1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đời sống tinh thần của người kơho ở lâm đồng trong quá trình đô thị hóa (nghiên cứu trường hợp xã tà nung và thị trấn lạc dương, đà lạt, lâm đồng)

231 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 231
Dung lượng 4,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Khảo sát và phân tích thực trạng đời sống tinh thần của người Kơho trong quá trình đô thị hóa, thông qua phân tích mô tả những nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đặc trưng nhân khẩu xã

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ NHƯ THÚY

ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KƠHO

Ở LÂM ĐỒNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

(Nghiên cứu trường hợp xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, Đà Lạt, Lâm Đồng)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ NHƯ THÚY

ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KƠHO

Ở LÂM ĐỒNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

(Nghiên cứu trường hợp xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, Đà Lạt, Lâm Đồng)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án Tiến sĩ Xã hội học với đề tài: “Đời sống tinh thần

của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình Đô thị hóa” (Nghiên cứu trường hợp xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, Đà Lạt, Lâm Đồng) là công trình do chính

tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, chính xác (là kết quả nghiên cứu thực nghiệm mà tôi đã tiến hành thực hiện tại xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, Đà Lạt, Lâm Đồng từ tháng 1 đến tháng

2 năm 2017) và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận án đã được ghi rõ nguồn gốc Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

“Học, học nữa, học mãi” (Lênin), học là con đường kéo dài suốt quá trình tồn tại của mỗi con người chúng ta, giúp cho bản thân mỗi người có được những kiến thức trong sách vở, những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thiết lập các quan

hệ xã hội, học để thích nghi với sự mọi sự biến đổi, để ứng dụng khoa học kỹ thuật,

kỹ năng và kiến thức vào thực tế cuộc sống; có thể nói, học là con đường để mỗi chúng ta chuẩn bị cho mình một hành trang với đầy đủ những kỹ năng, tri thức, kinh nghiệm và thái độ để bước vào cuộc sống với bao khó khăn Điều đó cũng cho thấy rằng “học” không phải là một khái niệm đơn giản, mà đó là một khái niệm cần nhiều yếu tố, là phải có người dạy học, người dẫn dắt, hướng dẫn và yếu tố người học cùng với các phương tiện kỹ thuật, các bài giảng, … giữa chúng luôn có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau, có tác động qua lại lẫn nhau để cùng phát triển, tiến

bộ Trong thời kỳ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, người Thầy được nhắc đến với vai trò không chỉ dạy học, mà còn là người giữ vị trí rất quan trọng trong việc định hướng, hướng dẫn người học giải quyết các vấn đề, giúp người học tiến tới những tri thức mới, tầm cao mới

Để hoàn thành được luận án tiến sĩ này, trước hết, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà – Giáo viên hướng dẫn của tôi; người đã dành nhiều thời gian và công sức để đọc, chỉnh sửa và góp ý cho tôi cả về nội dung cũng như cách thức tiến hành thu thập, xử lý thông tin và cách thức trình bày Thực sự, nếu Cô không cho tôi niềm tin, không kề vai sát cánh trong từng bước đi của tôi, cũng như những khích lệ, động viên kịp thời cùng với những ý kiến đóng góp quý báu của Cô thì tôi sẽ không thể hoàn thành được luận án này Một lần nữa, em xin phép gửi đến Cô lời tri ân sâu sắc nhất!

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa, người đã luôn tin tưởng tôi, xây dựng cho tôi một niềm tin để vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong buổi đầu bở ngỡ bước vào quá trình học tập và nghiên cứu ở môi trường mới – Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn

Hà Nội Cám ơn Cô rất nhiều vì đã luôn tin tưởng và động viên em!

Trang 5

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban Chủ nhiệm Khoa Xã hội học, tập thể quý Thầy giáo, Cô giáo thuộc Khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội; quý Thầy giáo, Cô giáo thuộc viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ đã nhiệt tình chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức chuyên môn cho tôi trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường

Tôi cũng xin cám ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh; Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, tập thể quý Thầy, Cô khoa Lý luận chính trị - Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh đã góp ý và tạo điều kiện về mặt thời gian cho tôi đi học và nghiên cứu

Nhân đây tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn đến giảng viên Đào Thị Hiếu – Khoa Công tác xã hội, các Thầy Cô khoa Lịch sử, Trường Đại học Đà Lạt và các em sinh viên lớp XHH K37; K38, K39 (Trường Đại học Đà Lạt) - những người đã giúp chúng tôi về tư liệu cũng như thu thập thông tin tại địa bàn nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến gia đình tôi gồm ba mẹ, anh, chị, em và chồng, con tôi đã luôn ở bên tôi để động viên, chia sẽ về vật chất cũng như tinh thần khi tôi gặp những khó khăn tưởng chừng như bỏ cuộc, kết quả này xem như một món quà tôi dành tặng đến tất cả những người thương yêu nhất của tôi!

NCS: Nguyễn Thị Nhƣ Thúy

Trang 6

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC HÌNH 6

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 7

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 13

5 Câu hỏi nghiên cứu 14

6 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 14

7 Phương pháp nghiên cứu 16

8 Những đóng góp mới của luận án 19

9 Kết cấu luận án 20

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 21

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 21

1.1 Những nghiên cứu về đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Tây Nguyên 21

1.2 Những nghiên cứu về đô thị hóa và đời sống văn, hóa tinh thần trong quá trình đô thị hóa 24

1.3 Những nghiên cứu về người dân tộc thiểu số (dân tộc ít người) 30

1.4 Vai trò của truyền thông đại chúng trong đời sống tinh thần 35

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 41

2.1 Những khái niệm cơ bản trong luận án 41

2.1.1 Đời sống tinh thần 41

2.1.2 Quá trình đô thị hóa 44

2.1.3 Dân tộc Kơho 45

2.2 Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 48

2.2.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý 48

2.2.2 Lý thuyết đô thị hóa 51

Trang 7

2.2.3 Lý thuyết về biến đổi xã hội 53

2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển đời sống tinh thần của người dân tộc thiểu số 57

2.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 59

CHƯƠNG 3 ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KƠHO QUA HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT VĂN HÓA THƯỜNG NGÀY 72

3.1 Những biểu hiện trong đời sống tinh thần qua hoạt động sinh hoạt thường ngày 73

3.1.1 Giao tiếp thường ngày 73

3.1.2 Một số hoạt động giải trí trong thời gian rỗi 77

3.1.2.1 Xem truyền hình 79

3.1.2.2 Nghe truyền thanh 84

3.1.2.3 Đọc báo in 88

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống tinh thần qua những sinh hoạt văn hóa thường ngày 95

3.2.1 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ảnh hưởng đến đời sống tinh thần qua những sinh hoạt văn hóa thường ngày 95

3.2.2 Các đặc trưng nhân khẩu ảnh hưởng đến đời sống tinh thần qua những sinh hoạt văn hóa thường ngày 103

3.2.2.1 Độ tuổi 103

3.2.2.2 Trình độ học vấn 104

3.2.2.3 Đặc điểm giới tính 106

3.2.2.4 Tôn giáo 107

3.2.2.5 Nghề nghiệp 107

3.2.3 Quá trình đô thị hóa và các phương tiện truyền thông đại chúng ảnh hưởng đến đời sống tinh thần qua những sinh hoạt văn hóa thường ngày 108

CHƯƠNG 4 ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KƠHO QUA CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA THEO KỲ DỊP 113

4.1 Đời sống tinh thần qua các hoạt động theo kỳ dịp của người Kơho ở Lâm Đồng 114

Trang 8

4.1.1 Lễ hội mừng lúa mới, năm mới và lễ hội đâm trâu 114

4.1.2 Lễ Tết, Giáng sinh 118

4.1.3 Văn hóa Cồng chiêng 122

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng qua các hoạt động theo kỳ dịp 131

4.2.1 Yếu tố Tôn giáo ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng qua các hoạt động theo kỳ dịp 132

4.2.2 Điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng qua các hoạt động theo kỳ dịp 138

4.2.3 Đô thị hóa và phương tiện truyền thông đại chúng ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng qua các hoạt động theo kỳ dịp 143

CHƯƠNG 5 ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KƠHO QUA NGHI LỄ CƯỚI XIN, MA CHAY 152

5.1 Nghi lễ cưới xin 152

5.1.1 Những biểu hiện trong đời sống tinh thần của người Kơho qua nghi lễ cưới xin 152

5.1.1.1 Lễ ăn hỏi 154

5.1.1.2 Vật thách cưới 160

5.1.1.3 Tổ chức lễ cưới 162

5.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho qua nghi lễ cưới xin 165

5.1.2.1 Điều kinh kinh tế, xã hội và đô thị hóa ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho qua nghi lễ cưới xin 166

5.1.2.2 Đặc trưng nhân khẩu xã hội ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho qua nghi lễ cưới xin 170

5.2 Nghi lễ ma chay 171

5.2.1 Quan niệm về “cái chết” và báo tin tang ma và những yếu tố tác động đến quan niệm về “cái chết” và báo tin tang ma 172

5.2.2 Quá trình thực hiện nghi thức ma chay và những yếu tố tác động đến nghi thức ma chay 173

5.2.2.1 Lễ nhập quan và lễ vật cúng cho người chết 173

Trang 9

5.2.2.2 Thời gian cử hành tang lễ và hạ huyệt 175

5.2.2.3 Kinh phí tổ chức ma chay 177

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN 180

1 Kết luận 180

2 Khuyến nghị 182

3 Những hạn chế của luận án trong nghiên cứu về đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng và những đề xuất mang tính định hướng 183

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ 185

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 186

PHỤ LỤC A: BẢNG HỎI VÀ TIÊU CHÍ PVS 195

PHỤ LỤC B: KẾT QUẢ DỮ LIỆU SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN 211

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Mức độ thăm hỏi hàng xóm láng giềng của người Kơho 75

