1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Bài giảng: Chấn thương do vật tày trên cơ thể

33 2K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chấn thương do vật tày trên cơ thể
Trường học Trường Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 219,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng: Chấn thương do vật tày trên cơ thể

Trang 1

Chấn thương do vật tày trên cơ thể.

I Chấn thương vật tày vào vùng ngực.

-Lồng ngực hoặc ngực là một khoang xương - sụn để chứa đựng và bảo vệtim, phổi và các mạch máu lớn của chúng Với bề mặt trước sau ( phía sau) được hình thành bởi 12 đốt sống và những xương sườnTại vị trí để hình thành xương sườn được phân chia thành những khoảng cách bởi cơ liên sườn trong 11 xương được gắn với các xương kề bên.Xương ức và xương sườn được tạo nên phần trước Cơ hoành ở phần sàn của khoang ngực và phân chia lồng ngực và khoang bụng

Tim nằm giữa hai phổi trong khoang giữa ngực, được đóng kín bởi bao tim, hay màng ngoài tim, mỗi phổi cũng được đóng kín bởi một màng thanh dịch gọi là màng phổi Vị trí của tim nằm chếch phía sau của

xương ức và kế cận với xương sườn Nó nằm nhiều về khoang sau của xương ức và kế cận với xương sườn Nó nằm nhiều về khoang ngực trái hơn bên phải, nó chiếm 1/3 về bên phải và 2/3 về bên trái của đường giữa

Khi gây chấn thương vùng ngực, vật tày không xuyên qua, những phủ tạng bên trong có thể xảy ra chấn thương hoặc không thấy chấn thương bên ngoài của thành ngực Trong một số trường hợp, thiếu chấn thương bên ngoài có thể do quần áo phía bên ngoài cơ thể nạn nhân cản trở Ở trẻ

em và người trẻ, lồng ngực đàn hồi, có thể chống đỡ được chấn thương

Trang 2

trầm trọng tới các cơ quan bên trong lồng ngực mà không bị gãy xương sườn, xương ức, nhưng ở người cao tuổi thường những xương này bị gãy.1.1 Chấn thương xương sườn.

- Có 4 thể loại gãy xương sườn

1 Gãy xương sườn về mặt giải phẫu bệnh: Chủ yếu ở người có bệnh ở xương và những u xương

2 Gãy xương sườn do quá trình điều trị (thầy thuốc gây nên) trong cấp cứu bệnh tim mạch ( CPR = Cardio Palmonary Resucciation), bệnh nhân

có thể bị gãy xương sườn phức tạp hoặc gãy xương ức, gây chảy máu trung thất và tràn khí màng phổi (hậu quả bóp tim ngoài lồng ngực) Ở những người trung niên vì trong tình trạng suy nhược cơ thể mạn tính hoặc suy dinh dưỡng, xương sườn mỏng manh dễ bị gãy khi bị áp lực đè lên mức tối thiểu hoặc do bạo lực tác động mạnh vào vùng ngực Những xương sườn bị gãy thường từ 1 đến xương sườn 6, gãy nhiều ở bên trái nhiều hơn bên phải và hoặc là cạnh bên - trước hoặc phía trước

3 Gãy xương sườn do nguyên nhân bạo lực trực tiếp

Nó phụ thuộc vào vị trí tác động, nó vào một hoặc nhiều xương sườn có thể bị gãy Nếu tác động mạnh vào vùng ngực, xương sườn gãy có thể đụng dập nhu mô phổi hoặc đầu sắc nhọn của xương sườn đâm vào màngphổi, rách màng phổi, phổi hoacự tim, hậu quả gây chảy máu màng phổi hoặc đông máu khoang ngực Gãy ở 3 xương sườn trên thường gây chấn thương trầm trọng tới khí phế quản với những mạch máu lớn phần trên, trước của ngực, mặt khác gãy xương sườn 10 đến 12 có thể liên quan đếnchấn thương cơ hoành, gan và lách

