1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi của trẻ nghiên cứu trường hợp trẻ

129 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 3,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy việc nghiên cứu đặc điểm mối quan hệ gắn bó mẹ con, các đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ và tác động của gắn bó mẹ con đến quá trình phát tri ển, nguyên nhân xuất hiê ̣n nhữ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THI ̣ NHUNG

GẮN BÓ MẸ CON VÀ VẤN ĐỀ HÀNH VI CỦA TRẺ:

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRẺ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội-2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THI ̣ NHUNG

GẮN BÓ MẸ CON VÀ VẤN ĐỀ HÀNH VI CỦA TRẺ:

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRẺ

Chuyên ngành Tâm lý lâm sàng

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Trần Thu Hương

Hà Nội–2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trần Thu Hương Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Người cam đoan

Nguyễn Thi ̣ Nhung

Trang 4

LờI CảM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Trần Thu Hương - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đang công tác, giảng dạy tại khoa Tâm lí học – Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, giảng dạy và cung cấp cho tôi rất nhiều kiến thức trong hai năm học vừa qua

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn bè cùng khoá đã giúp đỡ tôi theo sát ca và cung cấp các thông tin cần thiết cho đề tài, cảm ơn cha mẹ hai trẻ tại Hà Nội đã ủng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình quan sát

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự quan tâm của gia đình, bạn bè và người thân đã ủng hộ, khuyến khích và động viên tôi để bản Luận văn được hoàn thành

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2019

Học viên

Nguyễn Thi ̣ Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Khách thể nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GẮN BÓ MẸ CON 6

VÀ CÁC VẤN ĐỀ HÀNH VI Ở TRẺ 6

1.1 Tổng quan về gắn bo ́ me ̣ con và vấn đề hành vi của trẻ 6

1.1.1.Điểm luận một số nghiên cứu về về gắn bó mẹ con 6

1.1.2.Điểm luâ ̣n một số nghiên cứu về vấn đề hành vi 11

1.1.3.Các nghiên cứu về đánh giá và can thiệp liên quan đến gắn bó và vấn đề hành vi của trẻ 13 1.2 Một số vấn đề lý luận về gắn bó và vấn đề hành vi ở trẻ 22

1.2.1.Các khái niệm cơ bản về gắn bó 22

1.2.2.Các khái niệm về vấn đề hành vi ở trẻ 28

1.2.3.Đặc điểm phát triển của trẻ từ giai đoạn 3 đến 6 tuổi 30

1.2.4.Những yếu tố ảnh hưởng đến gắn bó mẹ con 33

1.3 Các phương pháp đánh giá và can thiệp vấn đề hành vi liên quan đến gắn bó 35 1.3.1.Liệu pháp gia đình tập trung vào cảm xúc 35

1.3.2.Liê ̣u pháp kể chuyê ̣n gắn bó: tích hợp các ý tưởng từ lý thuyết kể chuyê ̣n và gắn bó trong liệu pháp gia đình có hệ thống với các rối loạn hành vi 36

Chương 2 ĐÁNH GIÁ VÀ CAN THIỆP MỘT TRƯỜNG HỢP VỀGẮN BÓ MẸ CON Ở TRẺ 38

2.1 Thông tin chung về thân chủ 38

2.1.1.Thông tin hành chính 38

2.1.2.Lý do thăm khám/ lời yêu cầu 38

2.1.3.Hoàn cảnh gặp gỡ 38

2.2 Đánh giá 39

Trang 6

2.2.1 Mô tả vấn đề 39

2.2.2 Kết quả đánh giá 39

2.2.3 Ấn tượng chung về thân chủ 53

2.3 Các vấn đề đạo đức 54

2.3.1 Đạo đức trong tiếp nhận ca lâm sàng 54

2.3.2 Đạo đức trong việc sử dụng các công cụ đánh giá và thực hiện quy trình đánh giá 54

2.2.3 Đạo đức trong can thiệp trị liệu 55

2.3.4 Định hình trường hợp 55

2.4 Lập kế hoạch can thiệp 59

2.4.1 Xác định mục tiêu 59

2.4.2 Kế hoạch can thiệp 60

2.5 Thực hiện can thiệp 61

2.5.1 Giai đoạn 1 61

2.5.2 Giai đoạn 2 66

2.6 Đánh giá hiệu quả can thiệp 74

2.6.1 Cách thức đánh giá hiệu quả can thiệp 74

2.6.2 Kết quả đánh giá 74

2.7 Kết thúc ca và theo dõi sau can thiệp 81

2.7.1 Tình trạng hiện thời của thân chủ 81

2.7.2 Kế hoạch theo dõi sau trị liệu 82

2.8 Bàn luận chung 82

2.8.1 Bàn luận về ca lâm sàng đã thực hiện 82

2.8.2 Tự đánh giá về chất lượng can thiệp trị liệu 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 93

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.3.1 Quá trình định hình chiến lươ ̣c không an toàn 36 Hình 2.3.1: Kết quả trắc nghiê ̣m khuôn hình phức hợp - the Rey B 44 Hình 2.3.2 Tranh vẽ gia đình 45

Trang 8

DANH MỤC TÊN VIẾT TẮT

VIẾT TẮT CHỮ ĐẦY ĐỦ

NTL Nhà tâm lý

TC Thân chủ

GVHD Giáo viên hướng dẫn

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mối liên hệ giữa mẹ và con đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển sức khỏe, tình cảm của trẻ, đặc biệt là trong thời thơ ấu Thật vậy, người mẹ không những mang nặng đẻ đau, bảo vệ thai nhi trong suốt thai kỳ, sau đó người mẹ có vai trò tiếp diễn duy trì sự tồn tại và phát triển của trẻ trong giai đoạn tiếp theo Từ lúc trẻ chào đời, người mẹ với vai trò là người chăm sóc cho trẻ ăn, cho trẻ ngủ, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của trẻ, bao bọc, bế ẵm trẻ, người mẹ như một sợi dây liên kết giữa trẻ với thế giới và với các mối quan hê ̣ khác Sự gắn bó mẹ - con được xem như mối quan hệ xã hội đầu tiên của trẻ, sự gắn bó giữa trẻ và me ̣ (người chăm sóc) bảo vệ, giúp trẻ sơ sinh điều chỉnh cảm xúc tiêu cực trước những sự kiện , tình huống gây căng thẳng , giúp trẻ tự tin khám phá môi trường ngay cả khi ở đó có chứa những kích thích đáng sợ Sự gắn bó như mô ̣t cô ̣t mốc phát triển lớn trong cuô ̣c đời của trẻ và là vấn đề quan tro ̣ng trong suốt quá trình t rưởng thành của mỗi người Ở tuổi trưởng thành , các đặc điểm về sự gắn bó định hình nhân cách , cảm nhâ ̣n của ho ̣ về các căng thẳng , các mối quan hệ thân thiết trong cuộc sống , bao gồm cả các mối quan hê ̣ cha me ̣ – con cái, quan hê ̣ ba ̣n bè , với ba ̣n đời và cả cách

họ nhìn nhận về bản thân Chính vì vậy, những người hoa ̣t đô ̣ng trong những lĩnh vực liên quan đến trẻ em như bác sĩ tâm thần, nhân viên công tác xã hội, giáo dục, không thể bỏ qua vai trò của sự gắn bó và áp dụng những nguyên tắc, đặc điểm của sự gắn bó vào quá trình làm việc với đối tượng trẻ em, đặc biệt là trong lĩnh vực tâm

lý lâm sàng và sức khỏe tâm thần nhi khoa Để hiểu rõ được sự ảnh hưởng của sự gắn bó me ̣ – con đến quá trình phát triển tâm lý trẻ em và những vấn đề hành vi thì cần quan tâm đến nh ững đặc điểm về sự gắn bó mẹ con, từ đó có thể hiểu rõ nhưng nguyên tắc, các yếu tố gây ảnh hưởng và đưa ra những biện pháp tác động tâm lý phù hợp

Hơn nữa theo số liệu điều tra về gia đình Việt Nam của tổ chức UNICEF cho thấy, 20% các ông bố và 7 % các bà mẹ hoàn toàn không dành một chút thời gian nào cho chăm sóc con cái do phải kiếm sống Việc bố, mẹ không quan tâm chăm sóc, dạy dỗ con cái ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể chất và tâm lý của trẻ ,

Trang 10

đặc biệt là với giai đoạn ấu nhi rất cần đến sự quan tâm gắn kết với người mẹ Do vậy việc nghiên cứu đặc điểm mối quan hệ gắn bó mẹ con, các đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ và tác động của gắn bó mẹ con đến quá trình phát tri ển, nguyên nhân xuất hiê ̣n những vấn đề hành vi ở trẻ để có thể đưa ra những biện pháp tác động phù hợp, và có cách nhìn nhận toàn diện về vấn đề Với những lý do trên nên tôi quyết

định nghiên cứu đề tài: “Gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi của trẻ: nghiên cứu trường hợp trẻ”

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Điểm luận một số nghiên cứu về gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi ở trẻ em

- Trình bày cơ sở lý luận, đánh giá chẩn đoán về gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi ở trẻ; thực hiện can thiệp vấn đề hành vi cho trẻ, đánh giá hiệu quả can thiệp, đưa ra kết luận và khuyến nghị phù hợp cho vấn đề hành vi trên cơ sở nghiên cứu và thực hành

3 Khách thể nghiên cứu: 1 trẻ 6 tuổi có vấn đề về hành vi liên quan đến gắn bó mẹ con và các mối quan hệ gia đình

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích tài liệu

Chúng tôi tiến hành tìm hiểu,thu thập thông tin những tài liệu chuyên ngành, các công trình khoa học có các lý thuyết nghiên cứu về gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi của trẻ, mối quan hệ giữa gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi của trẻ, sự ảnh hưởng của gắn bó mẹ con đến quá trình phát triển tâm lý của trẻ Từ đó, phân tích, tổng hợp, xây dựng đề cương nghiên cứu, cơ sở lý luận cho đề tài

- Phương pháp hỏi chuyện lâm sàng

Hỏi chuyện lâm sàng hay phỏng vấn lâm sàng được coi là một phương pháp chủ đạo, mang tính đặc thù của Tâm lý học lâm sàng Đây là một trong những phương pháp thể hiện sự sáng tạo của nhà tâm lý lâm sàng trong nghiên cứu cũng như trong thực hành thăm khám và trị liệu

Hỏi chuyện lâm sàng là một phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ sở của mối tương tác nghề nghiệp đặc biệt giữa nhà tâm lý và khách thể nghiên cứu nhằm làm rõ các đặc điểm nhân cách, các biểu hiện nhận thức, cảm xúc hành vi

Trang 11

cũng như các triệu chứng, các cơ chế tâm lý và cấu trúc rối loạn/ vấn đề của họ để

hỗ trợ việc lập kế hoạch và đưa ra quyết định can thiệp phù hợp

Thông qua hỏi chuyện lâm sàng, nhà nghiên cứu cũng có thể thăm dò các phản ứng của khách thể nghiên cứu và những người liên quan trong những tình huống nhất định

Mục đích cơ bản của hỏi chuyện lâm sàng nhằm đánh giá, nhận thức, cảm xúc hành vi cũng như các đặc điểm nhân cách của khách thể nghiên cứu, phân tích

và sắp xếp chúng vào một hiện tượng tâm lý hoặc tâm bệnh lý nào đó với các tiêu chí như loại hình, mức độ Hỏi chuyện lâm sàng không chỉ nhằm lắng nghe những than phiền của trẻ và những người liên quan, về vấn đề của trẻ mà còn làm rõ động

cơ tiềm ẩn và các cơ chế tâm lý bên trong của trẻ, cũng như trợ giúp tâm lý khẩn cấp đối với những trường hợp cần thiết Do vậy, hỏi chuyện lâm sàng không chỉ có chức năng chẩn đoán mà còn là bước trị liệu ban đầu Đây là hai chức năng được thực hiện song song trong quá trình làm việc với khách thể nghiên cứu Bằng cách này, nhà nghiên cứu thu thập được những thông tin cần thiết cho việc chẩn đoán, đánh giá đồng thời có thể trợ giúp bước đầu cho trẻ và những người liên quan đến vấn đề của trẻ

Trong quá trình hỏi chuyện lâm sàng, đã cung cấp thêm cho chúng tôi những thông tin quan trọng như tiểu sử cuộc đời, quá trình bệnh sử, những sự kiện quan trọng,… giúp chúng tôi xây dựng một bức tranh hoàn thiện hơn về trẻ

- Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là một công cụ lâm sàng thuộc nhóm các phương pháp

mô tả, được sử dụng đặc trưng trong nghiên cứu lâm sàng Phương pháp quan sát lâm sàng là phương pháp dựa trên việc tri giác những biểu hiện sinh động ở mặt nhận thức, thái độ, cảm xúc, hành vi, các cơ chế phòng vệ của trẻ trong những bối cảnh khác nhau giúp nhà nghiên cứu có thể nhìn thấy những biểu hiện thực tế của các quá trình và trạng thái tâm lý cũng như những vấn đề/ rối loạn của khách thể trong những tình huống cụ thể và trong các mối tương tác với những người xung quanh Bằng phương pháp quan sát, nhà nghiên cứu có thể thu thập được cả những thông tin mang tính định tính và những thông tin mang tính định lượng

Trang 12

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp

Nghiên cứu trường hợp là một trong những cách tiếp cận đặc trưng nhất của nghiên cứu lâm sàng Nhà nghiên cứu tìm hiểu, mô tả, phát hiện, xây dựng chân dung tâm lý của một cá nhân hoặc một vài cá nhân Nghiên cứu trường hợp là thu thập thông tin và sắp xếp, mô tả nó theo một logic nào đó (có thể theo thời gian diễn biến của các sự kiện, hiện tượng; cũng có thể sắp xếp theo trật tự mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng) bằng cách tìm hiểu và mô tả tiểu sử, tiền sử, hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, các sự kiện, hiện tượng diễn ra trong cuộc đời, các mối quan

hệ và cả những diễn biến nhận thức, thái độ, xúc cảm, cơ chế phòng vệ, hành vi của chủ thể Những thông tin về đối tường nghiên cứu mà nhà tâm lý lâm sàng thu thập được có thể có nhiều nguồn gốc khác nhau: từ chính chủ thể, từ người thân, bác sĩ điều trị, từ bạn bè, người quen của chủ thể nghiên cứu Thông qua việc tìm hiểu, mô

tả tiểu sử, tiền sử nhà tâm lý lâm sàng tập hợp một lượng lớn thông tin cho phép họ sắp xếp lại và có thể so sánh những thông tin khác nhau từ những nguồn khác nhau

về cũng một sự kiện, hiện tượng diễn ra trong đời sống của chủ thể nghiên cứu, từ

đó phát hiện, nhận định riêng về các yếu tố của chủ thể nghiên cứu

- Trắc nghiệm phóng chiếu

Trắc nghiệm phóng chiếu mà chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu này là trắc nghiệm chủ đề giành cho trẻ em – CAT Trắc nghiệm CAT có khả năng huy động những hành vi ứng xử liên quan đến hiện tượng chuyển tiếp, thường được gợi lên trong mọi tình huống phóng chiếu: trên thực tế, với trẻ phải kể một câu chuyện về các bức tranh, chúng cần phải hòa nhập với những con vật có hình người bằng cách sáng tạo ra một hoạt cảnh phù hợp với những lớp nền tri giác và ẩn tàng

Trắc nghiệm CAT bao gồm 10 bức tranh màu đen trắng hơi mờ nhạt Trong

10 bức tranh này, người ta thấy hiện hữu những con vật quen thuộc và hoang dã, thay đổi từ bức này sang bức khác

- Phương pháp phân tích tranh vẽ

Phương pháp phân tích tranh vẽ dựa trên nền tảng lý luận của lý thuyết về mối quan hệ giữa tâm lý và sự vận động cơ của I.M.Xechenov và lý thuyết về cơ chế phóng chiếu tâm lý của S.Freud

Trang 13

Từ đó mà tranh vẽ là một trong những phương pháp phóng chiếu dựa trên hình thức biểu đạt tâm lý bằng hình ảnh, biểu tượng Khi vẽ một đối tượng nào đó chủ thể có thể tỏ thái độ của mình đối với đối tượng của mình đối với đối tượng đó một cách vô thức hoặc cũng có thể có ý thức Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành phân tích tranh vẽ của trẻ với mục đích lý giải những dấu hiệu lâm sàng quan sát được, và làm rõ các mối quan hệ của trẻ từ sự biểu đạt qua tranh

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GẮN BÓ MẸ CON

VÀ CÁC VẤN ĐỀ HÀNH VI Ở TRẺ 1.1 Tổng quan về gắn bo ́ me ̣ con và vấn đề hành vi của trẻ

1.1.1 Điểm luận một số nghiên cứu về về gắn bó mẹ con

Đầu tiên phải nhắc đến hai quan điểm lớn của Sigmund Freud đưa ra: Một là những năm ít ỏi đầu tiên của cuộc đời là những năm quan trọng nhất đối với sự hình thành nhân cách Hai là sự phát triển đó bao gồm những giai đoạn tâm lý tính dục Theo ông một hành vi có thể được hiểu chỉ khi người ta biết nó phát triển ra sao trong lịch sử thời thơ ấu của người đó Cả hành vi bình thường và hành vi bất thường đều có gốc rễ trong những năm đầu khi mà cấu trúc nhân cách được thiết lập Những tương tác sớm giữa các xung năng của trẻ và môi trường xã hội đề ra

mô hình cho học tập sau này, cho sự thích nghi xã hội và sự đương đầu với lo hãi

Từ những nền tảng lý thuyết phân tâm học cổ điển của Freud mà sau này nhiều nhà tâm lý học khác đã đề cập đến vai trò của người mẹ trong các nghiên cứu của mình như Magaret Mahler, Anna Freud (Patricia H.Miler, 2003, tr.112)

Trong lý thuyết giai đoạn phát triển của Erikson, ở giai đoạn đầu tiên – Tin cậy cơ bản mặt kia là không tin cậy cơ bản (0 – 1 tuổi), đặc biệt nhấn mạnh vai trò của người mẹ là quan trọng hơn tất cả, người mẹ tạo nên lòng tin của đứa trẻ bằng cách đáp ứng những nhu cầu đầu của đứa trẻ thông qua những biểu hiện của đứa trẻ

“có thể đoán được là đói cho nó ăn, động viên khi nó đau buồn” Trong quan điểm

của ông cũng nêu lên rằng, về phía tương tác của người mẹ cần phải có sự tin cậy vào bản thân như một người thân thích và tin vào ý nghĩa vai trò chăm sóc của mình Nếu một sự không tin cậy nào đó xuất hiện có thể dẫn đến hệ quả xuất hiện ở

cả đứa trẻ, hoặc cả lúc đứa trẻ thành người lớn có thể bị hẫng hụt, thu mình lại hoặc nghi hoặc, mất đi lòng tin Cụ thể, ông cũng nhắc đến những trải nghiệm về môi miệng – mút, cắn, mọc răng và cai sữa – là những nguyên mẫu cho phương thức tâm lý xã hội về nhận và cho (Patricia H.Miler, 2003, tr.162)

Anna Freud trong quá trình theo dõi sự phát triển của trẻ mồ côi trong chiến tranh được nuôi dưỡng trong các trại trẻ mồ côi, bà phát hiện ra rằng những đứa trẻ

Trang 15

này gặp khó khăn khi thiết lập các mối quan hệ xã hội, và những vấn đề này có thể chuyển tiếp sang các giai đoạn sau (Trương Khánh Hà, 2013, tr.87)

Từ lý thuyết cấu trúc tâm trí của Freud, Mahler phát triển một lý thuyết mới nhằm tập trung vào tương tác mẹ - con trong ba năm đầu đời, do đó bổ sung cho các

lý thuyết giai đoạn tâm lý của Freud và giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của Erikson

Bà tin rằng mối quan hệ mẹ con bắt đầu với giai đoạn một thực thể mà bà gọi là cộng sinh (symbiosis).Từ đó trẻ mới dần tách ra và hình thành bản sắc cá nhân riêng Để có thể làm được điều này, trẻ phải nội tâm hóa mối quan hệ với mẹ, phải được tạo cảm giác kết nối với mẹ trong khi vẫn phát triển khả năng tự chủ của mình Rối nhiễu trong quá trình này sẽ dẫn đến mâu thuẫn kéo dài ở giai đoạn sau, bao gồm lo âu chia

ly và trở ngại trong việc xây dựng bản sắc an toàn cho cá nhân Như vậy, việc hoàn thành thành công các giai đoạn trong những năm đầu tiên của cuộc sống dẫn đến sự tách biệt và cá biệt hóa Tách biệt đề cập đến một quá trình nội tâm của sự tách biệt

về tinh thần với người mẹ, trong khi cá nhân là một khái niệm tự phát triển Mặc dù

có quan hệ với nhau, người ta có thể phát triển hơn người khác, phần lớn phụ thuộc

vào thái độ của người mẹ đối với đứa trẻ (David L, 2015)

Bowlby (1969/1982) người được ghi nhận là người đề xuất ra thuyết gắn bó Bằng những quan sát từ việc trẻ sơ sinh bị tách khỏi mẹ và ghi lại những phản ứng đau buồn của đứa trẻ thể hiện với sự chia tách Ông đưa ra giả thuyết hành vi của trẻ

sơ sinh là biểu hiện của mối quan hệ tình cảm giữa trẻ sơ sinh với mẹ của chúng mà ông gọi là sự gắn bó mẹ con (mother - infant attachment ) Bowlby (1973) định nghĩa gắn bó là mối quan hệ tình cảm gần gũi giữa hai người được đặc trưng bởi tình cảm lẫn nhau và mong muốn duy trì sự gần gũi Mối quan hệ gắn bó đầu tiên giữa mẹ và con, theo ông, được hình thành trong những năm đầu đời và vẫn tương đối ổn định trong suốt thời thơ ấu, thanh thiếu niên và trưởng thành Sự gắn bó mẹ con được Bowlby (1973) đề xuất là một quá trình cực kỳ quan trọng cho sự phát triển cảm xúc lành mạnh của cá nhân Trong lý thuyết gắn bó của ông, Bowlby (1969/1982) cho rằng nếu một người chăm sóc chính (trong hầu hết các trường hợp

là người mẹ) luôn nhạy cảm với tiếng khóc của trẻ sơ sinh hoặc các tín hiệu cần thiết khác, mối quan hệ gắn bó bắt đầu phát triển Đến nửa cuối năm đầu tiên, trẻ sơ

Trang 16

sinh bắt đầu có niềm tin rằng người chăm sóc trẻ rất nhạy cảm Theo Bowlby (1973), sự tin tưởng của trẻ sơ sinh vào các phản ứng tích cực của người mẹ dẫn đến sự thể hiện bên trong trẻ, biểu hiện của mối quan hệ tích cực, đáng tin cậy, an toàn giữa mẹ và trẻ Đồng thời, trẻ hình thành một biểu tượng cái tôi phù hợp với tình yêu và sự chăm sóc của người mẹ Biểu tượng nhận thức/ mô hình làm việc này (Bowlby, 1969/1982) sau đó được khái quát hóa theo mong đợi của đứa trẻ về các mối quan hệ khác và phục vụ để định hướng các phản ứng hành vi của trẻ sơ sinh đến sự đau buồn Do đó, mô hình này trở thành nền tảng tiếp diễn cho những cảm xúc, hành vi, trẻ sơ sinh liên quan đến cảm xúc, hành vi và kinh nghiệm của chúng Đồng thời, ông đưa ra giả thuyết rằng mô hình gắn bó an toàn trở thành khuôn mẫu nhận thức cho các mối quan hệ trong suốt cuộc đời đứa trẻ (Mary S La Mont, 2010)

Bowlby (1969/1982) cũng quan sát thấy rằng một số trẻ sơ sinh đã phát triển một mô hình hoạt động của sự gắn bó không an toàn khi người mẹ không có cảm xúc với đứa trẻ, hoặc sự nhạy cảm hoặc phản ứng của người mẹ không nhất quán hoặc tiêu cực Mô hình gắn bó không an toàn cũng được thực hiện từ mối quan hệ nền tảng của trẻ đến các mối quan hệ tiếp theo của cá nhân đó trong suốt cuộc đời

