Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn như trên, NCS chọn nghiên cứu Luật tục của người Cơ-tu về sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam trong bối cảnh tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Phan Thị Hoàn
LUẬT TỤC CỦA NGƯỜI CƠ-TU
VỀ SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Ở HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Phan Thị Hoàn
LUẬT TỤC CỦA NGƯỜI CƠ-TU
VỀ SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Ở HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
NCS xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của tác giả luận án Các kết quả, dữ liệu nêu trong luận án hoàn toàn trung thực Những luận điểm mà luận án kế thừa từ các công trình nghiên cứu của các học giả đi trước đều có trích dẫn nguồn đầy đủ, từ tên tác giả cho đến thời gian, tên bài và nơi xuất bản cụ thể
Hà Nội, tháng 4 năm 2019
Tác giả luận án
NCS Phan Thị Hoàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận án là cả một hành trình dài tìm tòi, học hỏi và tiếp thu ý kiến từ những người khác NCS xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới những cá nhân và tập thể sau:
Trước tiên là PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh đã không quản ngại tiếp nhận hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quan trọng trong quá trình làm luận án và cho tới lúc hoàn thành luận án
Bên cạnh đó, NCS luôn cũng luôn trân trọng những chỉ bảo, gợi mở ban đầu của cố PGS.TS Lê Sĩ Giáo
Tập thể các nhà khoa học, giảng viên Khoa Nhân học của Trường Đại học KHXH&NV (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã luôn tận tình hỗ trợ về mặt chuyên môn trong suốt quá trình theo học Thạc sĩ và làm nghiên cứu sinh tại Khoa
Các nhà khoa học ở các viện nghiên cứu, cơ quan đã có những ý kiến đóng góp, gợi ý để NCS bổ sung, hoàn thiện luận án: PGS.TS Trần Hồng Hạnh, PGS.TS Phạm Văn Lợi, TS Vi Văn An, TS Vũ Trường Giang
Lãnh đạo Viện KHXH Vùng Trung bộ đã tạo điều kiện về mặt thời gian để NCS có thể theo đuổi và hoàn thành chương trình đào tạo nghiên cứu sinh
Đặc biệt, NCS không thể hoàn thành luận án nếu thiếu sự cộng tác, giúp đỡ của các già làng, các thông tín viên khác ở thôn Voòng, thôn Agrồng, thôn Anoong
và cán bộ ở xã Tr‟hy, xã Atiêng, xã Anông và huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
Cuối cùng, NCS muốn gửi lời cảm ơn tới những người bạn đã luôn động viên, hỗ trợ, tiếp thêm động lực tiếp tục nghiên cứu cho bản thân Và đặc biệt gửi lời cảm ơn tới gia đình đã luôn ở bên cạnh động viên, tạo điều kiện về thời gian và
là chỗ dựa về mặt tinh thần, vật chất để NCS có thể đi trên con đường nghiên cứu của mình
NCS vô cùng cảm kích và một lần nữa xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đối với tất cả!
Hà Nội, tháng 4 năm 2019
Trang 5MỤC LỤC
Trang LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do lựa chọn đề tài 6
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
2.1 Mục đích nghiên cứu 8
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
3.1 Đối tượng nghiên cứu 8
3.2 Phạm vi nghiên cứu 9
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
5 Bố cục của luận án 11
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,
PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 12
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 12
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài về luật tục trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên 12
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước về luật tục trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên 17
1.1.3 Các nghiên cứu về người Cơ-tu và luật tục của người Cơ-tu ở Việt Nam 24 1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 27
1.2.1 Khái niệm 27
1.2.2 Cơ sở lý thuyết 32
Trang 61.2.3 Phương pháp nghiên cứu 39
1.3 Khái quát về người Cơ-tu và địa bàn nghiên cứu 44
1.3.1 Khái quát về người Cơ-tu 44
1.3.2 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 53
Tiểu kết chương 1 57
CHƯƠNG 2 LUẬT TỤC VỀ SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CỦA NGƯỜI CƠ-TU TRƯỚC NĂM 1975 58
2.1 Luật tục, thiết chế bhươl và các quan hệ sở hữu, sử dụng tài nguyên thiên nhiên 59
2.1.1 Khái quát về luật tục của người Cơ-tu 59
2.1.2 Thiết chế bhươl 60
2.1.3 Các quan hệ sở hữu, sử dụng tài nguyên thiên nhiên 63
2.2 Luật tục sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên 66
2.2.1 Tổ chức không gian cư trú và luật tục sử dụng, bảo vệ đất đai 66
2.2.2 Luật tục sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng 74
2.2.3 Luật tục sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước 87
2.2.4 Sự vi phạm luật tục và các hình thức xử phạt 91
Tiểu kết chương 2 95
CHƯƠNG 3 LUẬT TỤC VỀ SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CỦA NGƯỜI CƠ-TU TỪ SAU NĂM 1975 ĐẾN NAY 97
3.1 Bối cảnh mới tác động đến sự thay đổi luật tục của người Cơ-tu 97
3.1.1 Sự thay đổi trong thiết chế chính trị bhươl/làng 97
3.1.2 Quan hệ mới trong sở hữu tài nguyên và sự ra đời của bộ máy quản lý nhà nước về tài nguyên rừng ở địa phương 100
3.1.3 Thay đổi về tổ chức không gian cư trú 107
3.1.4 Thay đổi về kinh tế - xã hội 111
3.2 Sự thay đổi của luật tục về sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên từ sau năm 1975 đến nay 117
3.2.1 Sự thay đổi của luật tục về sử dụng, bảo vệ đất đai 117
Trang 73.2.2 Sự thay đổi của luật tục về sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng 122
3.2.3 Sự thay đổi của luật tục về sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước 133
Tiểu kết chương 3 136
CHƯƠNG 4 VẬN DỤNG LUẬT TỤC TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN - MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 138
4.1 Luật tục của người Cơ-tu trong bối cảnh hiện tại: Điểm mạnh và hạn chế139 4.1.1 Điểm mạnh 139
4.1.2 Hạn chế 144
4.2 Thách thức và cơ hội của việc vận dụng luật tục trong quản lý tài nguyên thiên nhiên 147
4.2.1 Thách thức 147
4.2.2 Cơ hội 151
4.3 Triển vọng xây dựng mô hình cộng đồng quản lý tài nguyên dựa vào luật tục 157
Tiểu kết chương 4 163
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 165
TÀI LIỆU THAM KHẢO 170 PHỤ LỤC
Trang 8
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCC Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học tiểu vùng Mê Công mở rộng -
Greater Mekong Subregion Biodiversity Conservation Corridor BV&PTR Bảo vệ và phát triển rừng
CIRUM Culture Identity and Resource Use Management (Tung tâm Tư vấn
Quản lý Bền vững Taifn guyên và Phát triển Văn hóa Cộng đồng Đông Nam Á
CCTK Chi cục thống kê
HĐCP Hội đồng Chính phủ
HĐQG Hội đồng quốc gia
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (International Union for
Conservation of Nature) NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp quốc (The
United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization) UNCED Hội nghị Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển (United
Nations Conference on Environment & Development) UBKC Ủy ban kháng chiến
WCED Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (World Commission on
Environment and Development) WWF Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (World Wide Fund for Nature)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Các bhươl cũ trước năm 1975 và thôn hiện nay ở xã Tr‟hy, huyện Tây Giang………68 Bảng 2.2: Các khu vực rừng của một bhươl ở vùng Tr‟hy và các hoạt động tương ứng………76 Bảng 3.1: Diện tích chi trả dịch vụ môi trường rừng theo chủ quản lý thuộc lưu vực bắc sông Bung……….104 Bảng 3.2 Diện tích đất ba loại rừng ở xã Tr‟hy từ
năm 2005 đến năm 2017……….108
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong vài ba thập kỷ trở lại đây, quản lý TNTN của cộng đồng địa phương thông qua luật tục đã nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà phát triển và các nhà quản lý Mối quan tâm này xuất phát từ sự chưa hiệu quả của các
mô hình quản lý mang tính can thiệp của nhà nước với cách tiếp cận “từ trên xuống”, thể hiện qua sự suy thoái TNTN, xung đột xã hội trong tiếp cận tài nguyên… Đằng sau vấn đề trên chính là những tranh luận về việc nhà nước hay tư nhân hay cộng đồng địa phương quản lý các tài nguyên chung thì sẽ mang lại hiệu quả và bền vững hơn [Hardin, 1968; Ostrom, 1990, 1999, 2000] Và sâu xa hơn nữa
là những biện luận về sự khác nhau giữa các triết lý nhân sinh quan, vũ trụ quan, tiêu biểu là giữa “vũ trụ quan sinh thái” và triết lý “nhị nguyên”/ “chủ nghĩa tự nhiên” [Arhem.K, 1996; Descola, 2013]
Những nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô (quốc gia, liên quốc gia) mang lại bức tranh chung về xu thế và hiện trạng quản lý tài nguyên trong cả nước, nhưng những nghiên cứu vi mô về các thiết chế địa phương cùng với các động cơ và hành vi của người dân lại đóng vai trò trung tâm trong lý giải tình trạng sử dụng tài nguyên Điều đó đã thúc đẩy các nhà khoa học, đặc biệt là các tổ chức phát triển dành sự chú
ý tới vai trò của luật tục nhằm hướng tới mục tiêu quản trị TNTN bền vững Bởi vì luật tục của cộng đồng không phải là những giá trị truyền thống tĩnh tại hoặc bị coi
là “lạc hậu”, mà nó cũng có tính thích ứng, thay đổi để thích nghi với cuộc sống hay cũng chính là sự thích ứng của cộng đồng trước sự thay đổi của bối cảnh tự nhiên và
xã hội [Ngô Đức Thịnh, 2000; Mc Elwee, 2010] Và luật tục cũng thực sự đang tồn tại trong cộng đồng, được biểu hiện thông qua những quy tắc về mặt hành vi, giúp cộng đồng thích nghi và tồn tại [Salemink, 2000; Orebech và cộng sự, 2015]