4 gãy xương sườn do nguyên nhân bạo lực gián tiếp

Trường hợp do bạo lực gián tiếp, gây chấn thương trầm trọng theo hướngtrước sau ( từ trước ra sau), áp lực tác động vào vùng ngực như nguyên

Trang 3

nhân do ngã từ cao hoặc xe ôtô đè qua ngực, thường xương sườn bị gãy cung bên, nếu áp lực ép từ phía sau ra phía trước, xương sườn có thể gãy vùng gần cột sống, nếu vị trí vùng giữa gần sau ngực thì chấn thương gầncột sống và xương ức Cạnh sắc nhọn của vùng gãy có thể làm rách màngphổi, phổi và tim.

- Gãy phức tạp của xương sườn gồm:

Ngực di động (mảng sườn di động)

Rách mạch máu trung thất và chảy máu màng phổi

Rách phổi với tràn khí màng phổi

Thương tích thấu tim

Viêm màng phổi, viêm mủ màng phổi, viêm phổi

Xương ức

Chấn thương xương ức hoặc có thể do thầy thuốc trong khi làm (bóp tim ngoài lồng ngực) hoặc do hậu quả trực tiếp do bạo lực gây nên Khi gãy

thường gãy ngang và xảy ra phần lớn tại vùng thân xương Nguyên nhan

gãy thường do tác động trực tiếp ở phía trước ngực như tai nạn giao thông bị xe đè qua, ở một số người như vận động viên bơi lội khi nhảy xuống nước bị đập ngực mạnh xuống mặt nước hoặc do lực đè ép theo hướng trước sau như giẫm, xéo vào ngực ở một số phạm nhân ở nước ta (Hoả Lò) Gãy xương ức với thứ phát trong CPR (Cardio Palmonary

Resucciation),.thường xảy ra ở mức độ và gãy tương? ứng xương sườn 3

hoặc 4

Tim

Chấn thương do vật tày vào vùng ngực, có thể sinh ra hình vòng cung và

đe doạ cuộc sống hoặc là chết do chấn thương tim từ sự chấn động của sóng nổ tới đụng dập tim rồi dập - vỡ tim

Lan truyền chấn động.

Trang 4

Chết đột ngột do ngừng tim một cách đột ngột, do vật tày, không va đập trực tiếp vào vùng ngực có thể với quả tim bình thường và không xảy ra

do cấu trúc tim có tổn thương trước ( bệnh tim), chấn thương này thường hiếm Phần lớn được báo cáo liên quan đến thể thao và điền kinh ở nhữngvận động viên Người ta đã mô tả khi đá bóng bị đập vào ngực, một cú đáKarate vào ngực.v.v sau đó nạn nhân bị hôn mê tức khắc hoặc hôn mê chậm Chứng minh sự tác động khi không thấy xuất hiện của trường hợp

cụ thể (đạt 50%0 Điểm tác động xuất hiện chủ yếu ở phía bên trái của ngực Những trường hợp chết xảy ra, nguyên nhân chủ yếu do tác động đột ngột làm rung tâm thất, tác động của vật tày, trước những tác động

xấu của sự dẫn truyền dòng điện khi sự tác động vào tâm thất (điện thần

kinh tự động – Ketflac – Tawara).v.v Sự tác động ngược hoặc đỉnh cao của sóng T (trong điện tim), xoa bóp tim ngoài lồng ngực, kể cả nếu thực hiện tức thì hoặc trong một giai đoạn, những xuất hiện không hiệu quả Điều này ngay cả khi thực hiện bằng thí nghiệm khi xoa bóp tim ngoài lồng ngực trên động vật

Những chấn thương va cấu trúc tim.

