1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đối chiếu các hư từ hán văn dịch sang các hư từ văn nôm trong tác phẩm song ngữ hán nôm truyền kỳ mạn lục

174 144 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 13,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài luận án này, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể Ban Giám hiệu, Sau Đại học Khoa Ngôn ngữ học, giảng viên, cá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

――――――――――――

Washizawa Takuya

NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CÁC HƯ TỪ HÁN VĂN

DỊCH SANG CÁC HƯ TỪ VĂN NÔM

TRONG TÁC PHẨM SONG NGỮ HÁN NÔM

TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

――――――――――――

Washizawa Takuya

NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CÁC HƯ TỪ HÁN VĂN

DỊCH SANG CÁC HƯ TỪ VĂN NÔM

TRONG TÁC PHẨM SONG NGỮ HÁN NÔM

TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số: 62 22 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS TSKH Nguyễn Quang Hồng

2 TS Nguyễn Tuấn Cường

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

- Luận án Tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu của ai khác

- Luận án đã được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, cầu thị

- Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác đã được tiếp thu chân thực, cẩn trọng trong luận án

Tác giả luận án

Washizawa Takuya

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài luận án này, tác giả đã nhận được rất nhiều

sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể Ban Giám hiệu, Sau Đại học Khoa Ngôn ngữ học, giảng viên, cán bộ các phòng, ban chức năng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGNH; tập thể Ban Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hán Nôm (gồm việc cung cấp cứ liệu văn bản); các cơ quan và giáo viên tại Nhật Bản (gồm

sự tài trợ); Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng

và TS Nguyễn Tuấn Cường, những thầy giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tác giả hoàn thành luận án này

Tác giả luận án cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên trong các Hội đồng đánh giá luận án bởi những góp ý của Hội đồng sẽ giúp tác giả luận án có những tiến bộ nhanh hơn trên con đường học tiếp và nghiên cứu

Tác giả xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đang công tác tại Khoa Ngôn ngữ học và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án này

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Washizawa Takuya

Trang 5

1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp mới của luận án 9

6 Cấu trúc của luận án 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ KHUNG LÝ THUYẾT 11

1.1.Tác phẩm song ngữ Hán Nôm Tân biên Truyền kỳ mạn lục (TBTKML) 12

1.1.1 Vấn đề tác giả và niên đại 12

1.1.2 Vấn đề văn bản 13

1.2 Một số nghiên cứu về hư từ và phiên dịch học 14

1.2.1 Lý thuyết về hư từ và nghiên cứu về hư từ văn Nôm trong TBTKML 14

1.2.1.1 Một số lý thuyết về hư từ 14

1.2.1.2 Hư từ văn Nôm trong TBTKML 20

1.2.2 Phiên dịch học và vấn đề phiên dịch hư từ 24

1.3 Một số nghiên cứu về ngôn ngữ học đối chiếu 31

1.4 Khung lý thuyết được sử dụng trong luận án 35

1.4.1 Khung lý thuyết liên quan đến phiên dịch và đối chiếu 35

1.4.2 Quan niệm chung về hư từ và tiêu chí xác định hư từ 38

1.4.3 Các tiểu loại hư từ 40

1.5 Cách nhận định hiện tượng giao thoa 42

Trang 6

2

Tiểu kết Chương 1 44

CHƯƠNG 2: TOÀN CẢNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁCH DỊCH HƯ TỪ HÁN VĂN SANG HƯ TỪ VĂN NÔM TRONG TBTKML 46

2.1 Toàn cảnh cách dịch các hư từ 47

2.2 Các trường hợp cách dịch đã được cố định hóa 50

2.3 Giải thích các trường hợp dịch linh hoạt 51

2.3.1 Khác biệt cách dịch theo ý nghĩa / chức năng 51

2.3.2 Khác biệt cách dịch theo văn cảnh / vị trí trong câu 51

2.3.3 Khác biệt vì là trường hợp “gần nhau” 55

Tiểu kết Chương 2 65

CHƯƠNG 3: NHẬN ĐỊNH CHỨC NĂNG CỦA HƯ TỪ CHƯNG VÀ THỬA THÔNG QUA VIỆC ĐỐI CHIẾU VỚI NHỮNG HƯ TỪ HÁN TRONG TBTKML 67

3.1 Cách dùng chưng qua đối chiếu với các hư từ Hán 68

3.1.1 Cách dùng chưng trong các bộ từ điển 68

3.1.2 Cách dùng chưng tương ứng với giới từ Ư 於 hay VU 于 72

3.1.3 Cách dùng chưng tương ứng với PHÙ 夫 74

3.1.4 Cách dùng chưng tương ứng với PHÀM 凡 76

3.1.5 Cách dùng chưng tương ứng với CHI 之 77

3.1.5.1 Ý nghĩa và chức năng của CHI trong những bộ từ điển 77

3.1.5.2 Cách dịch trợ từ CHI điển hình và những nghiên cứu đi trước 78

3.1.5.3 Cách giải thích chính xác về chức năng của trợ từ CHI 80

3.1.5.4 Nhân diện cách dùng chưng bằng việc đối chiếu với CHI 81

Trang 7

3

3.2 Cách dùng thửa qua đối chiếu với các hư từ Hán 90

3.2.1 Cách dùng thửa tương ứng với KỲ 其 90

3.2.2 Cách dùng thửa tương ứng với SỞ 所 94

3.3 Khảo sát chung về chức năng của chưng và thửa qua việc đối chiếu 97

Tiểu kết Chương 3 101

CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CÁC TIỂU LOẠI CỦA HƯ TỪ TRONG NGUYÊN BẢN HÁN VĂN VÀ VĂN DỊCH NÔM CỦA TBTKML 103

4.1 Thống kê cách dịch các hư từ Hán thuộc mỗi tiểu loại 104

4.2 Đối chiếu liên từ Hán dịch sang Nôm: vấn đề tương ứng 1 đối 1 106

4.3 Đối chiếu phó từ Hán dịch sang Nôm: vấn đề tương ứng nhiều đối nhiều 109

4.4 Đối chiếu giới từ Hán dịch sang Nôm: vấn đề sử dụng thực từ Nôm 113

4.5 Đối chiếu ngữ khí từ Hán dịch sang Nôm: vấn đề về cách dịch linh hoạt 116

4.6 Đối chiếu trợ từ Hán dịch sang Nôm: tình hình đa dạng 125

4.7 Đối chiếu đại từ Hán dịch sang Nôm: nhận định thêm vài hư từ 125

4.7.1 Đối chiếu các đại từ chỉ sự hay ngôi thứ ba 126

4.7.2 Đối chiếu các đại từ nghi vấn 129

4.7.3 Đối chiếu đại từ / ngữ khí từ GIẢ 者 và ngữ khí từ ấy 130

4.8 Đối chiếu hư từ Hán thuộc tiểu loại khác dịch sang Nôm 133

4.9 Khảo sát lại về hiện tượng “giao thoa” 134

Tiểu kết Chương 4 135

KẾT LUẬN 137

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA NGHIÊN CỨU SINH 141

TÀI LIỆU THAM KHẢO 142

PHỤ LỤC 150

Trang 8

4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TBTKML: Tân biên Truyền kỳ mạn lục

TTKHNL: Thiền tông khóa hư ngữ lục

PT: Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh

CCL: Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục

TKGÂ: Thi kinh giải âm

DTDN: Dương tiết diễn nghĩa

QÂTT: Quốc âm thi tập

TCTGKM: Thiên Chúa Thánh giáo khải mông

H: câu ví dụ trong nguyên bản Hán văn nguyên bản

N: câu ví dụ trong bản dịch Nôm

Ng: nghĩa của câu ví dụ

< : : > : số quyển, số trang, và số dòng chỉ vị trí của chữ Hán đầu tiên trong câu ví

dụ trích từ TBTKML

< : > : số trang, và số dòng chỉ vị trí của chữ Hán đầu tiên trong câu ví dụ trích từ tác phẩm ngoài TBTKML

Ah: yếu tố A (trong kết cấu A CHI B) trong nguyên bản Hán văn

Bh: yếu tố B (trong kết cấu A CHI B) trong nguyên bản Hán văn

An: yếu tố A trong bản dịch Nôm

Bn: yếu tố B trong bản dịch Nôm

Trang 9

Trong các tư liệu phiên dịch từ Hán sang Nôm ở Việt Nam, tác phẩm song

ngữ Hán Nôm Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú (được gọi tắt là Tân biên

Truyền kỳ mạn lục hay Truyền kỳ mạn lục giải âm), niên đại cuối thế kỷ XVI (hoặc

đầu thế kỷ XVII), có vị trí đặc biệt quan trọng Đây là một tác phẩm có dung lượng

lớn, được thực hiện công phu, thể hiện sự trưởng thành của tiếng Việt văn học thời

cổ - trung đại, là một thành tựu có dấu ấn đậm nét trong lịch sử phiên dịch ở Việt Nam nói chung, lịch sử phiên dịch Hán Việt nói riêng Chính vì vậy, tác phẩm song ngữ này đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, khai thác từ nhiều góc nhìn khác nhau, trong đó có góc nhìn văn học, ngôn ngữ học, văn bản học, phiên dịch học… Nghiên cứu tác phẩm này sẽ góp phần bổ sung vào công việc nghiên cứu về tiếng Việt trong giai đoạn này nói riêng, góp phần làm rõ bản chất của tiếp xúc văn hóa hay phiên dịch nói chung

Trong luận án này, chúng tôi đặt tiêu điểm chú ý vào các hư từ Trong các ngôn ngữ, hư từ có số lượng ít hơn rất nhiều so với thực từ, nhưng tần suất hoạt

Trang 10

6

động của hư từ lại cao hơn hẳn thực từ, bởi vì hư từ có vai trò rất quan trọng trong việc thể hiện các quan hệ ngữ pháp Hơn nữa, đối với hai ngôn ngữ đơn lập âm tiết

tính như tiếng Việt và tiếng Hán [23], thì các phương tiện thể hiện ngữ pháp chủ yếu

chính là thông qua trật tự từ và việc sử dụng hệ thống hư từ

Trong nhiều hư từ tiếng Việt cổ, luận án đặc biệt chú ý đến hư từ chưng Hư

từ chưng có chức năng khá đa dạng, có quan hệ chặt chẽ với Hán văn, có tần số sử

dụng rất khác nhau tùy thuộc vào các tác phẩm, và dần giảm tần số sử dụng sau thời

trung đại Tuy nhiên, cho đến nay, hư từ chưng chưa được nghiên cứu đầy đủ Vì vậy, việc nghiên cứu về hư từ chưng trong tác phẩm Tân biên Truyền kỳ mạn lục sẽ

góp phần đáng kể cho việc tìm hiểu về đặc trưng của tiếng Việt trong thời đại ấy

Xuất phát từ những lý do kể trên, tác giả lựa chọn đề tài Nghiên cứu đối

chiếu các hư từ Hán văn chuyển dịch sang các hư từ văn Nôm trong tác phẩm song ngữ Hán Nôm “Truyền kỳ mạn lục” làm đề tài luận án tiến sĩ