Các nhà nghiên cứu đã gợi ý rằng khoảng 90% thời gian của trẻ sơ sinh gắn

bó với mẹ, thời lượng gắn bó chính của trẻ là mẹ, mặc dù tồn tại một số tình huống khác như người bà, người cha, hoặc một người khác đóng vai trò chăm sóc chính Các tác giả khác (Colin, 1996) đã chỉ ra rằng sự gắn bó được hình thành nhiều hơn với một người chăm sóc Trong những trường hợp này, sự an toàn của mối quan hệ

có sự khác nhau với mỗi người chăm sóc khác nhau, nhưng như một quy luật nếu sự gắn bó với người chăm sóc chính rất an toàn thì sự gắn bó với những người khác cũng sẽ an toàn Bởi vì hầu hết các nghiên cứu đã tập trung vào mối quan hệ giữa

mẹ và con đánh giá này mang tính văn hóa chỉ tập trung vào mối quan hệ gắn bó giữa các bà mẹ và con nhỏ của họ trước 3 tuổi

Người chăm sóc và sức khỏe của người mẹ đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển chính của đứa trẻ, một số trẻ phát triển như những gì mà Bowlby (1969/1982)

mô tả là gắn bó không an toàn với người mẹ Đây là loại gắn bó ít mong muốn được biểu hiện bằng tình cảm kém ổn định hoặc sự vắng mặt giữa các bà mẹ và trẻ sơ

Trang 17

sinh với các hành vi kém an toàn hơn trong việc tìm kiếm sự gần gũi với nhau Sự gắn bó không an toàn đã được đặt tên là một yếu tố nguy cơ đáng kể đối với một số rối loạn cảm xúc và hành vi ở cả thời thơ ấu và tuổi trưởng thành (Sroufe và cộng sự,2000) Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng hầu như tất cả các vấn đề

xã hội và cảm xúc xuất hiện ở thời thơ ấu là do các vấn đề quan hệ thiếu gắn bó an toàn với người chăm sóc chính (Raver & Zigler, 1997)

Một số tác giả khác cũng chỉ ra một khía cạnh đặc biệt cần nghiên cứu là mối quan hệ giữa sự gắn bó mẹ con đến những vấn đề chậm phát triển và các vấn đề về hành vi diễn ra trong giai đoạn mẫu giáo của trẻ sơ sinh tới sự chậm phát triển và các vấn đề hành vi Vấn đề cần thiết này được bày tỏ bởi một số nhà nghiên cứu như họ đã chỉ ra mối quan hệ giữa sự gắn bó không an toàn ở trẻ em phát triển bình thường và những trẻ em gặp vấn đề về hành vi ở tuổi mẫu giáo, thanh thiếu niên và tuổi trưởng thành (Bohlin, Hagekull, & Rydell, 2000; Park & Waters, 1989) Những nghiên cứu này, không bao gồm những đứa trẻ được xác định ở độ tuổi trẻ bị chậm phát triển Bởi vì trẻ chậm phát triển được coi là có nguy cơ mắc các vấn đề về cảm xúc và hành vi, các nghiên cứu về ảnh hưởng sớm đến hành vi vấn đề trong dân số này dường như là tối quan trọng

Mối quan hệ sớm mẹ - con là chủ để quan tâm chính trong suốt cuộc đời của Winnicott, bác sĩ nhi khoa và nhà phân tâm học người Anh từng nói: Một đứa trẻ không tồn tại một mình mà nó chủ yếu là một bên của mối quan hệ mẹ - con Quan hệ này là phức tạp Mối gắn bó mẹ - con được hình thành từ vô số mối liên hệ được nuôi dưỡng bằng tiếp xúc thể chất và tình cảm bằng các cuộc gặp gỡ huyễn tưởng với các thành viên khác trong gia đình( Gerard Poussin, 2013, tr.139 – 140) Đối với ông, trẻ

sơ sinh có tiềm năng bẩm sinh, sẽ trưởng thành nhưng chỉ hoàn thiện khi có sự chăm sóc của người mẹ Trẻ chỉ có thể phát triển được “cái tôi” riêng của chúng nếu chúng nhận được cái gọi là “sự hiện diện đầy đủ liên tục” của người mẹ Lúc đó “cái tôi” của người mẹ có vai trò nâng đỡ cái tôi yếu đuối chưa thể hòa nhập với môi trường của trẻ Dần dần trẻ có thể tự cảm nhận, tự hòa nhập và tự xa mẹ vì trẻ đã cảm nhận

đủ sự hiện diện liên tục của mẹ Đối với Winnicott, các rối loạn tinh thần khi trưởng thành có nguồn gốc từ những kinh nghiệm đầu tiên của trẻ trong mối quan hệ với mẹ

và với môi trường xung quanh (Dana Castro, 2016)

Trang 18

Như vậy, qua các công trình nghiên cứu, các tác giả nước ngoài cũng chỉ ra vai trò gắn bó mẹ con trong quá trình phát triển của trẻ và đặc biệt là những vấn đề hành vi, cụ thể như sau:

- Những năm đầu đời là những năm quan trọng nhất đối với sự hình thành nhân cách, các hành vi bình thường và bất thường đều có sự liên hệ đến những năm đầu, đặc biệt là những tương tác sớm giữa trẻ và môi trường xã hội đề ra mô hình học tập, các hành vi thích nghi và sự đối đầu với các tác nhân lo âu

- Người mẹ có vai trò quan trọng hơn tất cả, là người tạo nên lòng tin của đứa trẻ bằng sự đáp ứng nhu cầu, chăm sóc trẻ trong giai đoạn đầu đời Người mẹ chính là người có vai trò mang đến những trải nghiệm đầu đời của thân chủ, sự quan tâm chăm sóc của mẹ và thân chủ có thể là hệ quả dẫn đến các hành vi hụt hẫng, thu mình, nghi hoặc, mất lòng tin cả ở thân chủ và cả đứa trẻ lúc trưởng thành

- Người mẹ đóng vai trò nền tảng chính của đứa trẻ, sự gắn bó không an toàn được xem như là yếu tố nguy cơ liên quan đến một số rối loạn cảm xúc và hành vi ở thời thơ ấu và tuổi trưởng thành

- Mối quan hệ giữa sự gắn bó mẹ con có thể liên quan đến những vấn đề chậm phát triển và các vấn đề về hành vi diễn ra trong giai đoạn mẫu giáo của trẻ sơ sinh tới sự chậm phát triển và các vấn đề hành vi

- Ở những trẻ vắng mẹ lâu ngày, thiếu hụt tình cảm của mẹ, chúng ta có thể quan sát thấy các dấu hiệu về thể chất như sụt cân, khó ngủ, từ chối ăn, chậm phát triển tâm vận động, dễ bị nhiễm khuẩn Về tâm lý, trẻ tự cô lập, tránh tiếp xúc với

xã hội, tự kích thích bằng những hành vi rập khuôn và có ánh nhìn xa xăm, thụ động Trẻ có các vấn đề về hành vi như hiếu động quá mức hoặc có tính hiếu chiến, ngôn ngữ kém phát triển Trẻ thể hiện không muốn ôm mẹ, hôn mẹ, không muốn

nhìn vào mắt mẹ và không nói, với người khác cũng ứng xử tương tự

Các rối nhiễu do mối quan hệ gắn bó mẹ con sớm gồm lo hãi, khủng hoảng

sự hình thành cái Tôi, rối loạn về tư duy, ngôn ngữ, duy kỉ quá, tự cao, tự đại; ngược lại là mặc cảm tự ti, giải thể nhân cách Trẻ tách khỏi những liên hệ xung quanh, không nhận thấy sự khác nhau trong ứng xử giữa người thân và người lạ Cũng có những trẻ bộc lộ các nhu cầu khát khao tiếp xúc, vồ vập những người không quen biết

Trang 19

1.1.2 Điểm luâ ̣n một số nghiên cứu về vấn đề hành vi

Thay vì nhấn mạnh đến các vấn đề bên trong, các khía cạnh bản năng, các yếu tố vô thức trong quá trình phát triển và biến đổi hành vi con người, tiếp cận về vấn đề hành vi trong tâm lý học là tập trung trực tiếp vào hành vi và các mối quan

hệ của nó với các điều kiện môi trường và nhân cách Từ quan điểm cơ bản: phần lớn hành vi chịu ảnh hưởng của quá trình học tập được hình thành trong một tình huống, bối cảnh xã hội nhất định nào đó

Khi đề cập các vấn đề hành vi cần nói đến lý thuyết hành vi cổ điển của J.Watson có những điểm đề cập, lý giải hành vi con người như sau: thứ nhất, hành

vi con người tuy có một số khác biệt so với động vật, nhưng bản chất hành vi người

là tổ hợp phản ứng của cơ thể để trả lời kích thích tác động vào cơ thể Thứ hai, không thừa nhận tâm lý, ý thức tham gia vào việc điều khiển hành vi người Để nghiên cứu hay điều chỉnh hành vi nói chung và hành vi người nói riêng thì chỉ cần dựa vào yếu tố đầu trong công thức S -> R (Nguyễn Hồi Loan,Trần Thu Hương,

2018, tr.183)

Tiếp tục kế thừa và phát triển quan điểm của J.Watson, B.F.Skinner cho rằng

sự khác biệt đầu tiên giữa hành vi có điều kiện với hành vi tạo tác là hành vi có điều kiện xuất hiện nhằm tiếp nhận một kích thích củng cố còn hành vi tạo tác nhằm tạo

ra kích thích củng cố Từ đó mà ông kết luận rằng hành vi tạo tác đặc trưng cho việc học tập hàng ngày vì thông thường hành vi mang tính tạo tác, nên cách tiếp cận có hiệu quả nhất đối với khoa học về hành vi là nghiên cứu về điều kiện hóa và sự tắt dần các hành vi tạo tác

Lý thyết tiếp nhận thức xã hội do Albert Bandura khởi xướng, xem hành vi của con người được hình thành dựa vào 3 cơ sở nền tảng có tương quan chặt chẽ với nhau đó là: (1) kích thích ngoại cảnh, (2) sự củng cố bên ngoài, (3) các quá trình nhận thức trung gian bên trong Trong 3 yếu tố này thì quá trình thứ ba có vai trò đặc biệt quan trọng bới chúng chi phối cách mà chúng ta nhìn nhận cũng như diễn giải các kích thích từ môi trường

Như vậy tiếp cận hành vi xem xét các vấn đề hành vi con người là phản ứng của

họ đối với tác động từ môi trường xung quanh chứ không hoàn toàn là các triệu chứng

Trang 20

bệnh lý Từ cơ sở nền tàng nghiên cứu về khoa học hành vi mà có nhiều quan điểm, đề tài nghiên cứu, các thiết kế, các công cụ được xây dựng nhằm hỗ trợ, phục vụ cho các vấn đề đặt ra trong tâm lý học cũng như tâm lý học lâm sàng đáp ứng trong quá trình nghiên cứu, chẩn đoán, trị liệu, chăm sóc sức khỏe tâm thần, giáo dục, y tế dự phòng nói chung và giải quyết các vấn đề hành vi trẻ em nói riêng Tiêu biểu như :

Danh mục bảng phân loại bệnh quốc tế ICD – 10 được xây dựng và hoàn thiện nhằm phục vụ cho quá trình chẩn đoán, chữa bệnh và nghiên cứu về bệnh tật

và các vấn đề sức khỏe Các rối loạn tâm thần và hành vi nằm ở chương 5, trong đó, Bảng phân loại bệnh quốc tế ICD – 10 liệt kê các rối loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên từ mục F90 – F98 bao gồm 8 vấn

đề chính: Các rối loạn tăng động; Các rối loạn hành vi; Các rối loạn hỗn hợp hành

vi và cảm xúc; Các rối loạn cảm xúc và sự khởi phát đặc biệt ở tuổi trẻ em; Rối loạn hoạt động xã hội và sự khởi phát đặc biệt ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên; Các rối loạn tic; Những rối loạn hành vi và cảm xúc khác thường khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên (WHO, 1993)

Tương tự Hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ công bố Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần rút gọn – DSM IV bao gồm các bệnh tâm thần và đưa ra những rối loạn thường được chẩn đoán ở trẻ thơ, trẻ em và thanh thiếu niên (35) bao gồm 10 mục: Chậm phát triển tâm thần; Những rối loạn về học tập; Rối loạn về kỹ năng vận động; Những rối loạn về giao tiếp; Những rối loạn phát triển lan tỏa; Những rối loạn giảm chú ý và rối loạn hành vi; Những rối loạn hành vi ăn uống và những rối loạn về hành vi ăn uống ở trẻ thơ hoặc trẻ em; Các rối loạn tic; Những rối loạn kiểm soát cơ vòng; Những rối loạn khác (APA, 1996)