Sự va đập mạnh của vật có khối lượng lớn vào phía trươc ngực gây rách

vỡ màng ngoài tim Những rách này hầu hết có sự khác nhau với chấn thương của tim hoặc những mạch máu lớn Quả tim được bảo vệ phía trước bởi xương ức và xương sườn, nó được chặn lại ở bên trong bởi bao tim, động mạch chủ, động mạch phổi và tĩnh mạch chủ Phần trước hoặc mặt trước của tim được hình thành chủ yếu tâm thất phải và hẹp hơn là tâm thất trái Những chấn thương của tim nguyên nhân trầm trọng do lực mạnh trực tiếp vào phần trước của ngực Những chấn thương tự nhiên phụ thuộc vào sự trầm trọng của tác động mạnh trực tiếp vào vị trí bị tác động mạnh, sự tác động này vào tim khi tim đang đẩy máu, tác động này

Trang 5

do đè ấn hoặc đập vào vùng tim giữa xương ức và cột sống Chấn thươngcủa tim thường liên quan với chấn thương của cấu trúc các cơ quan khác trong lồng ngực Thương tích do vật tày vào vùng ngực thường nguyên nhân do tai nạn giao thông Thường lái xe hay gặp những chấn thương này, khi bị tai nạn, Vô lăng đập vào vùng ngực, còn người ngồi cạnh lái

xe thì ngực bị đập vào thiết bị trong cabin Túi khí và dây an toàn chằng qua vai, nó có tác dụng tốt, hoặc che chắn để phòng ngừa hoặc chỉ chấn thương tối thiểu

Tại vị trí bị lực tác động mạnh vào vùng ngực, có thể là nguyên nhân gâynên đụng dập của phần trước thành ngực của tâm thất hoặc bên trongthành của tâm thất Chảy máu có thể xảy ra do hệ thống dẫn truyền gâyhậu quả rối loạn nhịp tim Gây nên tình trạng xấu, ở những vùng máuchảy ra màu đỏ tối Nhưng đây không phải là nhồi máu cơ tim cấp tính.Nếu vị trí bị tác động mạnh vào ngực của lái xe , quả tim nằm giữa cộtsống ngực và gây đụng dập theo hường trước sau của ngực, gây hậu quảtổn thương tâm thất hoặc bên trong thành của tâm thất thì có thể là hậuquả nhồi máu cơ tim cấp Sự đụng dập thành sau của tim, nó không gâyrối loạn mà có màu xám đen của sau chết, sự thay đổi thường thấy trên bềmặt phía sau của tâm thất Nghiên cứu vi thể của những nơi đụng dậptrước chết nó liên quan tới chảy máu khe kẽ vị trí bị đụng dập và chấnthương những sợi cơ tim Với những tế bào bị chấn thương, có sự thayđổi trên điện tim (EKG) và tế bào giải phóng các Enzymes (nhưTroponin)Chấn thương tim không gặp nhiều , nó có sự khác nhau nhưnhững chấn thương do thầy thuốc gây nên trong hồi sức cấp cứu CPR,gây chấn thương bên trong của tim, đặc biệt là bệnh nhân được cấp cứutrong thời gian dài Cơ tim bị đụng dập ít thường tốt mà không có dichứng nào hoặc những chấn thương vẫn còn Hiếm gặp gây biến chứng

Trang 6

hoại tử với chấn thương dập – rách màng ngoài tim vài ngày sau chấnthương Nó có thể vẫn hồi phục với tình trạng xơ hoá của đụng dập cơ

tim và hiếm sự hình thành bị phồng dãn Kille và cộng sự đã báo cáo một

trường hợp sau chấn thương giả phòng buồng thất trái Họ đã thu gomđược trên 12 trường hợp từ tham khảo qua y văn ( Nghiên cứu khoa học).Những phức tạp của rối loạn nhịp tim, suy tim và tắc mạch