Trên phương diện chính sách, ở Việt Nam, sau một thời kỳ dài điều chỉnh đã hình thành được khung pháp lý cơ bản cho lâm nghiệp cộng đồng Theo đó, cộng đồng dân cư thôn được công nhận là một trong những loại chủ rừng, được nhà nước giao đất, giao rừng với những quy định về quyền lợi và nghĩa vụ cụ thể [Nguyễn Bá
Trang 11Ngãi, 2009] Và gần đây nhất, khái niệm “rừng tín ngưỡng” được chính thức thừa nhận trong Luật Lâm nghiệp (Điều 2) - luật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2017
và sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm2019 (theo luật này, “rừng tín ngưỡng” là
“rừng gắn với niềm tin, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng”, được xếp vào rừng đặc dụng, nhưng sẽ do cộng đồng nơi sở tại quản lý) Chính vì vậy, cần có sự nghiên cứu chuyên sâu về hiểu biết và cách thức quản lý TNTN nói chung, tài nguyên rừng nói riêng của các tộc người, đặc biệt là những cư dân sinh sống lâu đời ở miền núi để có sự hiểu biết sâu sắc và cụ thể về tri thức thiết chế của tộc người, nhằm góp phần thúc đẩy hơn nữa việc đồng quản lý tài nguyên, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
Theo dữ liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Cơ-tu ở Việt Nam có dân số đứng thứ 25 trong số 54 dân tộc ở Việt Nam [Tổng cục Thống kê, 2010], là cư dân sinh sống lâu đời ở khu vực phía đông ở vùng Trung Trường Sơn Sinh sống lâu đời trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới, với người Cơ-tu, môi trường đó giữ vai trò hết sức quan trọng cả về vật chất lẫn tinh thần Bởi vậy, người Cơ-tu đã hình thành nên những quy tắc, chuẩn mực về hành vi ứng xử trong sử dụng và bảo
vệ môi trường tự nhiên, mà các nhà nghiên cứu thường gọi là “luật tục” hay “tập quán pháp” Những chuẩn mực đó là kết quả của quá trình sinh tồn và phát triển trong bối cảnh tự nhiên, xã hội nhất định, cho nên nó chứa đựng các giá trị văn hóa của cộng đồng Bởi vậy, nghiên cứu luật tục của người Cơ-tu về sử dụng và bảo vệ TNTN cũng góp phần nghiên cứu thêm về văn hóa tộc người
Ở huyện Tây Giang (huyện miền núi nằm phía tây tỉnh Quảng Nam), người Cơ-tu chiếm trên 90% dân số, sinh kế của phần lớn cư dân vẫn phụ thuộc vào rừng, nhất là ở các xã vùng cao của huyện Gần đây, với việc thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, người dân địa phương đang từng bước được trao quyền để tham gia trực tiếp vào việc quản lý, bảo vệ rừng thông qua hình thức nhận khoán Trong bối cảnh này, việc tìm hiểu những yếu tố trong luật tục về sử dụng và bảo vệ TNTN để cư dân địa phương tham gia vào quản lý tài nguyên nhằm mục tiêu phát
Trang 12triển bền vững cộng đồng cũng là một vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn như trên, NCS chọn nghiên cứu Luật tục của người Cơ-tu về sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam trong bối cảnh truyền thống và hiện tại để làm đề tài luận án
hệ với luật tục về sử dụng và bảo vệ TNTN đối với cộng đồng địa phương
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể làm rõ mục đích nghiên cứu trên, luận án sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Tổng hợp, phân tích tài liệu thành văn có liên quan đến chủ đề nghiên cứu Trên cơ sở đó tổng quan tài liệu và xác định cơ sở lý thuyết làm định hướng cho luận án, lựa chọn phương pháp phù hợp với đề tài nghiên cứu
- Hệ thống hóa luật tục của người Cơ-tu về sử dụng và bảo vệ TNTN từ trước
năm 1975 trong bối cảnh các làng (vel/bươl/cơrơnoon) truyền thống, bao gồm: tài
nguyên đất rừng, tài nguyên rừng và tài nguyên nước
- Nhận diện, phân tích bối cảnh tác động và sự thay đổi của luật tục về sử dụng và bảo vệ TNTN từ sau năm 1975 tại địa bàn nghiên cứu Trên cơ sở đó đánh giá các ưu điểm, hạn chế, cơ hội và thách thức của việc áp dụng luật tục trong sử dụng và bảo vệ TNTN hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu luật tục trong truyền thống và hiện nay của người Cơ-tu về sử dụng và bảo vệ TNTN ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
Trang 133.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam là địa bàn được lựa chọn
bởi vì đây là nơi sinh sống lâu đời của người Cơ-tu và hiện nay dân số Cơ-tu vẫn chiếm tới 91,4% dân số toàn huyện [Tổng cụ Thống kê, 2010] Đồng thời đây cũng
là địa phương có diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp (rừng đặc dụng, rừng phòng
hộ và rừng sản xuất) chiếm 85,1% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện [UBND tỉnh Quảng Nam, 2017] Điều này đồng nghĩa với việc cư dân địa phương đã và đang đối diện với những thay đổi trong việc tiếp cận rừng và thực hành các sinh kế quen thuộc do những quy định mới của nhà nước về quản lý, khai thác và bảo vệ rừng Trong huyện, thôn Voòng, xã Tr‟hy được tập trung nghiên cứu sâu vì đây là địa bàn vùng cao nơi còn lưu giữ nhiều yếu tố văn hóa truyền thống đồng thời cũng đã có những thay đổi dưới tác động của những nhân tố mới Bên cạnh đó, để có cái nhìn
đa chiều về sự biến đổi của luật tục trong sử dụng và bảo vệ TNTN, tác giả luận án thực hiện đợt nghiên cứu ngắn ngày tại thôn Agrồng, xã Atiêng là trung tâm của
huyện - nơi diễn ra nhiều thay đổi kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng (diễn giải cụ thể hơn ở nội dung địa bàn nghiên cứu)
Về thời gian: Sự biến đổi, vận động của xã hội là một quá trình, diễn ra chậm
chạp với những bước chuyển giao xen lẫn giữa cái cũ và cái mới Cho nên việc lựa chọn một mốc thời gian cụ thể để đánh dấu sự chuyển biến chỉ là tương đối Mặc dù vậy, chúng tôi chọn mốc thời gian 1975 để nhìn nhận luật tục sử dụng, bảo vệ TNTN của cư dân địa phương trong các giai đoạn trước và sau dấu mốc đó Bởi vì đây là thời điểm đánh dấu sự chấm dứt chiến tranh, bước vào thời kỳ hòa bình và ổn định cuộc sống, là dấu mốc lớn đối với lịch sử Việt Nam cũng như đối với cộng đồng địa phương Mặc dù, từ năm 1951 tại địa bàn đã bắt đầu diễn ra nhiều thay đổi trong tổ chức, sắp xếp dân cư và hình thức sản xuất…, nhưng về cơ bản thì hoạt động sử dụng, bảo vệ TNTN vẫn tuân theo các quy ước trước đây giữa các thành
viên trong bhươl/làng, giữa các bhươl/làng với nhau
Về nội dung: Người Cơ-tu sinh sống trong môi trường rừng, nên khi phân
tách các TNTN, NCS ngụ ý tập trung vào những yếu tố chính của hệ sinh thái rừng
Trang 14đó là đất rừng, rừng (quần thể động, thực vật) và nước (sông, suối) để nhìn nhận các quy định về sử dụng và bảo vệ tài nguyên
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học
Luật tục của các dân tộc về sử dụng và bảo vệ TNTN thường được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau như: luật pháp, văn hóa dân gian, quản lý môi trường-tài nguyên… Dưới góc độ dân tộc học-nhân học, nghiên cứu này góp phần cung cấp thêm một cách nhìn nhận đối với luật tục tồn tại dưới dạng thực hành, đó là những quan niệm và quy tắc về hành vi ứng xử giữa con người với con người và giữa con người đối với thế giới phi con người
Luận án bổ sung các luận điểm khẳng định vai trò luật tục của người Cơ-tu trong sử dụng và bảo vệ TNTN; góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng Trên cơ sở khẳng định luật tục
về sử dụng và bảo vệ TNTN là vốn văn hóa quan trọng của cộng đồng cần được phát huy, bổ sung và phát triển, nghiên cứu này góp phần mở rộng cách tiếp cận đối với việc quản lý TNTN trong xã hội hiện nay, đó là quản lý không chỉ đơn thuần dựa trên các tri thức khoa học và phục vụ mục đích kinh tế mà còn phải đáp ứng các nhu cầu về văn hóa, tinh thần và điều hòa mối quan hệ xã hội trong cộng đồng Điều
đó thể hiện sự thấu hiểu, tôn trọng và áp dụng quan điểm đa dạng văn hóa - một vấn
đề mang tính sống còn đối với một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam
Về mặt thực tiễn
Luận án cung cấp cơ sở để hiểu rõ hơn vai trò, sự vận hành trước đây và hiện nay của luật tục - các quy tắc trong quản trị TNTN của cộng đồng địa phương Từ việc nhìn nhận các thách thức và triển vọng của luật tục trong bối cảnh xã hội hiện nay, luận án góp phần cung cấp cơ sở cho việc kết hợp hệ thống quản lý nhà nước với hệ thống quy tắc sẵn có về quản trị tài nguyên ở địa phương Thông qua đó, đưa
ra những ngụ ý chính sách nhằm góp phần sử dụng hợp lý, bảo vệ TNTN và thúc đẩy phát triển bền vững cộng đồng người Cơ-tu ở huyện Tây Giang (tỉnh Quảng Nam) nói riêng và những cư dân sinh sống gắn bó với hệ sinh thái rừng ở khu vực
Trang 15miền núi vùng Trung bộ nói chung Khi xây dựng và triển khai các chính sách quản
lý tài nguyên cần xem xét và vận dụng các khía cạnh văn hóa xã hội của cộng đồng địa phương, cụ thể là ở đây là luật tục - quy tắc trong quản trị tài nguyên ở cấp cộng đồng địa phương Có như thế mới tránh được sự va chạm, xung đột giữa “bên trong” và “bên ngoài”, giữa cộng đồng địa phương và cơ quan quản lý nhà nước, gây ra những hệ lụy cho sự phát triển bền vững cộng đồng nói riêng, cho sự phát triển bền vững nói chung Luận án cũng góp phần bổ sung thêm hiểu biết về tri thức của người Cơ-tu trong tổ chức sử dụng và bảo vệ TNTN, qua đó hướng tới việc vận dụng các giá trị văn hóa tộc người để xây dựng một nền “đạo đức môi trường” - vấn
đề hết sức thiết thực đặt trong bối cảnh những quan ngại về cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường đang diễn ra