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án này là: 1) Làm sáng tỏ phương thức

chuyển dịch hư từ trong Tân biên Truyền kỳ mạn lục; 2) Làm sáng tỏ đặc trưng cách dùng các hư từ tiếng Việt trong Tân biên Truyền kỳ mạn lục thông qua việc đối

chiếu với Hán văn nguyên bản Cụ thể, luận án sẽ làm rõ cách dùng đặc biệt của một số hư từ, từ đó đưa ra được những đặc trưng chủ chốt của tác phẩm TBTKML trong bối cảnh dịch thuật Việt Nam từ thời cổ đại đến trung đại, và tìm hiểu về đặc trưng của tiếng Việt trong thời đại ấy

Trang 11

7

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các hư từ Hán văn và các hư từ tiếng

Việt (văn Nôm) trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú (thường được gọi tắt là Tân biên Truyền kỳ mạn lục)

Phạm vi nghiên cứu là việc chuyển dịch giữa hư từ Hán và hư từ Nôm,

trong tác phẩm song ngữ Hán Nôm Tân biên Truyền kỳ mạn lục Luận án đặc biệt chú ý đến cách dịch hư từ CHI1之, Ư 於, KỲ 其, SỞ 所 v.v bởi chúng có những

đặc trưng nổi bật, rất đáng đi sâu nghiên cứu

Về phạm vi tư liệu, luận án thao tác thống kê trên cơ sở tư liệu chính là văn

bản Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, ký hiệu HN 257 và HN

258, hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Văn học Việt Nam (đã được ảnh ấn trong công trình của Nguyễn Quang Hồng [21]) Để tham khảo và đối chiếu thêm, luận án cũng

khảo sát một số bản Tân biên truyền kỳ mạn lục khác Ngoài ra, luận án cũng tham

khảo những tác phẩm Hán – Nôm khác có niên đại gần kề với tác phẩm nghiên cứu2,

1 Để phân biệt dễ dàng tiếng Hán và tiếng Việt khi đọc, trong luân án này, phiên âm Hán Việt được viết bằng chữ hoa và in nghiêng, phiên âm tiếng Việt cổ được viết bằng chữ thường và in nghiêng

2 Cụ thể, gồm những tác phẩm sau:

- Thiền tông Khóa hư ngữ lục (TTKHNL): tác phẩm Phật giáo do Trần Thái Tông viết

nguyên bản Hán văn vào thế kỷ XIII, do Tuệ Tĩnh dịch “giải nghĩa” vào thế kỷ XIV [14: tr

23, 34]; bản sao và phiên âm bởi Trần Trọng Dương [13]; bản dịch tiếng Việt hiện đại bởi Thích Thanh Từ [60];

- Phật thuyết Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (PT): được viết vào thế kỷ XII hay XV; có

toàn văn nguyên bản photocopy và phiên âm văn Nôm trong Hoàng Thị Ngọ [46]; tranh luận về niên đại được Shimizu [75: tr 136] chỉ ra;

- Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục (Cổ Châu lục, CCL): được coi là do Viên Thái

viết vào thế kỷ XV [22: tr 371]; bản năm 1752 và phần phiên âm của văn Nôm được in

vào quyển của Nguyễn Quang Hồng [19];

- Thi Kinh giải âm (TKGÂ): tác phẩm giải âm dịch Kinh thi, là một văn thơ trong “ngũ

kinh” Trung Hoa; không rõ niên đại ra đời, nhưng được coi là thế kỷ XVI – XVII, gần TBTKML [10: tr 26-27]; bản sớm nhất là của năm 1714; được viết giải âm sau các câu thơ

trong nguyên bản Thi kinh, sau đó thêm chú thích trong Thi kinh tập truyền 詩経集傳 của

Chu Hy 朱熹[10: tr 14]; trong công trình của Nguyễn Tuấn Cường [10] có hình ảnh và

Trang 12

8

để làm rõ thêm cách dùng của một số hư từ đáng kể trong TBTKML

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án này nghiên cứu sự chuyển dịch (phiên dịch) các hư từ Hán văn sang văn Nôm, cho nên phương pháp nghiên cứu được áp dụng thứ nhất là phương pháp phiên dịch học (translation studies) Ở đây, phiên dịch vừa là một hoạt động ngôn ngữ học, vừa là một hoạt động văn học, và một hoạt động văn hóa học Hiểu biết về phiên dịch học trong trường hợp của luận án này, cũng là để hiểu biết về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn học và văn hóa của Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn thế kỷ XVI-XVII

Thứ hai, luận án cũng áp dụng phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu, nhằm

lý giải những đặc trưng chung và riêng giữa hư từ trong nguyên bản Hán văn và hư

một số tài liệu [10: tr 24-26]), cho nên có khả năng là đã chịu ảnh hưởng của cách đọc và cách dịch của thời đại cũ:

- Dương tiết diễn nghĩa (DTDN): dựa vào Dương tiết là tác phẩm Nho học do một học giả nước Minh là Phan Vinh (1419-1496) viết [39: tr 458]; niên đại của Dương Tiết diễn nghĩa

chưa rõ; có bản năm 1890 ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm; trong văn bản này không ghi nhận giải âm, tức là bản dịch, mà từ ngữ dịch Nôm được viết bên cạnh mỗi chữ Hán một; không

có phiên âm và không có nghiên cứu chi tiết đi trước

- Quốc âm thi tập (QÂTT): tác phẩm thơ ca do Nguyễn Trãi viết vào thế kỷ XV; trong

công trình của Trần Trọng Dương [15] có toàn văn phiên âm

- Thiên Chúa Thánh giáo khải mông (TCTGKM): tác giả là Jeronimo Maiorica, một nhà

truyền giáo Dòng Tên; tác phẩm đầu tiên của Maiorica, năm in được coi là năm 1666-1668 [34: tr 51]; tổng số chữ là 26543 chữ [34: tr 63]; lưu trữ tại Thư viện quốc gia Pháp (Viêtnamien B.6); có bản photocopy và phiên âm trong bản lưu hành nội bộ của Giáo hội Công giáo Việt Nam [35]; Nguyễn Thị Tú Mai [34] phân tích về chữ Nôm và hư từ trong tác phẩm này

Trang 13

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án này là công trình đầu tiên đặt vấn đề tìm hiểu về cách chuyển dịch

hư từ trong Tân biên Truyền kỳ mạn lục một cách tổng quát, và đồng thời cũng

nghiên cứu kĩ về cách dịch một số hư từ cụ thể như CHI 之, Ư 於, KỲ 其, SỞ 所

v.v Nghiên cứu này đóng góp cho việc tìm hiểu về một khía cạnh quan trọng trong lịch sử tiếng Việt thông qua nghiên cứu về cách dùng hư từ trong một tác phẩm

quan trọng là Tân biên Truyền kỳ mạn lục, và đặc trưng của nó trong bối cảnh dịch

thuật Việt Nam Kết quả của luận án cũng góp phần làm rõ thêm nhận thức về sự tiếp xúc văn hóa, ngôn ngữ, và về bản chất của dịch thuật nói chung

Những dữ liệu đạt được trong quá trình nghiên cứu của luận án cũng sẽ bổ sung về mặt thông tin và số liệu, có thể làm tư liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được chia làm 4 chương

Ở Chương 1, luận án trinh bày tổng quan về nghiên cứu văn bản Tân biên

Trang 14

10

Truyền kỳ mạn lục, hư từ, phiên dịch học, và ngôn ngữ học đối chiếu, cũng như

khung lý thuyết được sử dụng trong luận án, về phiên dịch học, cơ sở nghiên cứu đối chiếu, tiêu chí xác định hư từ, và cách nhận định hiện tượng “giao thoa”

Ở Chương 2, luận án trình bày toàn cảnh cách dịch hư từ và giải thích về

cách dịch đã được cố định hóa và cách dịch linh hoạt Cách dịch linh hoạt được giải thích bằng văn cảnh xung quanh các hư từ

Ở Chương 3, luận án khảo sát về chức năng của chưng và thửa, hai hư từ

tiêu biểu nhất trong tiếng Việt cổ, bằng cách đối chiếu với các hư từ Hán tương ứng,

là CHI 之, PHÙ 夫, KỲ 其, SỞ 所 v.v để tìm hiểu bản chất chức năng của chúng

Ở Chương 4, luận án chọn một số hư từ tiêu biểu với tần số cao thuộc mỗi

tiểu loại để đối chiếu các lớp từ Luận án nhận diện một vài từ cần được thêm vào danh sách hư từ, còn khảo sát lại về hiện tượng giao thoa và đặc trưng của cách dịch

trong tài liệu

Trang 15

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VÀ KHUNG LÝ THUYẾT Dẫn nhập:

Để có thể nắm chắc về hư từ trong Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải

âm tập chú (từ đây viết tắt là TBTKML)3, cần hiểu biết về tác phẩm này cũng như

hiểu biết về lịch sử vấn đề nghiên cứu liên quan đến hư từ, phiên dịch học và phiên dịch hư từ Vì vậy, Chương 1 của luận án sẽ lần lượt giải quyết các vấn đề: 1 - giới

thiệu tác phẩm TBTKML, 2 - một số lý thuyết về hư từ, 3 - nghiên cứu về hư từ và

phiên dịch học

Hư từ luôn có vai trò quan trọng trong những ngôn ngữ đơn lập, nghiên cứu

hư từ đã thu hút nhiều quan tâm của giới nghiên cứu xưa nay Trên cơ sở nghiên

cứu của những người đi trước, chúng tôi sẽ xác định những vấn đề phải giải quyết trong luận án này