Bảng 3.2: Mức độ đi Chùa, Nhà thờ, Đền Miếu của người Kơho 76

Bảng 3.3: Mức độ thăm hỏi hiếu hỉ, phúng điếu của người Kơho 77

Bảng 3.4: Mức độ theo dõi truyền hình của người Kơho 79

Bảng 3.5: Thời gian xem truyền hình của người Kơho 80

Bảng 3.6: Thời gian nghe phát thanh, radio trong ngày của người Kơho 85

Bảng 3.7: Nơi nghe phát thanh (radio) của người Kơho 85

Bảng 3.8: Thời gian đọc báo trong ngày của người Kơho 88

Bảng 3.9: Đánh giá thời gian theo dõi các phương tiện truyền thông đại chúng của người Kơho 94

Bảng 3.10: Tiện nghi sinh hoạt của người Kơho phân tổ theo địa bàn nghiên cứu 101

Bảng 3.11: Sử dụng dịch vụ truyền hình của người Kơho 102

phân tổ theo địa bàn nghiên cứu 102

Bảng 4.1: Mức độ tham gia các lễ hội văn hóa của người Kơho 116

Bảng 4.2: Mức độ tham gia lễ Tết, Giáng sinh của người Kơho 119

Bảng 4.3: Mức độ tham gia Lễ hội cồng chiêng của người Kơho 124

Bảng 4.4: Ý nghĩa của lễ hội văn hóa cồng chiêng trong đời sống của người Kơho 128

Bảng 4.5: Mức độ tham gia lễ hội văn hóa cồng chiêngcủa người Kơho theo tôn giáo 135

Bảng 4.6: Mức độ tham gia lễ hội đâm trâu của người Kơhotheo tôn giáo 135

Bảng 4.7: Mức độ tham gia lễ hội mừng lúa mới của người Kơho theo tôn giáo 136

Bảng 4.8: Nguyên nhân dẫn đến những thay đổi trong đời sống tinh thần của người Kơho tại hai địa bàn nghiên cứu 146

Bảng 4.9: Đánh giá về những thay đổi trong đời sống tinh thần của cộng đồng 10 năm trở lại đây 149

Bảng 5.1: Tuổi kết hôn của người Kơho hiện nay 156

Bảng 5.2: Tục bắt chồng của người Kơho 159

Bảng 5.3: Trang phục ngày cưới của cô dâu, chú rể 163

Bảng 5.4: Lễ cưới ngày nay của người Kơho khác lễ cưới ngày xưa 166

Bảng 5.5: Tham gia các sinh hoạt với các cộng đồng dân tộc trên địa bàn 167

Bảng 5.6: Trang phục lễ cưới của người Kơho 167

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Mục đích xem truyền hình của người Kơho (mean) 80

Hình 3.2: Hình thức xem truyền hình của người Kơho 82

Hình 3.3: Mức độ nghe nghe phát thanh/radio của người Kơho 84

Hình 3.4: Mục đích nghe phát thanh, radio của người Kơho 87

Hình 3.5: Mục đích đọc báo của người Kơho 90

Hình 3.6 : Loại báo thường đọc của người Kơho 90

Hình 3.7: Loại báo thường đọc của người Kơho theo địa bàn nghiên cứu 91

Hình 3.8 : Nguồn cung cấp báo của người Kơho 92

Hình 3.9 : Nguồn cung cấp báo của người Kơho theo địa bàn nghiên cứu 93

Hình 3.10: Mức chi trung bình /tháng của người Kơho 97

Hình 3.11: Mức chi trung bình/năm của người Kơho 98

Hình 3.12: Thu nhập của hộ gia đình /tháng của người Kơho 99

Hình 3.13 : Tổng thu nhập/năm của người Kơho 99

Hình 3.14: Nhận xét thu nhập hiện nay của người Kơho so với 10 năm trước 100

Hình 4.1: Cách thức duy trì, bảo lưu lễ hội văn hóa cồng chiêng của người Kơho 130

Hình 4.2: Tương quan giữa tôn giáo và khả năng tham gia lễ hội văn hóa của người Kơho 133

Hình 4.3: Tương quan giữa tôn giáo và nguyên nhân của những thay đổi 137

Hình 5.1: Tuổi kết hôn của nam và nữ người Kơho 155

Hình 5.2: Vật thách cưới của người Kơho trong giai đoạn hiện nay 160

Hình 5.3: Vật thách cưới của người Kơho 169

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tây Nguyên là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng, có biên giới giáp Lào, Cam-pu-chia Với diện tích 54.641 km², dân số ước tính khoảng 5,5 triệu người (chiếm 6% dân số cả nước), gồm hơn năm mươi dân tộc anh em cùng chung sống, Tây Nguyên hiện đang tồn tại nhiều vấn đề khó khăn về phát triển kinh tế và ổn định đời sống xã hội, đặc biệt trong thời kỳ phát triển đô thị hóa cho đến nay Thực tế này đã ít nhiều nhận được những chủ trương, chính sách, đường lối trong định hướng phát triển chung của đồng bào dân tộc ít người; cụ thể, trong quyết định số 704/QĐ-TTg ngày 12 tháng 5

năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt chung điều chỉnh quy hoạch thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, đã

xác định mục tiêu của quy hoạch này là “Xây dựng phát triển thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2030 trở thành một vùng đô thị hiện đại, đẳng cấp quốc tế;

có đặc thù về khí hậu, cảnh quan tự nhiên, văn hóa lịch sử và di sản kiến trúc tầm quốc gia, khu vực và có ý nghĩa quốc tế”; “Các thành phố, thị xã ở các tỉnh Tây Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh, đồng thời là trung tâm giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội quan trọng của vùng Mặt trái của đô thị hóa và công nghiệp hóa là những khó khăn trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương… làm sao để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc… đó là những yêu cầu quan trọng trong quá trình đô thị hóa vùng Tây Nguyên” (Hoàng Bá Thịnh, Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn Đề tài TN3/X15) Tác giả Hoàng Bá Thịnh đã chỉ rõ “về tỷ lệ đô thị hóa ở các tỉnh Tây Nguyên, mức

độ đô thị hóa cao cao nhất là Lâm Đồng (37,77%), thứ hai là Kon Tum (33,51%), tiếp theo là Gia Lai (28,56%), Đắk Lắk (23,98%) và thấp nhất là Đắk Nông (14,74%) Nhiều nghiên cứu về Tây Nguyên với các lĩnh vực nghiên cứu phong phú, đa dạng đã được thực hiện nhằm hỗ trợ, tham vấn cho các chủ trương, chính sách phát triển xã hội được thực hiện ở Tây Nguyên rất đáng trân trọng thì thực tế vẫn đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu đạt chất lượng cả về lý luận và thực tiễn nhằm làm căn cứ, cơ sở, dữ liệu khoa học cho các cơ quan, ban ngành có

Trang 14

thẩm quyền trong việc đưa ra các chủ trương, chính sách nhằm nâng cao đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc ít người

Ở Tây Nguyên, Lâm Đồng là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc thiểu số, trong

đó Kơho là tộc người chiếm số lượng đông nhất, khoảng 112.926 người Kơho sinh sống trên đất Lâm Đồng (theo số liệu tổng điều tra tháng 4/1999, cư dân Kơho trên toàn quốc là 129.729 người) Với đặc trưng ngành nghề sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo, người Kơho trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tùy thuộc vào đặc điểm địa

lý để lựa chọn hình thức sản xuất lúa nước, trồng cà phê, chăn nuôi gia sức, gia cầm, Đơn vị tổ chức xã hội thường thấy của người Kơho là Bon (tương đương với làng) Đó vừa là một đơn vị tổ chức xã hội, vừa là một đơn vị kinh tế tự cấp, tự túc của dân tộc Kơho

Lễ hội ngày xưa, hàng năm, người Kơho tổ chức ăn Tết khi mùa màng đã thu hoạch xong (theo thời vụ hiện nay thường vào tháng 12 dương lịch) Tết này có ý nghĩa đón lúa về nhà (Nhô Lir Bông hay Nhô Lirvong) Theo tập quán, các gia đình

thay phiên nhau mỗi năm hiến một con trâu để cả bon tổ chức lễ đâm trâu (nho sa rơ

pu) trong dịp này Lễ tổ chức ngoài trời trước nhà chủ có vật hiến tế, nhà già làng hay trên mảnh đất rộng, bằng phẳng, cao ráo trong làng, với cây nêu trang trí sặc sỡ Mọi người nhảy múa theo tiếng cồng chiêng Thịt trâu được chia cho từng gia đình, còn máu trâu bôi vào trán những người dự lễ như một sự cầu phúc Lễ tết kéo dài 7 - 10 ngày, trong các ngày Tết, dân làng đến chung vui với từng gia đình Trong từng gia đình, người ta cũng tổ chức hiến tế gà, bôi máu lên vựa thóc, sàn kho, cửa ra vào, cửa

sổ Sau Tết, người ta mới được ăn lúa mới và thực hiện các công việc lớn như làm nhà, chuyển làng ; Trong hôn nhân, phụ nữ chủ động trong hôn nhân Sau hôn lễ, người đàn ông về ở nhà vợ, con mang họ của mẹ (https://vi.wikipedia.org/Người – Kơho, 30/05/2017)

Trên thực tế, hiện nay đô thị hóa đã góp phần mở rộng lối sống thành thị

trong cư dân “đô thị hóa cũng được hiểu là quá trình biến đổi kinh tế, xã hội, văn hóa và không gian Các yếu tố này có mối quan hệ với nhau hết sức mật thiết, trong

đó diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển ngành nghề mới, sự tăng trưởng dân cư, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và đi liền là

Trang 15

sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị song song với việc tổ chức bộ máy hành chính và quân sự” (Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễn Quang Vinh,