Rách, vỡ tim xảy ra chủ yếu khi sự va đập với lực rất mạnh vào phíatrước của ngực Chúng có thể gây tổn thương một hay nhiều vùng củatim đó là tâm nhĩ bên trong vách tâm nhĩ, các nhú của cơ tim, dây chằng -cột cơ hoặc van tim Rách - vỡ tim thường hiếm xảy ra như là chấnthương riêng (F:5.1; T:121) Đa số thường kèm những chấn thương trầmtrọng khác ở vùng ngực Như vậy suy tim sẽ xảy ra nhanh chóng, bất cứkhi nào, van tim, dây chằng, cột cơ hoặc những nhú của cơ tim đã bịrách Bolooki và cộng sự đã báo cáo hai trường hợp bị chấn thương váchtâm thất hậu quả sau chấn thương trầm trọng tại vùng ngực, họ đã chú ýthấy rằng nguyên nhân của chấn thương do vật tày vào vùng ngực vàchấn thương trực tiếp tác động vùng tim nhiều hơn do tác động bởitruyền lực vào tim (trừ khi xe đâm - đổ…)

Năm 1971 Símon đã mô tả hội chứng “ Cằm – xương ức – Tim” Hộichứng này được hiểu rằng con người nhảy dù đã được bảo vệ bằng cácdụng cụ bảo hiểm, khi này việc sử dụng không thể đầy đủ hoặc phầnchưa tốt của dù Gây chấn thương tim, chấn thương phức tạp ở tâm nhĩ vàgây rách cơ tim do có sự liên quan tới đè ép xương ức do bị tác dộngcùng vùng cằm và rách da vùng cằm Một trong những tác giả (DJD) chorằng triệu chứng của cá thể giống như khi chấn thương ngã cầu thang,chấn thương trầm trọng tới vùng cổ Những chấn thương vùng cằm, áplực nén ép hoặc gãy xương ức, tim vùng tuỷ cổ kèm với chấn thương cả

Trang 7

dây chằng Trong một số trường hợp, chấn thương của vật tày vào vùngngực gây gãy xương sườn và đầu gãy chọc thủng cơ tim.

Nếu rách màng tim mà máu không chảy được ra ngoài, hậu quả nạn nhân

sẽ bị chết nhanh chóng do tim bị chèn ép (Tampronade) Với số lượngmáu chỉ cần 150ml có thể gây chết Hậu quả tăng lên do sự nén – ép bênngoài của cơ tim do máu ( Tampronade) gây ảnh hưởng máu đến cơ timphải và sinh ra rối loạn về sự co bóp của tâm thất

Nếu màng ngoài tim bị rách, máu chảy tới khoang màng phổi

Đôi khi hiếm xảy ra của chấn thương do vật tày trực tiếp tới phía trướcngực tác động tới mạch vành, hầu như không có sự thay đổi của nhánhđộng mạch vành trước trái ở hệ thống mạch bị xơ vữa thì dề bị chấnthương Chấn thương động mạch vành có thể sinh ra tắc mạch từ tronglòng ống do huyết khối, chảy máu từ vùng xơ vữa, rách nội mạc hoặc từchấn thương gây nên phồng động mạch Nguyên nhân này gợi ý cho chẩnđoán huyết khối sau chấn thương động mạch vành Việc chứng minh hỗtrợ cho việc chẩn đoán này:

Chấn thương thành ngực và hoặc tim (gãy xương ức hoặc xương sườn)? nặng gây nên huyết khối động mạch vành hoặc gây chấn thương

vùng kế cận của cơ tim gây nên huyết khối động mạch vành

Nếu rách không hoàn toàn của thành mạch vành, gây huyết khối, đặcbiệt nếu còn sống trên 8 đến 12 giờ và gây triệu chứng nhồi máu cơ tim Sự phát hiện tuổi của nhồi máu cơ tim, khi quan sát trên vi thể và nó sẽkhông thay đổi với thời gian bên trong về bằng cớ chấn thương và chết.Thêm nữa việc nghiên cứu qua điện tâm đồ và enzyme quyết định sự tòntại của chảy máu bên trong do chấn thương mà xét nghiệm đã hỗ trợ cho

lý thuyết của chấn thương mạch vành Điều không thể quên được về sựchấn thương phức tạp, tuy nhiên sau khi chấn thương, huyết khối có thể

Trang 8

xảy ra, nhưng gây sốc thứ phát vì sự ứ trệ trong lòng mạch của máu,những yếu tố đó cho phép nhận định về thông tim huyết khối của nạnnhân với xơ vữa động mạch vành.