Khi nói về phiên dịch học, các nhà nghiên cứu đi trước đã rất chú trọng tập trung thảo luận về phương pháp phiên dịch giữa “dịch chữ” và “dịch nghĩa”, đây cũng là vấn đề liên quan trực tiếp đến TBTKML Dựa trên những nghiên cứu phiên

dịch học hiện nay, tác giả luận án đề ra khung lý thuyết chủ yếu trong luận án, đó là quan điểm coi phiên dịch là một hoạt động ngôn ngữ, bên cạnh mặt hoạt động văn

hóa, nghệ thuật

Ngoài ra, phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu cũng được giới thiệu để làm

rõ phương pháp nghiên cứu luận án này áp dụng Từ đây, tác giả luận án cũng xác

3 Tác phẩm này còn được gọi tắt là Truyền kỳ mạn lục giải âm “Giải âm” có khi được

dùng với tư cách là thuật ngữ chỉ phần văn dịch Nôm, và cũng là một phần của tên tác phẩm Luận án này phân tích cả 2 phần Hán văn và phần văn dịch Nôm, nên chúng tôi gọi

tắt là TBTKML, để tránh sự hiểu nhầm rằng luận án chỉ phân tích phần văn dịch Nôm thôi

Trang 16

định tiêu chí về hư từ và định nghĩa của mỗi tiểu loại thuộc hư từ

1.1 Tác phẩm song ngữ Hán Nôm Tân biên Truyền kỳ mạn lục

1.1.1 Vấn đề tác giả và niên đại

Truyền kỳ mạn lục (từ đây viết tắt là TKML) là một tác phẩm Hán văn của

Nguyễn Dữ (阮嶼)4, phỏng đoán được sáng tác vào thế kỷ XVI TBTKML là tác

phẩm song ngữ, được kết cấu bởi 2 phần: phần Hán văn Truyền kỳ mạn lục; và phần

văn dịch Nôm tương truyền do Nguyễn Thế Nghi chuyển dịch

Tác phẩm này gồm 20 truyện (4 quyển, mỗi quyển 5 truyện), thường được

coi là đã chịu ảnh hưởng từ Tiễn đăng tân thoại (剪燈新話) của tác giả Trung Hoa

là Cù Hựu (瞿佑), tức là Cù Tông Cát (瞿宗吉, 1347-1433) [Nguyễn Quang Hồng 20: tr 10, Gaspardone 77: tr 1325] Tuy nhiên, trong một nghiên cứu của

Kawamoto [94: tr 15-25], TKML được cho là có nhiều điểm chung với Tiễn đăng

tân thoại nhưng chí hướng và tư tưởng lại khác với Tiễn đăng tân thoại Kawamoto

cũng cho rằng có thể Nguyễn Dữ đã viết lại Tiễn đăng tân thoại theo kiểu Việt Nam,

để “sáng tác” một bộ sách truyền kỳ có đề tài văn hóa, nhân vật, thiên nhiên và thời đại của nước Việt

Nhiều ý kiến nhận định người dịch Nôm là Nguyễn Thế Nghi (阮世儀)6

4 Không rõ sinh và mất năm nào Có nhiều khả năng sinh ra vào cuối thế kỷ XV và sống chủ yếu vào nửa đầu thế kỷ XVI Nguyễn Dữ đỗ thi Hội, được bổ làm quan, nhưng một năm sau xin về quê để phụng dưỡng mẹ già Trong thời gian này Nguyễn Dữ đã sáng tác TKML [20: tr 9-10]

5“Il imite en gros le recueil du Tsien teng 剪燈 du lettré yuan.”

6 Dựa vào thông tin trong Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề và Trần Quý Nha (Trần

Trợ) Nguyễn Quang Hồng [20: tr 12] quan niệm chưa đủ bằng chứng xác thực để khẳng định hay phủ định Nguyễn Thế Nghi có phải là tác giả của bản giải âm của TBTKML hay không, nhưng việc coi Nguyễn Thế Nghi là dịch giả vẫn tạm chấp nhận được, vì Nguyễn

Thế Nghi có bản lĩnh văn chương quốc âm đã được ghi nhận trong Công dư tiệp ký

Trang 17

Về niên đại tác phẩm, có thể phỏng đoán rằng TKML bản Hán văn ra đời muộn nhất ở năm Vĩnh Định nguyên niên (1547).7 Thêm nữa, bởi Nguyễn Thế Nghi sống đến cuối đời Mạc (-1595), nên cũng có thể đưa ra giả định rằng phần giải

âm trong TBTKML hoàn thành vào cuối thế kỷ XVI [Hoàng Thị Hồng Cẩm 4: tr

68, 70, 73]

1.1.2 Vấn đề văn bản

Có 5 bộ ván in cơ bản của TKML của các năm 1712 (chỉ gồm chữ Hán),

1714, 1737, 1763, và 1774 [Kawamoto 94: tr 27, Nguyễn Quang Hồng 20, tr 14-15].8 Trong số 5 văn bản ở Việt Nam9 [20: tr 15-18], phiên âm của Nguyễn Quang Hồng [20] lấy bản sách mang ký hiệu HN 257 và HN 258 làm bản chính để thực hiện, vì bản này là “bản sách có chất lượng tốt nhất về mặt văn bản, nó phản ảnh trung thành nhất bản khắc vốn có” [20: tr 17, 20] Toàn văn bản sách này được

in đính kèm trong ấn phẩm của Nguyễn Quang Hồng Các bản khác được dùng để tham khảo, đối chiếu với bản HN 257 và HN258, khi cần thiết

Hoàng Thị Hồng Cẩm [4] lại cho biết chi tiết về các chữ khác nhau ghi trong từng văn bản, từ đó lấy sách R.1450-1453 làm bản chính, bởi văn bản này sử dụng bộ ván có niên đại sớm hơn

7 Được ghi ở bài tựa Hà Thiện Hán (viết về nguyên tác Hán văn TKML)

8 Hiện nay ở Việt Nam, các văn bản TKML khắc in đều thuộc hệ Tân biên từ các bộ ván

năm 1763, và 1774 Các văn bản thuộc bộ khác đang được lưu giữ ở nước ngoài, như Pháp, Trung Quốc và đặc biệt là ở Nhật Bản [4:18], [94:27-47]

9 R.109 ở Thư viện Quốc gia Việt Nam thuộc bộ ván năm 1763; R.1450-1453 ở Thư viện Quốc gia Việt Nam thuộc bộ ván năm 1763; VNv.704-707 ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc bộ ván năm 1774; VHv.1491 ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc bộ ván năm 1774;

và HN 257 - 258 ở Viện Văn học thuộc bộ ván năm 1774

Trang 18

Kawamoto [94] in toàn bộ TBTKML với chữ in hiện đại.10

Trong luận án này, tác giả lấy bản mang ký hiệu HN 257 và HN 258 làm bản chính với cùng một lý do như Nguyễn Quang Hồng nói trên, phần phiên âm chữ Nôm cũng chủ yếu dựa vào công trình của Nguyễn Quang Hồng [20]

Bản dịch tiếng Việt hiện đại được Nguyễn Nam [37] thu thập và thảo luận Bản dịch từ Hán văn ra tiếng Việt hiện đại (chữ Quốc ngữ) đầy đủ nhất và sớm nhất

là của Trúc Khê Ngô Văn Triện in lần đầu năm 1947, được tập hợp và in lại năm

2011, bao gồm cả bản dịch tiếng Pháp và tiếng Việt hiện đại [51] Trong luận án, chúng tôi chủ yếu tham khảo bản dịch này để dẫn các câu dịch tiếng Việt hiện đại (dịch từ phần Hán văn) trong tư thế đối chiếu với tiếng Việt văn Nôm thời xưa

1.2 Một số nghiên cứu về hư từ và phiên dịch học

1.2.1 Lý thuyết về hư từ và nghiên cứu về hư từ văn Nôm trong TBTKML 1.2.1.1 Một số lý thuyết về hư từ

Trong những nghiên cứu về hư từ trong tiếng Việt nói chung, tiêu biểu nhất

là hai công trình của Nguyễn Anh Quế và Hoàng Trọng Phiến Nguyễn Anh Quế [52] đã nghiên cứu, khảo sát toàn bộ hệ thống hư từ trong tiếng Việt hiện đại từ hai

bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp Hoàng Trọng Phiến [50] đã công bố cuốn từ điển giải thích hư từ tiếng Việt hiện đại Theo Hoàng Trọng Phiến [50: tr 5-6], thực từ (notion words) có nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp, làm các thành phần cấu tạo nên câu; trong khi hư từ (function words; empty words; grammatical words; syntactic words) chỉ lấy việc biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp làm chính, không độc lập làm thành

10 Văn bản gốc của Quyển I và II (thuộc sở hữu cá nhân ở Nhật Bản) nằm trong bộ ván năm 1714; văn bản gốc của Quyển III và IV thuộc bộ ván năm 1774, đồng thời luận án có tham khảo thêm các bản thuộc bộ ván năm 1763

Trang 19

phần câu, không làm trung tâm cụm từ, ngữ đoạn Tác giả cũng cho rằng hư từ là một lớp từ làm phương tiện biểu hiện các quan hệ ngữ pháp – ngữ nghĩa khác nhau giữa các thực từ Hư từ không có ý nghĩa từ vựng, nhưng trong tiếng Việt một số lượng không nhỏ các hư từ được chuyển từ thực từ mà ra, nhất là các phó từ, giới từ,

liên từ, các từ chỉ không gian, thời gian, sở hữu, ví dụ: thật, không, bằng, về, với,

của, nếu, giá, cho, để, đặng, trên, trước v.v Theo cách phân loại của Hoàng Trọng

Phiến [50: tr 19], hư từ bao gồm: đại từ, động từ tình thái, giới từ, liên từ, ngữ khí

từ, phó từ, thán từ, trợ từ, và tiểu từ Đại từ chỉ có một mục là bao giờ Động từ tình thái bao gồm các từ cần, phải, bị, đáng v.v

Vũ Đức Nghiệu [43: tr 278] cho biết cách hiểu thường gặp về hư từ là

những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, dùng để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp, hoặc quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ, hoặc giữa các bộ phận của câu, hoặc giữa các câu với nhau Theo tác giả, những tiêu chí phổ biến của hư từ là: (a) không có ý nghĩa từ vựng chân thực, hoặc có ý nghĩa từ vựng mờ nhạt; (b) không có chức năng định danh; (c) làm công cụ để biểu đạt những ý nghĩa, phạm trù ngữ pháp nào đó của thực từ (nói tóm lại là những từ có liên quan đến việc diễn đạt, biểu thị những loại ý nghĩa ngữ pháp)