2005: 369) Nghiên cứu này của chúng tôi không chỉ mô tả thực trạng mà đi sâu nghiên cứu đời sống tinh thần của người Kơho trong bối cảnh đô thị hóa tại hai địa bàn xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng (hai địa bàn có tốc độ đô thị hóa khác nhau, xem phần khái quát địa bàn nghiên cứu), bởi chúng tôi nhận thức được rằng văn hóa được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội Như các kết quả

nghiên cứu trước cho thấy, “đời sống là khái niệm chỉ sự hoạt động của con người trong các lĩnh vực chính: đời sống vật chất và đời sống tinh thần Đời sống vật chất được hiểu bao gồm giá trị vật chất, kỹ thuật , đời sống văn hóa tinh thần được hiểu gồm: triết học, khoa học, đạo đức, nghệ thuật, ” (Mai Văn Hai, Mai Kiệm, 2002)

Cái nhìn ấy cần được cụ thể hóa cho phù hợp với các khoa học khác nhau như nhân học hay xã hội học, đặc biệt là giúp cho việc thao tác hóa khái niệm văn hóa dễ dàng hơn trong các hoạt động thực tiễn Đời sống tinh thần của người dân luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội Đời sống tinh thần là một phần của cuộc sống, có vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc và nhân cách con người, cốt cách dân tộc Những nghiên cứu về đời sống tinh thần thường chia các

hoạt động tinh thần của con người thành “những hoạt động sản xuất các sản phẩm tinh thần hay còn gọi là hoạt động phi kinh tế; những hoạt động thông tin và giao tiếp,…” (Đặng Cảnh Khanh, 1999; dẫn lại Nguyễn Minh Tuấn, 2012: 38) Việc

nghiên cứu, tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về đời sống tinh thần của người Kơho trong quá trình đô thị hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc chỉ ra được những nội dung, phương pháp, những mặt đạt được và hạn chế của các công trình nghiên cứu đã được triển khai ở Lâm Đồng nói chung và thị trấn Lạc Dương, xã Tà Nung nói riêng dưới góc độ nghiên cứu của các khoa học khác nhau, từ đó chỉ ra mảng trống trong nghiên cứu về đời sống tinh thần của người Kơho trong quá trình

đô thị hóa trên địa bàn nghiên cứu hiện nay Xuất phát từ thực tế như vậy, chúng tôi

muốn đi sâu tìm hiểu “Đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình Đô thị hóa”

Trong nghiên cứu này của chúng tôi, đời sống tinh thần được xem xét trên

ba nhóm hoạt chính: những hoạt động sinh hoạt thường ngày (vui chơi, giải trí, thể

Trang 16

dục thể thao, xem tivi, đọc sách báo ), những hoạt động văn hóa theo kỳ dịp như lễ hội (lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới, lễ tết, giáng sinh, văn hóa cồng chiêng, ), và các nghi lễ theo vòng đời (cưới hỏi, ma chay)

Thông qua những thông số thống kê, chúng tôi muốn góp phần vào bức tranh nghiên cứu về đời sống tinh thần cho nhóm đối tượng là đồng bào dân tộc ít người trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, tiến hành tìm hiểu và trả lời cho các câu hỏi sau: Thực trạng đời sống tinh thần của người Kơho hiện nay như thế nào? Trong vòng 10 năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa thì đời sống tinh thần của người Kơho có những thay đổi như thế nào? Liệu có tồn tại sự khác biệt nào đáng kể trong đời sống tinh thần của người Kơho trên hai địa bàn nghiên cứu không? Những nhân tố tác động lên đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Kơho

là gì? Từ kết quả nghiên cứu đó, chúng tôi mong muốn đưa ra một bức tranh cụ thể

về đời sống tinh thần của người Kơho, từ đó giúp cho các nhà hoạch định chính sách có một cách nhìn cụ thể, khách quan về thực trạng đời sống tinh thần của người Kơho trong quá trình Đô thị hóa để có những chính sách và định hướng phát triển trong thời gian tới

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận: Luận án nghiên cứu về đời sống tinh thần của người Kơho

dưới sự tác động của quá trình đô thị hóa với tư cách là một đối tượng nghiên cứu của xã hội học nói chung và xã hội học văn hóa nói riêng, được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau để hiểu và làm rõ hơn các khái niệm về đô thị hóa, khái niệm đời sống tinh thần Đồng thời áp dụng lý thuyết đô thị hóa để làm rõ những biến đổi trong đời sống tinh thần của người Kơho trong bối cảnh giao thoa giữa các tộc người với nhau Trong sự biến đổi xã hội, người Kinh di cư đã mang văn hóa người kinh và các tộc người khác nhau, theo thời gian, yếu tố văn hóa cũng có nhiều sự biến đổi, trong đó tập nhiễm văn hóa là một xu thế cho thấy khả năng thích ứng và tiếp thu, tiếp biến cái mới trong xu thế phát triển của nhân loại Lý thuyết biến đổi

xã hội và tiếp biến văn hóa sẽ cho phép chúng tôi nghiên cứu sâu hơn đời sống tinh thần của người Kơho trong quá trình đô thị hóa giữa hai địa bàn nghiên cứu vốn có tốc độc phát triển khác nhau, và trong xu thế đó, mỗi cá nhân có quyền lựa chọn cho

Trang 17

mình những hình thức sinh hoạt tinh thần phù hợp với nhu cầu của mình Chính vì vậy, sẽ giúp chúng tôi góp phần làm rõ hơn khả năng vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý vào thực tiễn nghiên cứu trên nhóm đối tượng là tộc người Kơho ở xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương

Ý nghĩa thực tiễn: Luận án làm rõ thực trạng trong đời sống tinh thần của

người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa, thông qua mối liên hệ giữa đô thị hóa với vấn đề văn hóa; đề xuất những giải pháp góp phần định hướng phát triển đời sống tinh thần cho người Kơho trong tương lai, phát huy những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống tốt đẹp và khuyến khích tiếp nhận các giá trị văn hóa tinh thần mới do các phương tiện truyền thông đại chúng, quá trình đô thị hóa mang lại, góp phần bảo tồn, xây dựng và phát huy hệ giá trị tốt đẹp của xã hội trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay Xác định và phân tích các nhân tố tác động đến đời sống tinh thần của người Kơho trong quá trình đô thị hóa Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, học tập các môn học về xã hội học văn hóa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa với trục thời gian và không gian nghiên cứu cụ thể Đồng thời phân tích một số yếu tố có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa Trên cơ sở này, đề xuất các khuyến nghị về giải pháp nhằm nâng cao đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng nói riêng

và các dân tộc thiểu số nói chung ở khu vực Tây Nguyên, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa, tinh thần truyền thống của dân tộc và tiếp nhận các giá trị tinh hoa của nhân loại trong xu thế hội nhập và phát triển

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu

cụ thể:

 Khái quát và phân tích những khái niệm, lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng Trên cơ sở đó thực hiện thao tác hóa khái niệm phù hợp với nội dung nghiên cứu của mình

Trang 18

 Khái quát và đánh giá các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, chỉ ra được những nội dung, phương pháp và kết quả đạt được để xác định rõ hơn định hướng nghiên cứu của mình trong việc kế thừa cũng như chỉ ra được những điểm mới trong nghiên cứu

 Khảo sát và phân tích thực trạng đời sống tinh thần của người Kơho trong quá trình đô thị hóa, thông qua phân tích mô tả những nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng (đặc trưng nhân khẩu xã hội, gia đình và cộng đồng, thu nhập, đô thị hóa, truyền thông đại chúng) có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần trên các phương diện như hoạt động sinh hoạt tinh thần thường ngày; lễ nghi vòng đời (cưới xin, ma chay); các hoạt động sinh hoạt văn hóa kỳ dịp (lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới, năm mới, giáng sinh, lễ Tết, văn hóa cồng chiêng) của người Kơho trên hai địa bàn nghiên cứu

 Đề xuất các khuyến nghị nhằm phát triển trong đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong thời gian tới, đồng thời với kết quả nghiên cứu được, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần bổ sung nguồn tư liệu cho học phần xã hội học văn hóa và là nguồn tư liệu cho bạn đọc có thể tham khảo

4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

 Đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa

 Giới hạn về không gian: đề tài tiến hành nghiên cứu tại hai điểm có tốc độ

đô thị hóa khác nhau là xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, Đà Lạt, Lâm Đồng

 Giới hạn về thời gian:

 Đối với những tài liệu thứ cấp, đề tài sử dụng một số kết quả từ các nghiên cứu của chính tác giả trong thời gian từ 2007 đến 2016 cũng như qua các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước như ở phần tổng quan nghiên cứu có đề cập đến

Trang 19

 Đối với việc điều tra bảng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và câu chuyện điển hình được tiến hành từ tháng 12/2016 đến tháng 2/2017

 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

“Đời sống tinh thần” là một khái niệm rộng, do vậy trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi giới hạn nội dung nghiên cứu đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa trên các khía cạnh: (1) đời sống tinh thần qua các hoạt động sinh hoạt tinh thần hàng ngày (tiếp cận truyền hình; phát thanh và báo

in, chơi thể thao ); (2) đời sống tinh thần qua các hoạt động văn hóa theo kỳ dịp (lễ hội đâm trâm, lễ hội mừng lúa mới, lễ hội năm mới, lễ Tết, lễ Giáng sinh, văn hóa cồng chiêng); (3) đời sống tinh thần thông qua lễ nghi vòng đời (cưới xin, ma chay) trong quá trình đô thị hóa 10 năm trở lại đây (2006-2017)

5 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài cố gắng trả lời cho những câu hỏi sau:

 Thực trạng đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng hiện nay như thế nào?

 Quá trình đô thị hóa có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống tinh thần của người Kơho ở xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương? Có hay không sự tồn tại những khác biệt đáng kể trong đời sống tinh thần của người Kơho trên hai địa bàn xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, Đà Lạt, Lâm Đồng?

 Ngoài yếu tố đô thị hóa thì các chính sách của Đảng và Nhà nước, các phương tiện truyền thông cũng như những yếu tố nhân khẩu (độ tuổi, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn) có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng?