Từ cơ sở nền tảng dựa trên các công cụ chính ICD – 10 và DSM – IV, Frances Gardner và Daniel S Shaw tổng hợp và đưa ra: Các vấn đề về hành vi của trẻ nhỏ và trẻ mẫu giáo từ giai đoạn 0 đến 5 tuổi bị ảnh hưởng bởi cả hai yếu tố sinh học và môi trường, như biểu hiện ở sự khác biệt cá nhân về đặc điểm của trẻ (ví dụ: loại hình khí chất, tính xã hội, sự chú ý) và chất lượng của môi trường chăm sóc Các yếu tố môi trường di truyền và trước khi sinh có ảnh hưởng trong giai đoạn tuổi này Giữa các yếu tố nguy cơ, trong đó có xác suất xuất hiện rối loạn; tiểu sử, trong

Trang 21

đó có sự liên quan đến một vấn đề ban đầu (ví dụ: các vấn đề chống đối ở trường mầm non) và sau đó (rối loạn hành vi ứng xử); sự xuất hiện của rối loạn hành vi Tính khí cực đoan thường được xem là yếu tố nguy cơ cho các vấn đề hành vi sau này (Hill, 2002), mặc dù ở mức độ khác biệt vừa phải và không có các chỉ số khác

về nguy cơ ở trẻ em hoặc các vấn đề nguy cơ từ gia đình, những khác biệt cá nhân như vậy có thể ảnh hưởng đến quá trình phát triển hơn là nguy cơ rối loạn Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều sự nghiên cứu thừa nhận về nhiều yếu tố tương tác sớm, quá trình chăm sóc ảnh hưởng tới sự khác biệt của trẻ sơ sinh biểu hiện như các vấn đề ăn uống, cảm xúc hoặc hành vi chống đối (Campbell, Shaw, & Gilliom, 2000) Một số tác giả khác như Thomas, Chess, Birch (1968) cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng và lợi ích giữa tính cách của cha mẹ ảnh hưởng đến các vấn đề của trẻ, và ngược lại sự tác động của trẻ đối với cha mẹ, mô hình tương tác giữa cha mẹ và con cái Do đó, mà đề đánh giá và can thiệp các vấn đề hành vi ở trẻ cần tập trung vào việc thay đổi hành vi của trẻ, hành vi, các nguồn lực từ cha mẹ và chất lượng tương tác giữa cha mẹ và con Vì trẻ em dưới 5 tuổi quá phụ thuộc vào môi trường chăm sóc của chúng, nên cần chú trọng đến việc xác định các yếu tố nguy cơ rủi ro trong gia đình và các bối cảnh chăm sóc (ví dụ: chất lượng chăm sóc hoặc ngườ i chăm sóc ) giúp điều chỉnh quá trình xuất hiê ̣n hành vi s ớm ở trẻ (Michael Rutter, Dorothy Bishop, Daniel Pine, Stephen Scott, Jim Stevenson, Eric Taylor, Anita Thapan, 2009, tr.883)

Như vậy, đề cập đến các vấn đề về hành vi cần quan tâm đến cả hai yếu tố sinh học và môi trường cụ thể đó là về mặt di truyền, môi trường sống, môi trường

giáo dục, môi trường xã hội, các yếu tố văn hoá – xã hội

1.1.3 Các nghiên cứu về đánh giá và can thiệp liên quan đến gắn bó va ̀ vấn đề

hành vi của trẻ

1.1.3.1 Mô ̣t số nghiên cứu về đánh giá rối loạn gắn bó me ̣ con và vấn đề hành vi

Hiê ̣n ta ̣i, không có công cu ̣ cu ̣ thể được xác nhâ ̣n để chẩn đoán rối loa ̣n phản ứng gắn bó Chẩn đoán được thực hiê ̣n trên cơ sở phỏng vấn lâm sàng về li ̣ch sử phát triển và quan sát hành vi Thực hiê ̣n các xét nghiê ̣m y tế và tâm thần của trẻ để loại trừ các triệu chứng cụ thể và các nguyên nhân thực thể hoặc các chẩn đoán

Trang 22

bê ̣nh tâm thần khác có thể giải thích cho sự thoái lui xã h ội ở trẻ em Ví dụ cần loại trừ chẩn đoán ám ảnh sợ xã hội trước khi xác định chẩn đoán rối loạn phản ứng gắn

bó Cả ám ánh sợ xã hội và rối loạn phản ứng gắn bó có thể là một triệu chứng chính của sự thoái lui xã hội ở trẻ Tuy nhiên, ám ảnh sợ xã hội liên quan đến sự lo lắng dữ dội trong môi trường xã hội ngoài các mối quan hệ tương tác gia đình và trong rối loạn phản ứng gắn bó luôn thể hiện các mối quan hệ giữa các cá nhân đều bị xáo trộn

Mặc dù trong lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học không có công cụ đánh giá

về rối loạn gắn bó hiệu quả, đặc biệt là đối với trẻ em trong độ tuổi đi học Tuy nhiên, gần đây Trinis và cộng sự (Trinis, 2009) đã phát triển Bảng câu hỏi về các vấn đề trong các mối quan hệ (RPQ) để phát hiện ra những rối loạn phản ứng gắn

bó (RAD) dành cho phụ huynh và giáo viên để kiểm tra tính bất biến giữa thông tin được cung cấp Bảng câu hỏi về rối loạn phản ứng gắn bó có 17 mục đề cập đến các triệu chứng rối loạn tập tin đính kèm của cả hai loại, được mã hoá theo thang điểm

từ 0 đến 3 Cả hai loại tập rối loạn gắn bó đều không được đề cập riêng có thể đạt được điểm trung bình từ 0 đến 51 điểm cao cho thấy nhiều triệu chứng rối loạn gắn

bó Kết quả nghiên cứu này dựa trên kết quả phỏng vấn rối loạn gắn bó

(Disturbances of Attachment Interview – DAI) Kết quả thu được giữa RPQ đều có

thể chấp nhận được tính nhất quán bên trong tốt và tương quan mong đợi với các thông tin của DAI Nhìn chung RPQ là một công cụ đa thông tin có thể thu thập nhiều thông tin, triệu chứng cho rối loạn phản ứng gắn bó ở trẻ em có vấn đề nghiêm trọng về cảm xúc và hành vi (John Wiley& Sons, 2013)

1.1.3.2 Mô ̣t số nghiên cứu về can thiê ̣p hành vi liên quan đến gắn bó me ̣ con

Có nhiều tác giả nghiên cứu về các phương thức can thiệp liên quan đến gắn bó Đầu tiên phải kể đến các biện pháp can thiệp nuôi dạy con dựa trên bằng chứng để thúc đẩy gắn bó an toàn Các nghiên cứu đã chia nhỏ các bi ện pháp hướng vào tr ẻ em có gắn bó vô tổ chức (D) hoă ̣c với những trẻ được chẩn đoán là rối loa ̣n phản ứng gắn bó (RAD) Các biện pháp can thiệp được tổ chức theo độ tuổi của trẻ tại thời điểm bắt đầu can thiệp , vớ i các kết quả nghiên cứu có ý nghĩa đươ ̣c liê ̣t kê đầu tiên (chỉ đánh giá sau can thiệp ) Dười đây là mô ̣t số hình thức

Trang 23

can thiê ̣p cho trẻ sơ sinh , trẻ nhỏ và trẻ em có sự gắn bó vô tổ chức hoặc rối loạn phản ứng gắn bó (RAD):

- Đối với nhóm trẻ sinh non:

Các can thiệp cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê trong gắn bó an

toàn “Chương trình thăm nhà” (The Home visiting program) đươ ̣c sử du ̣ng nhằm

mục đích hỗ trợ các bà mẹ phát triển sự nhạy cảm bằng cách nhận biết các tín hiệu của con họ , tâ ̣p trung vào các tương tác và hiểu rõ về sự ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển của trẻ Sự gắn bó đượ c đánh giá trong thời gian cho ăn lúc 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng thông qua các thang đo quan sát cho ăn : đối với trẻ 3 tháng quan sát sự tương tác giữa mẹ và trẻ trong khi bú ; đối với trẻ 6 tháng sử dụng

mô hình mă ̣t đối mă ̣t; với trẻ 12 tháng sử dụng tình huống lạ Hiê ̣u quả được đánh giá bằng cách sử dụng hệ thống quan sát dựa trên sự gắn bó , hệ thống tương tác giữa me ̣ và trẻ , sử du ̣ng 5 thang đo với 9 điểm khác nhau : đô ̣ nha ̣y cảm , sự can thiê ̣p, trạng thái tình cảm của ngời mẹ, sự hợp tác và hành vi tự điều chỉnh

Chương trình can thiê ̣p tri ̣ liê ̣u tâm lý dự phòng (The Preventive Psychotherapeutic Program ) được thực hiê ̣n với đối tượng cha me ̣ da trắng sinh non, có độ tuổi trung bình là 30,9 tuổi và trẻ sơ sinh có đô ̣ tuổi trung bình là 27 tuần Kế hoạch đưa ra 2 tuần/1 buổi, diễn ra các buổi tri ̣ liê ̣u tâm lý cá nhân trước khi nhâ ̣p viê ̣n, nhóm phụ huynh được trị liệu tâm lý cá nhâ n với tần suất diễn ra là 2 tuần mô ̣t buổi , mô ̣t ngày sẽ có những video phản hồi la ̣i những cảm xúc , đô ̣ nha ̣y cảm khi thăm nhà so với sự chăm sóc của điều dưỡng ở bệnh viện Cha mẹ đươ ̣c tham gia từ 1 đến 8 buổi tri ̣ liê ̣u n hóm, cũng như 1 đến 10 buổi tri ̣ liê ̣u tâm lý cá nhân theo li ̣ch 2 tuần/1 lần cho cả bố và me ̣

Nghiên cứu và sử dụng tình huống lạ , Brish và cô ̣ng sự nhâ ̣n thấy rằng có

mô ̣t mối tương quan đáng kể giữa phát triển thần kinh và phát triển gắn bó me ̣ con trong nhóm kiểm soát , những trẻ sơ sinh có gắn bó an toàn cho thấy sự phát triển thần kinh khỏa ma ̣nh , 75% trẻ sơ sinh có gắn bó không an toàn cho thấy sự phát triển thần kinh bi ̣ suy giảm và không có mối tương quan đáng kể giữa chất lượng gắn bó và sự phát triển thần kinh trong nóm can thiê ̣p Các tác giả kết luận rằng sự

Trang 24

can thiệp đã bảo vê ̣ những đứa trẻ không khỏe ma ̣nh về thần kinh khỏi hình thành những gắn bó không an toàn

Các kế hoạch về huấn luyê ̣n cho quá trình Chu sinh , được thực hiê ̣n bởi

Jacobson và Frye (1991) áp dụng cho với các bà mẹ sinh con lần đầu (21.5 tuổi) Với hình thức can thiê ̣p này , sử du ̣ng mô ̣t tình nguyê ̣n viên được đào ta ̣o cu ̣ thể cho từng người tham gia để cung cấp về mang thai , chăm sóc và phát triển trẻ em , cũng như những hiểu biết và sự đồng cảm tương tự như bạn bè hoặc các thành viên trong gia đình Các chuyến thăm định kỳ bắt đầu trong 3 tháng của thai kỳ , tăng tần suất tính đến ngày sinh , tiếp tu ̣c hàng tuần trong 2 đến 3 tháng sau khi sinh , và sau đ ó tiếp tu ̣c hành tháng cho đến khi trẻ được 12 tháng tuổi

Sử du ̣ng phương pháp phân tích các nhân tố (Q-sort procedure), Jacobson và Frye nhâ ̣n thấy rằng trẻ sơ sinh của các bà me ̣ được can thiê ̣p được đánh giá là gắn

bó an toàn hơn so với các biện pháp kiểm soát trên

Hình thức liệu pháp nghề nghiệp (Occupational Therapy) cũng được sử dụng

trong mô ̣t nghiên cứu của Sajaniemi và đồng nghiê ̣p với trẻ sơ sinh có cân nă ̣ng cực thấp (dưới 1kg), bắt đầ u từ 6 tháng tuổi Can thiê ̣p cu ̣ thể 1 giờ/1 tuần liê ̣u pháp nghề nghiê ̣p được sử du ̣ng ta ̣i nhà trong 6 tháng (tuổi trung bình của nhóm đối tươ ̣ng là 20 tuổi) Điều này, được thực hiê ̣n bởi nhà tri ̣ liê ̣u có kinh nghiê ̣m trong điều tri ̣ trẻ sơ sinh, bao gồm cuô ̣c thảo luâ ̣n với cha me ̣, dạy học cách thích nghi với môi trường gia đình, với em bé, hướng dẫn ho ̣ cách xử lý em bé để thúc đẩy sự phát triển bình thường của trẻ (Sajaniemin,N, 2001)