Động mạch chủ

Quả tim được treo lơ lửng trong túi bao quanh bởi động mạch chủ, độngmạch phổi và tĩnh mạch chủ trên Một lực mạnh tác động, đè ấn phíatrước vùng ngực và tác động mạnh vào vùng tim có thể đủ kéo vào độngmạch chủ gây rách theo lực ngang Tĩnh mạch chủ trên và động mạchphổi hiếm bị rách Rách động mạch chủ phần lớn xảy ra khi tai nạn giaothông, hiếm xảy ra khi ngã Trong tai nạn ôtô xảy ra rách động mạch chủ

và tim và sự tác động bên cạnh

Trong thực tế, toàn bộ những trường hợp rách động mạch chủ ngực, nótruyền lực ngang tức khắc đến khoảng cách ở gốc của động mạch dướiđòn trái (F.5.2.T.123) Cung động mạch chủ được bám chắc bởi hệ mạchlớn tăng lên ở phần cung mạch chủ đó là vùng không tên ở bên phải, bêntrái là động mạch cảnh chung và động mạch dưới đòn và dây chănbgfđộng mạch chủ ( nó liên quan tới động mạch cung động mạch chủ) Ráchmột phần hoặc rách hoàn toàn của quai đến động mạch chủ xảy ra hầuhết ở cùng một vị trí, khoảng cách từ gốc đến động mạch dưới đòn ởphần gặp nhau của cung động mạch chủ và quai đến của động mạchvành

Cơ chế chính xác của chấn thương không được biết Trong sự liên quan

vị trí không đổi của vùng rách động mạch chủ phần cố định của quai đếnđộng mạch chủ ở phần dưới eo động mạch này, phần cố định của cungđộng mạch chủ bởi những mạch máu và sự liên quan không thay đổi củavùng rách động mạch chủ với chấn thương như chấn thương đụng dậpvới ôtô, nó gợi ý sự dừng lại bất ngờ của cơ thể với hậu quả bị đập ngực

Trang 9

và cơ sở cấu trúc của vùng trung thất, nơi có tim và những mạch máu lớn

bị va đập – rung lắc từ phía sau của thành ngực tới động mạch chủ ngực.Dây chằng ép động mạch và quai đến của động mạch chủ, ở tại điểm cốđịnh đủ để rách quai động mạch chủ tức thì ở phần dưới gốc của độngmạch dưới đòn trái

Hiếm gặp chảy máu quanh động mạch chủ do rách động mạch này và dẫnđến phồng động mạch chủ Chảy máu quanh vùng tổn thương, nó ứ trêhvùng xung quanh, được tổ chức phần mềm vùng trung thất khống chế vàtạo nên tổ chức xơ hoá thành động mạch và trở thành phồng động mạchchủ Thành bên ngoài động mạch này trở nên dính vào vùng trungthất v.v như nhánh khí phế quản, gắn kết với nhau ở vùng tổn thươngthành động mạch Cuối cùng thì phồng động mạch này tiếp tục phát triểntới nội mô của lòng động mạch Nơi phồng động mạch này trở nên suyyếu chủ yếu tổ chức xơ, làm giảm tính đàn hồi và khối phồng ngày càng

to mà không thể tránh được

Vỡ rạn của phần đến của cung động mạch chủ xảy ra khi có lực tác động

đè ép mạnh vào vùng tim và phần bên trong màng ngoài tim (bao tim)của vùng quai đến của động mạch chủ, nó xảy ra đột ngột ở trong tim và