6 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết

 Đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng hiện nay được biểu hiện khá đa dạng, phong phú trong hình thức, cách thức và nội dung của các hoạt động sinh hoạt giải trí, nghi lễ cưới xin, ma chay; lễ hội truyền thống và văn hóa cồng chiêng Xu hướng biến đổi các hoạt động sinh hoạt tinh thần mang ý nghĩa tích cực hơn, phù hợp hơn với nhu cầu, sự phát triển và hội nhập của xã hội trong giai đoạn hiện nay

Trang 20

 Đô thị hóa với những biểu hiện về dân cư, sự phát triển kinh tế xã hội, cơ

sở hạ tầng, truyền thông đã góp phần làm biến đổi đời sống tinh thần của người Kơho trên hai địa bàn nghiên cứu Vì vậy, tồn tại những khác biệt đáng kể trong đời sống sinh hoạt tinh thần của người Kơho trên hai địa bàn xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương (Đà Lạt, Lâm Đồng) theo xu hướng người Kơho ở thị trấn Lạc Dương có tham gia các hoạt động trong đời sống tinh thần mới chiếm tỷ lệ cao hơn, khả năng giữ gìn, lưu truyền giá trị văn hóa cồng chiêng tốt hơn so với người Kơho ở xã Tà Nung; nhưng những giá trị văn hóa trong lễ hội truyền thống thì có xu hướng yếu hơn so với người Kơho ở xã Tà Nung

 Các yếu tố nhân khẩu (độ tuổi, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn), truyền thông đại chúng, chính sách của Đảng và Nhà nước có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trên hai địa bàn nghiên cứu

Đời sống tinh thần qua các

hoạt động sinh hoạt văn

hóa thường ngày

Đời sống tinh thần qua các hoạt động văn hóa theo kỳ dịp (thông qua lễ hội văn hóa, văn hóa cồng chiêng)

Đời sống tinh thần thông qua nghi lễ theo vòng đời (cưới xin, ma chay)

ĐIỀU KIỆN CHÍNH TRỊ - VĂN HÓA – XÃ HỘI

ĐÔ THỊ HÓA

- Dân cư

- Sự phát triển kinh tế xã hội,

cơ sở hạ tầng

- Truyền thông

Trang 21

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về lịch sử và xã hội gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử Chủ nghĩa duy vật đòi hỏi nghiên cứu xã hội phải phân tích các cá nhân hiện thực, hoạt động của họ và các điều kiện sống vật chất của họ Phép biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trong mối liên hệ và tác động qua lại, trong mâu thuẫn và vận động, phát triển không ngừng của lịch sử xã hội Việc vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là cơ

sở lý luận và phương pháp luận trong xã hội học đòi hỏi nghiên cứu phải tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa con người và xã hội (Phạm Tất Dung - Lê Ngọc Hùng, 2008) Do vậy trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn phân tích đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa với sự tác động của một số nhân tố kinh tế, học vấn, độ tuổi, nghề nghiệp, tôn giáo; chính sách của Đảng và Nhà nước; đô thị hóa trong sự vận động và phát triển không ngừng

Vận dụng một số lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu như lý thuyết đô thị hóa, lựa chọn hợp lý, lý thuyết biến đổi xã hội, tiếp biến văn hóa (được chúng tôi trình bày ở phần chương 2) để thực hiện được thao tác hóa khái niệm một cách cụ thể hơn, lựa chọn và đưa vào nghiên cứu của mình những khái niệm phù hợp để xây dựng bộ công cụ khảo sát, thu thập thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu Đi sâu nghiên cứu và giải thích được những biểu hiện trong đời sống tinh thần của người Kơho và các nhân tố tác động làm biến đổi từng khía cạnh (sinh hoạt văn hóa thường ngày, sinh hoạt văn hóa theo kỳ dịp và sinh hoạt văn hóa theo nghi lễ vòng đời) trong đời sống tinh thần của họ

7.2 Phương pháp thu thập thông tin cụ thể

7.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp này xuất phát từ việc tìm đọc và chắt lọc các tư liệu thông qua sách báo, Internet, tạp chí, các báo cáo khoa học, các thống kê, báo cáo tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của Lâm Đồng về đô thị hóa, dân tộc ít người, những nghiên cứu về ảnh hưởng, tác động của đô thị hóa đến đời sống tinh thần của người

Trang 22

dân, đặc biệt trong giới công chúng là đồng bào dân tộc ít người, các số liệu, đề tài

do chính tác tác giả luận án đã từng nghiên cứu về người Kơho để có cơ sở đánh giá, phân tích một cách khách quan và toàn diện hơn, cũng như có thể đối chiếu, so sánh với những thông tin, dữ liệu mà chúng tôi thu thập được trong luận án này

Các tư liệu này được chúng tôi tổng thuật, lược thuật theo các chủ đề thông qua phần tổng quan tài liệu để thấy rõ những mặt mạnh, mặt yếu của các nghiên cứu trước, đồng thời nắm bắt được những phương pháp mà các tác giả khác sử dụng để rút kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình triển khai nghiên cứu thực địa Từ đó

có một cái nhìn tổng quát và toàn diện cho vấn đề nghiên cứu của mình

Phân tích các tư liệu sẵn có về điều kiện địa lý kinh tế, văn hóa xã hội, chính

trị ở Lâm Đồng nhằm bổ sung cho phần phân tích bảng hỏi và phỏng vấn sâu

7.2.2 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi

Đây là phương pháp thu thập thông tin dựa trên bảng câu hỏi Bảng hỏi bao gồm bốn phần chính: (1) thông tin chung của cá nhân, (2) Các hoạt động sinh hoạt tinh thần thường ngày (xem truyền hình, nghe radio, đọc báo, ), (3) lễ hội văn hóa theo kỳ dịp (lễ hội văn hóa và văn hóa cồng chiêng), (4) Các nghi lễ theo vòng đời (cưới hỏi) Bảng câu hỏi gồm câu hỏi mở, câu hỏi đóng, câu hỏi vừa mở vừa đóng, từ đó chúng tôi

tiến hành kiểm định, tính toán các thông số thống kê, các nhân tố tác động

Về cách chọn mẫu: Căn cứ trên khung tổng thể chủ hộ là người Kơho có độ

tuổi từ 18 tuổi trở lên tại hai địa bàn nghiên cứu của tỉnh Lâm Đồng, chúng tôi tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên các cá nhân là đại diện các hộ gia đình để tiến hành khảo sát Tổng số đơn vị trong mẫu khảo sát là 477, trong đó thị trấn Lạc Dương:

253 đơn vị và xã Tà Nung: 224 đơn vị (căn cứu vào số lượng hộ gia đình trên hai địa bàn nghiên cứu – xem phần khái quát địa bàn nghiên cứu, chúng tôi chọn ngẫu nhiên các hộ gia đình và tiếp xúc, phỏng vấn cá nhân là đại diện các hộ gia đình trong độ tuổi từ 18 tuổi trở lên); cơ cấu mẫu trong nghiên cứu được thể hiện rõ trong bảng cơ cấu mẫu như sau:

Trang 23

Bảng cơ cấu mẫu

Cơ cấu mẫu

Địa bàn

Chung Thị trấn

Lạc Dương Xã Tà Nung

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài luận án tháng 2/2017)

Xử lý thông tin: Từ kết quả khảo sát tại thực địa thông qua bản câu hỏi, các

thông tin định lượng được xử lý cho ra các số liệu thống kê mô tả và phân tổ theo những biến số tác động để thấy được thực trạng đời sống tinh thần của người Kơho

ở Lâm Đồng

Trang 24

 Một cuộc phỏng vấn sâu được tiến hành dành cho người phụ trách phòng văn hóa thông tin trên mỗi địa bàn nghiên cứu

 20 cuộc phỏng vấn sâu bán cơ cấu dành cho người dân ở Lâm Đồng trong độ tuổi từ 18 tuổi trở lên (già làng, trưởng bản, người dân tộc Kinh, dân tộc Kơho) – chủ yếu thông qua các câu chuyện điển hình

Để tiến hành phỏng vấn sâu bán cơ cấu với đối tượng là cán bộ chính quyền

và người dân trong độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, chúng tôi liệt kê những chủ đề nghiên cứu chính và xem đây là trọng tâm của vấn đề để từ đó đi sâu tìm hiểu các nội dung

mà đề tài quan tâm thông qua cuộc trò chuyện thân mật, vui vẻ cùng người dân Các thông tin phỏng vấn sâu được trích dẫn vào đề tài để bổ sung và làm phong phú thêm cho các nhận định, các thông tin từ kết quả xử lý số liệu

8 Những đóng góp mới của luận án

Trên cơ sở những nghiên cứu đi trước, chúng tôi xác định hướng nghiên cứu của mình là việc tìm hiểu đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng (Kơho là cộng đồng dân tộc thiểu số đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu từ các ngành dân tộc học, nhân học; còn dưới nhãn quan xã hội học thì vẫn cần có nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống hơn nữa) trong quá trình đô thị hóa trên hai địa bàn là xã Tà Nung và Thị trấn Lạc Dương, Đà Lạt, Lâm Đồng Nghiên cứu này của chúng tôi là một nghiên cứu trường hợp, không chỉ dừng lại ở việc mô tả thực trạng mà còn đi sâu nghiên cứu đời sống tinh thần của người Kơho trong bối cảnh

đô thị hóa tại hai địa bàn xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng (hai địa bàn có tốc độ đô thị hóa khác nhau, xem phần khái quát địa bàn nghiên cứu)

Mặt khác, trong nghiên cứu này chúng tôi đứng trên góc độ tiếp cận lý thuyết đô thị hóa, lý thuyết biến đổi xã hội, tiếp biến văn hóa, lý thuyết lựa chọn

