôi quan tâm hơn cả tới các bài viết của Nguyễn Đổng Chi và Phan Ngọc Những công trình nghiên cứu, phê bình theo định hướng tiếp cận này tập trung ca ngợi những nội dung: lý tưởng Nho giáo trung hiếu tiết nghĩa, chủ nghĩa anh hùng, lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, tính chiến đấu, tính nhân dân trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu, phê bình theo quan điểm mác-xít đối với hiện tượng Nguyễn Đình Chiểu vào thời kỳ này (tổ chức hai hội thảo vào năm 1963 và 1973 ở miền Bắc, 1982 ở miền Nam sau khi đất nước thống nhất) nằm trong định hướng văn nghệ phục vụ chiến đấu Tuy nhiên, định hướng tiếp cận lịch sử tư tưởng và đạo đức học, bên cạnh mặt tích cực,
ở một số công trình, đã bị vận dụng khiên cưỡng dẫn tới tình trạng “hiện đại hóa” đối tượng
Hướng nghiên cứu văn học sử
Hướng nghiên cứu văn học sử tiếp nối và khắc phục được một phần những hạn chế của hướng tiếp cận lịch sử tư tưởng và đạo đức học Trong số những nghiên cứu theo xu hướng này, nổi bật là những bài viết: “Những cống hiến đặc sắc của Nguyễn Đình Chiểu trong lịch sử văn học dân tộc” của Nguyễn Lộc,
“Nguyễn Đình Chiểu trong sự vận động của văn chương Việt Nam cận đại” của
Lê Ngọc Trà, “Vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong văn học cận đại Nam Bộ” của
Trang 2319
Trịnh Thị Thu Tiết, “Những đặc điểm mang tính quy luật của sự phát triển văn học nhìn nhận qua sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu” của Trần Ngọc Vương
Lê Ngọc Trà phân tích những sự chuyển biến của văn học trung cận đại Việt
Nam qua sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu ở các phương diện: sự sáng tạo cốt
truyện; sự thay đổi trong quan niệm về “dân” (đã tiệm cận với khái niệm nhân dân lao động); sự thay đổi trong quan niệm về “anh hùng”: từ người quân tử nghĩa
hiệp đến người anh hùng nông dân; ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói của
người bình dân, tất cả những đặc điểm này phản ánh sự vận động của văn chương dân tộc trên đà xích gần đời sống Điều đáng chú ý là ông đề xuất “phải xét mối liên hệ của Nguyễn Đình Chiểu với cả thời đại văn chương (từ 1859 trở đi) mà ông
là người bắt đầu” (in trong Nguyễn Ngọc Thiện 2001: 272)
Nguyễn Lộc nhấn mạnh vào những cống hiến quan trọng của Nguyễn Đình Chiểu: sáng tác bằng chữ Nôm nhiều nhất trong lịch sử văn học dân tộc, đưa văn học Nam Bộ phát triển lên ngang bằng với trình độ của văn học Đàng Ngoài, và lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một nhà thơ đưa “hình ảnh của những người nông dân yêu nước chống Pháp vào văn học với tính cách như những người anh hùng dân tộc” (in trong Nguyễn Ngọc Thiện 2001: 265)
Trịnh Thị Thu Tiết nhấn mạnh những thành tựu có tính “tiên phong” của Nguyễn Đình Chiểu đối với văn học Nam Bộ: nâng chữ Nôm lên địa vị quan trọng trên văn đàn cũng như đời sống tinh thần của quần chúng; chiếm địa vị mà chưa tác phẩm nào, dù Hán hay Nôm, có thể sánh được Quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu vẫn là để “tải đạo” nhưng những tín điều đạo Nho đã được kết
hợp với “những sắc thái tư tưởng nhân dân mới mẻ và lành mạnh” (Kỷ yếu Hội
nghị khoa học về Nguyễn Đình Chiểu (1822-1982) 1984: 216) Cuộc sống và tính
cách con người Nam Bộ với những nét riêng được đưa vào làm chất liệu sáng tác trong các tác phẩm của ông, tạo nên sự gần gũi với nhân dân Nam Bộ Thơ điếu, văn tế của Nguyễn Đình Chiểu ảnh hưởng không nhỏ tới sáng tác của cả một thế
hệ làm thơ, văn đánh giặc Thành tựu hết sức quan trọng của thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu là đã “đưa vào tác phẩm của mình một mẫu người lý tưởng
mới: người nghĩa binh nông dân” (Kỷ yếu Hội nghị khoa học về Nguyễn Đình
Chiểu (1822-1982) 1984: 218)
Từ góc độ loại hình học, Trần Ngọc Vương đã đưa ra những đánh giá về Nguyễn Đình Chiểu với tư cách là một tác giả văn học theo năm tiêu chí: lý tưởng thẩm mỹ, hệ thống chủ đề-đề tài, hình tượng văn học trung tâm, hệ thống thể loại
Trang 2420
và ngôn ngữ Ông cho rằng, chủ đề cơ bản trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu là “ „vệ đạo, bảo dân, trung quân, ái quốc‟ và mặt bên kia là phản ứng chống lại tất cả những thứ làm nên mặt phủ định của những điều đó” (Trần Ngọc Vương 2018: 316) và nhà thơ mù là “một trong những tác giả khép lại một giai đoạn phát triển của văn học sử, tiêu biểu nhất là sự khép lại của chủ đề bảo vệ và thực hành Nho giáo, sự tự thủ tiêu của cái cặp đôi „trung quân, ái quốc‟ để hình thành một sự kết hợp mới „dân-nước‟” (Trần Ngọc Vương 2018: 324); về hình tượng, ông đã đưa ra mẫu “trai anh hùng - gái thuyền quyên” làm đối trọng với mẫu “tài tử - giai nhân” (Trần Ngọc Vương 2018: 325), “mẫu người trung nghĩa”,
“người anh hùng pha chút nghĩa hiệp” không mang giá trị văn học sử thật tiêu biểu (Trần Ngọc Vương 2018: 326), nhưng “ông đã làm một tổng kết thật xuất sắc cho mẫu người anh hùng cứu quốc” (Trần Ngọc Vương 2018: 326) và “xây dựng hình
tượng người anh hùng vô danh” (Trần Ngọc Vương 2018: 326) mà, với chúng,
ông trở thành “người mở đầu cho trào lưu văn học chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc nhân danh toàn dân tộc chứ không chỉ một bộ phận, một thiểu số nào đó” (Trần Ngọc Vương 2018: 321); về hệ thống thể loại, những truyện Nôm của ông
“nối dài” và đồng thời cũng “chấm dứt” mạch Nam tiến của truyện Nôm Việt Nam
(Trần Ngọc Vương 2018: 331), văn tế của ông vươn tới trình độ của kiệt tác -
“những bản hòa thanh của máu và nước mắt […] xốc người ta đứng lên, vươn tới” (Trần Ngọc Vương 2018: 330) Để có được những đánh giá khách quan, toàn diện, chính xác về Nguyễn Đình Chiểu, theo tác giả: “phải đặt ông trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc […] phải sử dụng những tiêu chí đặc trưng của văn học