áp lực trong lòng động mạch gây hậu quả truyền lực làm rách động mạchchủ tức thì ở phần đỉnh của quai động mạch chủ vùng phía trên van độngmạch này.(F.5.4.T.124) Điều thường xảy ra ở chu vi của động mạch chủ.Chết xảy ra nhanh chóng do chảy máu trầm trọng Những chấn thương cóliên quan tới gãy xương sườn trên và xương ức

Sự dẫn truyền rách - vỡ động mạch chủ do chấn thương, hiếm gặp canthiệp phẫu thuật vùng chấn thương của động mạch chủ Kể cả phẫu thuậtvùng khối phồng của quai đến và cung động mạch chủ Với sự liên quanphẫu thuật khối phồng động mạch chủ, Papadopoulis và cộng sự đã báo

Trang 10

cáo trường hợp ở 50 tuổi bị cao huyết áp đã bị chấn thương do vô lăngôtô gây chấn thương ngực đã 4 năm và đã điều trị tại bệnh viện vì đau độtngột vùng thấp sau ngực trái một cách dữ dội Cơn đau nhanh chónggiảm xuống, nhưng bệnh nhân đi tập tễnh một cách khó khăn Khi chụpđộng mạch chủ ngay vùng thắt lưng, biểu hiện giãn động mạch chủ và bịtắc hoàn toàn vùng động mạch chậu trái Can thiệp của ngoại khoa đã mổvùng phồng của phần đến động mạch tại vùng ngực đã được tìm thấy, vớivùng chấn thương từ trước tới động mạch dưới đòn trái Trong thực tế,lòng của động mạch chủ ngực rất hẹp Qua y văn, tháng 10 -1975, các tácgiả đã thực hiện 138 trường hợp bị chấn thương gây phồng động mạchmạn tính của động mạch chủ ngực.

Chấn thương dập quai đến của động mạch chủ, không gây rối loạn liênquan tới vỡ tự nhiên (đột ngột), với dạng u có hoại tử ở phần giữa, hiệntượng này thường xảy ra Sự nguy hiểm này có thể giống nhau ở mỗitrường hợp Tuy nhiên sự thiếu của chấn thương và quan sát những dạng

u này trên vi thể về sự hoại tử vùng giữa sẽ khác nhau ở dạng không cóchấn thương trước đó Sau đó bị vỡ - rạn thứ phát (nguyên phát) Trongtrường hợp chấn thương gây rách động mạch chủ, toàn thể những bệnh

có sẵn cũng là nguyên nhân gây vỡ đột ngột hoặc hình thái phồng độngmạch này…xơ vữa, giang mai hoặc dạng u có hoại tử ở giữa và phải tìmthấy Tác nhân vỡ này có thể sau khi bị chấn thương thứ phát của phồngđộng mạch chủ này

Heggveit và cộng sự đã báo cáo hai trường hợp bị phồng động mạch xảy

ra sau chấn thương do vật tày vì tai nạn giao thông Trong số đó nạn nhân

bị chấn thương vùng ngực tại bên phải xương ức Sự tác động này giántiếp gây chấn thương động mạch này và phát triển thành phồng độngmạch

Trang 11

Chấn thương dập - vỡ động mạch chủ bụng hoặc là một phần hoặc làhoàn toàn, nó không phải là đặc điểm chung, xong không thiếu Phần lớnkhông phải toàn bộ chấn thương do nguyên nhân của tai nạn giao thông.Rách vỡ động mạch chủ thường có liên quan tới gãy, trật khớp trên cơ sởcủa cột sống phía sau.