Trang 25

hợp lý để tìm hiểu đời sống tinh thần của người Kơho ở ba nội dung chính là (1) Đời sống tinh thần của người Kơho qua các hoạt động sinh hoạt thường ngày; (2) Đời sống tinh thần của người Kơho qua các hoạt động văn hóa theo theo kỳ dịp; (3) Đời sống tinh thần của người Kơho qua nghi lễ vòng đời (cưới xin, ma chay), với mong muốn tìm hiểu và phân tích thực trạng đời sống tinh thần hiện nay của người Kơho trên hai địa bàn nghiên cứu trong sự đối lập giữa nông thôn và đô thị, đồng thời so sánh thực trạng này trong 10 năm qua bằng những câu hỏi hồi cố, chúng tôi tiến hành phân tích các yếu tố khách quan và các đặc trưng nhân khẩu có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng bằng góc nhìn của khoa học xã hội học

Với kết quả đạt được, chúng tôi mong muốn góp phần xây dựng một bức tranh hoàn chỉnh trong cái đa dạng của các kết quả nghiên cứu về đời sống tinh thần của các dân tộc ít người ở Việt Nam hiện nay, từ đó giúp cho các cơ quan chức năng đưa ra được những khuyến nghị về giải pháp phát triển hiệu quả đời sống tinh thần cho nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số trong thời gian tới Việc áp dụng lý thuyết lý thuyết đô thị hóa, lý thuyết lựa chọn hợp lý và lý thuyết biến đổi xã hội nhằm phân tích và làm rõ các chiều cạnh nghiên cứu của luận án, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ làm sáng tỏ các quan điểm, cách nhìn nhận của lý thuyết khi áp dụng vào nghiên cứu về đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa

Trang 26

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với sự tồn tại và sinh sống 54 dân tộc anh em Trong khối đại đoàn kết, các dân tộc anh em ở Việt Nam đã có những bước khởi sắc trong việc phát triển kinh tế, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững những bản sắc văn hóa của từng nhóm cộng đồng dân tộc khác nhau Cũng chính vì lẽ đó mà đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học Trong nghiên cứu này của chúng tôi, các công trình nghiên cứu khoa học đi trước có liên quan đến luận án được chúng tôi lược thuật theo các chủ điểm nghiên cứu, cụ thể như sau:

1.1 Những nghiên cứu về đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Tây Nguyên

Những nghiên cứu về Tây Nguyên nói chung và trong lĩnh vực văn hóa tinh thần nói riêng cũng được đề cập đến ở nhiều chiều cạnh khác nhau Tây Nguyên là vùng đất có truyền thống văn hóa từ lâu đời với những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của nước ta Chiếm giữ vị trí chiến lược quan trọng trên mọi lĩnh vực kinh

tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng; Tây Nguyên trở thành tâm điểm của mọi

sự chú ý, đầu tư cũng như nghiên cứu của các nhà quản lý, hoạch định chính sách,

nghiên cứu khoa học Trong lời mở đầu của cuốn sách “Giá trị văn hóa truyền thống Tây Nguyên với phát triển bền vững”, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật

có đoạn viết “Tây Nguyên là nơi còn lưu được nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị thẩm mỹ độc đáo như: nhà rông, nhà dài, đàn đá, tượng nhà mồ, các lễ hội… Một trong những di sản nổi tiếng là không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” Vì vậy Trần Đại Quang cho rằng “Tập trung xây dựng đời sống văn hóa mới và bảo đảm nhu cầu sinh hoạt văn hóa của đồng bào các dân tộc trên cơ sở bảo tồn những tin hoa văn hóa truyền thống, gìn giữ, kế thừa có chọn lọc, phát huy những giá trị tiêu biểu, loại bỏ dần hủ tục, từng bước xây dựng giá trị mới về văn hóa, nghệ thuật, hình thành nếp sống văn minh

Trang 27

Tiếp tục đầu tư nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, khôi phục các lễ hội và sinh hoạt văn hóa truyền thống theo nhu cầu, nguyện vọng của quần chúng” (Viện nghiên cứu phát triển Phương Đông, 2016:19)

Những nghiên cứu cụ thể về đô thị hóa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng được Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn giới thiệu trong

cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đô thị hóa và quản lý quá trình đô thị hóa trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên Kết quả và bài học kinh nghiệm” Thông qua

hội thảo, nhiều cách tiếp cận và góc độ nghiên cứu khác nhau về đô thị hóa và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, từ đó phác họa lên được một bức tranh toàn cảnh về đô thị hóa và quản lý đô thị hóa trong phát triển bền vững ở Tây Nguyên

Cũng trên tinh thần nghiên cứu thực tiễn, trong luận án tiến sĩ của Nguyễn Hồng Hà (2007) đã làm rõ về kiến trúc đô thị và phát triển tiềm năng các buôn làng truyền thống ở các đô thị nông thôn, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và chính sách để phát huy và duy trì các buôn làng truyền thống Luận án tiến sĩ của Đỗ Tiến Dũng (1996) cho thấy thực trạng phát triển dân số và bảo vệ môi trường ở Tây Nguyên, trong đó, ổn định dân số là giải pháp hữu ích cho vấn đề phát triển bền vững ở Tây Nguyên Luận án tiến sĩ của Lê Văn Thanh (2007) đã đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Tây Nguyên, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực phục

vụ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở tây Nguyên Mặc dù được phản ánh trên các khía cạnh khác nhau, không trực tiếp đến đời sống tinh thần của các nhóm dân cư trên địa bàn, nhưng các nghiên cứu này đã tập trung làm rõ mối quan hệ giữa phát triển đô thị hóa với phát triển toàn diện đời sống của cư dân vùng Tây Nguyên, đặc biệt là việc gìn giữ những nét văn hóa mang tính truyền thống, đậm tính dân tộc đặc trưng của vùng đất Tây Nguyên

Những nghiên cứu về chính sách dân tộc ở Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới cũng là chủ đề chính trong các nghiên cứu Trong luận án tiến sĩ xã hội học của Nguyễn Minh Tuấn (2012) cho thấy các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa được nghiên cứu trong sự lòng ghép, đan xen nhau trước những chuyển biến ở Tây Nguyên sau một

Trang 28

quá trình thực hiện Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị, đặc biệt khi có Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên (1998), cụ thể là các nghiên cứu của Ủy Ban

Khoa học xã hội Việt Nam “Một số vấn đề kinh tế xã hội Tây Nguyên”; của Nguyễn Văn Tiêm và các tác giả khác: Báo cáo kết quả thực hiện dự án “Điều tra đánh giá tác động của quá trình phát triển kinh tế - xã hội đến đời sống của các dân tộc bản địa Tây Nguyên trong những năm đổi mới” (1998); Võ Tấn Tú với hai công trình nghiên cứu

“Tây Nguyên dưới góc nhìn Nhân học” (2016) và “Hôn nhân và gia đình của người Chu Ru” (2016) dưới góc nhìn của ngành dân tộc học và các nghiên cứu của chính tác giả về “Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng”(2010); “Thực trạng tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng của người Kơho”(2007); “Những chuyển đổi trong đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng dưới tác động của quá trình Đô thị hóa” (2012); Các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng (2014) và bài báo đăng trên Tạp chí khoa học giáo dục kỹ thuật, số 30/2014 có thể coi là các công

trình nghiên cứu xã hội học đầu tiên về đời sống văn hóa, tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng Kết quả nghiên cứu của các công trình khác nhau đã phản ánh cụ thể hơn

về tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng, cũng như đi sâu phân tích và phản ánh về một số vấn đề trong hôn nhân, các hình thức sinh hoạt tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng

Nghiên cứu về đời sống tinh thần trong quá trình đô thị hóa ở Tây Nguyên đã

và đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm nghiên cứu, bởi thực tế các hình thức sinh hoạt tinh thần của các cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên không còn bó buộc vào những hủ tục, những hình thức giản đơn truyền thống như thăm hỏi, các lễ hội truyền thống mà nó còn lồng ghép bởi những hình thức sinh hoạt tinh thần mới, sự cách tân văn hóa, các giá trị, cách thức sinh hoạt tinh thần mới trong các lễ hội, phong tục truyền thống như cách ăn mặc, hình thức tổ chức hôn nhân, các hoạt động thể dục thể thao, du lịch, nghi lễ, tôn giáo, văn hóa cồng chiêng, giáo dục,… có những thay đổi

về hình thức, nội dung và cách thức thể hiện Mặc dù vậy, các nghiên cứu hiện nay phần lớn tập trung vào sự biến đổi về cấu trúc đô thị, kinh tế, sự tăng lên về dân số, đổi mới trong giáo dục, còn sự du nhập văn hóa, lối sống và cách thức sinh hoạt

Trang 29

tinh thần của các nhóm cộng đồng dân tộc khác nhau trên địa bàn Tây Nguyên vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu để hiểu rõ hơn từng hoạt động sinh hoạt tinh thần của người dân; đặc biệt là sự cách tân và đổi mới trong lễ hội văn hóa cồng chiêng; hoặc cũng có thể là một sự thương mại hóa các trong các sản phẩm văn hóa có xu hướng tăng dần

1.2 Những nghiên cứu về đô thị hóa và đời sống văn, hóa tinh thần trong quá trình đô thị hóa

Xu thế toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng tất yếu dẫn đến sự tăng cường hội nhập, giao lưu, đã và đang tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc vào đời sống văn hóa, xã hội của các dân tộc, các quốc gia, như lời mở đầu của Phan Thị Hồng Xuân

(2012) đã nhận định “Văn hóa được ví như sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ quá khứ tới hiện tại, vươn đến tương lai tạo nên bản sắc của thời đại, của dân tộc mình”; trong bối

cảnh hội nhập khu vực và thế giới, nhân tố văn hóa càng đóng vai trò hết sức quan trọng Do vậy, một mặt chúng ta phải học hỏi, tiếp thu có chọn lọc những yếu tố văn hóa từ bên ngoài, mặt khác phải phát huy nội lực, sức mạnh của truyền thống để tạo nên một nền văn hóa vừa mang bản sắc dân tộc, vừa mang tính hiện đại Ngay từ đầu, Đảng, Chính phủ đã xác định tầm quan trọng của đời sống văn hóa tinh thần và những giá trị của văn hóa trong vấn đề phát triển bền vững, phát triển toàn diện, phát triển mọi mặt của đời sống xã hội Điều này được thể hiện rõ trong các nghị quyết, chủ trương của Đảng, Chính phủ thông qua các kỳ đại hội, hội nghị quốc gia

và quốc tế Cụ thể, Nghị quyết số 22NQ/TƯ ngày 27-11-1988 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI nêu rõ “Tôn trọng và phát huy những phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các tộc người Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi tộc người phát huy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác và góp phần phát triển văn hóa chung của cả nước, tạo ra sự phong phú đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các tộc người Việt Nam” Nghị Quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ban hành tháng 7/1998, khi đất nước đang trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nghị quyết Hội nghị