Trang 16CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài về luật tục trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Nghiên cứu luật tục về sử dụng và bảo vệ TNTN của các nhóm cư dân địa phương, bộ lạc hay dân tộc bản địa ở các quốc gia, đặc biệt ở châu Á và châu Phi được các học giả tiếp cận dưới nhiều góc độ Mỗi cách tiếp cận đưa ra một cách lý giải về nguyên nhân hay đưa ra các giải pháp nhằm điều hòa các mối quan hệ xã hội giữa những người có liên quan với nhau về loại TNTN nào đó để đạt được sự ổn định xã hội và phát triển bền vững
Trước tiên, dưới góc độ TTĐP, vai trò của luật tục ở phương diện quản lý bền vững TNTN được nhiều nghiên cứu chỉ ra và đang ngày càng được thừa nhận rộng rãi hơn Dưới góc độ này thì luật tục về sử dụng, bảo vệ TNTN được xem là những quy định, quy tắc truyền thống trong thiết chế quản lý TNTN Theo quan điểm của F.Berkes thì chúng là một trong những lớp nội dung của khái niệm tri thức sinh thái truyền thống [Berkes, 2008] Tác giả này còn xây dựng khung phân tích tri thức sinh thái truyền thống bao gồm: a) Hiểu biết về cảnh quan, các loài động thực vật,
về đất đai; b) Các thực hành quản lý nguồn TNTN; c) Thiết chế xã hội trong quản lý các nguồn TNTN (bộ máy quản lý và quy định liên quan) và d) Thế giới quan (hệ thống về niềm tin và thực hành tín ngưỡng liên quan) - yếu tố có vai trò quyết định trong việc nhìn nhận môi trường và gán cho nó ý nghĩa nhất định Tuy được phân tách thành 4 lớp để cung cấp cái nhìn vừa khái quát vừa cụ thể trong nghiên cứu tri thức sinh thái truyền thống nhưng trên thực tế chúng có mối quan hệ qua lại với nhau Tham chiếu các lớp trong khung khái niệm này, luật tục về quản lý tài nguyên của các cộng đồng địa phương chính là lớp phân tích thứ 3 (c): gắn với thiết chế xã hội và các quy định về khai thác, sử dụng và bảo vệ TNTN Trong các dự án phát triển người ta thường chú trọng quá nhiều vào nội dung a và b nhằm sử dụng những
Trang 17hiểu biết của người địa phương để phục vụ cho việc triển khai dự án nhưng lại ít chú ý hoặc bỏ qua nội dung quan trọng về quản lý TNTN của các động đồng địa phương đó là thiết chế quản lý tài nguyên cũng như niềm tin và thực hành tín ngưỡng liên quan Chính vì vậy, vô hình trung đã làm giảm đi hiệu quả của phương thức quản lý TNTN truyền thống, xu hướng này bị phê phán vì đã tách TTĐP ra khỏi bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội nơi tri thức đó hình thành và phát triển [Sillitoe, 1998; Briggs, 2005] Bởi vì, việc quản lý các nguồn TNTN không chỉ đơn thuần dựa trên các tri thức khoa học và phục vụ mục đích kinh tế mà còn phải đáp ứng các nhu cầu về văn hóa, tinh thần và điều hòa mối quan hệ xã hội trong cộng đồng Chính vì thế, cần có cách tiếp cận rộng hơn và xem xét tới các khía cạnh văn hóa xã hội của cộng đồng địa phương trong vấn đề quản lý tài nguyên “Nếu không nhìn nhận như thế, thì các cơ chế quản lý sẽ trở thành sự áp đặt không thích hợp” [Kalland, 2010, tr 480]
Bên cạnh đó, luật tục thực sự tồn tại trong cộng đồng, được biểu hiện thông qua những quy tắc trong hành vi và những giới hạn văn hóa (cấm kỵ xã hội, tín ngưỡng) về khai thác tài nguyên, điều đó giúp họ thích nghi và tồn tại [Orebech và cộng sự, 2005, tr 12-42] Nghiên cứu của R.Roy về luật tục các dân tộc bản địa ở châu Á cho rằng luật tục hình thành từ xa xưa trong đời sống hàng ngày, được điều chỉnh, sàng lọc qua thời gian Vì thế, dưới góc độ của những cư dân này, luật tục gắn liền với văn hóa tộc người, nó luôn vận động và được cộng đồng tự giác tuân thủ Nhưng dưới góc độ của các nhà lập pháp và quản lý/người ngoài cuộc, luật tục của các dân tộc, nhóm cư dân là luật bất thành văn, thường bị coi là tĩnh tại, xưa cũ chính vì thế nó lạc hậu và xếp thứ yếu so với luật pháp thành văn của nhà nước Đặc điểm xã hội chung của những nhóm cư dân này là chưa có sự xuất hiện của nhà nước, đời sống xã hội được vận hành dựa trên luật tục Chính vì thế, khi xã hội sau này được khoác lên chiếc áo nhà nước và pháp luật đã gây tác động tới việc thực hành luật tục, tới đời sống cộng đồng Tác giả này phân chia thành hai loại luật tục chính, thứ nhất là những luật tục liên quan tới đời sống cá nhân (kết hôn, ly hôn, thừa kế,…) và thứ hai là luật tục liên quan tới TNTN (quyền sở hữu đất đai, sử dụng
Trang 18rừng, nước và các nguồn TNTN khác) Kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Á (Ấn Độ, Malaysia, Nhật Bản…) cho thấy, trong bối cảnh luật pháp nhà nước, luật tục về vấn đề sở hữu đất đai, tiếp cận rừng đứng trước hiện trạng bị lề hóa, bị mai một, đặc biệt là quyền truyền thống về tài nguyên Trong một số trường hợp, nơi luật tục được nhà nước công nhận, bảo vệ, duy trì thiết chế xã hội truyền thống thì những thực hành trong luật tục được bảo tồn mạnh mẽ (người Naga và Mizo ở vùng Đông bắc Ấn Độ), nhưng cũng có trường hợp luật tục bị mai một và dần biến mất dưới sức ép của chính sách quản lý của nhà nước (trường hợp của người Ainu ở Nhật Bản) [Roy, 2005] Như vậy, nghiên cứu này đã chỉ ra rằng yếu tố tác động lớn nhất làm thay đổi luật tục về TNTN của các cộng đồng bản địa đó là sự xuất hiện của thể chế quản lý tài nguyên của quốc gia Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế, tính di dộng của dân cư cũng được xem là những yếu tố quan trọng tác động tới luật tục của cư dân địa phương Và kết quả nghiên cứu này cũng cho rằng sự “bảo hộ” của luật pháp nhà nước là yếu tố cốt lõi giúp duy trì hoặc làm mai một luật tục nói
chung, luật tục về TNTN nói riêng
Vai trò của luật tục với tư cách là thiết chế địa phương trong sử dụng, quản lý TNTN cũng được đề cập tới Như các nghiên cứu về quản lý rừng vùng cao Đông Phi đã chỉ ra rằng thiết chế truyền thống địa phương thể hiện những vai trò tích cực qua quá trình sinh tồn và phát triển của cộng đồng cư dân bản địa [Mowo và cộng
sự, 2011] Hay nghiên cứu về sự thay đổi trong quản trị rừng qua 150 năm ở Ethiopia cũng cho thấy, sự thấu hiểu sự quản trị tài nguyên truyền thống, khả năng thích ứng và năng động của nó qua thời gian là điều mấu chốt để phát triển các cách tiếp cận bền vững trong quản lý rừng [Wakjira, Fischer và Pinard, 2013] Vì thế, cần có sự tích hợp các thiết chế truyền thống - thiết chế phi chính thức vào thiết chế chính thức trong quản lý các nguồn TNTN Và một số nghiên cứu đã chỉ ra cách tích hợp cụ thể, chẳng hạn như bản đồ hóa hệ thống đất đai truyền thống [Sirait và cộng sự, 1994], hay phát huy vai trò, trao quyền cho cá nhân quan trọng trong cộng đồng như thủ lĩnh bộ lạc ở một số quốc gia châu Phi [Ubink và Quan, 2008]
Mặc dù có vai trò quan trọng như thế nhưng trong một số trường hợp, quản lý
Trang 19TNTN dựa vào luật tục lại bị giới hạn khi đặt trong bối cảnh phát triển phức tạp hơn, đa dạng hơn như sự gia tăng dân số, di dân, tài nguyên cạn kiệt, tác động của các chiều kích hiện đại hóa, kinh tế thị trường như trong kết quả nghiên cứu về luật tục ở một số nước châu Á như đã đề cập ở trên [Roy, 2005] Vì vậy, cũng có ý kiến cho rằng, không nên quá nhấn mạnh hoặc tuyệt đối hóa sức mạnh của luật tục trong quản lý TNTN [Berkes, 2008] Chính vì thế, cần có sự nghiên cứu đầy đủ về bối cảnh văn hóa, xã hội và thực trạng luật tục của cộng đồng địa phương khi tích hợp luật tục vào hệ thống luật pháp quốc gia
Các nghiên cứu dưới góc độ sinh thái chính trị đã nhấn mạnh tới những động thái từ bên ngoài (sự can thiệp của nhà nước, sự phát triển của kinh tế hàng hóa và hội nhập) như là những yếu tố quan trọng tác động tới mối quan hệ giữa các bên liên quan trong quản lý và sử dụng tài nguyên Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ quả của việc lờ đi các quy tắc quản trị của cộng đồng địa phương và áp đặt một cách cứng nhắc các quy định theo cách tiếp cận từ trên xuống - thường là cơ chế quản lý của nhà nước - thường dẫn đến những xung đột về lợi ích liên quan tới các quyền về tài nguyên, đứt gãy về văn hóa, dẫn tới bất ổn về chính trị cũng như làm cho tình trạng suy thoái tài nguyên trầm trọng thêm [Bryant, 1992; McElwee, 2004] Những
hệ quả của việc phá vỡ các quy tắc quản lý truyền thống theo luật tục diễn ra ở nhiều nước châu Á và châu Phi, nơi các nguồn TNTN đang bị suy giảm nghiêm trọng Một nghiên cứu ở vườn quốc gia Madhupur ở Bangladesh cũng chỉ ra rằng các thiết chế phi chính thức của cộng đồng trong quản lý tài nguyên đã bị thay đổi
và chối bỏ bởi sự can thiệp của chính quyền Điều đó càng làm tăng khoảng cách giữa chính quyền và người dân, gây nên xung đột về sở hữu đất đai và suy thoái tài nguyên [Rahman và cộng sự, 2014] Hay như nghiên cứu về hoạt động khai thác hải sâm của người Aru (Indonesia) cũng cho thấy hải sâm ngày càng cạn kiệt, nguyên nhân là do hiện nay khai thác quanh năm; tiến hành cả vào lúc thủy triều xuống và thủy triều lên, hoạt động bằng cả việc lặn và đi thu gom trên các bãi thủy triều và các dãy đá ngầm; cả đàn ông, đàn bà và trẻ con đều tham gia Trong khi trước đây
có những cấm đoán về việc thu hoạch hải sâm: tạm thời đóng cửa vùng biển nhất
Trang 20định (gọi là sir) -trong vòng 3 đến 5 năm không ai được phép khai thác hải sâm Sau
thời gian đó, các khu vực cấm này sẽ làm lễ mở cửa lại và lúc đó mọi người mới được khai thác [Osseweijer, 2010, tr 83-115]
Mặc dù sự can thiệp trong cơ chế quản lý tài nguyên của quốc gia thường được phân tích như là nguyên nhân của một số hiện tượng tiêu cực trong đời sống cộng đồng địa phương và đôi khi họ hay được nhìn nhận dưới góc độ của những