Các can thiê ̣p không cho thấy sự cải thiê ̣n đáng kể về mă ̣t thống kê đối với gắn bó an toàn khi sử du ̣ng di ̣ch vũ hỗ trợ khách hàng ta ̣i nhà , được sử du ̣ng trong nghiên cứu bởi Beckwith Hướng tới nhóm cha me ̣ có thu nhâ ̣p thấp , với trẻ sơ sinh bị ốm, sinh non, có cân nặng khi sinh dưới 2kg, sinh lúc 35 tuần Kế hoa ̣ch được thực hiê ̣n trong 13 tháng, bao gồm mô ̣t can thiê ̣p cá nhân , hướng đến cha me ̣, tâ ̣p trung vào viê ̣c cung cấp trợ giúp quần áo , đồ chơi , phương tiê ̣n giao thông , phát triển kỹ năng quan sát của cha me ̣ giúp ho ̣ hiểu bối cảnh phát triển của trẻ Chương trình được thực hiện bởi y tá nhi khoa , nhà giáo dục mầm non trong bệnh viện hoặc

ở nhà (Beckwith, 1988)

Trang 25

Trẻ dưới 1 tuổi

Các can thiệp cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê đối với gắn bó

an toàn, trẻ sơ sinh được sử dụng trong nghiên cứu của Anifeld và cộng sự Sự can thiê ̣p liên quan đến viê ̣c sử du ̣ng những chất mềm hàng ngày cho bé với mục đích thúc đẩy sự tiếp xúc vật lý tăng lên , khuyến khích khả năng đáp ứng của me ̣ lớn hơn

so với viê ̣c kiểm soát chỗ ngồi của trẻ Thời gian sử du ̣ng trung bình là 8,5 tháng (trong khoảng 4 đến 13 tháng) Nghiên cứu thu được trẻ sơ sinh có gắn bó an toàn đáng kể hơn so với nhóm đối chứng (Anissfeld,1990)

Mô ̣t hình thức tiếp theo liên quan đến tiếp xúc vâ ̣t lý đó là phương pháp xoa

bóp (Massage Procedure) của Hansen và Ulrey sử dụng trong nghiên cứu với cha

mẹ người da trắng ở trẻ từ 3 đến 19 tháng tuổi bắt đầu can thiệp khi được chẩn đoán

có dấu hiện chậm phát triển vận động hoặc suy giảm thần kinh Can thiê ̣p bao gồm hai lần mooit tuần với chươ ng trình kích thích cảm biến trong vòng 3 giờ, liên quan đến các kỹ thuật xử lý và xoa bóp đặc biệt để tạo điều kiện thư giãn và tương tác dễ chịu giữa trẻ sơ sinh và người chăm sóc Điều này đã thêm vào tiêu chuẩn của mô ̣t chương trình cho tất cả các chương trình can thiê ̣p sớm Kết quả Hansen và Urley đánh giá cảm giác , tiếp xúc với mo ̣i người , kiểm soát hành vi và sự khác biê ̣t / tổng thể giữa cha me ̣ và con cái , được đưa ra bằng cách so sánh hành vi của trẻ và cha

mẹ trong 3 lĩnh vực này Cả hai nhóm kiểm soát và can thiệp đều cải thiện các hành

vi gơ ̣i ý, tiếp xúc và tổ chức , trong khi nhóm can thiê ̣p được báo cáo là thể hiê ̣n sự tiến bô ̣ hơn đáng kể về hành vi phối hợp (Hansen R, Ulrey G, 1988)

Các chương trình can thiệp sớm tại nhà cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Roggmen và cộng sự với các gia đình sống trong một khu vực Độ tuổi chính xác khi bắt đầu can thiệp không đươ ̣c báo cáo tuy nhiên dữ liê ̣u thu thâ ̣p khi trẻ 14 tháng, 18 tháng đến 24 tháng và 36 tháng tuổi Can thiê ̣p được dựa trên 3 năm, hàng tuần với các cuô ̣c thăm nhà bởi mô ̣t nhà giáo du ̣c gia đình và các nhóm nhân viên

xã hội Nhằm mu ̣c đích thúc đẩy sự tương tác tích cực giữa cha me ̣ và con cái , sự hiểu biết về sự phát triển của trẻ em , tham gia vào các hoa ̣t đô ̣ng của trẻ em và hỗ trơ ̣ cha me ̣ trong viê ̣c tiếp câ ̣n các di ̣ch vu ̣ cô ̣ng đồng Sự can thiê ̣p này đã ta ̣o nên sự khác biê ̣t tích cực có ý nghĩa thống kê đối với gắn bó an toàn sau 18 tháng tuổi (Roggman L, 2009)

Trang 26

Can thiê ̣p đến thăm nhà được sử du ̣ng trong nghiên cứu của Doesum và

cô ̣ng sự với trẻ sơ sinh (từ 5,5 tháng đến 12 tháng) với các bà me ̣ gă ̣p các rối loa ̣n trầm cảm nă ̣ng được đánh giá chẩn đoán dựa trên tiêu chí đánh giá của DSM – IV, đang đươ ̣c điều tri ̣ ngoa ̣i trú Can thiê ̣p vao gồm 8 đến 10 buổi, trong vòng 60 đến

90 phút, kéo dài trong khoảng 3 đến 4 tháng, được hỗ trơ ̣ boải các sinh viên tốt nghiê ̣p có bằng tha ̣c sĩ về tâm lý ho ̣c hoă ̣c tâm thần ho ̣c đã được đào ta ̣o về phòng ngừa và giáo du ̣c sức khỏe Các kỹ thuật được sử dụng trong các buổi can thiệp trị liê ̣u bao gồm : mô hình hóa, tái cấu trúc nhận thức , huấn luyê ̣n hành vi cho cha me ̣ , mát xa cho bé , tùy thuộc vào nhu cầu của cha mẹ Kết quả thu được ở nhóm can thiê ̣p có điểm số đáng kể cao hơn so vớ i nhóm trẻ em theo dõi trong vòng 6 tháng (Doesum, 2008)

Các biện pháp can thiệp không cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống

kê trong mối quan hê ̣ g ắn bó an toàn Sự can thiệp cá nhân được thực hiê ̣n bởi nữ nhân viên xã hô ̣i có kinh nghiê ̣m làm viê ̣c với bà me ̣ và trẻ em đã được sử du ̣ng trong nghiên cứu của Barnett và cô ̣ng sự Những người tham gia hầu hết thuô ̣c tầng lớp trung lưu , hay lo lắng về vấn đề của trẻ sơ sinh Sự can thiê ̣p nhằm mu ̣c tiêu giảm bớt sự lo lắng của các bà me ̣ và thúc đẩy sự gắn bó an toàn Bao gồm các hình thức hỗ trợ chung , các biện pháp thúc đẩy lòng tự trọng , khuyến khích phản ứng thích hợp với tín hiệu từ trẻ sơ sinh và khuyến khích các ô ng bố quan tâm đến em

bé và ủng hộ vợ chăm sóc con cái Can thiê ̣p được sử du ̣ng trong khoảng 12 tháng (tần suất diễn ra không được báo cáo ) Tuy nhiên kết quả thu được không có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm can thiê ̣p và nhóm đối chứng (Barnett B, 1985)

Video phản hồi can thiê ̣p để thúc đẩy nuôi da ̣y con tích cực (Video – feedback Intervention to promote Positive Parenting - VIPP) được sử du ̣ng trong nghiên cứu của Klein – Veldman và cô ̣ng sự với các bà mẹ phân loại vào nhóm không an toàn , bỏ mặc hoặc bận tâm với đứa con đầu lòng , tuổi trung bình từ khoảng 6,8 tháng Can thiê ̣p được thực hiê ̣n dựa trên những lần đến thăm nhà trong khoảng 180 phút cho một phiên làm việc Bao gồm 3 phiên phản hồi video , tài liệu về VIPP thảo luâ ̣n về trải nghiê ̣m gắn bó của người me ̣ Kết quả thu được Klein và

cô ̣ng sự không tìm thấy hiê ̣u quả can thiê ̣p đáng kể (Klein – Velderman, 2006)

Trang 27

Tư vấn, trị liệu nhận thức hà nh vi và tri ̣ liê ̣u tâm vâ ̣n đô ̣ng đã được sử du ̣ng trong nghiên cứu của Murray và cô ̣ng sự trên các bà me ̣ có giai đoàn trầm cảm sau sinh mức đô ̣ nă ̣ng và trẻ nhỏ từ 8 đến 18 tuần tuổi bắt đầu được thực hiê ̣n can thiê ̣p

Tư vấn bao gồm 10 buổi, hàng tuần , các buổi làm việc diễn ra tại nhà được thực hiê ̣n bởi mô ̣t chuyên gia và mô ̣t nhân viên không chuyên về tư vấn nhằm hỗ trợ các

bà mẹ mới trong vai trò của họ , đă ̣c biê ̣t là tâ ̣p trung vào mối quan hê ̣ me ̣ con Trị liê ̣u nhâ ̣n thức hành vi được dựa trên lời khuyên về các kiểu suy nghĩ tiêu cực , mô hình hóa và củng cố , chủ yếu hướng đến các vấn đề về quản lý trẻ sơ sinh được xác

đi ̣nh bởi người me ̣ trong quan hê ̣ tương tác mẹ con Trị liệu tâm vận động khám phá các biểu hiện của mẹ và em bé , bằng cách tìm hiểu các phản ứng ban đầu của người

me với mu ̣c đích giyos bà me ̣ ứng phó và thúc đẩy các biểu hiê ̣n tích cực của em bé Hiê ̣u quả trị liệu thu được không đáng kể so với nhóm đối chứng

- Vơ ́ i nhóm trẻ mới biết đi từ 12 tháng đến 60 tháng

Các can thiệp cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê trong gắn bó an toàn khi sử dụng trị liệu tâm lý cho cha me ̣ trẻ mới biết đi trong nghiên cứu của Cicchetti và cô ̣ng sự và cả trong nghiên cứu của Toth và cô ̣ng sự Các nghiên cứu sử dụng nhóm đối tượng các bà mẹ đã có một giai đoạn trầm cảm mức độ nặng kể từ khi sinh con, đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM – III Can thiê ̣p nhằm thúc đẩy mối quan hê ̣ gắn bó cho trẻ mới biết đi thông qua các buổi tri ̣ liê ̣u hướng dẫn cha me ̣, trị liệu phân tâm , liên kết với cha me ̣ với sự giám sát cá nhâ n hàng tuần và trình bày, thảo luận hàng tuần về các buổi trị liệu bằng video Sau can thiê ̣p, tỷ lệ trẻ châ ̣p chững gắn bó an toàn thay đổi đáng kể (Murray L, 2003)

- Vơ ́ i nhóm trẻ từ 60 tháng tuổi trở đi

Tương tự sử du ̣ ng các hình thức trên với nhóm trẻ lớn hơn các kết quả thu đươ ̣c cho thấy sự cải thiê ̣n đáng kể trong gắn bó an toàn về mă ̣t thống kê

Các can thiệp khác, được đề cập bởi nhóm nghiên cứu PPI là nhóm nghiên

cứu có sự tham gia của bệnh nhân và cộng đồng (Patient and public involvement –

PPI), không có bằng chứng đủ mạnh vào thời điểm thực hiện đánh giá có hệ thống

để cho phép nhóm nghiên cứu đưa chúng vào các can thiệp: Trò chơi trị liệu , Tâm

lý trị liệu phát triển cặp đôi và Xem, chờ đợi và Tự hỏi

Trang 28

- Trò chơi trị liệu được sử dụng trong một số Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

tâm thần cho trẻ em và vị thành niên ở Vương quốc Anh, nhằm mục đích xây dựng

sự gắn bó thông qua việc tập trung vào các khía cạnh chính của mối quan hệ cha mẹ

và con cái thông qua chơi, các trò chơi và một loạt các hoạt động thúc đẩy quá trình nuôi dưỡng

- Tâm lý trị liệu phát triển cặp đôi (Dyadic Developmental Psychotherapy – DDP) là một can thiệp tập trung vào các mối quan hệ và nhằm mục đích phát triển

và duy trì các mối quan hệ giữa nhà trị liệu trẻ em, người chăm sóc trẻ em và nhà trị liệu - người chăm sóc, có ảnh hưởng và hợp tác Không có nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí để đưa vào đánh giá hệ thống của chúng tôi Một nghiên cứu khả thi cho một thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát của Tâm lý học phát triển Dyadic so với điều trị như bình thường đã được thực hiện