Trang 30

tiếp tục khẳng định: Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học nghệ thuật của các tộc

người thiểu số…” (Văn Kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa XI) Từ quan điểm đó của Đảng, Chính phủ đã có hàng loạt các quyết định quan

trọng Đó là Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 4-5-2001 của Thủ tướng Chính phủ về các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2001-2005, trong đó có “mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tiêu biểu của dân tộc; xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở”; Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg ngày 30-10-2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001-2005

và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên, trong đó ghi rõ: “… Bảo tồn, phát triển văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào dân tộc tây Nguyên…”, và gần đây nhất, ngày 17-6-2003 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định

về phê duyệt đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam

Những Nghị quyết trên đã và đang đi vào đời sống trong hơn hai thế kỷ vừa qua, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước kéo theo sự phát triển của Đô thị hóa, vấn đề đảm bảo đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa của các nhóm cộng đồng dân cư luôn dành được sự quan tâm của các cấp, các ngành và các nhà nghiên cứu khoa học Đất nước ta đã và đang hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa và

sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông “Xu thế toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng tất yếu dẫn đến sự tăng cường hội nhập, giao lưu, đã và đang tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc vào đời sống văn hóa – xã hội của các dân tộc, các quốc gia Hàng loạt vấn đề mới đặt ra đối với Đảng trong việc hoạch định đường lối để xử lý mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc với việc tiếp nhận văn hóa thế giới trong quá trình mở cửa, hội nhập” (Đinh Xuân Lý, Đoàn Minh Huấn, 2008: 330) đòi hỏi phải có những chỉ đạo kịp thời để xây dựng nền văn hóa mới, con người mới trong xu hướng phát triển bền vững Tác giả Phạm Ngọc Thanh nhận định “văn hóa, với một ý nghĩa thiết thực, sẽ hướng sự chú ý của ta vào những thứ mà con người cần

để ổn định, bền vững và có ý nghĩa Văn hóa luôn hình thành theo một dạng thức và

sự hội nhập không ngừng Toàn cầu hóa đưa lại điều kiện giao lưu hội nhập của con

Trang 31

người giữa các nền văn hóa, không những giúp con người hiểu nhau hơn mà còn góp phần nâng cao giá trị văn hóa truyền thống, xóa bỏ những hủ tục, mở ra điều kiện phát triển cho con người, cho sự tồn tại và cùng phát triển hòa bình của các nền văn hóa trong không gian toàn cầu” (Phạm Ngọc Thanh, 2013:220)

Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi nghiên cứu các hiện tượng và giá trị văn hóa ở

nhiều dân tộc, đã đi đến nhận xét: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo ra và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh, 1995: tập 3, trang 431; dẫn lại

Nguyễn Duy Bắc, 2008: 13) Nguyễn Duy Bắc cho rằng: dù là văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần cũng đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của con người Vì vậy, K.Marx đã nói rằng văn hóa là sự thể hiện các năng lực bản chất của con người bao gồm khả năng, sức mạnh, phương thức nhận thức, đánh giá và cải tạo thế giới của con người Từ đó, Nguyễn Duy Bắc cùng các cộng tác viên đã xây dựng được

hệ thống lý luận cơ bản về văn hóa, giá trị văn hóa, phát triển và biến đổi giá trị văn hóa trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Trong đó tác giả nhấn mạnh: đẩy mạnh việc nghiên cứu văn hóa dân tộc, đặc biệt chú ý đến các giá trị văn hóa truyền thống với tính cách là giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam để làm chỗ dựa cho việc giáo dục rộng rãi, thường xuyên trong nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ - người đóng vai trò tiếp nối truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc do các thế hệ trước để lại Hệ quả của giao lưu văn hóa tùy thuộc một cách quyết định vào yếu tố nội sinh Nếu yếu tố nội sinh suy yếu thì sẽ bị các yếu tố ngoại sinh lấn lướt và sớm muộn thì hiện tượng “áp đặt giá trị” bởi các yếu tố ngoại sinh sẽ diễn ra Vì vậy, việc tạo môi trường cho sự tồn tại

và phát triển của các giá trị đạo đức truyền thống là nhân tố cơ bản tạo thành sức mạnh của văn hóa Việt Nam trong giao lưu văn hóa với nước ngoài Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ,

Trang 32

không giới hạn về phạm vi địa lý, vùng lãnh thổ, thì vấn đề bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống được đặt lên một cách bức thiết

Các nghiên cứu về những vấn đề cụ thể của các địa phương khác nhau trong quá trình đô thị hóa trên phương diện lý luận và thực tiễn hiện nay khá nổi bật Đáng chú ý là nghiên cứu của Tôn Nữ Quỳnh Trân, Nguyễn Văn Tiệp (2014) đã góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình đô thị hóa không chỉ giới hạn trong khu vực Nam Bộ mà đối với cả nước trong quá trình

Đô thị hóa 20 năm qua Thông qua đó, những vấn đề lý luận về đô thị hóa, những vấn đề về thực tiễn quá trình đô thị hóa ở Nam Bộ nói chung, ở Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Cần Thơ, tỉnh Bình Dương nói riêng đều được trình bày và phản ánh một cách cụ thể Cũng trên tinh thần nghiên cứu thực tiễn, Trung tâm nghiên cứu phát triển Đô thị và Cộng đồng giới thiệu 21 bài viết khác nhau xung quanh ba vấn đề cơ bản: (1) Lý luận về “văn hóa truyền thống trong phát triển đô thị”; (2) Vấn đề bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người trong tiến trình phát triển Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh: Lịch sử và triển vọng; (3) Tản mạn về phát triển đô thị trong sự kết nối với văn hóa truyền thống Nguyễn Xuân Quang cùng cộng sự

đã tiến hành phân tích thực trạng sự biến đổi về đời sống văn hoá dân cư đô thị Hải Phòng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá Kết quả nghiên cứu cho thấy, dân cư đô thị Hải Phòng có nhu cầu hưởng thụ văn hóa cao và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân ngày càng có những biến đổi sâu sắc Cùng với những cải thiện về đời sống vật chất, đời sống văn hóa tinh thần cũng ngày càng phong phú, đa dạng Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm định hướng xây dựng đời sống văn hóa của cư dân đô thị Hải Phòng

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đô thị hóa cũng có những tác động tiêu cực đến nghèo khổ và sự phân tầng xã hội Đô thị hóa quá tải và không kiểm soát được

sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo khổ của các thành phố, và điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đời sống văn hóa tinh thần theo chiều hướng tiêu cực Trong

đó phải kể đến những bài viết và nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Minh “Đô thị hóa ở Việt Nam những năm 90 Một số đặc trưng kinh tế - xã hội cơ bản” (2002) và

“Đô thị hóa và sự phát triển nông thôn ở Việt Nam – Một số vấn đề cần quan tâm

Trang 33

nghiên cứu” (2003) Cả hai bài viết đều phác họa lên bức tranh chuyển dịch dân cư

và sự mở rộng của các đô thị, cũng như những thay đổi trong điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội như quy mô gia đình nhỏ hơn; hôn nhân ngày càng ít phổ biến hơn và tuổi kết hôn lần đầu cao hơn; mức sinh thấp, đặc biệt là ở các nhóm tuổi trẻ Cấu trúc văn hóa làng xã thay đổi khác nhau trong tiến trình đô thị hóa theo xu hướng cái mới được hình thành cho phù hợp với điều kiện mới, và cái cũ không còn phù hợp sẽ dần mất đi Tuy nhiên các đánh giá đầy đủ về tác động của đô thị hóa đến văn hóa làng xã trên các khía cạnh khác nhau thì vẫn còn nhiều khoảng trống, chưa thực sự thu hút được sự quan tâm; chẳng hạn: vai trò của đô thị hóa trước những thay đổi của văn hóa làng xã và sự thay đổi của văn hóa làng xã đóng góp cho sự phát triển của xã hội như thế nào? Và có lẽ, điều trăn trở này một phần nào đó được

giải đáp và phản ánh trong nghiên cứu của Nguyễn Duy Thắng (2004) “Tác động của đô thị hóa đến nghèo khổ và phân tầng xã hội: Nghiên cứu trường hợp vùng ven Hà Nội” cho thấy đô thị hóa cũng có những tác động tiêu cực đến nghèo khổ và

sự phân tầng xã hội Đô thị hóa quá tải và không kiểm soát được sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo khổ của các thành phố; còn theo luận điểm của John Macionis thì đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư trong một xã hội mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu của đời sống xã hội Đó cũng chính là sự phổ biến

và lan truyền những khuôn mẫu hành vi, ứng xử vốn đặc trưng cho người dân đô thị, sự lan truyền của một lối sống đô thị hay các quan hệ văn hóa đô thị tới vùng nông thôn và trên toàn bộ xã hội nói chung (John Macionis, 1988:112) Trong nghiên cứu của mình, Hoàng Bá Thịnh cho rằng mặt trái của đô thị hóa và công nghiệp hóa là những khó khăn trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương làm sao để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, đó là những yêu cầu quan trọng trong quá trình đô thị hóa Điều này được tác giả Trần Thị Hiền một lần nữa khẳng định: đô thị hóa đã tạo nên những chuyển đổi nhiều mặt liên quan trực tiếp đến sinh kế và không gian sống của cộng đồng người Lạch ở thôn Măng Line Trong đó thiếu đất, không việc làm ổn định, sinh kế gắn chặt với tự nhiên, học sinh bỏ học sớm và không được đào tạo nghề, cưới vợ cưới chồng trước tuổi quy định, sự du nhập ồ ạt của lối sống đô thị, lớp trẻ có nguy cơ rơi vào các tệ