để phân tích, lý giải và xét đoán về ông với tư cách là tác giả văn học […] Thông qua sáng tác của ông, không chỉ có thể nhìn ra những mặt tích cực, mặt mạnh, mặt
đi lên của văn học yêu nước, mà còn nhìn nhận cho được những giới hạn, những khủng hoảng, những đổ vỡ của cả một truyền thống, một thời đại văn học, những giới hạn đã dẫn đến bế tắc, đến tàn cục của một loại hình văn học, một mẫu tác giả” (Trần Ngọc Vương 2018: 313)
Hướng tiếp cận từ quan điểm thi pháp học và thể loại
Cuối thập niên 1990, Nguyễn Phong Nam, với hướng tiếp cận từ góc độ thi pháp học, đã thổi luồng gió mới vào sự nghiệp nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu với
công trình: Nguyễn Đình Chiểu từ quan điểm thi pháp học Các phạm trù thi pháp
- không gian, thời gian, kết cấu, quan niệm về con người, ngôn ngữ - trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã được tác giả khảo sát một cách khoa học
Trang 2521
Góc độ tiếp cận thể loại cũng được một số nhà nghiên cứu áp dụng Trong số
đó, chúng tôi đánh giá những ý kiến chuyên môn trong bài viết “Nguyễn Đình Chiểu - người nghệ sĩ từ và trong truyện Nôm” của Trần Đình Hượu là hết sức có giá trị Bài viết của Trần Đình Hượu đã chỉ ra rằng những điểm tiếp nối, chọn lọc
và thay đổi, phát triển của các truyện Nôm sáng tác bởi Nguyễn Đình Chiểu như là
kết quả của sự “Nam Bộ hóa”, “dân gian hóa” các thành tựu của thể loại truyện
Nôm vốn đã đạt đến trình độ bác học của vùng văn hóa Thăng Long, đặc biệt là
Truyện Kiều Ông cho rằng Nguyễn Đình Chiểu đã trao cho truyện Nôm chức
năng “tải đạo” vốn được nhà nho ưu tiên cho văn chương chữ Hán Ông cũng nhận định rằng, thành công của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần hoàn tất quá trình Nam tiến của văn học dân tộc và nâng vùng văn học Nam Bộ lên ngang tầm với trình độ phát triển chung của cả nước
Chuyên luận Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại của Kiều
Thu Hoạch tiến hành khảo sát thể loại truyện Nôm, trong đó có các truyện Nôm của Nguyễn Đình Chiểu Với các đặc điểm dùng để kể, ngôn ngữ nói, sử dụng yếu
tố thần kỳ, tác giả cho rằng nên xếp tác phẩm Lục Vân Tiên vào tiểu loại truyện
Nôm bình dân chứ không phải truyện Nôm bác học
Hướng nghiên cứu lịch sử tiếp nhận
Hướng nghiên cứu tiếp nhận cũng đem lại những kết quả khả quan với công
trình Lịch sử tiếp nhận Nguyễn Đình Chiểu của Lê Văn Hỷ Trong đó, những khái
niệm công cụ của lý thuyết tiếp nhận như: người đọc, tầm đón nhận, khoảng cách thẩm mỹ, ngưỡng tiếp nhận, phản tiếp nhận được tác giả vận dụng nhuần nhuyễn
để khảo sát vấn đề Đối tượng ở đây là con người, cuộc đời và các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trong sự tiếp nhận của người cùng thời, của giới nghiên cứu-phê bình qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, của giáo viên và học sinh trong nhà trường phổ thông và đại học hiện nay, cũng như trong các sáng tác văn học dân gian và văn học viết, trong các tác phẩm sân khấu - điện ảnh
Có thể nói, công trình của Lê Văn Hỷ đã cho thấy ảnh hưởng lớn của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ đối với riêng văn học Nam Bộ mà còn với văn nghệ cả nước Những kết quả của công trình này đã gợi mở nhiều ý tưởng quan trọng cho luận án của chúng tôi Tuy nhiên, phần khá quan trọng và thú vị là tìm hiểu sự tiếp nhận Nguyễn Đình Chiểu trong sáng tác văn chương quốc ngữ giai đoạn giao thời ở Nam Bộ, tác giả mới chỉ đề cập sơ lược mà chưa phân tích sâu
Hướng nghiên cứu văn bản học, ngôn ngữ học
Trang 2622
Một số nhà nghiên cứu cũng hướng tới tìm tòi và giải quyết các nghi vấn về văn bản tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu như Lê Hữu với bài viết “Để có một
văn bản Lục Vân Tiên gần với nguyên tác”, hoặc khảo sát các đặc điểm ngôn ngữ
nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu như Hồng Dân với bài viết
“Nguyễn Đình Chiểu, cái mốc lớn trên tiến trình của tiếng Việt văn học” và Hoàng Tuệ - Phạm Văn Hảo - Lê Văn Trường với “Tiếng địa phương miền Nam trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu” Những bài viết này hướng tới khẳng định “tính cách Nam Bộ” trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu - điều vừa khiến cho các tác phẩm của ông được đón nhận rộng rãi trong các cộng đồng vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ nhưng đồng thời lại ít được tán thưởng bởi độc giả phía Bắc
và Bắc Trung Bộ
1.2.2 Lịch sử nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu từ góc nhìn văn hóa
Bên cạnh những góc độ tiếp cận đã trình bày ở trên, hiện tượng Nguyễn Đình Chiểu cũng được soi chiếu từ góc nhìn văn hóa, và hướng tiếp cận này đã chứng tỏ được những ưu điểm và thành tựu đáng kể của nó Có thể nêu ra ở đây một số bài viết, công trình tiêu biểu như: “Lục Vân Tiên - một tác phẩm miền Nam” của Lê Trí Viễn, “Vài ý nghĩ về Đạo giáo và dân tộc, nhân kỷ niệm Nguyễn Đình Chiểu” của Nguyễn Văn Trung, “Truyền thống quật cường của Nam Bộ và Việt Nam với tinh thần đấu tranh của Nguyễn Đình Chiểu” của Ca Văn Thỉnh, “Đồ Chiểu với sự
chuyển mình của văn hóa dân tộc” của Cao Huy Đỉnh, công trình Khi những lưu
dân trở lại của Nguyễn Văn Xuân, “Hiện tượng Nguyễn Đình Chiểu trong văn hóa
Việt Nam” của Cao Tự Thanh, “Suy nghĩ về yếu tố đạo lý trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu” của Huỳnh Như Phương, “Ảnh hưởng của Nguyễn Đình Chiểu qua
truyện thơ Lục Vân Tiên trong đời sống tinh thần của nhân dân Bến Tre” của