“nạn nhân”, tiếp nhận quy tắc mới một cách thụ động Tuy nhiên trên thực tế, cuộc sống của cộng đồng luôn tiếp diễn và bản thân họ cũng có những quy tắc riêng trong sử dụng và bảo vệ tự nhiên - môi trường sinh sống quen thuộc của họ qua nhiều thế hệ Chính vì vậy, việc nghiên cứu những quy tắc quản lý TNTN của cộng đồng và sự thay đổi của nó qua thời gian cũng là một vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn để có thể thấy được sự chủ động thích ứng của cộng đồng địa phương trong bối cảnh thể chế quản lý tài nguyên của quốc gia
Và cuối cùng, mấu chốt vẫn là giải quyết vấn đề làm thế nào để quản lý một cách hiệu quả, bền vững các nguồn TNTN với tư cách là một loại tài sản chung, trong bối cảnh đan xen giữa luật tục và luật pháp - luật cộng đồng và luật nhà nước
Có nhiều tranh luận xoay quanh vấn đề này, nhưng dưới phương diện tài nguyên chung do cộng đồng quản lý, nổi bật lên là những kết quả nghiên cứu của nhà kinh
tế chính trị học Elinor Ostrom
Dưới góc độ kinh tế chính trị, Elinor Ostrom đã có những đóng tích cực để hiểu được cơ chế quản lý tài sản chung thông qua phân tích một số thiết chế quản lý truyền thống Bà đã phê phán quan điểm của Garrett Hardin về tài sản chung khi ông cho rằng tài nguyên chung chỉ có thể được quản lý bởi nhà nước hoặc thị trường [Ostrom, 1990] Bà cho rằng, cả tư nhân hóa và tập trung hóa quyền sở hữu
về tài sản chung hay sử dụng các cơ chế thị trường đều không phải là cách thức hữu hiệu để quản lý tài sản chung cũng như bảo vệ tài sản chung tránh được bi kịch như Garrett Hardin đã tiên đoán Thay vì tư hữu hóa tài sản chung hay tối đa hóa sự can thiệp của chính quyền trung ương, từ sự tổng hợp các kết quả nghiên cứu thực địa tại các cộng đồng địa phương ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy, tài sản chung vẫn
Trang 21được quản lý một cách bền vững qua thời gian bởi các cộng đồng địa phương [Ostrom, 1990; Gibson, Mc Kean & Ostrom, 2000] Trong những điều kiện thiết chế nhất định thì tài sản chung có thể được cộng đồng quản lý một cách hiệu quả hơn, chi phí quản trị cũng giảm hơn so với bình thường Hạn chế chính trong quản trị tài sản chung là thiếu các cơ chế sẵn có để giải quyết cạnh tranh tài nguyên trong bối cảnh có sự tham gia của nhiều bên hoặc sự cạnh tranh giữa các lĩnh vực Từ bài học thành công và thất bại rút ra từ các mô hình do cộng đồng quản lý tài sản chung, Elinor Ostrom đã nhận diện 8 quy tắc như là các điều kiện cốt yếu để quản trị tài sản dựa vào cộng đồng hiệu quả [Ostrom, 1990, 1994, 2002] Kết quả nghiên cứu của nữ học giả này là tiền đề, là nền tảng để cải cách chính sách quản lý tài nguyên của các quốc gia và cũng là động lực để các tổ chức phi chính phủ vận động chính sách và thực thi các dự án hỗ trợ việc trao quyền quản lý TNTN cho cộng đồng dân cư địa phương Và chìa khóa của việc quản lý TNTN hiệu quả và bền vững ở cấp địa phương đó chính là sự vận hành của một thiết chế do chính những người có cùng mối quan hệ với nhau về tài nguyên xây dựng nên và điều hành Như vậy, chính là ở điểm này, luật tục của cư dân địa phương hoàn toàn có thể có
“không gian” để phát huy những quy tắc đã được xác lập và duy trì qua nhiều đời trong sử dụng và bảo vệ TNTN
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước về luật tục trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Việc nghiên cứu về luật tục các dân tộc thiểu số ở Việt Nam được khởi đầu từ giới quan chức và học giả người Pháp vào cuối thế kỷ XIX Họ sưu tầm luật tục các dân tộc Tây Nguyên (Ê-đê, Ba-na, Gia-rai,…) nhằm ứng dụng vào công tác quản lý của chính quyền thuộc địa tại địa phương, để cho “các cơ quan hành chính mang đậm bản sắc của nền văn hóa” dân tộc đó [Condominas, 2000, tr 55; Phan Đăng Nhật, 2000, tr 65-69]
Tới những năm 1990, việc nghiên cứu luật tục các dân tộc ở Việt Nam mới được Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian khởi xướng nhằm “sưu tầm, nghiên cứu và ứng dụng luật tục, với tư cách là những tri thức dân gian về tổ chức, quản lý cộng
Trang 22đồng và xã hội” [Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, 2000, tr 7] Nghiên cứu luật tục về quản lý các nguồn TNTN của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn cao và nhận được sự quan tâm của nhiều học giả Bởi đó là “kho tàng tri thức bản địa về ứng xử và quản lý cộng đồng” và với đặc tính của một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, việc nghiên cứu truyền thống quản lý của các dân tộc khác nhau trong bối cảnh mới là rất quan trọng, bên cạnh việc “tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phải kế thừa được tinh hoa của các nền văn hóa của các dân tộc, phải tiếp thu được kho tàng tri thức được hình thành trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam”[Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, 2000, tr 5] Kết quả của hoạt động này là sự ra đời của các công trình luật tục của các dân tộc Ê-đê, M‟nông, Thái, Jrai…hay hương ước của các tỉnh Quảng Ngãi, Hà Tĩnh, Nghệ An… Đây là những “nguồn tư liệu cần thiết để nghiên cứu ứng dụng luật tục vào đời sống của các tộc người” [Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia,
2000, tr 7]
Như vậy có thể thấy rằng, mục đích ban đầu của việc nghiên cứu luật tục là vận dụng những mặt tích cực trong văn hóa các dân tộc để góp phần quản lý xã hội trong bối cảnh đa tộc người dưới một thể chế thống nhất
Nội dung của luật tục bao quát mọi mặt đời sống, điều tiết mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội và giữa con người với tự nhiên Trong đó, nội dung
về sử dụng, bảo vệ các nguồn TNTN rất phong phú và đa dạng Về cơ bản, có thể khái quát thành vào ba nội dung chính, đó là: “Giới thiệu tri thức về môi trường, về việc quản lý và khai thác tài nguyên của các tộc người; Vấn đề sở hữu truyền thống
về đất đai, tài nguyên và vai trò của nó đối với việc bảo vệ môi trường và việc khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên đó; Cuối cùng là vận dụng các tri thức về luật tục
cổ truyền vào việc khai thác bảo vệ môi trường và quản lý có hiệu quả việc khai thác các nguồn TNTN tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, 2000, tr 8] Hướng thứ nhất là giới thiệu hệ tri thức về môi trường, về việc sử dụng và bảo
vệ các nguồn TNTN (rừng, đất, nước) của các tộc người, đặc biệt là ở các dân tộc
Trang 23thiểu số Có thể nói, điển hình nhất là việc văn bản hóa luật tục ở các dân tộc miền Trung, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc như: luật tục Chăm, Ra-glai, Ê-đê, M‟nông, Thái [Ngô Đức Thịnh 1998, 2003b; Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng, 2003; Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, 2010; Phan Đăng Nhật, 2003, 2014] Đây
là các công trình sưu tầm và văn bản hóa các luật tục tồn tại dưới hình thức văn vần, truyền miệng có giá trị cao trong nghiên cứu văn hóa truyền thống tộc người Kết quả nghiên cứu cho thấy, mỗi tộc người ở trong bối cảnh không gian tự nhiên, văn hóa - xã hội cụ thể đều có những quy định về mặt ứng xử trong cộng đồng liên quan tới việc sử dụng, bảo vệ các nguồn TNTN Luật tục chứa đựng những giá trị văn hóa, xã hội, đạo đức nhằm duy trì sự hài hòa, ổn định trật tự xã hội Tuy nhiên, giữa các học giả cũng có những quan điểm khác nhau liên quan đến phạm vi áp dụng của luật tục, có ý kiến cho rằng “luật tục là của cả tộc người, hay ít ra cũng là của một vùng, không có luật tục của một “buôn” cụ thể” [Phan Đăng Nhật, 2010a, tr 25] Trong khi đó, lại có tác giả cho rằng mỗi buôn, plây, bon cũng đều có luật tục riêng
“Cũng tương tự như vậy, chúng ta không có bộ luật tục nào chung cho cả một dân tộc, dù là dân tộc đa số hay thiểu số, mà chỉ có luật tục phù hợp với từng bản
mường, từng buôn, plây, bon của mỗi nhóm dân tộc hay nhóm địa phương” [Ngô
Đức Thịnh, 2003a, tr 80] Văn bản hóa luật tục cũng có nghĩa là cố định hóa các quy định nào đó ở một thời điểm nhất định và không gian nhất định, nó có ý nghĩa lớn lao ở phương diện lưu giữ và truyền bá những nội dung của luật tục Tuy nhiên, điều đó cũng dẫn tới hạn chế là “tước bỏ mất tính đa dạng, tính địa phương, tính biến đổi và thích ứng của luật tục đối với sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội tùy theo từng thời kỳ” [Ngô Đức Thịnh, 2000, tr 22] Bên cạnh đó, “nhiều trong những nghiên cứu này không cho chúng ta cảm nhận về việc làm thế nào để những luật như vậy tiếp tục thay đổi qua thời gian và chúng thích hợp với các vấn đề đương đại như thế nào” [Mc Elwee, 2010, tr 7]
Do mang tính chất sưu tầm luật tục, nên nhiều công trình chú trọng vào việc khai thác nội dung cụ thể, các quy định của luật tục mà chưa đi sâu phân tích bối cảnh cụ thể mà luật tục được vận dụng, đặc biệt là các thiết chế xã hội, bộ máy quản
Trang 24lý liên quan tới những quy định đó, trong khi đây lại là một nội dung cần thiết khi nghiên cứu những luật tục được áp dụng trong xã hội truyền thống Bởi với một xã hội nhất định đều có những chuẩn mực và những thiết chế tổ chức đi kèm phù hợp với trình độ tổ chức của xã hội đó Để có thể hiểu rõ sự hình thành cũng như vai trò, giá trị của luật tục trong việc điều chỉnh hành vi của con người đối với việc tiếp cận các nguồn tự nhiên thì cần có sự nghiên cứu sâu tại một địa bàn cụ thể, đặt trong bối cảnh kinh tế văn hóa xã hội nhất định của chủ thể văn hóa đó Như Ngô Đức Thịnh
đã chỉ ra “đối với luật tục đó là thể chế gia đình, dòng họ, làng Luật chẳng qua là
sự thể hiện các quy chuẩn, chuẩn mực của các thể chế đó nhằm đảm bảo sự vận hành ổn định trong môi trường xã hội nhất định Nó phản đối cách khảo sát, cách nhìn nhận luật tục chỉ căn cứ vào những điều luật và quy định chung chung, trừu tượng, thoát ly thể chế xã hội” [Ngô Đức Thịnh, 2003b, tr 323]