Trang 34

nạn xã hội mới đó là những vấn đề mà cộng đồng người Lạch ở Măng Line đang đối diện trong quá trình đô thị hóa đang và sẽ diễn ra mạnh mẽ

Theo tác giả Mai Văn Hai – Mai Kiệm thì “nhiều người lo ngại là kết quả của toàn cầu hóa có thể làm xói mòn các truyền thống văn hóa và nảy sinh một nền văn hóa toàn cầu, mà biểu hiện cụ thể là sự xuất hiện các đơn vị văn hóa chung hay

sự phổ biến các loại hàng hóa tiêu dùng giống nhau đối với mọi nước (như mốt, thể thao, du lịch, văn hóa đại chúng), cũng có thể nó sẽ tạo ra một sự “đồng nhất hóa” các hệ thống giá trị và chuẩn mực, biểu tượng và ngôn ngữ, nghệ thuật và phong tục Những điều lo ngại này không phải là phi lý, bởi quá trình đô thị hóa diễn ra

sẽ thúc đẩy sự phát triển mạnh về kinh tế, các luồng di cư mạnh sẽ ít nhiều góp phần tạo ra những diện mạo mới trong đời sống văn hóa của con người, sẽ có những cái cũ mất đi, biến tướng xen lẫn những nét văn hóa mới; văn hóa truyền thống được thay thế bằng văn hóa đại chúng” (Mai Văn Hai – Mai Kiệm, 2005:

179) Ngoài ra, còn có một số bài viết phân tích về vấn đề đô thị hóa và những biến

đổi về văn hóa như Đô thị hóa ở Việt Nam, báo cáo hỗ trợ kỹ thuật (Word Bank) Giới, văn hóa và đô thị hóa (HSP/WUF/2/11 Un -Habitat Partners‟ and thematic dialogues) Tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vào việc xây dựng văn hóa hiện nay (Lê Hường) Một lý thuyết nhận thức về ý nghĩa của văn hóa (Cambridge University Press) Những bài viết này tập trung vào phân tích

các khía cạnh kinh tế, giới, truyền thông, chính sách, nghèo đói trong quá trình đô thị hóa Đây cũng là một trong những chiều cạnh giúp chúng tôi có cách nhìn cụ thể hơn trong nội dung nghiên cứu của mình

Mặc dù được tiếp cận dưới các nhãn quan khác nhau, nhưng các tác giả đã cho thấy được sự phát triển của quá trình đô thị hóa đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đời sống văn hóa cũng như các hoạt động sinh hoạt tinh thần của con người Như vậy, trong các nghiên cứu về đô thị hóa và đời sống văn hóa tinh thần, chúng ta phải có một cách nhìn toàn diện, trên nhiều chiều cạnh khác nhau để thấy được những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đô thị hóa đối với đời sống tinh thần của các nhóm cộng đồng dân tộc khác nhau

Trang 35

1.3 Những nghiên cứu về người dân tộc thiểu số (dân tộc ít người)

Việc thực thi các văn bản pháp luật cũng như chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là một trong những cơ sở thúc đẩy xã hội phát triển Trong xu hướng vận động và phát triển không ngừng, các nhà khoa học có cơ hội để thâm nhập thực tế, nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình thực tế và đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm góp phần ổn định trật tự xã hội, nâng cao đời sống của con người trong mọi lịnh vực Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với tư tưởng “Đại đoàn kết các dân tộc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 3-5-1946 Nha Dân tộc thiểu

số - tiền thân của Ủy ban Dân tộc đã được thành lập với chức năng, nhiệm vụ “Xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam” (Sắc lệnh số 58,

ngày 3-5-1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) Chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc tại Đại hội II (tháng 2 -1951), Nghị quyết của Bộ chính trị về “Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng ta hiện nay” (tháng 8 - 1952) đã xác định “Ở Việt Nam, ngoài dân tộc Kinh, còn có nhiều dân tộc thiểu số: Thổ, Thái, Mường, Mèo, Mán, Nùng, Ngái (ở Bắc Bộ), Rađê, Bana, Xêđăng, Cheoreo, Chàm, Gialai, Nông, Lôlô (ở Trung Bộ), Miên, Nông (ở Nam Bộ),… Tất cả trên 30 giống người, tổng số ước hơn hai triệu, chiếm 1/10 dân số toàn quốc, ở rải rác khắp các miền rừng núi rộng hơn 40% diện tích toàn quốc, tập trung nhiều nhất ở miền thượng du Bắc Bộ và Tây Nguyên Trung Bộ” Để đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng dân tộc hiểu số đòi hỏi phải

có những nguồn lực lớn để giải quyết những vấn đề vừa lớn, vừa cấp bách, vừa có tính lâu dài, đặc biệt là đối với những vùng trọng điểm như Tây Nguyên, Tây Bắc

và Tây Nam Bộ Ủy Ban Dân tộc và Miền núi cùng các bộ, ngành tham mưu cho

Bộ Chính trị và Thủ tướng Chính phủ ban hành các nghị quyết, quyết định quan trọng về định hướng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng như: “Nghị quyết số 10-NQ.TW ngày 18-1-2002 của Bộ Chính trị

về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng Tây Nguyên thời

kỳ 2001 – 2010; Nghị quyết số 168/2001/QĐ-TTg ngày 30-1-2001 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001-2005 và những giải pháp

Trang 36

cơ bản phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Nguyên; Quyết định số TTg ngày 8-10-2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết đất sản xuất và đất ở cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên,…

132/2002/QĐ-Trên cơ sở những tiền đề đã có về các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Lâm

Đồng, Sở Văn hóa Thông tin Lâm Đồng (2005) cho ra đời cuốn sách Vài nét văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên ở Lâm Đồng, cuốn sách này tập hợp một số

công trình nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong những năm đã qua nhằm giới thiệu khái quát về các dân tộc bản địa Lâm Đồng; cũng như một số lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân tộc Kơho, dân tộc Mạ và dân tộc ChuRu Theo thống kê mà tác giả cuốn sách đề cập thì

có ba tộc người bản địa ở Lâm Đồng, trong đó Kơho là tộc người chiếm số lượng đông nhất Khoảng 112.926 người Kơho sinh sống trên đất Lâm Đồng (theo số liệu tổng điều tra tháng 4/1999, cư dân Kơho trên toàn quốc là 129.729 người); số còn lại phân bố ở một số tỉnh lân cận như: Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận Để giới thiệu sâu hơn về dân tộc Kơho, tác giả Phan Ngọc Chiến (chủ biên, 2005) đã viết

Người Kơho ở Lâm Đồng với hai phần chính: Phần I là những bài viết về những vấn

đề học thuật và lý thuyết trong nhân học liên quan đến thành phần dân tộc, bản sắc dân tộc và văn hóa Mối tương quan giữa văn hóa và bản sắc dân tộc là một vấn đề

đa dạng mà ngành nhân học, với những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu riêng của nó, đã có những đóng góp quan trọng Phần II gồm những bài viết về một số khía cạnh sinh hoạt kinh tế, xã hội và văn hóa nổi bật của người Kơho và người Chil ở Lâm Đồng, cùng với một phân tích tài liệu thư tịch và điền dã về bản sắc và thành phần dân tộc của họ

Những kết quả nghiên cứu của Sở văn hóa Thông tin Lâm Đồng và Phan Ngọc Chiến (2005) giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về các dân tộc ít người thông qua phong tục, tập quán, tín ngưỡng của họ; điều này sẽ giúp chúng tôi thuận lợi hơn trong việc thu thập thông tin thực tế tại địa bàn cũng như giúp chúng tôi thống nhất được cách viết về dân tộc Kơho

Ngoài những công trình nghiên cứu đó, còn có các nghiên cứu và bài viết về:Việt Nam – Sắc màu văn hóa 54 Dân tộc anh em của nhà xuất bản Đồng Nai và

Trang 37

Người Cơ Ho ở Tây Nguyên Việt Nam của Nhà xuất bản Thông Tấn; “Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam đa tộc người” của Đặng Nghiêm Vạn (2009); Việt Nam – Hình ảnh cộng đồng 54 dân tộc (2006) của Thông Tấn Xã Việt Nam và Sổ tay về các Dân tộc ở Việt Nam (2008) của Viện Dân tộc học; “Dân tộc Cơ Ho ở Việt Nam” của Bùi Minh Đạo (chủ biên),Vũ Thị Hồng (2002); “Tư liệu về người Cơ Ho” của Viện Dân tộc học – Phòng Trường Sơn – Tây Nguyên (2001); “Khoa học

xã hội và văn hóa Tộc người Hội nhập và phát triển” (2012) của Ngô Văn Lệ; Nhân học đại cương (2008) của Nguyễn Văn Tiệp, Thị Yến Tuyết và nhóm tác giả

đã mang đến cho người đọc một bức tranh toàn cảnh về vấn đề về quốc gia dân tộc

và tộc người như nguồn gốc các tộc người, qua đó, “chân dung” của các dân tộc anh

em được trình bày một cách khá tỉ mỉ, thể hiện được sự tiếp nối truyền thống đoàn kết, đùm bọc nhau, dựng nước, giữ nước cả ngàn năm, là nâng cao và giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam được hình thành từ những đặc trưng văn hóa của cả cộng đồng 54 dân tộc anh em Bằng những dẫn luận khá sắc sảo, các công trình nghiên cứu này đã mang đến một bức tranh toàn cảnh về điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc Việt Nam; từ điều kiện địa lý, đến nơi cư trú, điều kiện sản xuất, ngôn ngữ, văn hóa, tập tục… của các dân tộc khác nhau Với những điều kiện khác nhau ấy đã hình thành nên những nét riêng biệt về đời sống, văn hóa (phong tục, tập quán,…) của các dân tộc, khái niệm về một dân tộc, khái niệm về một tộc người, quá trình hình thành các quốc gia dân tộc và tộc người thời kỳ công nghiệp, đặc điểm của cộng đồng dân tộc Việt Nam, về người Kơho, từ nguồn gốc xuất hiện đến những đặc điểm trong lao động sản xuất, đời sống văn hóa, nghi thức, nghi lễ, tín ngưỡng, hôn nhân, trang phục, đặc trưng nhân chủng học trong sự phát triển xã hội