Huỳnh Kỳ Sở Chúng tôi lưu ý đến những quan điểm đáng chú ý của các bài viết
liên quan đến luận án
Bài viết của Nguyễn Văn Trung đã chỉ ra một cách xác đáng mối liên hệ giữa tinh thần dân tộc và thái độ của Nguyễn Đình Chiểu đối với các tôn giáo khác, đặc biệt là Thiên Chúa giáo: “Thái độ của Nguyễn Đình Chiểu đối với Nho giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo phản ánh thái độ chung của dân tộc trong lịch sử cũng như trong hiện tại Thái độ đó nêu cao một chân lý: điều quan trọng hơn cả không phải là tôn giáo, học thuyết nói cái gì nhưng là những người rao giảng và theo đạo học thuyết đó làm lợi hay hại cho việc bảo vệ và phát huy dân tộc; vì lòng yêu nước chính là tiêu chuẩn xác định giá trị, tình cảm và sự lựa chọn một
Trang 27“người bảo vệ đất đai tiền đồn cực Nam tổ quốc” (in trong Nguyễn Ngọc Thiện 2001: 152), là tư tưởng “chính khí” và tinh thần “xả sinh thủ nghĩa” được truyền dạy bởi nhà nho Võ Trường Toản, là tinh thần chiến đấu và chiến thắng của cái thiện với cái ác trong văn học dân gian và tuồng-hát bội
Bài viết của Nguyễn Văn Xuân, “Hiện tượng Lục Vân Tiên”, đưa ra những lý
giải thú vị và thuyết phục dựa trên sự am hiểu sâu sắc về cơ sở văn hóa Nam Bộ Ông cho rằng sở dĩ truyện Nôm này được người Nam Bộ yêu thích đến vậy là bởi
nó vừa là “tiếng nói tích cực nhất của nhà Nho” (Nguyễn Văn Xuân 2002: 604) vừa là “tiếng nói thật, phát tự đáy lòng của người dân ở đó” (Nguyễn Văn Xuân 2002: 607) Ở một vùng đất mới khai thác, sản vật giàu có phong phú, đời sống cũng khấm khá dễ chịu hơn so với cuộc mưu sinh đầy bon chen nơi vùng đất cũ, nhưng cũng có không ít những điều bất bình bởi “sự toa rập của quan lại, điền chủ
và thương gia Trung Hoa hòng khống chế và bóc lột” (Nguyễn Văn Xuân 2002: 602), tình trạng “tham ô trắng trợn, đè đầu cưỡi cổ trắng trợn, cướp giật trắng trợn” (Nguyễn Văn Xuân 2002: 602), những “hạng xưng hùng xưng bá (du côn, anh chị bự)” lộng hành (Nguyễn Văn Xuân 2002: 602), thì “sự can trường đối kháng cái xấu, sự thao thức phục hưng cái tốt, lòng ao ước phục vụ hạnh phúc quảng đại nhân dân” (Nguyễn Văn Xuân 2002: 607) là điều mà các tầng lớp sĩ phu
chưa vào cương vị lãnh đạo xem như nhiệm vụ của mình Sức hấp dẫn của Lục
Vân Tiên, theo Nguyễn Văn Xuân, có nhiều nguyên nhân: “Cái thú vị của Lục Vân Tiên chính là nằm trong sự phiêu lưu như dân miền Nam đã và đang phiêu lưu Cái
hào hùng của Lục Vân Tiên chính là sự tiêu diệt những tên côn đồ, những tham quan, những ác bá như miền Nam vẫn đầy rẫy Cái sảng khoái trong Lục Vân Tiên
là dám phát ra lời cương trực để đè bẹp những tà vạy Cái say sưa trong Lục Vân
Tiên là các nhân vật hiện ra mỗi người là một điển hình Lời nói, hành động của
họ, nếu đổi tên những Cốt Đột, vua, tể tướng, tiểu thư, quan lại ra những ông
Trang 2824
hương, ông lý, ông điền chủ, cô bảy, cô ba, tên anh chị bự đầu chợ thì đó chính là sinh hoạt giản dị thường nhật trong làng, trong huyện, quen thuộc biết bao! Cái mê
ly trong Lục Vân Tiên chính là lối kết cấu với những tình tiết gọn gàng, thay đổi
với bối cảnh cũng luôn luôn thay đổi làm cho nó linh hoạt hẳn lên rất thích hợp với hạng thính giả nóng tính” (Nguyễn Văn Xuân 2002: 607-608) Nguyễn Văn
Xuân nhận định giá trị của Lục Vân Tiên phải được lý giải từ đặc trưng “nặng trình
diễn”, “để đọc chứ không hẳn để xem” của văn miền Nam, và nó cuốn hút cả giới trí thức cũng như bình dân, kẻ giàu cũng như người nghèo, quân nhân cũng như thương gia, bởi “ai cũng cảm thấy như đó chính là giọng nói của đất nước” (Nguyễn Văn Xuân 2002: 608-609) Tuy nhiên, tác giả cũng khá cực đoan khi đưa
ra nhận định rằng: từ Hải Vân vào là vùng ảnh hưởng của Lục Vân Tiên, từ Hải Vân trở ra là vùng ảnh hưởng của Truyện Kiều Có lẽ do quá yêu mến Lục Vân
Tiên và say sưa trong góc nhìn của một người phương Nam, ông đã “duy ý chí”
khi hạ thấp trào lưu văn học chủ tình trong văn học Đàng Ngoài từ nửa cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX là thứ văn chương “phụ nữ” bạc nhược, yếu đuối để đề
cao thứ văn chương “trượng phu” mạnh mẽ của Lục Vân Tiên (Nguyễn Văn Xuân
2002: 606)
Bài viết của Cao Tự Thanh cũng đưa ra những kiến giải hợp lý, sâu sắc về
Nguyễn Đình Chiểu Trên cơ sở môi trường văn hóa, thân thế và tình cảm của
Nguyễn Đình Chiểu, ông xác định rằng lý tưởng nhân nghĩa làm nên ảnh hưởng và
sức sống kỳ lạ của Lục Vân Tiên chính là sản phẩm của “việc dung hòa hệ tư
tưởng Nho giáo với đời sống của nhân dân lao động […] miền Nam” mà Nguyễn Đình Chiểu đạt được do hoàn cảnh tật nguyền đã ngăn chặn con đường công danh
và “đẩy ông xuống tầng lớp nho sĩ bình dân” (in trong Nguyễn Ngọc Thiện 2001: 274) Theo đó, các quan niệm “trung hiếu”, “tiết hạnh” của Nguyễn Đình Chiểu
“chứa đựng một nội dung khác rộng lớn hơn” (in trong Nguyễn Ngọc Thiện 2001: 274) Tinh thần yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu trong văn tế, thơ điếu “mang đậm màu sắc nhân dân nhưng vẫn bị chi phối bởi quan niệm Nho gia” (in trong Nguyễn Ngọc Thiện 2001: 275) Thái độ “căm thù, khinh bỉ đối với văn hóa phương Tây” của cụ Đồ là “hiện tượng tiêu biểu cho phản ứng từ chối cực đoan của văn hóa Việt Nam trong khoảng thời gian nửa sau thế kỷ XIX” (in trong Nguyễn Ngọc Thiện 2001: 275) Cách nhìn quân xâm lược Pháp như những nhóm man di, mọi rợ từng cướp phá Trung Nguyên đời xưa, thậm chí là “nạn trời” cho thấy Nguyễn Đình Chiểu “cho tới cuối đời vẫn chủ trương chống Pháp trên căn
Trang 29Bài viết “Suy nghĩ về yếu tố đạo lý trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu” của Huỳnh Như Phương tập trung phân tích quá trình chuyển biến tư tưởng và nhận thức của Nguyễn Đình Chiểu về mối quan hệ đạo - đời từ khi trở về sống hòa mình với nhân dân Nam Bộ, và đó là quá trình “từng bước thoát ly khỏi những ảnh hưởng của thiết chế phong kiến, ngày càng đi vào biển cả rộng lớn của nhân dân,