Bên cạnh đó, cũng dưới góc độ TTĐP, luật tục có thể được xem là hệ tri thức
về quản lý tài nguyên, tiêu biểu có các nghiên cứu về tri thức sử dụng, quản lý tài nguyên của các dân tộc Dao, Mường [Nguyễn Ngọc Thanh, 2016a; Mai Văn Tùng, 2015] Trong những nghiên cứu này, luật tục của các tộc người trong sử dụng, bảo
vệ tài nguyên được gọi là “quy ước” hay “tục lệ”, là “sản phẩm văn hóa được lưu truyền từ đời này qua đời khác và thường được điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn của đời sống cộng đồng” [Nguyễn Ngọc Thanh, 2016b, tr 303], quy ước trở thành sợi dây vô hình nhưng bền chặt, cố kết mọi thành viên trong cộng đồng [Nguyễn Ngọc Thanh, 2002c, tr.9] Các nghiên cứu này cũng khẳng định vai trò luật tục của tộc người trong việc góp phần bảo vệ TNTN
Hướng nghiên cứu thứ hai tập trung vào sự thay đổi trong quyền sở hữu đất đai và tiếp cận TNTN đã nhấn mạnh tới nguyên nhân và hệ quả của sự phá vỡ các quy tắc quản lý tài nguyên theo luật tục Sự thay đổi trong quyền sở hữu đất đai truyền thống liên quan tới sự áp dụng cơ chế quản lý của Nhà nước dựa vào luật pháp thống nhất trên phạm vi cả nước Ở Việt Nam, thời gian áp dụng chính sách đất đai có khác biệt đối với các vùng khác nhau, nhưng vấn đề cốt lõi đó là chuyển
từ quyền sở hữu cộng đồng truyền thống sang sở hữu toàn dân, trong đó Nhà nước
Trang 25giữ vai trò chủ đạo trong việc điều tiết, phân phối Việc chuyển đổi quyền sở hữu đó đặt trong bối cảnh sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã làm nảy sinh hàng loạt
hệ quả, nổi bật là nạn phá rừng, suy thoái đất đai cùng với nhiều vấn đề xã hội khác [Nguyên Ngọc, 1987, tr 51-58; Vương Xuân Tình và Bùi Minh Đạo, 2003, tr 251-276; McElwee, 2004; Hoàng Cầm, 2010…]; đặc biệt là dẫn tới tình trạng “tội phạm hóa” cư dân địa phương, buộc họ phải thực hiện những hành vi phá rừng, vừa trái với luật tục lại vừa vi phạm luật pháp [Hoàng Cầm, 2010]; hay tình trạng bất ổn định ở Tây Nguyên [Salamink, 2000, tr 815-860] Việc khai thác rừng truyền thống, theo quan điểm của nhà nước thì đó là hành vi “phi pháp”, còn với cách nhìn nhận của người dân thì đó là sự thực hành sinh kế truyền thống [Mc Elwee, 2004] Hướng thứ ba tập trung chủ yếu vào việc đưa ra những giải pháp nhằm quản lý tài nguyên bền vững trên cơ sở phân tích vai trò, chức năng của luật tục và các thiết chế kèm theo trong bối cảnh hiện tại Bởi vì, “luật tục đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định ai là người có những vai trò nhất định trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và các quy định về việc sử dụng tài nguyên đó là gì Luật tục thường không chỉ xác định rõ vai trò và quyền lợi mà còn cả trách nhiệm của một cá nhân” [Ambler, 2000, tr 237] Ở nội dung này, có thể phân tách các nghiên cứu thành hai nhóm, thứ nhất là nhìn nhận, đánh giá vai trò của luật tục trong tương quan so sánh với luật pháp về khai thác, quản lý các nguồn TNTN và thứ hai là đưa
ra những giải pháp quản lý TNTN dựa trên cơ sở thiết chế truyền thống, nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững
Nhu cầu nghiên cứu luật tục dưới góc độ pháp lý, trong tương quan so sánh với luật pháp nảy sinh khi thực tiễn xuất hiện những bất cập trong việc thực thi các chính sách của nhà nước nói chung, liên quan đến quản lý rừng, đất đai nói riêng, đặc biệt là ở khu vực miền núi - nơi sinh sống của đại đa số các dân tộc thiểu số ở Việt Nam [Hardcastle, 2002; Nguyễn Quang Tân, Nguyễn Văn Chính và Vũ Thu Hạnh, 2008; Cục Lâm nghiệp và IUCN Việt Nam, 2009; SPERI, 2010, 2014; CIRUM, 2011; Mai Thanh Sơn và Võ Mai Phương, 2011; Nguyễn Như Quỳnh, Nguyễn Quốc Việt, Nguyễn Hoàng Phương, 2013]
Trang 26Qua việc phân tích vai trò của luật tục của một số dân tộc tại địa bàn nghiên cứu cụ thể, các nghiên cứu này cho rằng cần nâng cao hơn nữa vai trò, sự tham gia của cộng đồng trong việc quản lý các nguồn TNTN, và đặc biệt là tạo hành lang pháp lý thúc đẩy công nhận quyền sở hữu của cộng đồng địa phương đối với đất đai Đồng thời, các nghiên cứu này cũng chỉ ra những hệ quả khi áp đặt hệ thống quản lý đất, rừng của nhà nước lên hệ thống quản lý truyền thống của cộng đồng: nghèo đói, nguy cơ tiềm ẩn về xung đột xã hội, sự mai một, đứt gãy văn hóa truyền thống Vì việc áp dụng hệ thống quản lý tài nguyên mới đã làm thay đổi những thói quen trong hoạt động sản xuất truyền thống cũng như hạn chế việc tiếp cận tư liệu sản xuất tự nhiên của người dân địa phương [Nguyễn Quang Tân, Nguyễn Văn Chính và Vũ Thu Hạnh, 2008; Hoàng Cầm, 2009; SPERI, 2010; CIRUM, 2012; Mai Thanh Sơn và Võ Mai Phương, 2011] Bên cạnh đó, việc thay thế thiết chế quản lý truyền thống bằng hệ thống quản lý của nhà nước khi người dân chưa hiểu
rõ các quy định pháp lý và người quản lý mới không hiểu luật tục truyền thống của
cư dân địa phương có thể dẫn tới việc quản lý rừng kém hiệu quả [Nguyễn Quang Tân, Nguyễn Văn Chính và Vũ Thu Hạnh, 2008] Nghiên cứu trường hợp về luật tục của người Dao và Thái ở vùng Tây Bắc Việt Nam trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên rừng [CIRUM, 2012] cũng cho thấy luật tục đã đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tài nguyên rừng và nước nhưng ngày nay vai trò đó đang dần suy giảm, trong khi chính sách và các chương trình của nhà nước chưa được vận hành một cách tốt nhất Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, cốt lõi của luật tục nằm ở hệ thống giá trị và niềm tin Nó khiến cho mọi người trong cộng đồng tự nguyện tuân theo những chuẩn mực và hành vi nhất định trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng, dẫn dắt họ tương tác hài hòa với tự nhiên
Những nghiên cứu đó có giá trị cao về mặt thực tiễn khi đưa ra các khuyến nghị nhằm điều chỉnh chính sách, thực hiện chính sách hiệu quả hơn nữa trên cơ sở kết hợp hài hòa tri thức truyền thống của cộng đồng với luật pháp chung của nhà nước Mặc dù vậy, trên thực tế, việc lồng ghép luật tục trong giao đất giao rừng gặp không ít khó khăn, nhất là sự khác biệt khi xác định khái niệm “cộng đồng” giữa
Trang 27luật tục và Luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật bảo vệ và phát triển rừng; sự đa dạng tộc người trong cộng đồng và hạn chế sự tham gia của phụ nữ [SPERI, 2010] Đặc biệt ngày nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập đã làm các dân tộc xích lại gần nhau, sự cộng cư, xen cư giữa các dân tộc khác nhau trên một địa bàn
đã trở nên phổ biến, việc xác định nên áp dụng luật tục truyền thống của dân tộc nào vào cộng đồng đó sẽ càng trở nên khó khăn và nan giải hơn
Dựa trên việc phân tích các cơ sở pháp lý và thực tiễn, các nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của quản lý cộng đồng truyền thống trong sự hòa hợp với luật pháp của nhà nước, đó là trao quyền đồng quản lý cho cộng đồng Và các mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng, hay đồng quản lý, hoặc lâm nghiệp cộng đồng ra đời là nỗ lực nhằm dung hòa giữa chính sách quản lý của nhà nước và quyền, lợi ích của cộng đồng địa phương dựa trên những tri thức truyền thống [Cục Lâm nghiệp và IUCN Việt Nam, 2009]
Trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhằm bảo tồn, phát triển hệ sinh thái tự nhiên
- đa số tập trung ở khu vực miền núi, nơi sinh sống của các dân tộc ít người - các nhà nghiên cứu, các nhà phát triển đã chú ý tới giải pháp từ cộng đồng, xem xét vai trò của những thiết chế truyền thống trong việc quản lý hiệu quả các TNTN [Salamink, 2000, tr 860; CIRUM, 2012], hoặc có đề xuất khôi phục và duy trì vai trò của tổ chức làng [Nguyên Ngọc, 1987, tr 51-58] Trong bối cảnh chuyển đổi sang thể chế quản lý tài nguyên của quốc gia thống nhất, cần có nghiên cứu về sự vận hành, thay đổi của luật tục được thể hiện ở sự thay đổi trong hành vi sử dụng và bảo vệ tài nguyên dưới tác động của những quy tắc cũ (luật tục) và quy tắc mới (quy định của luật pháp) Qua đó để thấy được sự vận động, phát triển của các thể chế địa phương trong bối cảnh đương đại, nhằm kiếm tìm những cách thức giúp cộng đồng
có thể cùng tham gia và hưởng lợi, góp phần đạt được mục tiêu phát triển bền vững
Như vậy, qua một số nghiên cứu về luật tục và vai trò của luật tục trong vấn
đề quản lý, khai thác và bảo vệ TNTN ở Việt Nam cho thấy, các nghiên cứu chủ yếu tập trung nghiên cứu luật tục tồn tại dưới dạng lời nói văn vần hoặc luật tục đã thành văn mà chưa có nhiều nghiên cứu luật tục dưới dạng thực hành xã hội - hình
Trang 28thức luật phổ biến hơn cả trong đời sống nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam Luật tục đa phần được nhìn nhận dưới góc độ pháp lý và khả năng tích hợp các điều khoản luật tục vào luật pháp của nhà nước, mà chưa được nhìn nhận nhiều dưới góc
độ tri thức quản lí xã hội về TNTN, thể hiện ở các thiết chế - các quy tắc và bộ máy
xã hội trong quản trị tài nguyên của cư dân địa phương Đây là loại tri thức thực hành và cũng là nguồn vốn văn hóa của cư dân địa phương, cần được hiểu rõ trong những trường hợp cụ thể nhằm vận dụng để triển khai các chính sách mới về tài nguyên của nhà nước một cách hiệu quả hơn Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng tập trung chủ yếu vào các nhóm dân tộc thuộc vùng Trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên mà chưa chú ý nhiều tới các dân tộc thiểu số miền núi phía tây của các tỉnh Nam Trung Bộ - nơi được xem là vùng có tài nguyên rừng và đa dạng sinh học đang bị suy giảm, cũng là vùng đầu nguồn, vùng dự trữ sinh quyển và bảo vệ môi trường ở miền Trung [Huynh Thu Ba & cộng sự, 2003]