Trong một công trình khác về ngôn ngữ trên thế giới nói chung [41: tr 308-309], Vũ Đức Nghiệu phân chia các từ thành 3 loại: thực từ (danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, đại từ, số từ); hư từ (giới từ, liên từ, mạo từ); và thán từ

Nghiên cứu về hư từ tương đối sôi nổi, nhất là trong lĩnh vực ngôn ngữ đơn lập như tiếng Hán hay tiếng Việt Lý do có thể là vì trong ngôn ngữ đơn lập, chức năng ngữ pháp được biểu đạt chỉ bằng trật tự từ và hư từ, trong khi ngôn ngữ hòa

kết và ngôn ngữ chắp dính có thể biểu đạt chức năng ngữ pháp bằng sự biến đổi

Trang 20

hình thái hay phụ tố [Vũ Đức Nghiệu 41: tr 79-86] Lý thuyết về “từ” trong tiếng Việt theo Nguyễn Thiện Giáp [18: tr 128-129, 136] cho rằng hư từ có một kiểu

“nghĩa” nhưng không có chức năng định danh và không có tính độc lập về nghĩa và

cú pháp Các hư từ phải đi kèm theo các tiếng khác, để hiện thực hóa được ý nghĩa

của mình và biểu thị các đối tượng trong ngôn ngữ

Thảo luận về cách phân loại các hư từ tiếng Việt, Diệp Quang Ban [1: tr 473] cho rằng thực từ bao gồm danh từ (và loại từ), số từ, tính từ, và động từ, trong

khi hư từ bao gồm mạo từ (và “đặc chỉ từ” cái), phó từ, quan hệ từ, tiểu từ tình thái

(ngữ thái từ và trợ từ), và thán từ Còn đại từ (được chia thành nhân xưng từ, chỉ định từ, đại từ nội chiếu, đại từ nghi vấn và đại từ phiếm chỉ) nằm ở khu vực trung

gian Giải thích việc đặt đại từ nằm ở khu vực trung gian giữa thực từ và hư từ, tác giả cho biết: (a) hoạt động ngữ pháp của chúng giống như thực từ mà chúng thay thế, (b) số lượng của chúng hữu hạn như hư từ. 11

Căn cứ vào cách sắp xếp của Diệp Quang Ban [1: tr 517-558], có thể giải thích các từ loại thuộc hư từ như sau:

- Phó từ: từ có tính chất hư được dùng để mở rộng động từ, tính từ, đem lại cho chúng một số nghĩa nào đó (không tính đến những từ ngữ thuộc bậc câu) Có thể chia thành hai loại là phó từ tình thái và phó từ phi tình thái

- Kết từ (hay “quan hệ từ”): những hư từ diễn đạt các quan hệ lôgic dùng để nối các từ, các tổ hợp từ, các câu, thậm chí các tổ chức lớn hơn câu, với nhau Kết

từ có thể được phân biệt thành giới từ và liên từ như trong nhiều ngôn ngữ, nhưng cách phân biệt này gặp nhiều khó khăn trong tiếng Việt

11 Vũ Đức Nghiệu [43] cũng không xếp các đại từ vào danh sách hư từ trong TBTKML

mà luận án đề cập ở phần sau Luận án này thảo luận về vấn đề này ở Chương 4

Trang 21

- Ngữ khí từ (hay “ngữ thái từ”): hư từ thuộc “tiểu từ tình thái” (lớp từ có tính chất hư từ rất cao, phần lớn diễn đạt những sắc thái tình cảm rất tế nhị và dễ biến động trong mối quan hệ với từ, tổ hợp từ mà chúng đi kèm), xuất hiện ở bậc

câu và đứng ở cuối câu (như ạ, hả, nhỉ, nhé, thôi, thay, kia v.v.)

- Trợ từ: hư từ thuộc “tiểu từ tình thái” xuất hiện trong bậc câu dùng để tạo tiêu điểm ở từ ngữ đứng sau nó, hoặc để đánh dấu một sự phân đoạn nào đấy

- Thán từ: từ - tín hiệu phản ánh các hiện tượng tâm sinh lí (những yếu tố có tính chất ngôn ngữ thấp nhất)

- Mạo từ: Yếu tố hạn định trước danh từ trong danh ngữ, trừ số từ, chỉ định

từ tổng lượng và từ cái đặc chỉ Tức là các từ những, các, mấy, một, mọi, mỗi, từng

- Đại từ: từ thay thế, chia ra thành “nhân xưng từ”, “ chỉ định từ” (những từ không mang nghĩa, được dùng để quy chiếu đến một số phương tiện, và giúp chỉ vật,

việc, hiện tượng trong mối quan hệ với các phương diện đó), “đại từ (nội chiếu)” (từ thay thế cho từ ngữ rõ nghĩa khác bên trong văn bản / diễn ngôn) và “đại từ nghi vấn và đại từ phiếm chỉ”

Đề cập đến đặc điểm của hư từ, Hoàng Trọng Phiến [50: tr 6-10] cho rằng

số lượng của hư từ không lớn trong hệ thống từ loại tiếng Việt, nhưng tần số sử dụng khá cao Về bản chất, hư từ làm công cụ biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp với những đặc điểm cụ thể dưới đây:

(1) Hư từ mang nghĩa quan hệ, gắn với các thức tư duy;

(2) Hư từ tham gia kiến tạo lập luận;

(3) Hư từ không làm trung tâm của cụm từ, của ngữ đoạn và không độc lập làm thành phần câu cũng như không độc lập tạo ra câu;

(4) Hư từ tự nó không có khả năng biểu hiện sắc thái nghĩa;

Trang 22

(5) Hư từ không có khả năng láy để tạo dạng thức ngữ pháp;

Hoàng Trọng Phiến [50: tr 10-17] tóm tắt tác dụng của hư từ như sau: (1) Gắn kết các đơn vị tham gia cấu tạo câu với các quan hệ ngữ nghĩa –

ngữ pháp khác nhau: mục đích (để); thời gian (đã, sắp, rồi) v.v.;

(2) Đánh dấu nghĩa hàm ý trong lời nói;

(3) Có tác dụng tu từ như: tạo nhịp điệu, tạo sự uyển chuyển; tăng cường hiệu lực ngôn trung biểu đạt tư tưởng, tình cảm, thái độ của chủ thể phát ngôn; biểu hiện một nội dung tình thái chủ quan của câu nói bằng cách phát ngôn khác nhau

Về nguồn gốc của các hư từ trong tiếng Việt, đã có nhiều công trình nghiên cứu xác định tầm quan trọng của hư từ gốc Hán đối với tiếng Việt Nhiều hư từ có nguồn gốc từ tiếng Hán, chứng tỏ hư từ gốc Hán đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hư

từ tiếng Việt Lê Đình Khẩn [28] đã đưa ra 4 tiêu chí nhận diện hư từ gốc Hán, đồng thời thống kê và miêu tả 39 hư từ cụ thể Đào Thanh Lan [30] đã thực hiện khảo sát

75 hư từ Hán Việt và 16 hư từ Hán Việt Việt hoá, từ hai bình diện là ý nghĩa và kết hợp ngữ pháp Vũ Đức Nghiệu [40] trong khi khảo sát hư từ tiếng Việt thế kỉ XV

qua hai tác phẩm Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập, đã đưa ra danh

sách 135 hư từ, trong đó nếu phân loại theo nguồn gốc thì có 38 hư từ gốc Hán Gần đây nhất, Đỗ Phương Lâm [31] đã nghiên cứu khá toàn diện về hư từ Hán Việt trong tiếng Việt, và lập danh sách 149 hư từ Hán Việt

Về việc nghiên cứu hư từ trong Hán văn, Trần Văn Chánh có đề cập đến

trong Từ điển hư từ Hán ngữ cổ đại và hiện đại [7: tr vi-vii] Người đầu tiên nêu ra

sự phân biệt và định nghĩa tương đối rõ ràng về thực từ - hư từ (thực tự - hư tự) có

lẽ là Mã Kiến Trung (馬建忠) trong sách Mã thị văn thông (馬氏文通, 1898),

quyển ngữ pháp có tính hệ thống đầu tiên của Trung Quốc: “Phàm những chữ có sự

Trang 23

lý có thể giải được, gọi là thực tự (實字); không giải được mà chỉ dùng để bổ sung tình thái cho thực tự, gọi là hư tự (虚字)” Theo Mã Kiến Trung, có 5 loại thực tự là danh tự, đại tự, động tự, tĩnh tự, trạng tự; và bốn loại hư tự là giới tự, liên tự, trợ tự, thán tự

Sau Mã thị văn thông, nhà ngữ pháp học Dương Thụ Đạt khi soạn quyển Từ

thuyên lại xếp cả phó từ (tức trạng tự), đại từ (tức đại tự) và vài loại động từ đặc biệt

(như nội động từ, bất hoàn toàn nội động từ12 ) vào loại hư từ Hiện nay, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đều thống nhất có 5 loại hư từ là phó từ, giới từ, liên từ, trợ

từ, và thán từ Tuy nhiên trên thực tế, các sách và từ điển về hư từ vẫn thường kết hợp giải thích luôn cả một số ít đại từ, vì dường như loại từ này cũng có chỗ nửa hư nửa thực, nếu xếp vào loại hư từ cũng không phải hoàn toàn vô lý

Trần Văn Chánh [7] ghi nhận về hư từ Hán, cả cổ đại lẫn hiện đại Trong khi đó ở Trung Hoa, có từ điển riêng biệt về hư từ cổ (không có hư từ Hán hiện đại), như của Lý Tịnh Chi [83], Hà Lạc Sĩ [82] và Vương Hải Phân [86] v.v Hư từ trong các bộ từ điển này bao gồm giới từ, liên từ, trợ từ, ngữ khí từ, trợ động từ, thán từ, phó từ, và đại từ Tuy nhiên, từ điển của Hà Lạc Sĩ [82] không ghi nhận các đại từ,

nếu các đại từ ấy chỉ có cách dùng đại từ thôi (như NGÔ 吾, DƯ 余) Số lượng hư

từ của các bộ từ điển là: Vương Hải Phân [86] có 829 (gồm cả hư từ đa tiết); Hà Lạc

Sĩ [82] có 209 (đơn tiết); Lý Tịnh Chi [83] có 333 trong “phần chính” và 406 trong

“phần phụ” (đều là đơn tiết; nếu 1 chữ có nhiều từ loại thì vẫn tính là 1 từ, trừ