và dần dần có một tiếng nói độc lập với những lời giáo huấn thuần lý của Nho gia” (in trong Nguyễn Ngọc Thiện 2001: 280) Theo tác giả, chiều hướng “ly tâm” của ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu chịu sự chi phối của “sức căng vỡ của khí thế quần chúng” trong hiện thực đấu tranh của nhân dân Nam Bộ khi thực dân Pháp xâm lược mà Nguyễn Đình Chiểu đang hòa mình vào “Đạo” trong văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu “đã trở thành một cái gì gắn bó máu thịt với chuyện đời, chuyện nước, chuyện dân […] tạo nên một nét bản sắc thơ văn Nguyễn Đình Chiểu” (in trong Nguyễn Ngọc Thiện 2001: 283)
Bài viết của Nguyễn Quang Vinh, “Truyện thơ Lục Vân Tiên với văn hóa
dân gian” (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam 1973: 516-534), khảo sát những ảnh
hưởng qua lại giữa truyện thơ Lục Vân Tiên và văn hóa dân gian Tác giả đã chỉ ra
những đặc điểm của truyện dân gian như kết thúc có hậu, quan niệm nhân - quả,
hệ thống nhân vật chia làm hai tuyến thiện - ác, các nhân vật phiếm chỉ, các yếu tố thần kỳ, hàng loạt chi tiết của thực tế đời sống, triết lý thực tiễn, tâm lý và ngôn
ngữ dân gian trong Lục Vân Tiên Ở chiều ngược lại, tác giả cũng đưa ra những bằng chứng cho thấy Lục Vân Tiên đã đi vào đời sống nhân dân qua những câu ca,
điệu hò của các vùng Nam Bộ, Quảng Trị, Thừa Thiên Những giá trị và hình
tượng của Lục Vân Tiên đã thể hiện sức sống bền bỉ trong văn học dân tộc
Trang 3026
Bài viết của Huỳnh Ngọc Trảng, “Văn hóa truyền thống trong truyện Lục
Vân Tiên và cuộc sống của tác phẩm”, khai thác sâu mối tương quan giữa tác
phẩm Lục Vân Tiên và văn hóa truyền thống dân tộc Đóng góp quan trọng của bài
viết này so với những bài viết tương tự là tác giả đã đi sâu phân tích những điểm
dị - đồng của Lục Vân Tiên so với các truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học như Nhị độ mai Tác giả cũng chú ý đến tính “diễn xướng” (nói thơ); những
tín ngưỡng dân gian miền Nam; ảnh hưởng của tuồng-hát bội Ở chiều ngược lại,
tác giả đã chỉ ra rằng: “các tình tiết, các nhân vật của truyện Lục Vân Tiên được sử
dụng như những điển cố văn học” và thống kê được trong dân ca vùng
Bình-Trị-Thiên và Nam Bộ có tới 56 câu dân ca có liên quan đến Lục Vân Tiên (in trong
Nguyễn Ngọc Thiện 2001: 400); sự tiếp thu “thụ động” (tức là bám sát cốt truyện gốc và tư tưởng của tác giả) đối với tác phẩm ở các kịch bản sân khấu hay truyện
thơ đầu thế kỷ XX Tác giả cũng đề cập đến những tác phẩm “tái tạo truyện Lục
Vân Tiên theo quan điểm hiện đại hóa” như Bùi Kiệm kim thời, Đơn Bùi Kiệm kiện
Võ Phi Loan, Đơn Nguyệt Nga minh oan cho Bùi Kiệm và nhất là Thơ Vân Tiên cờ bạc Tuy nhiên, theo quan điểm của ông, đây là những tác phẩm “hiện đại hóa thô
thiển và tùy tiện”, “xem thường sự tiếp thụ tác phẩm nghệ thuật”, “làm sai lệch những hình tượng nghệ thuật” (in trong Nguyễn Ngọc Thiện 2001: 402)
Huỳnh Kỳ Sở trong bài viết “Ảnh hưởng của Nguyễn Đình Chiểu qua
truyện thơ Lục Vân Tiên trong đời sống tinh thần của nhân dân Bến Tre” cung cấp
bằng chứng thực tế về sức sống của tác phẩm trong văn hóa đại chúng Nam Bộ
đầu thế kỷ XX: “Thuở ấy, thơ Lục Vân Tiên đối với người dân nông thôn Bến Tre,
nhất là Ba Tri, là một món ăn tinh thần không thể thiếu được Hầu như nhà nào
cũng có một quyển Lục Vân Tiên bìa xanh lá cây, hoặc đỏ lợi, bìa trước thường in
hình một cảnh nào đó trong truyện, thường là cảnh Tiên, Trực, Kiệm, Hâm uống rượu làm thơ trong quán” (in trong Nguyễn Ngọc Thiện 2001: 329)
“Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn học Nam Bộ” của Trần Nho Thìn là tiểu luận đầu tiên trực tiếp nhắc đến khái niệm “không gian văn học” Sự phân tích về các không gian văn học ra đời trước không gian văn học Gia Định theo tiến trình Nam tiến của người Việt - không gian văn học Thăng Long, Thuận
- Quảng và Hà Tiên - của ông có giá trị cao cả về mặt lý thuyết lẫn ứng dụng Bài viết của ông nhấn mạnh vào mối quan hệ tương tác giữa không gian văn học Gia
Định với các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Đặt truyện Nôm Lục Vân Tiên vào
tiến trình phát triển của thể loại truyện Nôm, ông nhận thấy nó “có dáng dấp của
Trang 3127
loại truyện thơ chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết tài tử giai nhân Trung Quốc như
Hoa tiên, Truyện Kiều hay như Sơ kính tân trang” (Trần Nho Thìn 2012: 635)
nhưng lại “không phải là câu chuyện phiêu lưu của tài và sắc mà là câu chuyện nhơn tình thế thái đầy cay đắng mà chính người kể đã trải qua” (Trần Nho Thìn 2012: 637) Soi chiếu tác phẩm này từ góc độ khác, ông nhận thấy tính “tổng hợp nghệ thuật” của nó là kết quả của sự tác động đồng thời của nhiều thành tố: tiểu sử tác giả, ảnh hưởng của tư duy cổ tích, sự kết hợp của các phạm trù văn hóa Nho giáo với các quan niệm đạo đức dân gian, đặc điểm thiên về đối thoại và hành động của tuồng hát bội và thủ pháp tả cảnh ngụ tình của ngâm khúc và truyện
Nôm Ông khẳng định: “Truyện thơ Lục Vân Tiên kết tinh trong nó các truyền
thống văn hóa, văn học khác nhau” (Trần Nho Thìn 2012: 637-638) Văn học yêu nước chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu, mà xuất sắc nhất là văn tế, là sản phẩm kết hợp của lý tưởng Nho giáo và hiện thực cuộc đấu tranh mà Nguyễn Đình Chiểu trực tiếp chứng kiến Cống hiến lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu thời kỳ này chính là hình tượng người anh hùng nông dân “đứng lên dẹp loạn”, tiếp nối