- Xem, chờ đợi và Tự hỏi (WaTCh, Wait and Wonder): Đây là liệu pháp tâm

lý làm theo sự dẫn dắt của trẻ, cụ thể và trực tiếp sử dụng các hoạt động tự phát của đứa trẻ sơ sinh trong bối cảnh chơi tự do để tăng cường sự nhạy cảm và phản ứng của người mẹ Trong phiên trị liệu, với phần lớn công việc được thực hiện giữa nhà trị liệu và người mẹ Sự can thiệp liên quan đến hoạt động của người mẹ và trẻ sơ sinh trên sàn nhà, quan sát và tương tác với những đáp ứng của trẻ để tăng độ nhạy cảm và phản ứng của người mẹ bằng cách người mẹ có quan điểm quan sát, trong khi trẻ vẫn có sự tiếp xúc về mặt thể chất Sau đó, người mẹ thảo luận, chia sẻ những gì mình vừa trải nghiệm và quan sát với nhà trị liệu Đây là cách tiếp cận này tạo không gian cho trẻ sơ sinh/trẻ em và cha mẹ để làm việc thông qua sự phát triển

và các mối quan hệ thông qua trò chơi Ngoài ra, trọng tâm của liệu pháp này còn giúp cho cha mẹ hiểu, phản ánh về màu sắc cảm xúc, suy nghĩ, và mong muốn bên trong của trẻ qua đó cha mẹ nhận ra cá tính riêng biệt của trẻ và hiểu được các phản ứng cảm xúc của chính mình với con

Can thiệp sớm với cha mẹ hoặc người chăm sóc, đặc biệt tập trung vào sự nhạy cảm của mẹ, có hiệu quả lâm sàng trong việc thúc đẩy sự gắn bó an toàn ở trẻ

em Các nhà thực hành lâm sàng cần cân nhắc cẩn thận không chỉ với lựa chọn can thiệp mà còn cả sự phù hợp giữa can thiệp đã chọn và đặc điểm của cha mẹ / người

Trang 29

chăm sóc / hoặc trẻ em khi thực hiện các can thiệp này Nghiên cứu can thiệp chất lượng cao trong tương lai là cần thiết, đặc biệt là ở trẻ em dưới 5 tuổi bị rối loạn gắn

bó và những trẻ có gắn bó hỗn loạn (Barry Wright, 2016)

Những người chăm sóc, thân thiết yêu thương là những người có khả năng cung cấp những điều cần thiết để giúp trẻ có rối loạn gắn bó phản ứng thay đổi Không nhất thiết là gia đình giàu có miễn là họ có thể đáp ứng được các nhu cầu cơp bản của trẻ Cũng không cần thiết rằng gia đình có liên quan về mặt sinh học với đứa trẻ Trẻ em không cần phải được tách ra khỏi cha mẹ ngược đãi hoặc bỏ bê trước đây nếu xác định rằng cha mẹ chúng đã được cải cách đủ để trở thành người chăm sóc và yêu thương chúng Điều cần thiết cho trẻ em bị ảnh hưởng để phục hồi chính là chúng không còn bị bỏ rơi hoặc lạm dụng, thay vào đó là được bù đắp những cơ hội để tương tác yêu thương Chỉ có sự hiện diện của gia đình yêu thương mới có thể giúp trẻ em có rối loạn phản ứng gắn bó

Can thiệp tâm lý bao gồm: Giáo dục tâm lý cho các thành viên gia đình (người lớn và trẻ em) về bản chất của rối loạn mà họ đang phải đối mặt cung cấp một khởi đầu tốt Phương pháp giáo dục giúp các thành viên trong gia đình kiểm soát lo lắng và mối quan tâm của họ vào bối cảnh gia đình và trang bị kiến thức cần thiết giúp trẻ tin tưởng vào người khác và thiết lập các mối quan hệ thân thiết

Có thể đề nghị tất cả thành viên tham gia trị liệu gia đình Các nhà trị liệu gia đình hiểu rất nhiều cách khác nhau mà các vấn đề cá nhân có thể ảnh hưởng đến toàn bộ các thành viên trong gia đình và họ sử dụng kiến thức đó để giúp các thành viên gia đình giải quyết các vấn đề để thúc đẩy sự hoà hợp trong gia đình Một nhà trị liệu gia đình nhận thấy rằng cha mẹ thất vọng với nhau vì những khó khăn mà họ phải đối mặt khi nuôi dạy một đứa trẻ có rối loạn phản ứng gắn bó và giúp cha mẹ nhìn thấy những điều xảy ra và làm thế nào để họ có thể thay đổi hành vi của cha

mẹ trước khi thay đổi những vấn đề của con Phụ huynh cũng có thể được giới thiệu cho các lớp học kỹ năng chăm sóc hữu ích (như chiến lược kỷ luật hiệu quả không liên quan đến trừng phạt) Ngoài ra, cha mẹ cũng có thể được giới thiệu đến làm việc với một nhà trị liệu hành vi, người có thể giúp họ thiết lập kế hoạch hành vi trong gia đình để thúc đẩy sự tương tác của con họ với các thành viên khác trong gia

Trang 30

đình (trong trường hợp trẻ bị kích động, bị ức chế) hoặc không khuyến khích tương tác với người lạ (trong trường hợp trẻ em mất đoàn kết)

Với những trẻ em bị rối loạn gắn bó có thể được khuyến nghị làm việc với các nhà trị liệu nhận thức hành vi hoặc chơi theo định hướng của trẻ để giúp thể hiện và xử lý những cảm giác phức tạp mà chúng thể hiện trong các tình huống và trang bị cho trẻ kỹ năng để ứng phó các tình huống hiệu quả hơn với những tình huống xuất hiện cảm xúc, hành vi tiêu cực Sự phát triển của một mối quan hệ lành mạnh với một nhà trị liệu có thể sẽ có lợi trong quá trình điều trị của trẻ

Những biện pháp điều trị khả thi khác nhau cho rối loạn phản ứng gắn bó của trẻ thường tập trung vào việc tăng cường các mối quan hệ gắn bó phù hợp cảu trẻ, không khuyến khích hành vi gắn bó không phù hợp/ không an toàn, giúp thúc đẩy các mối quan hệ hài hoà trong toàn bộ gia đình và tăng các hỗ trợ xã hội sẵn có cảu trẻ Mục tiêu của các can thiệp này là khuyến khích trẻ phát triển niềm tin vào khả năng quan hệ hệ yêu thương và an toàn nhất quán; Làm tăng đáng kể khả năng của trẻ để phát triển các mối quan hệ phù hợp và tham gia vào các hoạt động xã hội

1.2 Một số vấn đề lý luận về gắn bó và vấn đề hành vi ở trẻ

1.2.1 Các khái niệm cơ bản về gắn bó

1.2.1.1 Khái niệm gắn bó

Theo Ainsworth (1992/1993/1995) đưa ra: Gắn bó là một sự liên kết tình

cảm cá nhân hình thành giữa người này với người khác tồn tại theo thời gian và không gian Sự gắn bó thể hiện bằng các hành vi thúc đẩy sự gần gũi và liên kết Ở

trẻ sơ sinh những hành vi này bao gồm gần gũi, nhìn theo, bám dính và các tín hiệu (cười, khóc, gọi) Thông qua các hoạt động này mà đứa trẻ thể hiê ̣n với người chăm sóc có thể là quan trọng, an toàn, thỏa mãn Một số tác giả gọi đó là nhóm các phản ứng định hướng xã hội này là “sự phụ thuộc”, trong khi những người khác lại gán cho nó là “tình yêu”(Thomas L Crandell, Corinne Haines Crandell, 2011, tr.177)

Trong quá trình nghiên cứu Tâm lý học phát triển, tác giả Trương Thị Khánh

Hà đưa ra “Sự gắn bó là mối liên hệ cảm xúc giữa cha mẹ và con cái Nó chứa đựng

các yếu tố như tình cảm gần gũi và yêu thương Mối liên hệ qua lại đó giữa cha mẹ

và con cái bắt đầu hình thành từ khi đứa trẻ sinh ra và tiếp tục phát triển sâu sắc trong thời kỳ ấu thơ của trẻ” (Trương Thị Khánh Hà, 2013, tr82)

Trang 31

Sự phát triển xã hội bắt đầu bằng việc thiết lập các mối quan hệ tình cảm gần gũi giữa một đứa trẻ và người mẹ, người cha, hay người chăm sóc đứa trẻ đó Mối quan hệ khăng khít, bền vững, tình cảm này được gọi là sự gắn bó Do trẻ chưa thể

tự ăn hay tự bảo vệ chính mình, chức năng sớm nhất của gắn bó là để bảo đảm việc sống còn (RichardJ Gerrig, Philip G.Zimbardo, 2016, tr.370)

Trong lý thuyết về sự gắn bó, Bowlby (1969) đã xác định “gắn bó như một mối liên kết quyền năng hợp nhất hai người với nhau” Theo Bowlby và Ainsworth, quan hệ đầu tiên và chủ yếu của em bé khi mới sinh ra không phải là với đồ vật chung quanh mà là với con người, với người chăm sóc trực tiếp, có thể là mẹ đẻ hoặc là người mẹ thay thế, tức mẹ - nuôi (Caregiver) Ngay từ trong những tháng đầu, em bé không thụ động mong đợi mẹ săn sóc, mà chủ động đối với mẹ, có một loạt ứng xử: kêu khóc, mỉm cười, bám víu, nhìn theo, tìm theo làm cho mẹ quan tâm; đây là những tín hiệu, cách diễn đạt của trẻ Điều này cho phép trẻ sử dụng sự gắn bó như một điểm tựa an toàn qua thời gian và khoảng cách Em bé có thể gợi hình ảnh mẹ trong lúc mẹ đi vắng Vì vậy, khi mẹ ra đi, biểu hiện quyến luyến của trẻ chỉ rõ nét ở những lúc trẻ mỏi mệt hoặc bực bội Ngoài mẹ, trẻ có thể gắn bó với một số người khác Dựa trên cách đáp ứng của mẹ, có thể phân biệt ra các kiểu gắn bó: mẹ bình thường đáp ứng thoải mái hoặc chính mẹ bị rối loạn tâm lý đáp ứng khó khăn, khi tránh né trẻ, khi quá nuông chiều trẻ, hoặc khi hắt hủi trẻ (Nguyễn Khắc Viện, 1994, tr.101)

Gắn bó là sự ràng buộc cảm xúc sâu sắc và lâu dài, kết nối người này với người khác thông qua thời gian và không gian (Bowlby, 1969; Ainsworth, 1973)

Như vậy, Bowlby định nghĩa gắn bó như “một sự kết nối tâm lý bền vững giữa con

người với nhau” (Nguyễn Ánh Tuyết , 2012, tr.194) Ông cho rằng, gắn bó có thể

được hiểu trong một hoàn cảnh tiến hóa mà ở đó người chăm sóc đem lại sự an toàn

và cảm giác an toàn cho trẻ Sự gắn bó mang tính thích ứng khi nó làm tăng cơ hội sống còn cho trẻ Điều này được minh chứng trong công trình nghiên cứu của Lorenz (1935) và Harlow (1958) Theo Bowlby, trẻ có một nhu cầu phổ biến là tìm kiếm sự gần gũi mật thiết với người chăm sóc trẻ khi trẻ ở vào tình huống căng thẳng hoặc bị đe dọa (Prior & Glaser, 2006)

Trang 32

Bourges định nghĩa: “Gắn bó được xem là mối quan hệ ưu tiên nối kết giữa

người này với người khác mà sự lựa chọn này được dựa trên một sự ham muốn hay một nhu cầu Gắn bó được quy định bởi các kinh nghiệm có được qua các giai đoạn

nhạy cảm” (dẫn theo Văn Thị Kim Cúc, 2003, tr.83)

Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, khái niệm “gắn bó” mô tả một phương thức ứng xử trong quan hệ mẹ - con, đặc biệt ở năm đầu tiên, bao gồm quan hệ về thể chất cũng như về tâm lý Người mẹ ở đây không nhất thiết là mẹ đẻ (mẹ sinh học), mà còn là người chăm sóc hàng ngày, tức là mẹ - nuôi.Gắn bó là có quan hệ hoặc làm cho có quan hệ tinh thần, tình cảm khó tách rời nhau (Hoàng Phê,