Và dưới góc nhìn dân tộc học, bằng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, trên cơ sở phân tích các dữ liệu từ thực tế và tài liệu thứ cấp, các tác giả đã phác họa tương đối đầy đủ về đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa truyền thống, văn hóa tinh thần của dân tộc Kơho với các khía cạnh như tín ngưỡng tôn giáo, văn nghệ, sinh

đẻ, lễ cưới Đây là những tài liệu quý được phân tích, trình bày dưới luận điểm của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học về dân tộc học; còn dưới góc nhìn của xã hội học, những hoạt động sinh hoạt tinh thần của cộng đồng đặc thù như người Kơho ở Lâm

Trang 38

Đồng sẽ được chúng tôi xem xét, nghiên cứu và lý giải bằng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, chủ yếu dựa vào tiếng nước ngoài với các trường phái và khuynh hướng khác nhau Tuy nhiên, tinh thần đoàn kết toàn dân đã làm cho cộng đồng dân tộc Việt Nam không ngừng lớn mạnh, vững vàng trên con đường dựng nước và giữ nước Đây là một công trình mang đậm tính dân tộc học, còn dưới góc độ xã hội học vẫn còn là một vấn đề cần được quan tâm xem xét

Lê Ngọc Thắng thông qua “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam (2011) đã cung cấp một cái nhìn, những luận cứ khoa học cần thiết

trên các phương diện lý luận, thực tiễn, kinh nghiệm trong nước và quốc tế; những vấn đề và nhận xét cơ bản của chính sách dân tộc hiện nay của Nhà nước ta; từ đó đưa ra những quan điểm đổi mới, xây dựng, hoàn thiện và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng hệ thống chính sách dân tộc hiện tại và những năm tiếp theo, đặc biệt là đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững đối với sự phát triển

của đồng bào các dân tộc thiểu số trong bối cảnh mới; “Người Dao ở Việt Nam”

(The Yao people in VietNam) của Viện Dân tộc học đã phác họa lên một bức tranh toàn cảnh về người Dao – một cộng đồng dân tộc ít người đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau như Kềm Miền, Kìm Mùn, Dìu Miền, xưa kia họ gọi là Mán, Động, Xạ… rồi đi đến một sự thống nhất về tên gọi Viện Dân tộc học đã cho người đọc thấy được những đặc trưng văn hóa của người Dao thông qua ngôn ngữ, trang phục, lễ cưới, các thiết chế bản làng và các sinh hoạt cộng đồng Tất cả những thành tố văn hóa đó không chỉ thực hiện chức năng cố kết tộc người, mà còn phân biệt người Dao với các tộc người khác Những thành tố văn hóa ấy góp phần làm giàu kho tàng văn hóa đại gia đình các dân tộc Việt Nam (Viện Dân tộc học, 2006:6,14) Đây là một tài liệu quý để giúp cho chúng tôi có cơ

sở đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu các nhóm dân tộc ít người khác, mà cụ thể là người Kơho ở Lâm Đồng trong thực trạng đời sống văn hóa của họ dưới góc nhìn của xã

hội học Hay “Dân tộc Lô Tô ở Việt Nam (2007) của Khổng Diễn – Trần Bình (đồng chủ biên), “Đặc điểm nhân chủng các dân tộc K’ho, Mạ, MNông” tác giả Vũ

Thị Hồng, bằng phương pháp dân tộc học điền dã được sử dụng như là một cách

Trang 39

tiếp cận chủ đạo, tác giả đã trình bày một cách đầy đủ các vấn đề về môi trường tự nhiên, dân số, nguồn gốc lịch sử, đời sống kinh tế, tổ chức xã hội, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của dân tộc Lô Tô và dân tộc Kơho, góp phần khắc phục những hạn chế đối với các công trình nghiên cứu đi trước dưới gốc độ tiếp cận của dân tộc học Chúng tôi với mong muốn kế thừa những kết quả trong nghiên cứu trong khía cạnh về văn hóa tinh thần của tác giả, để từ đó đi sâu nghiên cứu về nhóm đồng bào người Kơho ở Lâm Đồng dưới góc nhìn của nhà xã hội học, từ đó góp phần tạo ra một bức tranh hoàn chỉnh, đa dạng cho các nghiên cứu về dân tộc ít người;

Nguyễn Văn Quyết “Nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của các cộng đồng nông nghiệp – nông thôn trong quá trình phá triển các khu công nghiệp” (Luận án

tiến sĩ Văn hóa học, Hà Nội, 2013), bằng phương pháp liên ngành và cách nhìn của người nghiên cứu về văn hóa học, tác giả đã phác họa được toàn cảnh về các biến đổi trong đời sống văn hóa của cộng đồng dân cư khu công nghiệp như sự tham gia của người dân vào các nghi lễ cộng đồng, các hưởng thụ văn hóa trong cuộc sống hàng ngày và xây dựng, phát triển các mô hình văn hóa Dưới góc nhìn của dân tộc

học, luận án “Hôn nhân và gia đình của người Chu Ru ở Tỉnh Lâm Đồng” (2010)

của Võ Tấn Tú đã phân tích những đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng và những biến đổi trong hôn nhân gia đình của người Chu Ru ở Tỉnh Lâm Đồng đã giới thiệu một cách khái quát những đặc điểm cũng như các nghi lễ truyền thống và

sự biến đổi trong các nghi lễ của người Kơho SRê Đi sâu vào nghiên cứu các thành

phần, cơ cấu của đời sống tinh thần có các nghiên cứu “Về sự biến đổi mô hình phong tục hôn nhân ở châu thổ Sông Hồng qua mấy thập niên gần đây” của Mai Văn Hai và Ngô Ngọc Thắng trên Tạp chí Xã hội học số 2 (82), 2003; “Một số cách tiếp cận về nghiên cứu hôn nhân” trên Tạp chí Xã hội học số 4 (76), 2001 và

“Khuôn mẫu tuổi kết hôn ở nông thôn Việt Nam và các yếu tố tác động” trên Tạp chí Xã hội học số 3 (99), 2007 của Nguyễn Hữu Minh; “Mô hình tìm hiểu và quyết định hôn nhân ở nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” của Lê Ngọc Văn trên Tạp chí Xã hội học số 3 (99), 2007; “Các nghi lễ hôn nhân của người Giao Quần Chẹt”

(trường hợp xã Yên Dơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ) – Viện Dân tộc học của

Vũ Tuyết Lan; “Lễ nghi trong hôn nhân của dân tộc Ê Đê tỉnh Đắk Lắk của

Trang 40

Nguyễn Thị Thạch Ngọc (Đại học văn hóa Hà Nội); “Những vấn đề hôn nhân của dân tộc Brâu ở Viêt Nam của Bùi Ngọc Quang (Trung tâm văn hóa – Thông tin tỉnh Kon Tum); “Tục cưới xin xưa và nay của người Thái da trắng ở bản Phiêng Ban, xã Mường Tùng, Huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên” của Khoàng Thị Quyên (Đại học

văn hóa Hà Nội)

Mặc dầu nghiên cứu trên các đối tượng dân tộc ít người khác nhau ở Việt Nam, nhưng tất cả các tác giả đều đi đến một cái kết chung là tìm hiểu về những nghi thức trong hôn nhân của các dân tộc, từ chọn người làm mối, lễ hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt,… các biến số tác động đến những khác biệt trong nghi lễ hôn nhân của các dân tộc khác nhau, đây là một tài liệu quý giúp cho tác giả luận án có thể kế thừa và tìm hiểu về hôn nhân của người Kơho ở Lâm Đồng trong bối cảnh mới hiện nay

Ngoài ra còn có một số nghiên cứu khác như “Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam” của Đặng Văn Lung, Nguyễn Sông Thao, Hoàng Văn Trụ (1999); “Nghiên cứu luật tục, phong tục các dân tộc thiểu số của Quảng Nam” của Bùi Quang Thanh (2009); “Nghi lễ, Lễ Hội ÊĐê” của Trường Bi (2010) cũng giới thiệu khá hoàn

chỉnh về nghi lễ, phong tục, tập quán, văn hóa của người dân tộc thiểu số

Như vậy, đời sống tinh thần dưới góc nhìn của các ngành khoa học khác nhau đều ít nhiều được phản ánh qua các trường hợp nghiên cứu cụ thể ở các vùng nông thôn, đô thị,… trong nước và quốc tế Đó là cơ sơ thực tiễn quý giá để chúng tôi có được một cách nhìn toàn diện hơn về nội dung cũng như phương pháp trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, đặc biệt là dưới nhãn quan của xã hội học về đời sống tinh thần của người Kơho Thực trạng đời sống tinh thần và những biến đổi của nó trong quá trình đô thị hóa đối với đối tượng là đồng bào dân tộc Kơho sẽ được chúng tôi phân tích sâu hơn trong kết quả nghiên cứu của luận án này

1.4 Vai trò của truyền thông đại chúng trong đời sống tinh thần

Những nghiên cứu về truyền thông đại chúng và những thay đổi văn hóa xã hội trên thế giới cũng như ở Việt Nam là một trong những vấn đề xuất hiện cùng với quá trình đô thị hóa, bỡi lẽ đô thị hóa đã và đang kéo theo nhiều mảng trong đời sống của con người thay đổi theo như cơ sở hạ tầng, truyền thông, lối sống; do đó tác giả luận án cũng đã đọc và nghiên cứu qua các tài liệu trong lĩnh vực truyền

Ngày đăng: 16/02/2020, 13:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w