hình ảnh “con người vì nghĩa” từ Lục Vân Tiên trong hoàn cảnh mới (Trần Nho Thìn 2012: 646) Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tác phẩm đã đạt tới đỉnh cao của
thể loại văn tế khi kết hợp được cái hùng, cái cao cả và cái bi cũng như các cung bậc cảm xúc khác nhau, tạo ra sức lay động mãnh liệt Hai truyện Nôm trong giai
đoạn sau 1859 là Dương Từ Hà Mậu và Ngư Tiều y thuật vấn đáp được sáng tác
với nỗ lực “bảo vệ Nho giáo” và “bảo toàn tiết tháo” của nhà nho Nguyễn Đình Chiểu Mối ác cảm của Nguyễn Đình Chiểu với Thiên Chúa giáo, theo lý giải của Trần Nho Thìn, là bởi ông chỉ “đơn thuần nhìn đạo Thiên Chúa gắn liền với hành động xâm lược” (Trần Nho Thìn 2012: 655) Những quan điểm của tác giả về
“không gian văn học” và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đã cung cấp cơ sở lý thuyết cho việc hình thành các ý tưởng cơ bản trong luận án
Tiểu kết chương 1:
Như vậy, trong chương này chúng tôi đã tiến hành xác lập cơ sở lý thuyết
về “văn hóa”, “không gian văn hóa” và “không gian văn hóa Nam Bộ” cùng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với đề tài của luận án Về khái niệm “văn hóa”, chúng tôi sử dụng quan điểm xem văn hóa giống như những lớp vỏ của củ hành bao gồm biểu tượng, nhân vật, nghi lễ, giá trị của Gerrt Hofstede Về lý thuyết
“không gian văn hóa”, chúng tôi lựa chọn quan điểm của R.St Clair, A C T Williams và A Thome Williams - mô hình hóa “không gian văn hóa” lấy hiện tại
Trang 3228
làm trung tâm và được hình thành từ các lớp trầm tích văn hóa, vốn là những bộ phận của “quá khứ văn hóa” (cultural past) còn lại (remain), được sửa đổi (revise) hay làm mới (reinvent) cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại Quan điểm này có cơ
sở là mô hình lý thuyết không - thời gian “trầm tích” của Michel Foucault Đây là một tiến trình “động” và liên tục có những sự thay đổi, tiếp nối, chuyển hóa, đan xen và sản sinh ra những nhân tố mới Biến thể của mô hình này, được vận dụng cho việc lý giải sự hình thành căn tính văn hóa “lai ghép” của các cộng đồng dân nhập cư của Joel Bonnemaison, cũng được sử dụng để nghiên cứu hiện tượng Nguyễn Đình Chiểu trong hai không gian Huế và Gia Định Về khái niệm “không gian văn hóa Nam Bộ” được sử dụng trong luận án, chúng tôi xác định đó là một
“tập con” của khái niệm “vùng văn hóa Nam Bộ” và thiên về văn hóa tinh thần
Trên cơ sở đó, chúng tôi khái quát lịch sử nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu nói chung và lịch sử nghiên cứu tác giả này từ góc nhìn văn hóa, với những công trình có liên quan mật thiết đến đề tài luận án Căn cứ vào những khảo sát này, chúng tôi nhận thấy rằng cho đến nay chưa có nhà nghiên cứu nào tiến hành phân tích một cách hệ thống ảnh hưởng của các thành tố trong không gian văn hóa Nam
Bộ tới sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Những thành tố văn hóa quan trọng nhất hiện diện trong sáng tác của ông là văn hóa người Việt (Nho giáo, truyện Nôm và tuồng) và văn hóa người Hoa (phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, tiểu thuyết Minh-Thanh) ở Nam Bộ tuy đều đã được khảo sát riêng rẽ trong các công trình văn hóa, văn học khác, nhưng chưa từng được kết hợp để phân tích, lý giải và đánh giá toàn diện một hiện tượng văn chương như Nguyễn Đình Chiểu Bên cạnh
đó, ảnh hưởng của ông đến văn học Nam Bộ giai đoạn giao thời đầu thế kỷ XX cũng hầu như chưa được khảo sát, phân tích, lý giải thấu đáo Một vấn đề nữa mà chúng tôi nhận thấy rằng cách tiếp cận văn hóa có thể bổ khuyết cho các nghiên cứu của những người đi trước, đó là: khảo sát và hệ thống hóa những giai thoại về các cá nhân có cách sống và ứng xử theo tinh thần nghĩa hiệp Lục Vân Tiên trong lịch sử và văn chương của vùng đất Nam Bộ để chỉ ra chiều tác động từ Nguyễn Đình Chiểu tới không gian văn hóa Nam Bộ
Trang 3329
CHƯƠNG 2 CÁC LỚP TRẦM TÍCH CỦA BA CHỦ THỂ CHÍNH KHMER, VIỆT, HOA
TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA NAM BỘ
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XVII ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX
2.1 Khái quát về không gian địa lý Nam Bộ
Nam Bộ là một vùng đất trù phú với hệ thống sông Đồng Nai ở phía Đông
và hệ thống sông Cửu Long ở phía Tây, tạo nên vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn phì nhiêu và mạng lưới kênh rạch chằng chịt (tổng lượng nước trong năm của hệ thống sông Cửu Long là 500 tỷ m3, rất thuận tiện cho giao thông đường thủy) (Lê Thông 2004: 533-539) Đây là một trong những đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu của Đông Nam Á và thế giới (trong đó đất phù sa chiếm 29,7 diện tích toàn vùng), là vùng cây ăn trái nhiệt đới, vùng sản xuất lương thực lớn nhất nước
Bờ biển phía Đông dài 100 km với nhiều ngư trường lớn và bờ biển phía Tây hơn
736 km với nhiều đảo và quần đảo nên Nam Bộ có nguồn lợi thuỷ sản lớn nhất nước, lại tiếp giáp với vùng biển của các nước Đông Nam Á (Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippine, Indonesia), nằm trong khu vực có nhiều đường giao thông hàng hải quốc tế quan trọng kết nối tới Nam Á, Đông Á, châu c và các quần đảo của Thái Bình Dương (Lê Thông 2004: 533-539) Ngoài ra, Nam Bộ còn có hệ sinh thái rừng ngập mặn điển hình, với nguồn lợi lâm sản vô cùng phong phú Từ
đầu thế kỷ XIX, sự trù phú của Nam Bộ đã được Trịnh Hoài Đức ghi lại trong Gia
Định thành thông chí: “ruộng cày trâu, ở Phiên An, Biên Hòa, một hộc lúa giống