2010, tr.320)

Từ điển tâm lý học đưa ra định nghĩa: “Gắn bó là mối liên kết chặt chẽ giữa

người này với người khác Gắn bó mô tả mối quan hệ về mặt thân thể, cũng như tâm lý giữa những người có ý nghĩa đặc biệt với trẻ, đặc biệt là người mẹ hay người nuôi dưỡng Trẻ sơ sinh tìm kiếm sự chăm sóc, gắn bó như một bước để thiết lập

cảm giác được an toàn Trong thời kỳ đầu mới sinh (1 đến 3 tháng) trẻ có phản xạ hướng về một người bất kỳ khi người đó lại gần trẻ Từ tháng thứ 3, trẻ đã biết phân biệt lạ, quen Gắn bó được quan sát rõ nét ở những trẻ 6 đến 12 tháng tuổi khi những người quan trọng đối với chúng (như: bố, mẹ, những người trong gia đình và những người trẻ quí mến) đang chơi với chúng rồi bỏ đi Trẻ thường khóc hoặc tìm cách để theo người đó Khi người đó quay lại trẻ cảm thấy mừng hoặc hài lòng” (Vũ Dũng, 2008,tr.200)

Theo các nhà nghiên cứu, mức độ và hình thức gắn bó (đặc biệt là trong những năm đầu đờ i của trẻ ) có tác động sâu sắc đến sự phát triển tâm lý của trẻ về sau Nếu trẻ gặp trắc trở trong thiết lập quan hệ gắn bó thì điều đó có thể gây ra ở trẻ những bệnh về tâm lý hoặc sinh lý

Như vậy, trong nghiên cứu này, tôi đồng nhất quan điểm với Bowlby, gắn bó

là sự ràng buộc cảm xúc sâu sắc và lâu dài – một sự kết nối tâm lý bền vững giữa

trẻ và người chăm sóc Sự gắn bó cho thấy sự an toàn và cảm giác an toàn mà người chăm sóc mang lại cho trẻ

Trang 33

1.2.1.2 Các biểu hiện của sự gắn bó

Sự gắn bó mẹ con đặc trưng bởi sự gắn kết mạnh mẽ, cảm xúc nồng ầm và

sự giao lưu tình cảm sâu sắc giữa mẹ và con, đặc biệt là trong năm đầu đời Người

mẹ ở đây không nhất thiết là mẹ đẻ, mà có thể là người chăm sóc trẻ hàng ngày

Biểu hiện của sự gắn bó mẹ con là các hành vi làm tăng sự gần gũi tiếp xúc của đứa trẻ với người mẹ.Từ lúc lọt lòng trẻ đã có những phản xạ như mút, bám níu, khóc, mỉm cười, thỏa mãn khi được ôm ấp vỗ về Phản xạ rúc đầu vào bụng, vào ngực mẹ, một mặt là để tìm vú, mặt khác là muốn áp vào da thịt mẹ… Tất cả các phản ứng đó tạo ra quan hệ cảm xúc gần gũi giữa mẹ và con Quan hệ với người mẹ qua xúc giác là mối quan hệ xuất hiện sớm nhất và có vai trò bậc nhất đối với trẻ trong năm đầu

Sự gần gũi về thể chất và cảm xúc: Gắn bó mẹ con được đặc trưng bởi sự tìm

kiếm và duy trì trạng thái gần gũi giữa trẻ và mẹ (Avant, 1979; Marecki & cs., 1985; Lobar & Philipps, 1992) Theo Bowlby (1969), người mẹ lên kế hoạch gắn bó với con từ trước sự ra đời của trẻ Với kế hoạch này, người mẹ đã dự kiến khoảng thời gian cùng sống với trẻ và hạn chế các tình huống gây ra sự xa cách Vì thế, sự gần gũi được xem như một điều kiện mà trong đó bố mẹ giới hạn khoảng không gian giữa họ với trẻ bằng cách tạo thuận lợi cho sự tương tác và sự phát triển của trẻ Những tiếp xúc sớm và lặp lại từ khi trẻ sinh ra cho phép bố mẹ vững tin về sự tồn tại thực của trẻ và tìm hiểu về trẻ Nuôi dưỡng, ôm ấp, đu đưa, duy trì tiếp xúc mắt kéo dài và tìm kiếm một cách tích cực những cơ hội tương tác với con là những hành vi thuận lợi cho sự phát triển mối quan hệ gắn bó

Người mẹ thường dùng các cách thức giác – động khác nhau để tiếp xúc với con, sự đụng chạm và tiếp xúc mắt là những cách thức hiệu quả nhất trong giao tiếp với trẻ bé (Bourassa & cs, 1986; Brazelton & Cramer, 1992) Khi trẻ khóc, cười, bám víu hay nhìn theo, nó đã góp phần vào việc duy trì sự gần gũi với bố mẹ Việc duy trì và tìm kiếm sự gần gũi làm nảy sinh các cảm giác yêu thương, an toàn và vui

vẻ ở cả trẻ và mẹ (Karen, 1994)

- Sự tương tác: Khả năng giao tiếp của trẻ và của mẹ là một mắt xích nhỏ

nhưng hết sức cần thiết cho chất lượng mối quan hệ Tương tác là một kiểu thích

Trang 34

ứng trong mối quan hệ dẫn đến hình thành một loạt hành vi thỏa mãn lẫn nhau Như thế, hành vi của mẹ được thích ứng với những dấu hiệu mà trẻ tạo ra nhằm hình thành nên một phản ứng tích cực ở trẻ (Aderson, 1981)

- Sự cam kết: Việc hình thành nên mối liên kết gắn bó kéo theo một mối quan

hệ bền vững mà ở đó bố mẹ, đặc biệt là người mẹ, cảm thấy có trách nhiệm cũng như luôn sẵn sàng về mặt thể chất và tâm lý đối với trẻ (Bourassa, 1986) Là người

mẹ được gắn bó có nghĩa là luôn cảm thấy được ràng buộc với con, có trách nhiệm

về sự an toàn, sự trưởng thành và sự phát triển của con và đảm bảo cho con một vị trí nhất định trong gia đình và ngoài xã hội Bởi thế, bố mẹ, nhất là người mẹ cần thiết phải đặt trẻ vào trung tâm cuộc sống của họ và của không gian gia đình Khi trẻ xuất hiện, các hệ thống gắn bó trong gia đình được tổ chức lại; theo đó, mỗi thành viên sẽ tiếp tục cảm giác an toàn và tự do trong cuộc sống chung

1.2.1.3 Các giai đoạn gắn bó mẹ con

Các giai đoạn gắn bó của trẻ với người chăm sóc theo Bowlby:

Giai đoạn tìm kiếm (0 – 3 tháng tuổi) : với giới hạn của cơ quan thụ cảm, sự

gắn bó của trẻ chưa hướng đến sự đối tượng cụ thể, chưa tỏ ra khó chịu khi người lạ

bễ ẵm Trẻ tỏ ra thích nghe giọng nói của con người hơn là những âm thanh khác, thích nghe giọng nói của mẹ hơn là của người khác Đến 2 tháng tuổi,trẻ bắt đầu thể hiện nhu cầu gắn bó qua những giao tiếp bằng mắt

Giai đoạn thiết lập (3 – 6 tháng): Biết cười đáp lại những phản ứng này đã

trở nên chọn lọc duy trì hơn, nhạy với người nuôi dưỡng hơn là với người lạ Trẻ bắt đầu biết phân biệt người quen với người lạ Trẻ chưa biểu hiện rõ rệt cảm giác lo

âu khi phải tạm xa mẹ

Giai đoạn đỉnh cao (6 – 24 tháng): Phân biệt được cha mẹ với người lạ và

thể hiện sự gắn bó rất chọn lọc Nhu cầu được gần gũi mẹ rất lớn Các biểu hiện của mong muốn này được trẻ bộc lộ rõ và chủ động hơn Xuất hiện sự lo âu rõ rệt khi phải xa cách mẹ Khi đó, nếu người lạ xuất hiện, trẻ sẽ biểu hiện những thích ứng được việc xa mẹ tạm thời và sự xuất hiện của người lạ Cảm giác được an toàn của trẻ ổn định hơn Đối tượng và mục tiêu của sự gắn bó được mở rộng ra phản ứng rất mạnh và bộc phát

Trang 35

Giai đoạn duy trì (2 – 3 tuổi): Thích ứng được với việc xa mẹ tạm thời và sự

xuất hiện của người lạ Cảm giác được an toàn của trẻ ổn định hơn Đối tượng và mục tiêu của sự gắn bó được mở rộng (Nguyễn Hồi Loan,Trần Thu Hương, 2018, tr.255 – 256)

1.2.1.4 Các kiểu gắn bó

Gắn bó an toàn: Trẻ có gắn bó an toàn có hướng khám phá môi trường một

cách tự do và tương tác tốt với người lạ khi có sự hiện diện của người chăm sóc Trẻ

có thể bị khó chịu bởi chia cách và nếu có, trẻ sẽ phản đối và giới hạn lại việc khám phá môi trường khi người chăm sóc vắng mặt Trong lúc gặp mặt lại, trẻ đón chào người chăm sóc một cách tích cực và tìm kiếm tiếp xúc với người này và sẵn sàng được dỗ dành, trẻ cũng có thể quay lại chơi sau một lúc được tái nạp năng lượng cảm xúc Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bởi sự nhạy bén với nhu cầu của trẻ Đặc biệt là người chăm sóc đọc được các tín hiệu của trẻ một cách chính xác và đáp ứng một cách nhanh chóng, phù hợp và với cảm xúc tích cực

Gắn bó tránh né không an toàn: Trong gắn bó tránh né, trẻ dường như độc lập

một cách sớm hơn bình thường Trẻ dường như không dựa vào người chăm sóc để có được an toàn khi người chăm sóc hiện diện, trẻ khám phá căn phòng rất độc lập và đáp ứng với người chăm sóc và người lạ như nhau Trẻ đáp ứng rất ít đối với sự vắng mặt của người chăm sóc, đôi khi trẻ thậm chí không nhìn theo khi người chăm sóc rời khỏi Trong lúc gặp mặt lại, những trẻ này né tránh gần gũi với người chăm sóc, trẻ có thể quay đi, tránh giao tiếp mắt, và phớt lờ người chăm sóc Mặc dù trẻ có vẻ thờ ơ nhưng khi đo lường các chỉ số sinh lý cho thấy trẻ thực ra có khó chịu Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bằng sự xa cách và thiếu vắng sự dỗ dành đi kèm với khó chịu

và giận dữ trong khi gần gũi Người ta cho rằng né tránh là sự cố gắng của trẻ đối mặt với nhu cầu của cha mẹ muốn cách xa bằng cách trẻ giữ đáp ứng thấp và kiềm chế biểu

lộ cảm xúc mà nó có thể gây ra sự từ chối của cha mẹ

Gắn bó chống đối không an toàn: ngược lại với trẻ né tránh, trẻ có gắn bó

chống đối (cũng được gọi là hai chiều) bị bận rộn với người chăm sóc, trẻ có khuynh hướng bám dính vào và bị ức chế từ việc khám phá căn phòng hoặc từ việc tương tác với người lạ ngay cả khi có mặt của người chăm sóc Trẻ dễ bị gây khó

Trang 36

chịu khi chia cách, nhưng khi gặp mặt lại, trẻ cố gắng chống đối một cách giận dữ khi gần gũi và không dễ dỗ dành Trẻ đáp ứng với mẹ bằng tìm kiếm gần gũi hai chiều và từ chối Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bằng khả năng không thể dự đoán được, đôi khi người chăm sóc gần gũi quá mức và lúc khác thì lại không liên quan với trẻ hay khó chịu Chống đối được xem như là những cố gắng của trẻ nhằm để có được sự chú ý của người chăm sóc, trong khi đó giận dữ lại đến

từ việc ấm ức về chăm sóc không tương hợp

Gắn bó rối loạn tổ chức không an toàn: đây là kiểu gắn bó mới được thêm

vào sau này Trẻ bị rối loạn tổ chức hoạt động theo một cách thức không tương hợp hay khác lạ Những trẻ này có thể biểu lộ ngạc nhiên hay đi lang thang xung quanh không có mục đích hay sợ hãi và hai chiều trong sự hiện diện của người chăm sóc, không biết là trẻ tiếp cận với người chăm sóc để được dễ chịu hay tránh né để được

an toàn Nếu trẻ tìm kiếm sự gần gũi, trẻ làm theo cách thức bóp méo như là tiếp cận với người chăm sóc và phía sau hay bất thình lình lạnh lùng và nhìn chằm chằm vào khoảng không Không giống như trẻ nhỏ có gắn bó né tránh và chống đối, những trẻ này dường như không phát triền một chiến lược ổn định để tiếp xúc với người chăm sóc (Nguyễn Hồi Loan,Trần Thu Hương, 2018, tr.253 – 254)