Trang 24

trường hợp âm đọc chữ khác nhau) (trong “phần chính” có hư từ có tần số cao hơn

và có cách dùng phức tạp hơn, trong “phần phụ” có nhiều hư từ còn lại)

Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu về hư từ trong tiếng Hán và tiếng Việt là hai ngôn ngữ đơn lập đại diện Các đặc trưng về mặt chức năng và ý nghĩa của hư từ

đã được làm rõ, nhưng các nhà nghiên cứu có quan điểm khác nhau về tiêu chí xác định hư từ hay từ loại nào thuộc hư từ, và chưa có quan điểm thống nhất

1.2.1.2 Hư từ văn Nôm trong TBTKML

Xét về mặt nghiên cứu hư từ trong TBTKML nói riêng, có hai nghiên cứu đáng kể là của Stankevitch13 [56] và Vũ Đức Nghiệu [43: tr 293-311] [42]

Vũ Đức Nghiệu [43: tr 293-311] đã lập danh sách hư từ tiếng Việt trong

bản giải âm, và tiến hành phân tích hệ thống hư từ này từ các góc độ chức năng và

sự phát triển của hư từ Theo Vũ Đức Nghiệu, có 124 hư từ trong TBTKML (khi chúng tôi tính đếm các hư từ Vũ Đức Nghiệu nêu thì có 126 hư từ, xem Bảng 1.1 dưới)14, có thể được chia thành 3 loại:

(a) 39 hư từ có khả năng đứng làm thành tố phụ cho danh từ trong ngữ danh

từ, hoặc cho động từ / tính từ trong ngữ vị từ

(b) 79 hư từ thực hiện các chức năng nối kết giữa từ với từ trong cụm từ, hoặc nối giữa các thành phần câu, giữa các câu với nhau

(c) 8 hư từ là các tiểu từ thể hiện các ý nghĩa tình thái

13 Có các cách ghi tên khác là Xtankevich, Xtankêvich v.v., tùy thuộc vào các công trình

14 Trong các hư từ này, từ đừng không được tìm ra, và những từ như của, nên, phàm, sắp

v.v không được tìm ra với cách dùng hư từ Về chỗ Vũ Đức Nghiệu [43: tr 296] cho rằng

có từ đừng <II:25a:7> ([20: tr 166]), chữ Nôm là 渚, nên phiên âm là chớ

Trang 25

Vũ Đức Nghiệu cũng phân loại các hư từ này nhìn từ góc độ phát triển ngôn ngữ: hư từ đã trở thành từ cổ (35 từ); hư từ đến nay vẫn tồn tại và hoạt động rất tích cực trong tiếng Việt hiện đại nhưng đã biến đổi về mặt ý nghĩa và chức năng; hư từ không hoặc gần như không biến đổi đến nay Có thể sắp xếp số lượng và ví dụ các

hư từ này theo cách phân loại của Vũ Đức Nghiệu bằng một bảng như sau:

Bảng 1.1: Phân loại các hư từ trong TBTKML theo Vũ Đức Nghiệu

(a)

Làm thành

tố phụ

chăng, chỉn, chưng , hằng, hợp, khá, khả, khôn, liên, mựa, tua 11

một, những, rất, cùng, (chẳng, chửa, cứ, chỉ,

cũng, cực, không, sẽ, sắp, thực, vốn) (15)

bèn, đã, đương, mới, từng, vừa, chớ, (mọi, mỗi, đều, đừng, hãy, nhau)

bằng, bởi, rằng,

ở, ra, vào, sang, tới, trên, trong, trước, về, xuống, (dầu, dẫu, dưới, giữa, lại, lắm, lên, ngoài, thà, sau, càng, của,

hễ, hơn, nhân, còn, được, hẳn, huống chi, phàm, liền, tựa, và) (36)

hay, mà, thì (thời), (cho, để, kẻo,

là, nên, như, quá, vì, với, chính, có, cho nên, đến, hoặc, ngay, song, qua, tuy, từ, tự) (23)

79

(c) Tình thái bấy, mà chớ, ru, vay

4

(ắt, đấy) (2)

Trang 26

Hai hư từ chưng và thửa mà chúng tôi sẽ dành nhiều phần để giải thích trong luận án, đều được xếp vào loại từ cổ Chưng được xếp vào loại hư từ làm

thành tố phụ trong vị ngữ, nhưng khó thành nhóm với hư từ nào khác vì chức năng

của chưng rất đặc biệt Thửa được xếp vào loại hư từ nối kết

Vũ Đức Nghiệu nhận xét rằng số lượng hư từ đã trở thành từ cổ không nhiều, có một số hư từ vẫn giữ y nguyên ý nghĩa và chức năng của chúng đến nay, nhưng một số khác, nhiều hơn, đã có những thay đổi và/hoặc phát triển bằng con đường bổ sung, mở rộng ý nghĩa, chức năng (đây là con đường chủ yếu), hoặc thu

hẹp ý nghĩa chức năng của chúng, hoặc vừa mở rộng thêm ý nghĩa, chức năng này, vừa thu hẹp ý nghĩa, chức năng khác [43: tr 310]

Stankevitch [56] đã phân tích cách dịch các hư từ từ nguyên bản Hán văn sang tiếng Việt dựa trên cứ liệu Quyển I bản giải âm (trên tổng số 4 quyển) Stankevitch cho rằng, khi so sánh hai bản Hán văn và Nôm, dễ thấy ngay là có tinh thần dịch sát theo từng chữ một: mỗi chữ Hán dịch ra thành một chữ Nôm tương ứng Nhưng ở địa hạt hư từ tình hình có hơi khác: có khi ở bản tiếng Hán không có

hư từ nhưng sang bản tiếng Việt thì hư từ lại được thêm vào Stankevitch tạm gọi

trường hợp đó là có sự tương ứng hư từ Nôm với hư từ ZERO Hán.[56: tr 1]

Theo Stankevitch, giữa hư từ hiện đại và hư từ thế kỷ XVI của tiếng Việt có những nét khác nhau nhất định [56: tr 2]:

- Về số lượng, hư từ thế kỷ XVI ít hơn hư từ hiện đại;

- Đặc biệt ít (hay hầu như vắng mặt) là những hư từ loại đầu, tức loại chỉ đi kèm một danh từ, một vị từ;

- Loại hư từ cú pháp hay gặp hơn Phần lớn các hư từ cú pháp hiện đại đều

đã có mặt trong TBTKML: vì, tuy, dầu, bởi, cho, hễ, nhưng, song, bằng, thì, mà

Trang 27

nhưng danh sách vẫn chưa đầy đủ được như ngày nay Ngược lại, cũng có một số

hư từ dùng phổ biến ở thế kỷ XVI nhưng ngày nay đã bị loại bỏ, như chưng, mặc

Sau đó Stankevitch nghiên cứu cụ thể về các trường hợp dịch các hư từ trong TBTKML Luận án xin tham khảo nghiên cứu này và bổ sung để chứng minh cho luận điểm của mình tại các chương sau

Ngoài ra, còn có một số học giả khác cũng nghiên cứu về hư từ trong TBTKML Hoàng Thị Hồng Cẩm [3] làm một danh sách đối chiếu các từ tiếng Việt

cổ trong TBTKML với từ Hán trong nguyên bản Danh sách này khá hữu ích, tuy nhiên chỉ giới hạn trong việc giới thiệu những từ cổ và đáng tiếc là còn có chỗ ghi

nhầm Bùi Thanh Hùng [26] phân tích cách dùng hư từ chưng trong 3 tác phẩm TBTKML (truyện thứ 1), Thiền tông khóa hư ngữ lục, và Quốc âm thi tập Luận án

sẽ đề cập tới nghiên cứu này khi trình bày chi tiết về hư từ CHI 之

Những công trình nghiên cứu trên đã phác họa một cái nhìn cơ bản và bao quát về hư từ tiếng Việt, đặc biệt là nghiên cứu của Vũ Đức Nghiệu [43] Tuy nhiên,

có thể nhận thấy nghiên cứu của Vũ Đức Nghiệu [43] lấy hệ thống hư từ tiếng Việt trong bản giải âm này làm bản vị để nghiên cứu, và tiêu điểm nằm ở sự khác biệt giữa tiếng Việt cổ và tiếng Việt hiện đại, chứ chưa tập trung vào nghiên cứu phương thức chuyển dịch các hư từ Hán văn sang hư từ văn Nôm trong tác phẩm, với tư cách là kết quả của một hoạt động phiên dịch có tính chất ngôn ngữ học và văn hoá học, như phương châm nghiên cứu của luận án

Hơn nữa, phạm vi nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước thường bị hạn định, chứ không xem toàn bộ tác phẩm Vả lại, họ chưa đi sâu phân tích lý do

về sự khác biệt giữa các cách dịch Nôm khác nhau, chưa chú ý phân tích để biết chức năng của hư từ Hán văn trong nguyên bản và hư từ Nôm trong bản dịch có thật

Trang 28

sự giống nhau hay không Phương thức chuyển dịch hư từ chưng hoặc một số hư từ

đặc biệt cũng chưa được phân tích đầy đủ một cách cụ thể Những vấn đề này sẽ được thử giải thích kĩ hơn trong luận án này

1.2.2 Phiên dịch học và vấn đề phiên dịch hư từ

Những văn cảo về chủ đề dịch thuật đã có từ rất xưa, nhưng cho đến nửa sau của thế kỷ XX, theo Munday [36], phần lớn mới chỉ là những tranh luận giữa

“dịch chữ” và “dịch nghĩa” Sự phân biệt giữa “dịch chữ (dịch đúng từng chữ,

word-for-word) và “dịch nghĩa” (dịch đúng từng nghĩa, sense-for-sense) đã bắt đầu

từ Cicero (106-43 TCN) và St Jerome (347-420) Cicero chủ trương không dịch sát từng chữ St Jerome15 cho rằng bản thân mình dịch đúng từng nghĩa, trừ trường hợp các Kinh Thiêng [36: tr 41-42]

Việc dịch Kinh Thánh sau này là một “trận chiến” giữa những ý thức hệ đối nghịch nhau ở Tây Âu trong hơn một ngàn năm, đặc biệt là ở giai đoạn Cải cách tôn giáo trong thế kỷ XVI Ví dụ nổi tiếng nhất là Martin Luther, sử dụng thành ngữ thông dụng của tiếng Đức để dân chúng hiểu dễ hơn [36: tr 44-46].16 Những nhà nghiên cứu nổi tiếng về phiên dịch học sau đó là J Dryden,17 Étienne Dolet,18 A F Tytler,19 và Schleiermacher20 Trong những năm 1950-1969 ra đời vấn đề nghĩa và