thâu hoạch được 100 hộc, duy ở trấn Vĩnh Thanh [ ] một hộc lúa giống thâu hoạch được 300 hộc” (Trịnh Hoài Đức 1972: 30-31); “đường cát bán cho thương thuyền mỗi năm có hơn 600.000 cân” (Trịnh Hoài Đức 1972: 39) “tôm đỏ (tôm he) ở biển, phơi khô bán cho thuyền buôn [ ] hai trấn Vĩnh Thanh và Hà Tiên là nhiều, mỗi năm có đến 100.000 cân”, “là chỗ đô hội thương thuyền của các nước, cho nên trăm món hàng hóa phải tụ hội ở đây” (Trịnh Hoài Đức 1972: 47); “người Gia Định mỗi ngày ăn ba bữa đều ăn cơm, mà cháo cũng ít ăn, huống chi là các thứ khác vì cớ lúa gạo dư nhiều, mà không năm nào bị mất mùa cả” (Trịnh Hoài Đức 1972: 30) Từ sự thuận lợi của điều kiện sống mà tính cách người Nam Bộ cũng trở nên rộng rãi hơn, có thể thấy qua đơn vị đo: đo đất theo “công” (khoảng 1.300 m²) tương đương với 3,6 “sào” Bắc Bộ (360m²), tính thóc gạo bằng “giạ” (khoảng 20-22kg/giạ) trong khi người Bắc Bộ dùng “đấu” (khoảng 1,4-1,5kg);
Trang 3430
đơn vị “chục” của Bắc Bộ là mười, của Nam Bộ có khi là 12, 14, 16 Những bằng chứng về lối sống rộng rãi, hào phóng, ít tính toán của người Nam Bộ đã được Trịnh Hoài Đức ghi chép lại: “Ở Gia Định, có người khách đến nhà, đầu tiên gia chủ dâng trầu cau, sau dâng tiếp cơm bánh, tiếp đãi trọng hậu, không kể người thân sơ quen lạ tông tích ở đâu, ắt đều thâu nạp khoản đãi; cho nên người đi chơi không cần đem tiền gạo theo, mà lại có nhiều người lậu xâu trốn thuế đi đến xứ này ẩn núp, bởi vì có chỗ dung dưỡng vậy” (Trịnh Hoài Đức 1972: 11-12)
Tuy nhiên, công cuộc khẩn hoang thời kỳ đầu cũng phải đối mặt với rất nhiều thú dữ (cá sấu, hổ ) khiến cho con người buộc phải trở nên can đảm, sẵn
sàng xả thân bảo vệ gia đình và cộng đồng Trong Gia Định thành thông chí có ghi
lại câu chuyện đánh hổ của sư thầy Hồng Ân vào năm Canh Dần (1770) (Trịnh Hoài Đức 1972: 97), hay câu chuyện diệt con cá sấu hung dữ, ăn thịt người của một người dân ở trấn Vĩnh Thanh (Trịnh Hoài Đức 1972: 21) Ngoài ra, do vùng đất này là nơi tụ họp của dân tứ chiếng, giang hồ, cựu tù, trốn án, lại có rất nhiều kênh rạch, đầm lầy rừng rậm, dân cư lại thưa thớt và không sống quần tụ, khép kín như ở Bắc Bộ và Trung Bộ, lực lượng của chính quyền còn mỏng nên nạn trộm cướp hoành hành khiến người dân phải tự đứng lên bảo vệ cuộc sống của mình cũng như xóm giềng hay những người dân lương thiện khác, từ đó mà hình thành truyền thống nghĩa hiệp, giúp người chẳng kể thân sơ của người dân Nam Bộ
Bên cạnh đó, về địa lý, Nam Bộ đúng là một vùng đất “mở” ra mọi hướng Nhờ vào hệ thống sông Mê Kông, Nam Bộ có thể kết nối dễ dàng với Cao Miên
và nước Xiêm ở phía Tây Đường biển ở cả hai phía Đông và Tây, với các cảng nước sâu khiến cho từ Nam Bộ có thể dễ dàng đi sang Xiêm và các nước Đông Nam Á hải đảo, thậm chí sang Nhật Bản hoặc ngược lên phía Bắc tới miền Bắc nước ta, Hồng Kông, Cao Ly Bởi vậy, người Nam Bộ có điều kiện tiếp xúc dễ dàng với các không gian văn hóa khác Nhờ vậy, một quá trình liên hệ, tương tác, thẩm thấu bằng nhiều phương thức như quan hệ thương mại, quan hệ chính trị, quân sự, di cư đã diễn ra, giúp cho vùng văn hóa này liên tục hấp thu những yếu
tố mới, những tinh hoa của các không gian văn hóa lâu đời khác để có thể nhanh chóng trưởng thành và khẳng định biệt sắc của mình
Một đặc điểm khác nữa, địa hình tự nhiên chủ yếu là đồng bằng và hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt rất thuận lợi cho tàu bè di chuyển vào sâu trong đất liền đã khiến Nam Bộ không chỉ trở thành trung tâm giao thương quốc tế mà còn là mục tiêu tấn công đầu tiên của quân Pháp vào giữa thế kỷ XIX Nguyễn Bá
Trang 3531
Nghi, vị quan triều Nguyễn, đã xác nhận điều này: “Đất Nam Kỳ nhiều sông ngòi, thủy binh phù hợp với bộ binh, các hạng thuyền đường biển, ô lê, đi lại nhẹ nhàng càng thấy cần thiết, loại súng đạn nặng đã có thuyền lớn chuyển từ kinh đến, các thứ thiết thực như gạo tiền, khí giới, thuyền bè thì sáu tỉnh cung cấp, lấy đâu có
đấy, sẵn dư thừa” (Dương sự thủy mạt 2016: 65) Chính vì vậy, ban đầu quân Pháp
tấn công Đà Nẵng (1858), định từ đây tấn công Huế, nhưng nhận thấy lực lượng quân đội triều đình ở đây khá mạnh, đủ sức vây khốn họ, địa hình miền Trung lại hiểm trở, không thuận lợi cho lực lượng lính thủy đánh bộ của Pháp tác chiến, nên
đô đốc Rigault de Genouilly đã xin chuyển hướng tấn công Sài Gòn sau khi nhận thấy: “Sài Gòn ở trên một con sông dễ dàng đi lại cho các tàu chiến và các phương tiện vận chuyển của chúng ta Binh lính khi đổ bộ là tới ngay địa điểm tấn công,
họ không phải đi bộ, không phải tải lương thực” (dẫn theo Trương Bá Cần 2008b: 200) Như vậy, chính điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế của Sài Gòn - Gia Định nói riêng, Nam Bộ nói chung lại là điểm bất lợi chí tử của nó về phương diện quân sự, góp phần quan trọng đẩy vùng đất này thành mặt trận giao tranh đầu tiên trong cuộc chiến chống xâm lược của nước Đại Nam và thực dân Pháp
Tính đa dạng về tộc người cũng là một đặc điểm quan trọng của không gian văn hóa Nam Bộ So với các vùng đất có lịch sử lâu đời hơn Bắc Bộ và Trung Bộ, Nam Bộ cho tới đầu thế kỷ XVIII hầu như vẫn còn là một vùng đất hoang sơ, dân
cư vô cùng thưa thớt Sức hấp dẫn của vùng đất mới giàu tiềm năng và cơ hội, cộng với những biến cố lịch sử xảy ra tại Đại Việt và Trung Quốc trong giai đoạn này đã đưa đẩy những lưu dân Việt (chủ yếu là Thuận-Quảng), lưu dân Hoa (vùng Hoa Nam) cùng với cư dân của các tộc người đã định cư ở đây từ trước như người Khmer, người Chăm, người Mnông, người Mạ, người Stiêng cũng như nhiều dân tộc khác ở các nước Đông Nam Á hải đảo tìm tới làm ăn, định cư, tạo nên một sự hợp huyết văn hóa đặc biệt mà ở các vùng đất khác không có
2.2 Các lớp trầm tích văn hóa của ba chủ thể chính Khmer, Việt, Hoa
2.2.1 Lớp văn hóa của người Khmer