Cơ hoành

Chấn thương rách vỡ cơ hoành phần lớn do nguyên nhân trầm trọng bởivật tày tác động gấy chấn thương phần thấp phía trước ngực Thường liênquan tới chấn thương gãy xương sườn và chấn thương ngực bụng Vớibạo lực do bị đè ép mạnh vùng thấp tại trước ngực sẽ là nguyên nhân xảy

ra quá mức và tạo nên sự giằng xé cơ hoành, và cuối cùng cơ hoành bịrách với lực mạnh đè ấn làm chuyển dịch các tạng vùng bụng và tác độngvới áp lục mạnh đủ để xé rách cơ hoành Lực va đập nghiêm trọng ở phíadưới trước ngực và trên bụng có thể tạo nên áp lực mạnh, gây rách vàthoát vị nửa cơ hoành, gây nên hiện tượng chảy máu vùng cơ hoành bịrách Ảnh hưởng đủ lớn đủ để những tạng bị ép trực tiếp rách trong

khoang bụng dẫn đến rách khoang bụng Chấn thương rách cơ hoànhthường gặp nhiều ở bên trái Điều này nhờ có sự bảo vệ đủ mạnh phần cơhoành bên phải bởi gan

Rách bên trái cơ hoành gây thoát vị cho phép các tạng như dạ dày, ruột,mạc nối hoặc lách gây thoát vị tới khoang màng phổi bên trái Phổi bêntrái cũng bị đè ép và tim bị thay đổi dich sang bên phải Thoát vị xảy ranguyên nhân do sự khác nhau vị trí khoang bị đè ấn của bụng và áp lực

âm tính của khoang ngực Sự xuất hiện của gan nằm vùng hạ sườn phải

nó như cái nút để chặn không có thoát vị ngực tại vùng này Hiếm phầncủa gan có thể đi qua vì bản thân gan to, dày nó chặn tại vùng này khi bịrách, tương tự như chặn lại vùng rách có thể gây thoát vị

Trang 12

Phổi

Tràn khí màng phổi có thể do bệnh tự nhiên, quá trình về y tế hoặc chấnthương Hiện tượng tràn khí màng phổi có thể xảy ra do vỡ bóng khí (hayphế nang – kén khí) Tràn dịch màng phổi do thầy thuốc, thường nguyênnhân do ép tim ngoài lồng ngực trong cấp cứu, đặt ống thăm dò vùngdưới đòn và đặt máy hô hấp hỗ trợ Như vậy trong 168 trường hợp trànkhí màng phổi, 54 trường hợp xảy ra trong khi hoặc ngay lập tức ép timngoài lồng ngực (49 ở vị trí phổi trái và 5 ở phổi phải) Trong đó có sựliên quan với xương sườn gãy cùng bên ở 43 bệnh nhân Trong 54 bệnhnhân, 45 trường hợp phải tiêm thuốc vào tim vùng bên trái của ngực.Trong số có những trường hợp tràn dịch màng phổi mà không rõ nguyênnhân Trong 51 bệnh nhân đã xảy ra tràn khí màng phổi do đặt ống trợ hôhấp ở tĩnh mạch dưới đòn Thêm nữa, 61 bệnh nhân tiến triển tràn khímàng phổi do máy hô hấp hỗ trợ và 2 bệnh nhân phải mở khí quản

Năm 1982 Newman và cộng sự đã chú ý về sự gia tăng của tràn khí màngphổi do ống trợ hô hấp vùng tĩnh mạch dưới đòn và truyền chất dinhdưỡng qua tĩnh mạch này

Chấn thương dập vỡ dập khí phế quản trong ngực thường do hậu quảtrầm trọng do lực đè ép gây chấn thương ngực phần lớn gây dập vỡnhánh khí phế quản bên trong tới 2,5cm của vùng cựa khí quản, đặc biệttrong phần chính của phế quản Những trường hợp chấn thương phối hợpkhí phế quản thường xảy ra Xấp xỉ 30% nạn nhân đã bị gãy phần trướccủa xương sườn 2 và 3 Winter và Baum đã quan sát về cơ chế khác nhau

đã gợi nên những dạng chấn thương gồm:

Lực đè ép vào phế quản chính có nề phản hồi của cột sống

Sự đè ép trực tiếp vào xương ức có sự pảhn hồi của thanh môn khiđóng

Trang 13

Áp lực tăng ỷtong lòng ống phế quản đột ngột trong thì thở ra, gây pảhnhồi dóng nắp thanh môn, gây ảnh hưởng nổ.