15 Dịch giả nổi tiếng đã dịch Kinh Thánh sang tiếng La tinh

16 Ở khu vực khác như Trung Quốc (trường hợp dịch thuật kinh Phật) và thế giới Ả Rập (trường hợp dịch thuật tiếng Hy Lạp) cũng xảy ra hiện tượng tương tự [36: tr 42-44]

17 Người Anh vào thế kỷ XVII, chủ trương rằng paraphrase (dịch thoát ý, dịch diễn giải) tốt hơn metaphrase (dịch từng chữ) và imitation (phỏng dịch, dịch mô phỏng)

18 Người Pháp vào thể kỷ XVI, đưa ra 5 nguyên tắc của dịch giả có thứ tự quan trọng bao gồm: 1 phải hiểu thấu đáo ý nghĩa của nguyên tác; 2 nên có tri thức hoàn hảo đối với cả ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích; 3 nên tránh dịch sát từng chữ [36: tr 48-50]

19 Đã đưa ra 3 quy luật: 1 phải truyền đạt trọn vẹn các ý tưởng của nguyên tác; 2 Văn phong và cách viết phải có cùng một đặc tính; 3 Bản dịch phải mang đầy đủ phong vị tự nhiên dễ dàng của nguyên tác [36: tr 50-51]

Trang 29

tương đương (equivalence), do Roman Jakobson thảo luận và được Nida phát triển, cho rằng dịch thuật nên nhằm mục tiêu đạt được hiệu quả tương đương (tương đương hình thức và tương đương năng động), kéo lý thuyết dịch thuật ra khỏi cuộc tranh biện luẩn quẩn về “dịch chữ” và “dịch nghĩa” [36: tr 90-91]

Cho đến thời đại này, dịch thuật thường chỉ là một phần của việc học ngoại ngữ, nhưng phương pháp này đã không còn được dùng nhiều như trước đây nữa, nhất là trong khu vực các nước nói tiếng Anh Họ đã tạo ra những phương pháp mới,

và đồng thời những môn đối chiếu hai ngôn ngữ đã bắt đầu ra đời [36: tr 23-25]

Ngành nghiên cứu dịch thuật sau này đã được Holmes trình bày bằng sơ đồ, cho rằng nghiên cứu dịch thuật “thuần túy” (một trong hai khu vực lớn bên cạnh

“ứng dụng”) được chia thành “lý thuyết tổng quát”, “lý thuyết cục bộ”, và “mô tả”

[36: tr 27-31] Những năm 1990, nhiều trường phái và khái niệm mới ra đời trong lĩnh vực dịch thuật Toury nêu ra khái niệm “chuẩn (norm)”, là những giá trị hoặc ý tưởng chung được một cộng đồng chia sẻ, và cho rằng bản dịch có vị trí ở chỗ nào

đó giữa hai cực là “thỏa đáng (adequate, ngả về phía văn bản nguồn)” và “chấp

nhận được (acceptable, văn hóa đích thắng thế)” [36: tr 176-182] Venuti thảo luận

về hai loại chiến lược dịch: “bản địa hóa (domestication)” và “ngoại lai hóa (foreignization)” (có điểm chung với “nhập tịch hóa, naturalizing” và “ngoại chủng hóa, alienating” của Schleiermacher); Venuti đồng ý với Schleiermacher về việc ưa chuộng phương pháp dịch thứ nhất [36: tr 226-227]

Còn một trường phái đáng lưu ý là “lý thuyết dịch thuật hậu thuộc địa” Một

20 Ở thế kỷ XIX, đi xa hơn vấn đề “dịch chữ” và “dịch nghĩa”, chủ trương rằng người dịch phải theo một phương pháp dịch “ngoại chủng hóa (alienating)”, đẩy độc giả về phía tác giả, chứ không theo “nhập tịch hóa (naturalizing)”, để người dịch phải định được giá trị các đặc tính ngoại lai và chuyển chúng vào ngôn ngữ đích [36: tr 52-53]

Trang 30

dịch giả nổi tiếng thuộc trường phái này là de Campos và Vieira21 và Tejaswini Niranjana22 Một số lý thuyết thuộc trường phái này được chỉnh lý trong công trình của Bassnett và Trivedi [73] Theo đó, đã từ lâu quan hệ giữa mẫu quốc và thuộc địa được so sánh bằng quan hệ bản nguồn và bản sao, và dịch thuật đã là quá trình

“một chiều”, trong đó các tác phẩm được dịch sang ngôn ngữ châu Âu để phục vụ tiêu dùng của châu Âu hơn là giao dịch song phương Bằng cách đó, bản sắc của thuộc địa đã bị bản sắc của mẫu quốc nhấn chìm Bassnett và Trivedi dùng từ “xấu hổ” khi nói đến lịch sử dịch thuật có vai trò trong việc truyền bá những hình ảnh có bản chất ý thức hệ như vậy [73: tr 2, 5]

Ở những chương tiếp theo của luận án, khi nghiên cứu về cách chuyển dịch

trong TBTKML, chúng ta cần biết trước về vấn đề dịch chữ - dịch nghĩa và bối cảnh xã hội và văn hóa, tức là vị trí của tác phẩm Hán văn và văn Nôm trong xã hội Việt Nam vào thời trung cổ và tầm quan trọng của việc dịch trong xã hội thời trung

cổ Hai phần vừa thảo luận ở trên có thể giúp ích cho sự tìm hiểu về điều này

Tại Việt Nam, Nguyễn Hồng Cổn [9] chia một số lý thuyết phiên dịch học thành 3 loại theo quan điểm về hoạt động dịch thuật: (1) Dịch thuật là một hoạt động nghệ thuật; (2) Dịch thuật là một hoạt động ngôn ngữ; (3) Dịch thuật là một

hoạt động giao tiếp Các nhà nghiên cứu thuộc (1)23 cho rằng dịch thuật là một hoạt động nghệ thuật có tính sáng tạo, gắn liền với thế giới tinh thần bí ẩn của con người,

khác với một hoạt động ngôn ngữ [9: tr 34-37]

21 Người Brazil đã chủ trương bồi bổ truyền thống Brazil bản địa thông qua châu Âu

22 Nêu bật các mối quan hệ quyền lực trong dịch thuật của các dân tộc thuộc địa và phê phán những thiên kiến ý thức hệ và triết học phương Tây của nghiên cứu dịch thuật

23 Như E Cary và A D Svejcer

Trang 31

Các nhà nghiên cứu thuộc (2)24 cho rằng xét về bản chất dịch thuật là một hoạt động ngôn ngữ, bởi vì đó là loại hoạt động được thực hiện trên chất liệu ngôn ngữ, bằng phương tiện ngôn ngữ, sử dụng các tri thức và kỹ năng ngôn ngữ, để tạo

ra một sản phẩm ngôn ngữ Vì vậy, họ cũng cho rằng, chúng ta có thể phân tích mô

tả bản chất của hoạt động dịch thuật bằng hệ thống các khái niệm và nguyên lý khoa học, mà trước hết là lý thuyết ngôn ngữ học [9: tr 37-51]

Các nhà nghiên cứu thuộc (3) chủ trương rằng, để hiểu bản chất của hoạt động dịch thuật cần phải xem xét nó cả ở hai khía cạnh ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, như Nida25 và Newmark.26 [9: tr 51-52]

Từ đây, luận án xin giới thiệu lịch sử dịch thuật ở Nhật Bản, để so sánh với tình hình ở Việt Nam Nhật Bản có truyền thống lâu dài về sự tiếp thu tác phẩm Hán văn Về mặt đơn vị chữ, người Nhật đã thử lấy những từ cố hữu trong tiếng Nhật để đọc những chữ Hán có cùng ý nghĩa.27 [65: tr 6, 66: tr.156] Về mặt đơn vị câu,

26 Một trong những nhà nghiên cứu coi dịch thuật là một hoạt động giao tiếp liên văn hóa Theo Newmark, có hàng loạt các nhân tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ liên quan đến văn bản: tác giả ngữ nguồn; chuẩn ngữ nguồn; văn hóa ngữ nguồn; bối cảnh và truyền thống ngữ nguồn; độc giả ngữ đích; chuẩn ngữ đích; văn hóa ngữ đích; bối cảnh và truyền thống ngữ đích; thực tế; và dịch giả [9: tr 72-73]

27 Ví dụ chữ Hán 山, ngoài cách đọc theo âm Hán là "san"さん, thì còn có cách đọc theo nghĩa là "yama" やま

Trang 32

người Nhật đánh dấu thay đổi trật tự đọc các chữ Hán trong Hán văn và đánh dấu biểu thị thêm trợ từ và trợ động từ, để đọc theo ngữ pháp tiếng Nhật.28 Đây không phải là phiên dịch thuần túy, được gọi là “huấn độc” [65 : tr 10-11, 66: tr 157-158]

Từ nửa sau thế kỷ XIX, trước nhu cầu cấp thiết của việc phiên dịch tác phẩm châu Âu, người Nhật sáng tạo nhiều từ mới để biểu đạt các khái niệm trong các ngôn ngữ phương Tây, chủ yếu bằng cách sử dụng yếu tố Hán (mượn từ Hán cổ hoặc tự tạo) Mặt khác, người Nhật đã tạo ra một phong cách viết mới được gọi là

“phong cách (văn thể) phiên dịch”.29 Có ý kiến cho rằng bằng cách này, người ta tạo ra văn dịch tương đương một cách cưỡng chế [101] Tài liệu này cũng cho rằng, Nhật Bản đã có hai mặt về quan hệ quyền lực phi đối xứng: với phương Tây và với thuộc địa của mình Trái với lý thuyết dịch thuật hậu thuộc địa vừa trình bày ở trên,

xu hướng đến nay ở Nhật Bản chủ yếu là từ các ngôn ngữ phương Tây sang tiếng

Nhật, và thông qua việc phiên dịch này Nhật Bản muốn “sao phỏng” phương Tây

Bây giờ xin giới thiệu tình hình dịch thuật từ Hán sang Nôm (Việt) ở Việt Nam Trần Nghĩa [38: tr 21-22] cho rằng, về phương pháp dịch thuật từ Hán văn sang tiếng Việt cổ bằng chữ Nôm đã có hai phong trào “dịch chữ (trực dịch)” và