Cho đến thế kỷ XVI, những cư dân bản địa của vùng đất Nam Bộ khi ấy còn hoang sơ và chưa thuộc về các chúa Nguyễn chủ yếu là người Khmer Họ đã tạo dựng nên trong không gian văn hóa nơi đây một lớp văn hóa Khmer Đặc trưng văn hóa Khmer thể hiện trước hết ở cách tổ chức cộng đồng Phum, sóc là những đơn vị xã hội cổ truyền của người Khmer, giống như làng của người Việt Phum,
Trang 3632
sóc cũng có những phong tục, lễ nghi riêng lấy ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt văn hóa (tương tự như ngôi đình của người Việt) Người Khmer chủ yếu theo Phật giáo Nam Tông, với điểm khác biệt so với đạo Phật của người Hoa và người Việt
là chỉ tôn thờ duy nhất Đức Phật Thích Ca mà không thờ các vị bồ tát, tín đồ chỉ
có nam không có nữ Chùa được người coi là không gian thiêng liêng nhất, là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, văn hóa - giáo dục và xã hội của người Khmer Vai trò của nhà sư và các trí thức Phật giáo rất được coi trọng trong cộng đồng (Trần Ngọc Thêm 2014: 85)
Người Khmer cũng thờ cúng tổ tiên, song phần lớn các gia đình không đặt hoặc ít đặt bàn thờ tổ tiên trong nhà, vì lễ cúng tổ tiên thường diễn ra ở chùa là chính Nơi trang trọng nhất trong nhà thường là bàn thờ Phật Đến độ tuổi nhất định, nam giới Khmer đều phải tự nguyện vào chùa tu (và học tập) trong một thời gian hoặc suốt cuộc đời Về phong tục hôn nhân, sau khi kết hôn, các chàng rể Khmer cư trú bên vợ là hiện tượng phổ biến; anh em họ được khuyến khích lấy nhau; trong gia đình tuy chồng và người cha vẫn làm chủ, nhưng quan hệ giữa vợ chồng, con trai với con gái trong gia đình thường bình đẳng: vợ chồng đều có của riêng, tài sản phân chia đều cho con trai, con gái; trong gia đình phức hợp không
có sự phân chia họ nội họ ngoại, không rõ hẳn tính chất mẫu hệ hay phụ hệ; chuyện ly hôn khá dễ dàng và người phụ nữ sau khi ly hôn không bị phân biệt đối
xử như ở các cộng đồng người Hoa và người Việt (Bùi Thị Hồng Loan 2010)
Tuy nhiên, khi những dòng lưu dân Hoa và Việt đổ về vùng đất này, người Khmer dần dần bị thu hẹp đất sống Do chính sách “Hán - Di hữu hạn” của các chúa Nguyễn, chủ trương “khiến tụ họp theo loài” của vua Gia Long, lãnh thổ và phong tục tập quán của người Khmer cùng các dân tộc khác sinh sống trên địa bàn Nam Bộ được tôn trọng Vì vậy sự tương tác của văn hóa Khmer với văn hóa Hoa hay Việt trước thời Minh Mạng rất hạn chế Tuy nhiên, đến thời vua Minh Mạng, chính sách “Việt hóa” và Nho giáo hóa được thực thi triệt để, theo đó văn hóa Khmer bị xem là “di” và người Khmer cần được “giáo hóa” để dần dần tiếp thu văn hóa của người Việt Chính sách của vua Minh Mạng là dùng nho sĩ và người
dân Việt để giáo hóa, “dụng Hạ biến Di” Theo Đại Nam thực lục, từ năm 1835,
triều đình Huế gửi 10 học quan các phủ huyện tới Chân Lạp để dạy người Chân
Lạp Hán âm (dẫn theo Choi Byung Wook 2011: 216), “bổ nhiệm người đi học làm
người đứng đầu các làng” (dẫn theo Choi Byung Wook 2011: 219) Nhưng ngược lại, vua Minh Mạng không khuyến khích người Việt học tiếng Khmer (Choi
Trang 3733
Byung Wook 2011: 218) để hạn chế chiều tiếp thu văn hóa Khmer của người Việt Mặt khác, ông vua này còn thi hành chính sách hòa trộn tộc người: đưa các làng Việt vào một huyện Khmer và ngược lại, nhằm tạo ra sự không thuần nhất về tộc người, Việt hóa tín ngưỡng của người Khmer, người Chăm, buộc họ phải đổi sang tên họ kiểu Việt, các chức vụ và quyền hạn chính trị cũng dần dần được đổi theo
hệ thống của người Việt Người Khmer ban đầu cũng kháng cự lại (những cuộc
nổi dậy trong cuộc chiến tranh Trấn Tây), nhưng theo thời gian văn hóa Việt và Hoa dần dần lấn át văn hóa Khmer Chỉ một bộ phận nhỏ dân cư giữ lại được
văn hóa gốc, song cũng đã bị pha trộn nhiều
Dấu ấn của văn hóa Khmer trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu tương đối
mờ nhạt Lý do là bởi ông sống chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ (Gia Định), lại bị
mù nên không có nhiều cơ hội tiếp xúc với người dân thuộc tộc người khác Nhưng quan trọng hơn là do quan điểm phân biệt Hoa-Di cực đoan của Nho giáo ở ông Quan điểm này khiến cho không chỉ Nguyễn Đình Chiểu mà cả nhiều nhà nho khác coi thường và từ chối tiếp nhận ảnh hưởng của bất cứ nền văn hóa nào khác Tuy nhiên, những biến cố chính trị của vùng đất Nam Bộ có liên quan đến tộc người Khmer thì không hẳn là hoàn toàn vắng bóng trong thơ ông Cuộc chiến tranh Trấn Tây, theo Cao Tự Thanh, đã trực tiếp tác động đến học vấn và học phong của nho sĩ trong vùng: Án sát Huỳnh Mẫn Đạt, Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa,
Cử nhân Trần Thiện Chánh đều từng đích thân cầm quân và họ chính là một số nguyên mẫu giúp Nguyễn Đình Chiểu xây dựng hình tượng Lục Vân Tiên (Cao
Tự Thanh 2010: 196) Sự phê phán Phật giáo của cụ Đồ không chỉ là phê phán chung chung mà có căn nguyên trực tiếp từ thực tế Nam Bộ: sự xuất hiện của dòng phái Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương vào giữa thế kỷ XIX ở Nam Bộ và sự tồn tại lâu đời của Phật giáo Nam Tông - chỗ dựa tinh thần vững chắc của người Khmer -
là nguyên nhân cản trở quá trình Việt hóa và Nho giáo hóa Tác phẩm Dương Từ
Hà Mậu có thể xem như một sự tấn công (chủ yếu ở phương diện thực hành) vào
tất cả các tôn giáo, tín ngưỡng khác Nho giáo đang tồn tại trên vùng đất Nam Bộ nhằm góp một tiếng nói cho công cuộc xiển dương Nho giáo
2.2.2 Lớp văn hóa của người Việt: nhóm người theo đạo Thiên Chúa và nhóm người không theo đạo Thiên Chúa
2.2.2.1 Sơ lược lịch sử cuộc Nam tiến của người Việt
Quá trình Nam tiến của người Việt diễn ra thành ba thời kỳ: thời kỳ thứ nhất từ 1306-1602 là thời kỳ người Việt dần dần từ miền Bắc tiến vào đất của