1.1.3 Các nghiên cứu về người Cơ-tu và luật tục của người Cơ-tu ở Việt Nam
Qua nhiều thế kỷ sinh sống gắn bó chặt chẽ với vùng rừng núi khu vực Trung Trường Sơn, người Cơ-tu tích lũy kho tàng hiểu biết về môi trường tự nhiên truyền thống và vận dụng hàng loạt kỹ thuật thực hành để sinh tồn và phát triển trong môi trường đó Những hiểu biết và kỹ thuật này đã được tư liệu hóa trong nhiều nghiên cứu dân tộc học Với phương pháp nghiên cứu định tính, thu thập thông tin từ các chuyến điền dã, các công trình đã mô tả và phân tích - giải thích các hoạt động kinh
tế truyền thống của người Cơ-tu, cụ thể: các phương thức kiếm sống truyền thống (trồng trọt trên rẫy, săn bắt và hái lượm) với sự “bảo lưu nhiều dấu ấn kinh tế nguyên thủy” được diễn ra theo chu kỳ diễn ra dưới sự dẫn dắt của tri thức kinh nghiệm và đặc biệt là được định hướng bởi các niềm tin tôn giáo, vũ trụ luận [Sulivan và Costello, 1994; Nguyễn Hữu Thông, 2005; Lưu Hùng, 2006; Arhem K, 2010] Bên cạnh đó, các nghiên cứu này cũng chỉ ra chuyển biến trong hoạt động kinh tế của người Cơ-tu trong bối cảnh hiện tại, khi xuất hiện những hoạt động sinh
kế mới, chủ yếu do tác động của các chính sách phát triển của nhà nước, và chỉ ra một số hệ quả của tác động đó như sự phá vỡ cấu trúc kinh tế - xã hội truyền thống,
Trang 29sự mai một văn hóa tộc người
Những tri thức truyền thống của người Cơ-tu trong việc khai thác sử dụng và bảo vệ rừng được đề cập đến ở một số công trình trên các khía cạnh khác nhau, trong đó có sự quan hệ mật thiết giữa những thực hành kỹ thuật và tri thức tâm linh cũng như vai trò của niềm tin tôn giáo trong việc bảo vệ rừng [Arhem.N, 2009; Hồ Viết Hoàng, 2017] Với mục đích bao trùm là nghiên cứu các biến đổi xã hội, kết nối những quan niệm truyền thống và thực hành trong quá khứ với bối cảnh thực tại
- trên cơ sở một giả định kép rằng: mọi yếu tố văn hóa (tín ngưỡng, giá trị đạo đức
và hành động thực tiễn) đều có mối liên kết với nhau và cần thiết phải nhìn về quá khứ để có thể hiểu được hiện tại, nghiên cứu của Nicolas Arhem đã tư liệu hóa một phần kiến thức truyền thống của người Cơ-tu trong các hoạt động sinh kế gắn với rừng Tác giả này cho rằng người Cơ-tu là những nông dân, thợ săn, người đánh cá chuyên nghiệp dựa trên những hiểu biết phong phú, sâu rộng về rừng và chịu ảnh hưởng bởi hệ thống niềm tin về các linh hồn; phương thức sinh sống của họ “thể hiện trong thái độ tôn trọng thiên nhiên, và phản ánh “vũ trụ quan sinh thái” sinh sống hòa hợp với môi trường tự nhiên “Tuy nhiên, những hiểu biết của họ về môi trường không dễ dàng chuyển tải sang thuật ngữ hiện đại Khái niệm “môi trường” hoàn toàn không có nghĩa đối với người Katu (hay với những dân tộc thiểu số sinh sống ở rừng) Đây là thuật ngữ xa lạ và không thể dịch sang vũ trụ quan bản địa” [Arhem.N, 2009, tr 3-4] Bên cạnh đó, tác giả này cũng đưa ra những bằng chứng chứng minh sự biến đổi trong hệ thống sinh kế bản địa dưới tác động của các chính sách của nhà nước đã dẫn tới những tác động xấu tới môi trường (sự suy giảm tài nguyên rừng, suy thoái đất, ) Nghiên cứu tác động của chương trình giao đất giao rừng đối với văn hóa bản địa của người Cơ-tu ở huyện Nam Đông, Thừa Thiên - Huế [Bayrak, 2010] cho thấy việc giao đất giao rừng cho cộng đồng là một bước đi quay trở lại với truyền thống, ghi nhận các giá trị trong quản lý đất đai của cộng đồng và phát huy vai trò của nó trong thực tiễn
Nghiên cứu của Hồ Viết Hoàng tập trung phân tích sự “thiêng hóa” các khu rừng của người Cơ-tu ở Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế Đề tài này đã xem luật
Trang 30tục là cơ chế quản lý thuần túy của cộng đồng, tách biệt ra khỏi tín ngưỡng, và coi
sự quản lý bằng sự „thiêng hóa‟ - hệ thống thần linh cai quản đất đai, rừng núi, là cấp quản lý cao hơn cả luật tục Tuy nhiên, trên thực tế, sự “thiêng hóa” và các thủ tục nghi lễ mà cộng đồng thực hiện dành cho các vị thần được xem là chế tài trong việc thực thi luật tục [Hồ Viết Hoàng, 2017]
Luật tục của người Cơ-tu cũng như của nhiều dân tộc khu vực Trường Sơn là loại luật tục tồn tại dưới dạng các thực hành xã hội Chính vì vậy, một số học giả đã nghiên cứu những quy định về mặt hành vi trong luật tục Cơ-tu để phát huy những mặt tích cực, ưu điểm và khắc phục những hạn chế, tiến tới loại bỏ “những yếu tố không phù hợp trong quá trình xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh” [Nguyễn Văn Mạnh Nguyễn Xuân Hồng và Nguyễn Hữu Thông, 2001, tr.9; Bùi Quang Thanh, 2008, 2009] Nghiên cứu về luật tục của người Cơ-tu ở Thừa Thiên - Huế, Nguyễn Văn Mạnh và cộng sự cho rằng luật tục của người Cơ-tu cũng như của phần lớn các dân tộc sinh sống ở khu vực Trường Sơn đều “thuộc phạm trù của tri thức bản địa được quy ước hóa qua hành vi” [Nguyễn Văn Mạnh và cộng sự, 2001,
tr 300] Trên quan điểm đó, tác giả cùng với các cộng sự đã triển khai điền dã trên địa bàn huyện Nam Đông để thu thập về các quy ước có tính chất luật tục thông qua các phương pháp: quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân, thống kê xã hội học Kết quả nghiên cứu cho thấy, luật tục trong khai thác và bảo vệ các nguồn tài nguyên rừng, nước và đất của người Cơ-tu ở Nam Đông được thể hiện qua những quy ước cụ thể về hành vi, liên quan chặt chẽ với quan niệm về sở hữu tài nguyên của người dân nơi đó Mặc dù vậy, do nghiên cứu này chú trọng tới những quy ước trước đây trong luật tục nên chưa đề cập tới sự vận động của nó trong bối cảnh đương đại Nghiên cứu của tác giả Bùi Quang Thanh về luật tục của các dân tộc thiểu số miền núi Quảng Nam (Cơ-tu, Gié-triêng, Xơ-đăng, Co) đã chỉ ra những quy định của luật tục nói chung trong việc điều hành quản lý xã hội truyền thống và hiện nay, trong đó có vấn đề sử dụng, bảo vệ các TNTN Kết quả cho thấy, với người Cơ-tu ở địa bàn khảo sát (242 người ở các huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My), luật tục quy định về
Trang 31quyền sở hữu, sử dụng đất và động thực vật ở rừng vẫn còn tồn tại (60,7% ý kiến)
và họ cũng mong muốn duy trì những quy định đó (65,3%) [Bùi Quang Thanh,
2008, 2009, tr.164-165] Tuy nhiên, các nghiên cứu này cũng chưa lý giải vì sao các hành vi trong luật tục truyền thống vẫn còn được thực hành cho đến ngày nay - trong đó có các hành vi được coi là “lạc hậu”, “mê tín dị đoan” theo đánh giá của người bên ngoài Đây sẽ là một trong những vấn đề mà luận án hướng tới phân tích
Bên cạnh đó, luật tục về sử dụng và bảo vệ tài nguyên của người Cơ-tu ở khu vực Thừa Thiên - Huế cũng được đề cập trong nghiên cứu về hệ thống quản lý sinh thái nhân văn và tổ chức xã hội truyền thống [Nguyễn Xuân Hồng, 2002; Trần Thị Mai An, 2014] Trong các nghiên cứu này, luật tục về sử dụng và bảo vệ tài nguyên không phải là nội dung chính mà được giới thiệu sơ lược trong luật tục nói chung của cộng đồng, dưới góc độ là công cụ quản lý cộng đồng của tổ chức xã hội tự quản truyền thống Ở xã hội đó, “làng là cái khung cho sự hình thành và vận hành luật tục” [Nguyễn Xuân Hồng, 2002, tr 57]
Ngoài ra, có rất nhiều báo cáo, công trình nghiên cứu dân tộc học, khái quát các mặt trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Cơ-tu [Bộ tham mưu tối cao quân lực Mỹ, 1966; Phạm Quang Hoan, 1979; Viện Dân tộc học, 1984; Lưu Hùng, 1992, 2005, 2006; Tạ Đức, 2002; Lê Anh Tuấn, 2002; Bh‟riu Liếc, 2009; Le Pichon, 2011; Phan Thị Xuân Bốn, ] Những công trình đó cho thấy người Cơ-tu là dân tộc sinh sống lâu đời ở khu vực Trường Sơn, có nền văn hóa đặc sắc, phong phú và gắn bó chặt chẽ với rừng Đời sống của họ in đậm dấu ấn của cư dân sinh sống ở vùng rừng núi với các hoạt động kinh tế chủ đạo là làm rẫy theo phương thức phát - cốt - đốt - trỉa, săn bắt, hái lượm, với tổ chức xã hội tự quản của
bhươl/làng dựa trên sự đồng thuận của cộng đồng và được vận hành trong mối quan
hệ hài hòa với tự nhiên trên nền tảng thế giới quan “vạn vật hữu linh”
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm
Luật tục
Về mặt ngôn ngữ, “luật tục” là một cụm từ được dịch ra từ các thuật ngữ tiếng
Trang 32Pháp (droit coutumier) hoặc các thuật ngữ tiếng Anh “customary law”, hay còn được gọi là “local law” - luật địa phương, “traditional law” - luật truyền thống, luật dân gian, luật bản địa [Ngô Đức Thịnh, 2000, tr 25; Nguyễn Thị Hiền, 2000; Phan Đăng Nhật, 2011, tr 69] Chính vì gắn với những từ như phong tục (custom) hay truyền thống (traditional) nên có những định kiến coi luật tục là những quy định thuộc về quá khứ mà không có sự thay đổi hay tính thích ứng, tuy nhiên trên thực tế luật tục vẫn có tính linh hoạt và biến đổi qua thời gian [Benda-Beckmann, 2001]
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu phân loại luật tục tồn tại dưới ba dạng chủ yếu, gồm: lời nói vần (văn vần truyền miệng), được ghi chép bằng văn tự và thực hành xã hội Luật tục vừa mang yếu tố của luật pháp, vừa mang tính chất phong tục, tập quán [Ngô Đức Thịnh 1998, 2003b; Nguyễn Văn Mạnh và cộng sự, 2001; Phan Đăng Nhật, 2010a] Trong khi luật tục tồn tại dưới dạng lời nói vần (như luật tục
các dân tộc ở Tây Nguyên, luật tục được ghi chép bằng văn tự (như Hương ước của người Kinh, Hịt khoỏng bản mường của người Thái) đã được nhiều tác giả dày công