1.2.2 Các khái niệm về vấn đề hành vi ở trẻ

1.2.2.1 Vấn đề hành vi

Trẻ em đang độ tuổi phát triển và trưởng thành, thể chất và tâm lý đang biến động Khác với người lớn, hành vi của trẻ nhỏ chưa bị chi phối nhiều bởi phong tục tập quán, kỷ cương, luật lệ xã hội Ranh giới giữa bình thường và bất thường khó xác định rõ Việc đánh giá bình thường và b ệnh lý bao giờ cũng phải tính đến tuổi phát triển tâm lý của trẻ em, mức độ trầm trọng, sự tái diễn, kéo dài của hành vi rối loạn Bình thường - bất thường - bệnh lý là một liên thể Không thể định nghĩa khái niệm bình thường mà không kể đến khái niệm bệnh lý và ngược lại Bình thường có nhiều nghĩa theo các quan niệm khác nhau

Vấn đề hành vi (behavior problem): là biểu hiện triệu chứng về tình trạng

bất ổn về tình cảm hoặc giữa cá nhân, đặc biệt là ở trẻ em như cắn móng tay, đái dầm, tiêu cực hoặc những hành vi thù địch, gây hấn, chống đối xã hội)

Trang 37

1.2.2.2 Các vấn đề hành vi thường xuất hiện ở trẻ

Các vấn đề sức khoẻ tâm thần ở trẻ em và thanh thiếu niên bao gồm một số rối loạn cảm xúc và hành vi, bao gồm rối loạn trầm cảm, lo âu, rối loạn phát triển lan toả (tự kỷ), đặc trưng là các vấn đề bên trong và bên ngoài Các vấn đề hành vi gây rối như giận dữ, rối loạn tăng động giảm chú ý, rối loạn hành vi chống đối, rối loạn hành vi thích ứng là những vấn đề phổ biến nhất ở trẻ em tuổi mẫu giáo và tuổi

đi học

Nói chung rối loạn sức khoẻ tâm thần (MHD) diễn ra phổ biến ở thời thơi ấu bao gồm cả rối loạn cảm xúc – ám ảnh cưỡng chế (OCD), lo âu, trầm cảm, rối loạn thách thức chống đối (ODD), rối loạn chống đối (CD), rối loạn tăng động giảm chú

ý (ADHD) hoặc rối loạn phát triển (chậm nói/ ngôn ngữ, khuyết tật trí tuệ), rối loạn phát triển lan toả (rối loạn phổ tự kỷ) Các vấn đề về cảm xúc và hành vi (EBP)/ rối loạn cảm xúc và hành vi (EBD) cũng có thể được phân loại thành rối loạn nội tâm (rối loạn cảm xúc như trầm cảm và lo âu) hoặc hướ ng ngoa ̣i (hành vi gây rối như ADHD và CD) Dưới đây, tôi đề cập đến rối loạn hành vi thích ứng là vấn đề hành

vi liên quan đến đề tài nghiên cứu:

Các rối loạn thích ứng: Trạng thái đau khổ chủ quan và rối loạn cảm xúc,

thường gây trở ngại cho các chức năng hoạt động xã hội và hiệu suất công việc, và chúng phát sinh trong giai đoạn thích ứng với những thay đổi đáng kể trong cuộc sống hay với một sự kiện gây stress trong cuộc sống Tác nhân gây stress có thể ảnh hưởng lên sự toàn vẹn các mối quan hệ xã hội của cá nhân (tang tóc, chia ly) hoặc lên hệ thống rộng lớn hơn về các giá trị và nâng đỡ xã hội (di cư, tình trạng tỵ nạn) hay chúng tiêu biểu cho những giai đoạn khủng hoảng hoặc những giai đoạn chuyển tiếp phát triển chủ yếu (như việc đi học, việc trở thành cha mẹ, thất bại trong việc đạt được một mục tiêu cá nhân đã hy vọng từ lâu, sự về hưu) Tố bẩm cá nhân hoặc tính dễ bị tổn thương đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ mắc bệnh và trong việc hình thành các biểu hiện của rối loạn sự thích ứng, tuy nhiên người ta vẫn cho rằng tình trạng này đã không xảy ra nếu như không có tác nhân gây stress Các biểu hiện thường thay đổi và bao gồm khí sắc trầm, lo âu hay phiền muộn (hoặc hỗn hợp các

lo âu đó), cảm giác không có khả năng đối phó, dự định trước, hoặc tiếp tục trong

Trang 38

hoàn cảnh hiện tại, cũng như vài mức độ giảm hiệu suất của các công việc hàng ngày Đặc biệt ở tuổi thanh thiếu niên có thể có kết hợp với các rối loạn hành vi Triệu chứng ưu thế có thể là một phản ứng trầm cảm ngắn hay kéo dài, hay một rối loạn cảm xúc và hành vi khác Sốc văn hóa Phản ứng đau khổ Hội chứng lưu viện ở

trẻ em Loại trừ: rối loạn lo âu chia ly ở trẻ em (F93.0)

Tóm lại các v ấn đề tâm lý của trẻ em và thanh thiếu niên, thường liên quan chặt chẽ với môi trườ ng gia đình và trư ờng học, cần quan tâm khai thác các thông tin về lịch sử gia đình và cá nhân, các sự kiện quan trọng, các cảm xúc, các mối quan hệ tương tác giữa các thành viên gia đình, với thầy cô giáo, với các bạn cùng

độ hình thành những phản xạ có điều kiện tăng nhanh, hệ thống tín hiệu thứ hai và các cơ quan phân tích cảm giác phát triển mạnh Sự phát triển nhanh của hệ thần kinh và cơ thể là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển những chức năng tâm lý cao

Hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này là hoạt động vui chơi đặc biệt là trò chơi đóng vai Trò chơi đóng vai được xem như cách trẻ mô phỏng một mảng nào đó của cuộc sống người lớn trong xã hội bằng việc nhập vai vào một nhân vật nào đó để thể hiện chức năng xã hội của họ bằng những hành động mang tính tượng trưng Trò chơi này có ý nghĩa đặc biệt, chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo và đóng vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ giai đoạn này,

tạo ra cấu tạo mới trong đời sống tâm lý của trẻ (Trương Thị Khánh Hà, 2013)

Trang 39

đã biết ghép câu đơn, sử dụng các thành phần phần ngữ pháp tương đối đúng Bắt chước, củng cố các cấu trúc ngôn ngữ bẩm sinh, sự phát triển nhận thức của trẻ là những yếu tố có vai trò quan trọng nhất ảnh hưởng tốt quá trình lĩnh hội ngôn ngữ

mẹ đẻ một cách tự nhiên

Khoảng 4 – 5 tuổi các bình diện ngôn ngữ như từ vựng, ngữ âm, ngữ điệu, ngữ pháp hầu như đã được trẻ nắm vững Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ đã phát triển ngôn ngữ mạch lạc Có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy Vỗn từ của trẻ lúc đó

có thể đạt tới 3000 – 4000 từ Trẻ sử dụng danh từ, động từ, tính từ, đại từ, liên từ

để diễn tả các tình huống một cách thành thạo Các cấu trúc ngữ pháp và các quy tắc

đều được trẻ tuân thủ khi nói (Trương Thị Khánh Hà, 2013)

1.2.3.3 Sự phát triển tâm lý

Về mặt nhận thức ở giai đoạn này, trí nhớ là quá trình phát triển mạnh mẽ nhất, giúp trẻ lưu giữ khối lượng khổng lồ các hình ảnh, biểu tượng, ký hiệu, làm nguyên liệu cho các quá trình tâm lý phức tạp và cao cấp hơn sau này Ở giai đoạn này, phần lớn là trí nhớ không chủ định trẻ không đặt mục đích phải nhớ Trí nhớ có chủ định bắt đầu phát triển từ khoảng 4, 5 tuổi

Cũng chính vì vậy tri giác trở nên đa dạng, bao hàm những mối liên hệ khác nhau giữa đối tượng được tri giác với các sự vật, hiện tượng trẻ đã quen gặp và làm quen trong quá khứ Các hành động tri giác có chủ định như quan sát, tìm tòi bắt đầu phát triển phục vụ nhu cầu nhận thức ngày càng tăng ở trẻ

Từ 3 đến 6 tuổi, trẻ bắt đầu hình thành nhiều loại biểu tượng phức tạp hơn

Đó là những biểu tượng về khối lượng (nặng, nhẹ); về kích cỡ (to, nhỏ, lớn, bé); về mối quan hệ không gian (trên, dưới, trước, sau, trong, ngoài); về các hiện tượng trong thiên nhiên (mưa, nắng, sáng, tối); về so sánh số lượng, kích thước (ít hơn, nhiều hơn, to hơn, bé hơn) Đặc biệt, các em bắt đầu hình thành các biểu tượng về các chuẩn mực xã hội (ngoan, hư, tốt, xấu) thông qua việc tri giác các hiện tượng cụ thể và được người lớn chỉ dẫn

Giai đoạn này đặc trưng bởi sự xuất hiện chức năng biểu tượng, đó là sử dụng từ ngữ, các động tác hay vật nào đó để diễn tả hay biểu thị sự vật, hiện tượng

Trang 40

khác Trẻ sử dụng các biểu tượng trong mọi tình huống, đặc biệt là trong khi chơi hay diễn tả sự bắt chước sự vật, hiện tượng nào đó mà trẻ sẽ thấy

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các biểu tượng, tư duy của trẻ từ 3 – 6 tuổi không chỉ gắn với hành động với vật thật bên ngoài mà còn thao tác với các hình ảnh, biểu tượng bên trong Trẻ bắt đầu có khả năng tư duy hình tượng Bước chuyển từ tư duy hành động sang tư duy hình tượng là bước chuyển từ ngoài vào trong, là bước chuyển quan trọng trên con đường lĩnh hội kinh nghiệm xã hội loài

người (Trương Thị Khánh Hà, 2013)

1.2.3.4 Sự phát triển các mối quan hệ giao tiếp

Trẻ 3 – 6 tuổi có phạm vi giao tiếp mở rộng hơn trước rất nhiều Trong hai tuyến quan hệ tương tác với đồ vật và với con người thì ở lứa tuổi này, tuyến quan

hệ với người – người nổi trội hơn trong hoạt động của trẻ (Enconhin, 2004) Các mối quan hệ chính vẫn là giao tiếp với cha mẹ, cô giáo và bạn cùng tuổi

Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái tuổi mẫu giáo diễn ra tốt đẹp, trẻ thường quấn quýt và gắn bó với cha mẹ người thân và thể hiện tình cảm đó bằng các hành

vi và lời nói rất đáng yêu Ở tuổi này, tình bạn trẻ mẫu giáo đã bắt đầu hình thành Trẻ đã có xu hướng thích chơi với một số bạn này hơn là bạn khác Nói chung, mối quan hệ giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với trẻ 3 – 6 tuổi trong các hoạt động vui chơi, học tập giúp đỡ lẫn nhau của trẻ Chất lượng của các hoạt động này

lại chi phối sự phát triển tâm lý ý thức của trẻ (Trương Thị Khánh Hà, 2013)

1.2.3.5 Ảnh hưởng của gắn bó mẹ con đến quá trình phát triển của trẻ

Để phát triển bình thường trẻ sơ sinh phải học cách khám phá và giao tiếp với môi trường, thực hành sức lực vận động của chúng Vì môi trường chứa đựng nhiều nguy hiểm nên đối với trẻ hoảng sợ trước các kích thích không quen thuộc, việc tìm kiếm và tiếp xúc với bố mẹ là có lợi Xu hướng này làm cho sự việc có vẻ như là bố mẹ có khả năng bảo vệ trẻ

Sự hiện diện của người chăm sóc sẽ tạo cho trẻ sự yên tâm đáng kể khi nó lần đầu tiên thám hiểm môi trường Mặc dù môi trường không quen thuộc tạo ra nỗi

sợ, bố mẹ là căn cứ địa an toàn mà đứa trẻ rời bỏ thường xuyên để khám phá, xem

thể giới ra làm sao

Ngày đăng: 16/02/2020, 13:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w