Trang 3834
Chiêm Thành (miền Trung và Nam Trung Bộ ngày nay); thời kỳ thứ hai từ 1698 - cuối những năm 1790: các chúa Nguyễn liên tục mộ dân từ các vùng Thuận Quảng vào vùng đất mới (Nam Bộ) để khai khẩn nhằm mở rộng lãnh thổ về phía Nam; thời kỳ thứ ba từ 1802 cho đến khi Pháp xâm chiếm Nam Kỳ lục tỉnh: Nguyễn Ánh thống nhất toàn bộ đất nước từ Bắc chí Nam, việc di dân từ cả hai miền Bắc
và Trung vào Nam Bộ diễn ra thuận lợi và liên tục (Hồ Trung Tú 2010) Những dòng người Nam tiến liên tục qua suốt bảy thế kỷ, từ miền Bắc vào miền Trung, rồi từ miền Trung vào miền Nam, đem theo những kinh nghiệm và giá trị văn hóa
từ nơi chôn nhau cắt rốn cũng như những vùng đất mà họ đã dừng chân
2.2.2.2 Nhóm người Việt không theo đạo Thiên Chúa ở Nam Bộ
Tổ chức làng Việt không theo đạo Thiên Chúa ở Nam Bộ
Người Việt quen với lối sống theo cộng đồng làng xóm Khi vào tới đất Nam Bộ, họ cũng họp lại và tổ chức thành những cộng đồng có dáng dấp của làng
xã để cùng nhau sinh tồn Trong những điều kiện của vùng đất Nam Bộ có nhiều khác biệt với quê hương cũ, làng Việt ở Nam Bộ là biến thể của làng Việt ở Bắc
Bộ Vào khoảng đầu thế kỉ XVIII, toàn vùng Gia Định (tức Nam Bộ) có hơn 200 làng (Phan An 2015) Nhưng khác với đơn vị làng ở Bắc Bộ, “làng Việt ở Nam Bộ
là sản phẩm tái cấu trúc tổ chức xã hội truyền thống của cộng đồng cư dân Việt di
cư từ phía Bắc Việt Nam vào cư trú và sinh sống ở Nam Bộ” (Phan An 2015) Sự khác biệt giữa làng Việt ở miền Bắc - Trung Bộ với làng Việt ở Nam Bộ về đại thể
có thể được trình bày như trong bảng dưới đây:
Bảng 2.1: Bảng so sánh làng Việt ở Bắc - Trung Bộ và Nam Bộ
Làng Việt ở Bắc - Trung bộ Làng Việt ở Nam Bộ Nguồn
gốc hình
thành
Xuất phát từ các công xã cổ đại, trong đó yếu tố dòng họ đóng vai trò quan trọng (“trong họ ngoài làng”) (Phan An 2015)
Là “liên hiệp tự nguyện của những nông dân tự do” từ nhiều
xứ đổ về trong đó “mối quan hệ huyết thống không còn chiếm địa vị trọng yếu” (Phan An 2015)
Không
gian
cƣ trú
Khép kín: thường được bao bọc
bởi những lũy tre; con người sống co cụm trong phạm vi làng
xã nên sự hỗ trợ qua lại cũng như sự can thiệp của cộng đồng
Mở, thoáng: không gian cư trú
của làng Nam Bộ tương đối rộng; trải dài dọc theo kênh rạch, đường giao thông; nhà này cách nhà kia bởi những khu vườn,
Trang 3935
làng xã đối với các gia đình và
cá nhân là rất lớn (Phan An 2015)
dòng kênh; hầu như rất hiếm làng có lũy tre vây bọc nên sự can thiệp, kiểm soát của cộng đồng không thái quá (Phan An 2015)
Cấu trúc
và trật tự
- Bộ máy quản lý làng xã: được hình thành từ những thời hội đồng kỳ mục là cơ quan quyết nghị ở làng xã, còn hội đồng lý dịch là cơ quan chấp hành và mang tính đại diện Bộ máy quản
lý làng xã là cấp trung gian giữa chính quyền trung ương và người dân
- Tổ chức xã hội của làng bao gồm: “Giáp” là một tổ chức tập hợp của nam giới (đinh); hội “Tư văn” là tổ chức của những người
có học thức, có khoa mục (từ tú tài trở lên), có chức sắc; hội
“Lão” dành cho các bậc cao niên trong làng; tôn ti chặt chẽ (Vũ Duy Mền, Trịnh Thị Hà 2016:
- Bộ máy quản lý làng xã: từ thời các chúa Nguyễn (cuối thế kỷ XVIII) cũng bắt đầu có quy định
về hội đồng kỳ mục và cơ cấu được hoàn thiện với “Minh điều hương ước” dưới thời Tự Đức (1852) (Trần Ngọc Thêm 2014: 177)
- Do điều kiện tự nhiên ưu đãi, tính chất mở và động của lối sống nên các mối quan hệ giữa các thành viên trong làng xã ở Nam Bộ khá lỏng lẻo và tương đối bình đẳng; sự quản lý của làng xã với các hộ gia đình không quá chặt chẽ (Trần Ngọc Thêm 2014: 180);
- Không có hương ước (Trần Ngọc Thêm 2014: 181; Phan An 2015);
- Không có sự phân biệt giữa dân gốc và dân ngụ cư (Trần Ngọc Thêm 2014: 181)
- Do thành phần cư dân chủ yếu
là người lao động, môi trường lại đòi hỏi con người phải năng động, tập trung lo làm ăn nên
Trang 4036
và ít phát triển giao thương của làng xã Bắc - Trung Bộ
- Phần lớn các làng đều có “văn từ”, “văn chỉ” là nơi thờ các vị
tổ sư của Nho giáo ở cấp xã, dựng bia ghi tên người đỗ khoa trường, khuyến học Văn chỉ do hội Tư văn của làng và người dân đóng góp tiền của xây dựng (Nguyễn Hữu Mùi 2007)
- Dòng họ khoa bảng trong làng:
đây là những dòng họ có nhiều người học hành đỗ đạt Việc giáo dục Nho học diễn ra ngay trong nội bộ dòng họ (Lê Thành Luân 2017)
chưa thể chú trọng phát triển truyền thống học hành thi cử
- Ở Nam Bộ, học hành đỗ đạt không phải là con đường “vinh thân phì gia” duy nhất giống như
ở Bắc và Trung Bộ, vì vậy truyền thống giáo dục Nho học chưa hình thành và các cơ sở giáo dục Nho học như văn từ, văn chỉ, dòng họ khoa bảng khá hiếm
Tính tự
trị
Làng Bắc Bộ được xem như những “ốc đảo” vì tính tự trị mạnh mẽ của nó (“phép vua thua
lệ làng”); mỗi làng có hương ước riêng, tồn tại khá độc lập với các làng khác (Vũ Văn Mền, Trịnh Thị Hà 2016: 66-73)
Không khép kín như “ốc đảo” do làng Nam Bộ luôn có xu hướng
mở ra giao lưu và những cơ sở hình thành các làng xã tự trị là công điền và hương ước hầu như không có (Phan An 2015)
Tính ổn
định
Tính ổn định cao do tư duy thuần nông “an cư lạc nghiệp”, đất chật người đông nên ít ai nghĩ đến việc bỏ làng đi nơi khác, trừ phi
có chiến tranh, nạn đói
Tính ổn định không cao do tính cách dám phiêu lưu của người lưu dân, quỹ đất lớn nên người nông dân Nam Bộ luôn có nơi để
đi (Trần Ngọc Thêm 2014: 176)
Những điểm khác biệt nêu trên cho thấy tính sơ khai, cởi mở, năng động, dễ thay đổi (và vì thế mà cũng dễ đón nhận cái mới) của các cộng đồng làng xã lưu dân Việt ở Nam Bộ so với mô hình cộng đồng làng xã ở vùng đất cũ, nơi mà nó đã thoát thai
Tính cách văn hóa