nghiên cứu, sưu tầm [Bùi Xuân Đính, 1985; Lê Đức Tiết, 1998; Đào Trí Úc, 2003; Cầm Trọng và Ngô Đức Thịnh, 2003], còn luật tục tồn tại dưới dạng thực hành xã hội - “loại luật tục chiếm đại đa số” - vẫn chưa được nghiên cứu nhiều [Ngô Đức Thịnh, 2000, tr 31-32]
Khái niệm “luật tục” được hiểu theo nhiều cách khác nhau: luật tục là tập quán truyền thống [Lê Sĩ Giáo, 2000, 2003], là tri thức trong quản lý cộng đồng buôn làng [Ngô Đức Thịnh, 2000], là những quy ước trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên [Nguyễn Ngọc Thanh, 2015]… Khái niệm “luật tục” đã được một số học giả định nghĩa chủ yếu nhấn mạnh tới sự hình thành và vai trò của nó, xem đó là kết quả của
sự ứng xử giữa con người với con người và con người với môi trường tự nhiên, nhằm điều chỉnh và điều hòa các quan hệ đó, giúp tạo nên sự thống nhất và cân bằng xã hội Từ phía quan điểm của các chủ thể văn hóa thì “luật tục của họ không phải cái gì thuộc quá khứ mà thuộc cuộc sống hàng ngày Đối với đồng bào, luật tục tượng trưng tính cộng đồng buôn làng, luật tục tiêu biểu các giá trị văn hóa và đạo đức của họ, song luật tục là lối sống của các dân tộc” [Salemink, 2000, tr 21]
Trang 33Về cơ bản, sự tồn tại và phát triển của luật tục dựa trên các nền tảng tự nhiên
và xã hội nhất định Hạt nhân của nó chính là tính đạo đức, tính cộng đồng và niềm tin tín ngưỡng “Trong luật tục có sự giải thích những nghi lễ thiêng liêng tạo nên một bộ phận không tách được của quá trình thi hành Một người vi phạm luật tục, điều đó đồng thời có nghĩa là người đó chống lại một khía cạnh nào mang tính thiêng liêng, thần thánh Vì vậy, kẻ phạm tội không phải chỉ đền bù về mặt vật chất
mà còn phải làm lễ để cầu xin thần linh tha tội” [Nguyễn Thị Hiền, 2000, tr 194] Tác giả Phan Đăng Nhật cũng cho rằng “luật tục bao gồm cả luân lý, đạo đức, phép ứng xử Tuy nhiên nó vẫn có cơ chế tổ chức, có hội đồng để thực hiện việc khen ngợi hoặc trách nhiệm đảm bảo việc thi hành những chuẩn mực xã hội do luật tục đưa ra” [Phan Đăng Nhật, 2011, tr 70] Qua một số định nghĩa trên có thể thấy, luật tục bao gồm cả quy định lẫn bộ máy tổ chức để thực thi và giám sát những quy định đó; đồng thời luật tục cũng bao hàm cả yếu tố niềm tin, trong đó thần linh và sự trừng phạt của thần linh được xem là một chế tài quan trọng trong việc điều chỉnh
hành vi của các thành viên trong cộng đồng Đối với các bhươl của người Cơ-tu ở
huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, luật tục được vận hành bởi sự điều hành của hội đồng già làng và dưới sự dẫn dắt của thế giới quan “vạn vật hữu linh” Già làng cùng với thần linh là những chủ thể đóng vai trò quyết định, điều hòa mối quan hệ giữa các thành viên của cộng đồng trong hành vi sử dụng và bảo vệ TNTN
Tóm lại, đề tài này tiếp cận luật tục dưới góc độ là những quy tắc của cộng đồng địa phương trong sử dụng và bảo vệ TNTN, là hệ tri thức thực hành trong hệ
thống phức hợp hiểu biết - thực hành - niềm tin [Berkes, 2008] Hệ tri thức này có
thể thay đổi để thích nghi qua thời gian: “cả hệ thống quản lý và các thiết chế có thể thích nghi, thay đổi, tan vỡ và có thể được tái tạo” [Berkes, 2008, tr 18] Cụ thể hơn, luật tục của người Cơ-tu là loại hình luật tục tồn tại dưới dạng các thực hành
xã hội, bởi vậy, trong luận án này, NCS xem luật tục là những quy tắc thực hành (rules-in-use) [Berkes, 2008; Ostrom, 2011] của cộng đồng trong việc hành vi nào thì được phép và hành vi nào không được phép trong sử dụng và bảo vệ các nguồn TNTN, kèm theo những chế tài xử lý thưởng phạt tương ứng- cùng với đó là các
Trang 34thiết chế xã hội, nhằm đảm bảo những quy định đưa ra được các thành viên tuân thủ Những quy tắc đó được hình thành trên cơ sở những hiểu biết của cộng đồng về điều kiện tự nhiên mà họ đang sinh sống thông qua quá trình lao động sản xuất để sinh tồn, và trên nền tảng hệ thống niềm tin - thế giới quan của họ Có thể nói, niềm tin về sự tồn tại của các thực thể linh hồn trong tự nhiên có quyết định tới hành vi
sử dụng và bảo vệ tài TNTN là một đặc điểm cốt lõi trong luật tục, là rường cột trong đời sống cộng đồng Nhiều hành vi được phép và không được phép cũng như
sự xử phạt hành vi vi phạm đều dựa thế giới quan đó Đây chính là những khuôn mẫu quy định ngưỡng hành vi cho các thành viên trong cộng đồng
Còn “phong tục” hay “tập quán”, theo định nghĩa trong Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, là “thói quen trên xã hội” hay “theo thói quen mà thành ra vững chắc” [Đào Duy Anh, 1932, tr.125, tr.252] Do vậy, hai khái niệm đó khác “luật tục” ở chỗ nó là những hành vi được hình thành và thực hiện từ nhiều đời, nhưng không phải là loại hành vi có chế tài Chẳng hạn như phong tục canh tác lúa rẫy trải qua các công đoạn “phát, cốt, đốt, trỉa” Tuy nhiên, việc thực hiện hành vi đó ở đâu, phải xin phép ai thì lại thuộc khía cạnh luật tục Điều này sẽ được làm rõ hơn trong nội dung của luận, đặc biệt là ở chương 2
Thiết chế
Theo Từ điển tiếng Việt, “thiết chế” là “những quy định, luật lệ của một chế
độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo” [Viện Ngôn ngữ học, 2006, tr 932] Một
số định nghĩa, nghiên cứu khác lại phân chia thiết chế thành hai loại: chính thức và phi chính thức Theo Bách khoa toàn thư Britannica, trong khoa học chính trị, “thiết chế/thể chế” (institution) được hiểu là “một hệ thống các luật chính thức (bao gồm
cả hiến pháp), các quy tắc phi chính thức hay những hiểu biết được chia sẻ quy định
và bắt buộc trong tương tác giữa các tác nhân chính trị với nhau” [Encyclopædia Britannica online] Hay theo một tác giả khác thì “Các thiết chế là những quy định chính thức và phi chính thức về việc ai đưa ra quyết định, tuân theo quy trình nào, những hành động nào được cho phép, những thông tin nào cần được cung cấp và phần thưởng sẽ dành cho ai Các thiết chế chính thức bao gồm các quy tắc thành
Trang 35văn như hiến pháp, luật pháp Trong khi đó, các thiết chế phi chính thức là những quy định về chuẩn mực hành vi trong xã hội, gia đình hay cộng đồng, và bao gồm
sự thưởng phạt, cấm kỵ, truyền thống và chuẩn mực đạo đức” [Mowo và các cộng
sự, 2011, tr 2]
Khái niệm “thiết chế” gắn liền với khái niệm “thiết chế xã hội”, đây là “khái niệm chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động của xã hội Nhờ các tổ chức xã hội mà các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng” [Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, 2005, tr 231] Như vậy, luật tục của cộng đồng, khi chưa có nhà nước thống nhất thì nó là thiết chế chính thức, là chuẩn mực cao nhất về hành vi của cộng đồng, nhưng trong bối cảnh các nhà nước đương đại, nó lại trở thành hình thức thiết chế phi chính thức, hay được xem là những thiết chế địa phương
Tài nguyên thiên nhiên
Theo định nghĩa của Từ điển bách khoa Việt Nam, TNTN được chia thành các loại là: tập hợp các nguồn năng lượng (năng lượng Mặt Trời, năng lượng gió, năng lượng thuỷ triều và năng lượng của các con sông, nhiệt trong lòng đất), không khí, nước, đất đai, khoáng sản, nguồn thế giới sinh vật (động vật, thực vật) [Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, 2005, tr 31] Dưới góc độ là một nghiên cứu về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của dân tộc Cơ-
tu sinh sống lâu đời trong môi trường rừng núi thuộc dãy Trường Sơn Nam, nghiên cứu này tập trung tìm hiểu và phân tích những quy tắc trong sử dụng và bảo vệ các loại tài nguyên đất, rừng (các loài động thực vật) và nước Đây cũng chính là ba yếu
tố cơ bản của hệ sinh thái rừng theo như định nghĩa trong khoản 3, điều I của Luật BV&PTR năm 2004 Mặc dù được tách bạch thành 3 loại tài nguyên như trên để dễ nhìn nhận nhưng trong tổng thể vẫn thuộc hệ sinh thái rừng nói chung
Sở hữu và sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Về mặt từ vựng, “sở hữu” có nghĩa là “những cái mình có” - cái thuộc về mình [Đào Duy Anh, 1932, tr 204] Về mối quan hệ giữa con người với nhau liên quan tới tài sản nói chung trong một xã hội nhất định, thì sở hữu được xem là quyền
Trang 36quan trọng nhất, có thể nói là mấu chốt trong việc đưa ra các quyết định khác liên quan đến tài sản đó Theo như điều 164, Luật Dân sự Việt Nam năm 2005 thì người nắm quyền sở hữu có quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng Cũng theo bộ luật này, điều 192 thì quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng lợi tài sản Các quyền đó, đặc biệt là quyền sở hữu về TNTN thường gắn với những chủ thể nhất định được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật Ở Việt Nam, từ trong lịch sử cho tới nay đều tồn tại hai lớp sở hữu về đất đai là là lớp
sở hữu tối cao (trước đây thuộc về nhà vua, sở hữu nhà nước thời kỳ tập thể hóa nông nghiệp và sở hữu toàn dân từ năm 1988) và lớp sở hữu thực (sở hữu nhà nước;
sở hữu của làng xã, cộng đồng; sở hữu tư nhân; sở hữu tập thể và sau năm 1988 cụ thể hóa thêm là sở hữu của cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức) [Nguyễn Văn Sửu,
2010, tr 45-62] Và trên thực tế, các mối quan hệ xung quanh lớp sở hữu thực đó rất
đa dạng theo quan niệm và thực hành ở mỗi cộng đồng, trong các bối cảnh kinh tế -
xã hội khác nhau
Bhươl
Trong tiếng Cơ-tu, có nhiều cách gọi để chỉ một đơn vị cư trú truyền thống
tùy theo từng vùng, như vel/vil, bhươl hay c’rơnoon, tương đương với cách gọi
“làng” như trong tiếng Kinh Những danh từ chung đó khi được kết hợp với tên riêng ở mỗi địa bàn sẽ góp phần xác định lai lịch của một cá nhân Cách gọi đó để định danh địa vực cư trú, đồng thời cũng để chỉ tổ chức xã hội cao nhất trong thiết chế tự quản truyền thống của cộng đồng Ở khu vực xã Tr‟hy, huyện Tây Giang,