“dịch ý (nghĩa dịch)” Thời Bắc thuộc, phong trào “dịch chữ” đã dần dần nhường

chỗ cho phong trào “dịch ý”, nhưng từ thế kỷ X trở về sau, vai trò của “dịch chữ” lại được khôi phục, bên cạnh “dịch ý” vẫn duy trì Hai phương pháp dịch thuật này cùng song song tồn tại và bổ sung cho nhau, hay nói đúng hơn, được phân công

Trang 33

theo một cách thế nào đó: “dịch chữ”30 dường như là dành nhiều cho loại sách giáo khoa hoặc loại sách tra cứu; còn “dịch ý”31 thì được áp dụng phổ biến trên hầu khắp các lĩnh vực khác Trần Nghĩa cũng nêu ví dụ bản đối chiếu giữa Hán và Nôm

trong lĩnh vực giáo dục được soạn thảo để dùng trong nhà trường, như Dương tiết

diễn nghĩa, Đại Nam quốc ngữ, Ngũ thiên tự dịch quốc ngữ, và nói rằng có thể xem

chúng như những bộ sách dạy học chữ Hán

Nguyễn Quang Hồng [21] trình bày về phương pháp chuyển dịch từ ngữ song tiết trong TBTKML Theo tác giả, có trường hợp (1) giữ nguyên không chuyển dịch (AB>AB); trường hợp (2) giữ nguyên chữ Hán, đảo vị trí (AB>BA)32; trường hợp (3) thay một chữ Hán bằng một chữ Nôm (AB>AX, XB, XA, BX); trường hợp (4) thay cả hai chữ Hán bằng chữ Nôm (AB> XY, dịch sát nghĩa từng

chữ hay thoát nghĩa); trường hợp (5) dịch thành đa tiết (AB>XAB, XBA v.v.) Nói chung, có thể nói rằng cách dịch trong TBTKML là dịch sát từng chữ, bằng cách đảo ngược trật tự từ và thêm từ ngữ

Khi so sánh tình hình liên quan đến Hán văn ở Nhật Bản và Việt Nam,

Iwatsuki [91: tr 114] cho rằng người ta ít tìm ra bằng chứng người Việt đã “phát âm” các chữ Hán bằng từ phi Hán Việt và đảo ngược trật tự từ phù hợp với cú pháp

của ngôn ngữ mình; tuy nhiên, căn cứ vào những tài liệu song ngữ Hán – Việt, có thể thấy dấu vết của việc sử dụng từ phi Hán Việt trong quá trình đọc hiểu Hán văn của người đọc Trong khi đó, thông qua sự so sánh với tình hình về Hán văn ở Nhật Bản, Nguyễn Thị Oanh [48] [96] cho rằng Việt Nam đã có một hiện tượng tương tự

30 Trường hợp được nêu ra có Nhật dụng thường đàm, TBTKML v.v

31Như Nhị độ mai cải dịch thơ văn, Quan thánh Đế quân cứu kiếp khuyến thế bảo huấn diễn

âm (Đạo giáo); Giới sát phóng sinh diễn âm (Phật giáo);Chủng tử bảo thái quốc âm (y học)v.v

32 Cần lưu ý rằng thành tố phụ thường đặt trước trung tâm ngữ trong tiếng Hán, trái với tiếng Việt

Trang 34

với huấn độc của Nhật Bản: người Việt đã vừa “âm độc” (đọc bằng âm Hán Việt, theo trật tự chữ đồng nhất với Hán văn, mục đích chủ yếu là để thuộc lòng câu kinh điển hết) vừa “huấn độc” (sử dụng từ Việt và đọc theo trật tự từ tiếng Việt, chủ yếu

để hiểu nội dung) các tác phẩm Hán văn Căn cứ vào một số tác phẩm giải âm, sách

dạy chữ Hán và Hán văn phá cách ở Việt Nam, Nguyễn Thị Oanh nhận định nhiều khả năng có cách huấn độc cố định Nếu theo quan điểm này thì phải coi “giải âm”

là phần ghi rõ cách đọc (“huấn độc”) các câu Hán văn như thế nào, chứ không phải

là “dịch”, và trong khi đó, “giải nghĩa” lại dịch hay giải thích ý nghĩa của các câu Hán văn Vấn đề này sẽ được luận án thảo luận lại ở phần sau

Trần Bồ Thanh [80: tr 239-251], khi trình bày về cách dịch hư từ Hán văn

cổ đại sang tiếng Hán hiện đại, cho biết 4 điểm liên quan đến vai trò và sự phức tạp của hư từ: 1) Hư từ có chức năng ngữ pháp mạnh mẽ và tần suất sử dụng cực kỳ cao; 2) Cách dùng hư từ rất linh hoạt và biến đổi nhiều, không dễ nắm bắt; 3) Hư từ

đã biến đổi từ xưa đến nay; 4) có nhiều khi người ta mượn hư từ cổ để sử dụng trong tiếng Hán hiện đại, và phải biết ý nghĩa chính xác (ví dụ: trong nhiều trường

hợp CHI 之 có thể được dịch là ĐÍCH 的, nhưng cũng có trường hợp không dịch

được) Trần Bồ Thanh còn nêu ra 4 điểm quan trọng khi học hư từ: 1) Học các hư từ

theo loại, tức là các loại hư từ có đặc điểm ngữ pháp chung; 2) Học những hư từ đa tính, đa nghĩa quan trọng; 3) Học những từ có cả âm và ý nghĩa gần nhau; 4) Học cách dùng thông thường và chú ý đến hiện tượng đặc thù

Trong bối cảnh nghiên cứu về hư từ và phiên dịch học, có thể nói rằng phiên dịch hư từ Hán văn sang Việt có khó khăn nhưng cũng có thuận lợi, bởi hai ngôn ngữ Hán và Việt đều là ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính, có nhiều điểm chung như Xtankêvich [63] cho biết (luận án sẽ giới thiệu ở mục sau)

Trang 35

Trong công tác nghiên cứu về dịch thuật hay tiếp xúc văn hóa nói chung, không ít nhà nghiên cứu nói đến hiện tượng “giao thoa” (interference) Giao thoa là hiện tượng những yếu tố trong một ngôn ngữ ảnh hưởng đến một ngôn ngữ khác, thường xảy ra ở các cá nhân sử dụng được cả hai ngôn ngữ đó

Nghiên cứu về hiện tượng “giao thoa” của tác phẩm giải âm Khóa hư quốc

âm (thế kỷ XIX) dịch nguyên tác Khóa hư lục của Trần Thái Tông (thế kỷ XIII),

Xtankevich [64] đã đề cập tới hiện tượng văn dịch Nôm trong tác phẩm này chịu ảnh hưởng của tiếng Hán về hai mặt đặc biệt là trật tự từ và hư từ Hiện tượng giao

thoa về mặt trật tự từ (đặc biệt ở trường hợp dịch cụm từ gồm CHI 之) sẽ được đề

cập ở Chương 3 Ở đây, luận án xin giới thiệu hiện tượng giao thoa về mặt hư từ Theo Xtankevich, trong văn dịch Nôm, người dịch sử dụng các từ tương ứng với hư

từ Hán văn bằng cách: (1) mở rộng chức năng hư từ vốn có trong tiếng Việt; (2) sử dụng thực từ gia thêm một chức năng mới để tạm đối dịch hư từ tiếng Hán; và (3) mượn hẳn các hư từ Hán trong nguyên bản [64: tr 391]

Hiện chưa có nhiều nghiên cứu bàn về cách dịch hư từ Hán văn cổ sang tiếng Việt cổ nói chung một cách tổng quát, nhưng có thể nói rằng chúng ta cần lưu

ý về những điều nói trên khi nghiên cứu về cách chuyển dịch hư từ, trong các bản giải âm như TBTKML Có thể nói rằng, cho đến nay nghiên cứu của Vũ Đức

Nghiệu [43] và Stankevitch [56] về TBTKML, và của Trần Trọng Dương về Thiền

tông Khóa hư ngữ lục, là các nghiên cứu chủ yếu

1.3 Một số nghiên cứu về ngôn ngữ học đối chiếu

Phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu là một phương pháp nghiên cứu của luận án này Các nhà nghiên cứu đi trước đã nêu một số nguyên tắc

về phương pháp đối chiếu ngôn ngữ

Trang 36

Nguyễn Văn Chiến [8: tr 113-120] nêu ra 13 nguyên tắc trong việc nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ:

1 Hiện tượng đối chiếu trong các ngôn ngữ cần được miêu tả đầy đủ, chi tiết

2 Phải nhìn nhận hiện tượng đối chiếu trong một hệ thống

3 Phải sự dụng thuật ngữ một cách chặt chẽ và triệt để

4 Phải nghiên cứu đối chiếu sâu sắc, đầy đủ (chuẩn xác, hiện đại)

5 Cần nhìn đến mức độ thân thuộc và sự gần gũi loại hình giữa các ngôn ngữ

6 Nên phát huy kiến thức về một ngôn ngữ nào đó để tiến hành phân tích các ngôn ngữ đối chiếu (chuyển di tích cực), nhưng tránh xa việc áp đặt máy móc những đặc điểm và thuộc tính của hiện tượng ngôn ngữ này cho một hiện tượng thuộc một ngôn ngữ khác (chuyển di tiêu cực)

7 Đảm bảo tính đơn giản, tức là sử dụng các thuật ngữ khoa học dễ hiểu, quen thuộc và thật sự phổ biến đối với nhiều người

8 Khu biệt các phong cách chức năng trong nghiên cứu đối chiếu, tức là các tác phẩm phân tích phải thuộc cùng một thể loại ngôn ngữ

9 Không giới hạn về khu vực địa lý trong nghiên cứu đối chiếu

10 Cần nhìn đồng đại và tính “động” đối với việc xem xét các hiện tượng đối chiếu

11 Rút gọn và giảm bớt trong nghiên cứu đối chiếu

12 Phân biệt các phương ngôn của tiếng mẹ đẻ

13 Phân biệt những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của tiếng mẹ đẻ

Trong khi đó, Bùi Mạnh Hùng [25: tr 131-146] nêu 4 nguyên tắc đối chiếu ngôn ngữ Trong 4 nguyên tắc này, 3 nguyên tắc giống với 3 nguyên tắc thứ 1, thứ 2,

và thứ 3 của Nguyễn Văn Chiến [8], một nguyên tắc còn lại là phải xem xét các

Trang 37

phương tiện đối chiếu không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ mà còn trong hoạt động giao tiếp Để dẫn giải về nguyên tắc thứ 4 này, Bùi Mạnh Hùng đã đưa dẫn chứng

về hệ thống đại từ nhân xưng trong tiếng Anh và tiếng Nga có vẻ giống nhau, nhưng cách áp dụng “giống” của ngôi thứ ba lại khác nhau (giới tính tự nhiên hay giới tính ngữ pháp)