bhươl là cách gọi thông dụng nhất Tuy nhiên, để tránh sự trùng lặp, đôi khi luận án
sẽ sử dụng từ “làng” thay thế cho “bhươl”
Trang 37vi nào được phép và không được phép trong sử dụng, bảo vệ TNTN; nhìn nhận và phân tích sự thay đổi của luật tục; và cuối cùng là luật tục có thể kết hợp như thế nào trong bối cảnh luật pháp nhà nước về quản lý, bảo vệ TNTN Để giải quyết ba vấn đề trên, luận án chọn áp dụng một số luận điểm trong thế giới quan bản địa, lý thuyết sinh thái chính trị và những quy tắc giúp quản trị tài nguyên thành công ở cấp cộng đồng của Elinor Ostrom để làm cơ sở lý luận soi chiếu
Thế giới quan bản địa trong ứng xử với tự nhiên
Từ lâu, việc lý giải văn hóa ứng xử với tự nhiên ở các nền văn hóa đã làm nảy sinh cuộc tranh luận giữa những quan điểm khác nhau về thế giới quan trong việc nhìn nhận tự nhiên và văn hóa, môi trường và con người, cụ thể hơn là cách con người khai thác, sử dụng và bảo vệ TNTN theo những cách nào và vì sao lại như thế Theo quan điểm nhị phân, văn hóa và tự nhiên là hai khái niệm tách biệt, là mối quan hệ “chủ thể” và “khách thể” (được củng cố và phát triển bởi trường phái cấu trúc Pháp dưới sự khởi xướng của Lévi - Strauss cho rằng các cặp đối lập luôn tồn tại trong tư duy loài người: tự nhiên/văn hóa, nam/nữ, ngày/đêm…) Trên quan điểm đó, tự nhiên được coi là nguồn tài nguyên bị “tận dụng, điều khiển, sở hữu, cai trị, quản lý và được chăm sóc bởi con người” [Sutton và Anderson, 2010; Bird-David, 2004, tr 465] Và do đó, hành vi của con người sẽ là khai thác, chế ngự và chiếm lĩnh tự nhiên để phục vụ cho các nhu cầu trong đời sống
Nhưng quan điểm trên không phải là quan điểm của mọi cộng đồng cư dân Nhiều nghiên cứu điền dã dân tộc học (của Ingold và Dwyer ở các cộng đồng sinh sống bằng nghề săn bắt hái lượm; phân tích của Bird-David về phép ẩn dụ giữa con người với tự nhiên ở các tộc người Cree ở Canada, thổ dân Úc, người lùn ở châu Phi, người Nayaka ở Nam Ấn…) và nhiều nghiên cứu khác tại các xã hội có nền kinh tế săn bắt, hái lượm là chủ đạo đã minh chứng rằng trong thế giới quan của nhiều nhóm cư dân không có sự phân chia giữa tự nhiên và văn hóa, mà họ coi tự nhiên cũng là con người, là văn hóa và ngược lại [Ingold, 2000; Berkes 2008; Arhem.K, 2004, 2010; Bùi Quang Thắng, 2008] Đó là mối quan hệ “chủ thể” -
“chủ thể” hay còn gọi là “liên chủ thể” Các nhà khoa học gọi thế giới quan đó dưới
Trang 38nhiều tên gọi khác nhau như “vũ trụ quan sinh thái” [Croll và Parkin, 1992; Arhem.K, 1996] hay “sinh thái học tinh thần” [Sponsel, 2007], hay “sinh thái học thiêng” [Berkes, 2008] hoặc “cảnh quan tinh thần” [Allerton, 2009] Theo loại hình tri nhận này, sự phân loài trong tự nhiên được dùng để gán cho sự phân loại các đơn
vị xã hội (totemism) và ngược lại, các đặc điểm xã hội lại được gán cho các loài trong tự nhiên (animism) - đây được coi là hai mặt thống nhất trong “vũ trụ quan sinh thái” Ở đây, đặc tính của giữa tự nhiên và xã hội được hoán đổi cho nhau, tự nhiên và xã hội không phải là hai thể tách bạch riêng biệt mà là sự nối dài mang tính tiếp tục Cụ thể, “thuyết vật linh và thuyết tô tem là sự bổ sung cho nhau để thấu hiểu thực tế và gắn kết con người với môi trường của họ, một thuyết thì dùng hình ảnh tự nhiên để gán cho xã hội con người, một thuyết thì dùng mô tả xã hội để xây dựng trật tự tự nhiên Cả hai đều tạo nên một vũ trụ quan sinh thái tổng thể, tích hợp tri thức thực hành và giá trị đạo đức Với tư cách là một tư tưởng văn hóa tổng thể,
vũ trụ quan sinh thái định hình nhận thức, chỉ dẫn thực hành và cung cấp sự hướng dẫn có ý nghĩa cho đời sống” [Arhem.K, 1996, tr 186]
“Vạn vật hữu linh” được xem là một trong những loại hình tôn giáo sơ khai, nhưng gần đây, dưới nhìn nhận của học giả Philippe Descola, nó được làm mới và được xem là một trong bốn loại hình bản thể luận về mối quan hệ giữa con người và
tự nhiên [Descola, 2013] Descola đã xây dựng một khung lý thuyết - một giản đồ nhận thức nhằm khái quát hóa những trải nghiệm trong đó con người nhận thức và giải thích thực tại - để đưa ra hiểu biết khách quan về những chủ thể khác nhau, tránh sự phân biệt chủ thể - khách thể theo chủ nghĩa nhị nguyên Theo quan điểm này, con người là một phần trong môi trường tự nhiên, các loài sinh vật như cây cối, động vật cũng được xem như là những chủ thể ngang hàng với con người, bởi vậy mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là mối quan hệ mang tính xã hội hay là mối quan hệ giữa chủ thể - chủ thể, có sự trao đổi qua lại lẫn nhau [Arhem.K, 2016] Chính vì thế, con người có lối sống hài hòa, biết ơn tự nhiên Trong nhiều trường hợp, tự nhiên được “thiêng hóa”, được xem là tài sản của các thực thể siêu nhiên, trong đó con người phải có lối ứng xử thích hợp thì mới nhận được sự giúp đỡ, phù
Trang 39trợ của các thế lực đó Quan điểm này có sự tương đồng với tiếp cận sinh thái tinh thần (spiritual ecology) khi cho rằng các cuộc khủng hoảng môi trường chỉ có thể cải thiện khi con người thay đổi thế giới quan, thái độ, giá trị và hành vi của mình đối với tự nhiên “không tôn giáo đơn thuần nào được xem là nguyên nhân hay giải pháp của khủng hoảng sinh thái, nhưng có thể áp dụng những thực hành tôn giáo/tinh thần đó để phát triển sự định hướng và đạo đức thân thiện với môi trường hơn” [Sponsel, 2007] Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng không gian thiêng (rừng núi, sông…) của cộng đồng, cấm các hoạt động chặt phá cây cối, đánh bắt cá… chính là những khu vực bảo tồn sinh thái cho cộng đồng đó [Byers, Cunliff và Hudak, 2001; Arhem.N, 2014; Arhem.K 2009]
Quan điểm này gần gũi với mô hình “chủ nghĩa công xã/cộng đồng” (communalism) trong mối quan hệ con người - tự nhiên mà Gílsi Pálsson đã phân biệt [Pálsson, 2004] Theo Pálsson, trong mô hình này, nhiều cộng đồng không tách biệt giữa tự nhiên - xã hội/ khách thể - chủ thể mà nhấn mạnh tới sự đối thoại giữa con người và tự nhiên, theo đó, sự ứng xử với tự nhiên là sự ứng xử dựa trên những quy tắc về mặt đạo đức, chuẩn mực xã hội Bên cạnh đó, tác giả này cũng phân biệt hai mô hình nữa, đó là mô hình “chủ nghĩa phương Đông” (Orientalism) và mô hình
“chủ nghĩa gia trưởng” (Paternalism) Mô hình “chủ nghĩa phương Đông” là một trong những sản phẩm của sự phát triển về khoa học kỹ thuật thời kỳ Phục Hưng
Mô hình này coi con người có nhiệm vụ khám phá, chinh phục và khai thác môi trường cho các mục đích đa dạng về sản xuất, tiêu thụ Nó nhấn mạnh tới hành vi khai thác và chế ngự tự nhiên và là mô hình điển hình cho thời kỳ thuộc địa Quản
lý tài nguyên trong bối cảnh này chính là sự quản lý về chuyên môn, là sự phân loại của khoa học tự nhiên đối với thế giới vật chất mà không bị tác động bởi những cân nhắc mang tính đạo đức Mô hình “chủ nghĩa gia trưởng” giống với mô hình “chủ nghĩa phương Đông” quan điểm cho rằng con người kiểm soát tự nhiên và can thiệp vào tự nhiên thông qua hệ thống phân loại khoa học Nhưng bên cạnh đó, loài người
có cũng có trách nhiệm không chỉ với giống loài mình mà còn với các loài khác Vì thế, bên cạnh hoạt động khai thác tự nhiên còn là bảo vệ tự nhiên Đây là mô hình
Trang 40điển hình ở nhiều quốc gia thời hậu thuộc địa, trong đó có Việt Nam Hai mô hình sau là hiện thân của thế giới quan “nhị nguyên”, trong khi đó mô hình “chủ nghĩa cộng đồng” lại thể hiện thế giới quan liên chủ thể như đã đề cập ở trên
Như vậy, cách tiếp cận thế giới quan bản địa cho rằng, từ nhận thức khác nhau dẫn tới hành vi cũng khác nhau Và bản thể luận “vạn vật hữu linh” hay “vũ trụ quan sinh thái” chính là cơ sở để giải thích cho nhiều quy tắc về hành vi được phép hay không được phép sử dụng một loại TNTN nào đó của nhiều cộng đồng cư dân địa phương Theo đó, trong quan điểm này, TNTN không phải là tài sản sở hữu của con người mà là những tồn tại khác của tự nhiên, và với việc “thiêng hóa” nó, việc thực hiện các hành vi sử dụng và bảo vệ TNTN diễn ra dưới sự theo dõi, giám sát của các vị thần trong tự nhiên Đây chính là điều cốt lõi trong luật tục của các dân tộc có thế giới quan “vạn vật hữu linh”
Sinh thái chính trị
Để nhìn nhận, lý giải những thay đổi trong đời sống của cộng đồng địa phương trong bối cảnh chuyển đổi sang thể chế quản lý tài nguyên của quốc gia, cách tiếp cận sinh thái chính trị cũng được vận dụng Bởi vì ở đây, bên cạnh những yếu tố tự nhiên và văn hóa, trong xã hội truyền thống đã xuất hiện thêm những yếu
tố mới bên ngoài tác động, đó là sự can thiệp của nhà nước và sự phát triển của kinh
tế hàng hóa Trong bối cảnh mới này, yếu tố chính trị và kinh tế cần được đưa vào
để phân tích, bởi vì đây được xem là những nhân tố có tác động rất lớn tới sự thay đổi về nhận thức và hành vi của con người trong khai thác, bảo vệ TNTN Nhất là đối với nhiều cộng đồng địa phương, quá trình ban hành và thực thi những quy định mới theo luật pháp nhà nước về quản lý, khai thác TNTN cũng chính là một quá trình thay đổi mô hình quản lý và thế giới quan trong nhìn nhận và ứng xử với môi trường tự nhiên
Từ những năm 1970 trở lại đây, bối cảnh lịch sử thay đổi, khi có sự xuất hiện của các xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa cùng với sự ra đời của các công ty đa quốc gia, sự phát triển của mạng lưới thông tin (internet), quá trình di cư và đan xen dân cư giữa các dân tộc có nền văn hóa khác nhau Bối cảnh đó đã làm thay đổi ít