Theo Nguyễn Thiện Giáp [17: tr 193], một trong những thủ pháp cơ bản của phương pháp đối chiếu là xác định cơ sở đối chiếu Cơ sở ấy có thể là một ngôn ngữ khác với hai (hay hơn hai) ngôn ngữ đang là đối tượng nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng về nguyên tắc, phân tích đối chiếu toàn thể và thấu đáo các ngôn ngữ là không thể thực hiện; thực tế, các nhà ngôn ngữ học chỉ tập trung vào một số khu vực được lựa chọn của các hệ thống ngữ pháp, từ vựng v.v của cặp ngôn ngữ được đối chiếu; vì thế, cơ sở đối chiếu cũng có thể là một hiện tượng nào

đó của một ngôn ngữ, các đặc trưng của hiện tượng ấy [17: tr 195-196] Liên quan đến vấn đề về hai bước miêu tả và so sánh (miêu tả hai ngôn ngữ song song rồi so sánh được), tác giả cho biết có hai con đường thoát ra khỏi thế khó xử đó: Miêu tả

dữ liệu của hai ngôn ngữ một cách độc lập, rồi chuyển hai sự miêu tả đó thành một

mô hình trung hòa; hoặc lấy giải pháp ưu tiên mô tả ngôn ngữ thứ hai hơn, dựa trên

cơ sở sự quan tâm không bằng nhau giữa các đối tượng nghiên cứu [17: tr 200-201] Các điều này có liên quan nhiều đến phương pháp nghiên cứu của luận án này, như

sẽ trình bày ở phần khung lý thuyết

Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ học đối chiếu và phiên dịch học, Lê Quang Thiêm [59: tr 62] cho rằng “trong thực chất mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của

nó [lý luận phiên dịch – (tác giả luận án)] có mối liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ học đối chiếu”, song cũng có sự khác nhau: “một bên nghiên cứu sự tương đồng và

Trang 38

di biệt hoặc đặc trưng riêng của mỗi ngôn ngữ trong sự so sánh, đối chiếu với ngôn ngữ khác, còn một bên xem xét sự tương ứng tương đồng của các phương tiện biểu đạt khi biểu hiện một nội dung đồng nhất”

Một nghiên cứu đáng kể liên quan đến luận án là của Xtankêvich [63: tr 197-228] đối chiếu một số điểm về hư từ tiếng Việt với tiếng Hán, trong khu vực 4

từ loại là giới từ, phủ định từ, thời vị từ, và đại từ Về giới từ, tác giả cho rằng tiếng Việt có nhiều điểm gần gũi với tiếng Hán bao gồm: (1) đều có thể phân thành hai

nhóm là giới từ thuần túy (bằng, bởi, vì, do, đối với ) và giới từ còn liên quan chặt chẽ với động từ (về, ở, cho, đến ) (sự gần gũi với cả tiếng Hán cổ lẫn tiếng Hán

hiện đại); (2) vị trí giới từ có thể đặt lên trước động từ hay đặt sau động từ (sự gần gũi với cả tiếng Hán cổ lẫn tiếng Hán hiện đại); (3) giới từ có thể được dùng vừa

trước từ vừa trước mệnh đề như bởi, vì, do, của (sự gần gũi với tiếng Hán cổ đại,

không với tiếng Hán hiện đại) Tác giả còn cho rằng trong tiếng Việt những từ như

đến, về, theo, qua, và cho có khi được dùng như động từ thực sự, có khi dùng như

giới từ, có khi đứng một mình sau động từ làm yếu tố phụ cho động từ đứng trước Tác giả không đề cập đến cách dùng thứ ba này, và có thể đó là cách dùng không được tìm thấy trong tiếng Hán [63: tr 209-210]

Về phủ định từ, tình hình trong tiếng Việt gần với tình hình ở tiếng Hán

trung đại: tiếng Việt có các phủ định từ không, chưa, chẳng, chả, nỏ, đừng, chớ, và

có cách dùng ghép như chẳng phải v.v.; trong tiếng Hán cổ đại có các phủ định từ

BẤT 不, VỊ 未, PHỦ 否, PHI 非 (hệ từ phủ định), VÔ 無 (vừa là từ ngăn cấm vừa

là động từ phủ định), MẠC 莫 (đại từ); và trong thời đại sau dần dần không thấy VỊ,

PHẦU, PHI, VÔ, MẠC nữa, thay vào đó, MỘT 没, MỘT HỮU 没有 đã xuất hiện,

tiếng Hán trung đại đã ở giai đoạn chuyển tiếp [63: tr 211-213]

Trang 39

Về thời vị từ, trong cả tiếng Việt lẫn tiếng Hán thời vị từ có thể đứng sau

hay trước (cửa trước TIỀN MÔN 前門; trước cửa MÔN TIỀN 門前) và dùng sau động từ để chỉ vị trí hay thời gian (nằm dưới, ngồi trước, lên trên) Thế nhưng có

khác biệt là thời vị từ tiếng Hán có khả năng làm vị ngữ độc lập, còn thời vị từ tiếng Việt không có khả năng đó; tiếng Việt dùng động từ phương hướng trong trường

hợp này: trên, lên – THƯỢNG; dưới, xuống – HẠ [63: tr 217-218] Đại từ tiếng

Việt gần gũi với đại từ tiếng Hán cổ đại hơn là đại từ tiếng Hán hiện đại Tiếng Việt

có đại từ nhân xưng đa dạng như tôi, ta, tao, mi, mày, nó (chưa kể từ chỉ quan hệ

thân thuộc như anh, chị, ông, bà v.v.), tiếng Hán cổ có NGÔ 吾, NGÃ 我, NHỮ 汝,

NHƯỢC 若, NÃI 乃, KỲ 其 v.v (dù trong tiếng Hán cổ có sự phân biệt là NGÔ làm

chủ ngữ và NGÃ làm bổ ngữ v.v.), trong khi tiếng Hán hiện đại có số lượng hạn định là NGÃ, NỄ 你, THA 他 (她, 它) v.v Tiếng Việt có đại từ chỉ trỏ này, đây, ấy,

đấy, đó, kia, tiếng Hán cổ có BỈ 彼, THỬ 此, THỊ 是, THA v.v trong khi tiếng Hán

hiện đại chỉ có GIÁ 這, NA 那 và các cụm từ dùng hai từ này [63: tr 221-227]

1.4 Khung lý thuyết được sử dụng trong luận án

1.4.1 Khung lý thuyết liên quan đến phiên dịch và đối chiếu

Có một số nhà nghiên cứu cho rằng người Việt đã “huấn độc” Hán văn, tương tự như ở Nhật Bản, và có quan điểm “giải âm” không phải là dịch, như đã

giới thiệu ở mục 1.2.2 [48][96].33 Tuy nhiên, lý thuyết về “huấn độc” chưa được chứng minh đầy đủ Vì vậy, trong luận án này, chúng tôi tạm coi giải âm là “dịch”

33 Iwatsuki [91: tr 114] cho rằng người ta ít tìm ra bằng chứng người Việt đã “phát âm” các chữ Hán bằng từ phi Hán Việt và đảo ngược trật tự từ phù hợp với cú pháp của tiếng Việt, nhưng có thể nhận thấy việc áp dụng từ phi Hán Việt chỉ trong quá trình hiểu Hán văn trong suy nghĩ, căn cứ vào những tài liệu song ngữ Hán – Việt

Trang 40

Ở đây, tôi sẽ thiết lập khung lý thuyết của luận án này trong phạm vi phiên dịch học Tuy nhiên, cũng xin lưu ý rằng việc nghiên cứu tác phẩm TBTKML có nhiều điểm khác với lý thuyết phiên dịch bình thường:

- Thứ nhất, tác phẩm này tuy là “dịch” nhưng vẫn là tác phẩm “song ngữ”

- Thứ hai, tuy nguyên bản được viết bằng Hán văn, nhưng là do người Việt viết trong bối cảnh văn hóa Việt Nam; và với đề tài, nhân vật ở Việt Nam

- Thứ ba, người viết nguyên bản và người dịch nói cùng một ngôn ngữ mẹ

đẻ là tiếng Việt và thuộc cùng một nền văn hóa Việt Nam

Ở đặc điểm thứ nhất, người đọc có thể đọc cả hai phần nguyên bản và bản

dịch, vì vậy, khó áp dụng mô hình bình thường trên tiền đề là người đọc không thể tiếp cận với bản nguồn như mô hình của Nida34 Ở đặc điểm thứ hai và thứ ba, khó khẳng định rằng việc dịch tác phẩm TKML là một hoạt động giao tiếp liên văn hóa như lý thuyết của Newmark

Thế nhưng, điều này không có nghĩa là bối cảnh văn hóa không có liên quan gì đến tác phẩm TKML Việc tác giả người Việt viết bằng Hán văn (dù viết ở Việt Nam, và dùng đề tài và nhân vật Việt Nam) là một bằng chứng tiếng Hán có ý nghĩa đặc biệt trong văn hóa Việt Nam Mặc dù Việt Nam đã giành độc lập và thoát

khỏi sự đô hộ của phương Bắc từ thế kỷ X, nhưng Hán văn vẫn chi phối thế giới văn bản ở Việt Nam Việc người Việt tạo ra chữ Nôm là do mong muốn tạo ra văn

hóa riêng mình (cũng như tác giả của TKML sáng tác một tác phẩm riêng của Việt Nam), mang tư tưởng gần với tư tưởng hậu thuộc địa Thế nhưng, phương hướng

34 Có một câu chuyện cho rằng trong thời đại của Cicero, phần lớn người La Mã có thể đọc trực tiếp từ bản nguồn tiếng Hy Lạp mà không cần bắt buộc phải đọc qua tác phẩm dịch của Cicero; họ không cần văn dịch để biết nội dung của bản nguồn mà chỉ đọc tác phẩm dịch của Cicero cho vui Điều này là một lý do giải thích về cách dịch nghĩa của Cicero [74: 33, 41-42] Tình hình này cũng có thể xảy ra ở những khu vực ngôn ngữ khác

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w