Với lực xé mạnh, nó cắt qua vùng rốn phổi

Hai phổi được cố định treo lủng lẳng chuyển về phía trước gây phản hồiliên quan tới sự cố định và chuyển gần với phế quản

Phần lớn một số cơ chế về nguyên nhân với một hoặc một số yếu tố phốihợp tạo nên chấn thương khí - phế quản

Ở trẻ em, thiếu niên và người trưởng thành, chấn thương trầm trọng vùngngực có thể là nguyên nhân phản xạ của bộ khung lồng ngực, tại điểm đè

ấn mà không có chấn thương xương ức, xương sườn và xương - sụn Phổibình thường do cấu trúc của nó đàn hồi và có khả năng chống lại lực đè

ép mà không chấn thương Tuy nhiên, một lực mạnh, đột ngột ập đếnvùng ngực có thể đủ thành nguyên nhân gây đụng dập phổi thứ phát vào

độ cong của xương sườn Ở trẻ con thường không thấy sự khác biệttương ứng về chảy máu dưới màng phổi với chiều ngang tác động củaxương sườn Tại vị trí, sự tác động quá mạnh vào ngực gây áp lực nénkhí trong các phế nang làm không khí rò rỉ thoát ra ngoài qua đường dập

vỡ phế nang Nêú không khí được chặn lại trong phế nang, do hiện tượngtắc nghẽn(kén khí), bên trong phế nang áp lực của không khí sẽ tăng lêncho đến mức giới hạn của sự đàn hồi của phế nang, khi phế nang vỡ gâyhậu quả chảy máu trong phế nang

Tác giả Osborn quy cho sự đụng dập của mặt sau phổi như là hiện tượngđụng dập Contrecoup (phản hồi) Ông đã phát hiện thấy sự tổn thươngcủa chúng hầu như không thay đổi tại vị trí tương ứng với độ chếch củaxương sườn Ông suy ra rằng, tại khoang ngực là một thể loại cấu trúc,khi bị đè ép từ phía trước, bên cạnh, phía sau cột sống đều ở dạng cốđịnh Vì vậy gây nên chấn thương Contrecoup thứ phát Nếu các phế

Trang 14

nang vùng dưới bị……… gián tiếp do xương sườn, thì lực truyền này từphía ………phía trước , nguyên nhângây nên đụng dập phía sau phổi,trong đó có các phế nang Hậu quả phổi bị đụng dập thì nhanh chóngđược sẹo hoá Nhìn chung sự cải thiện (tiến triển) xảy ra trong 48 giờ vàhoàn toàn trong vài ngày.

Sự gãy xương sườn phức tạp một đoạn hoặc hai đoạn gây nên hiện tượng

“đập” mạnh vào vùng ngực tạo nên hô hấp đảo ngược Trong nhữngtrường hợp như vậy, gây ảnh hưởng thì hít vào, hậu quả do sự suy yếucủa cơ hoành liên quan tới sự hoạt động của các cơ quan bên trong do bịchấn thương thành ngực, gây ảnh hưởng ít nhiều đến sự thay đổi củathông khí Sự hô hấp tăng lên không khí tạo nên áp lực âm tính ở màngphổi bị thay đổi, nó là nguyên nhân gây đảo chiều suy hô hấp đảo ngược

kể cả thành ngực Điều này đủ làm giảm sự thông khí ở phổi nguyênnhân do chấn thương tới nhu mô phổi và nhanh chóng dẫn tới thiếu oxy.Nếu bộ hành bị xe đè qua hoặc bị xe ôtô va đập ở phần thấp của xe hoặc

bị ngã, hậu quả chấn thương phổi gồm dập vỡ phổi Phần lớn nhữngtrường hợp này xảy ra khi thanh môn đóng và bị tác động đè ép mạnhvào vùng ngực Áp lực khí bên trong phế nang và bên trong phế quản bịbẹp xuống bởi vì nó không có khả năng thoát khí theo đường bình thường

và chấn thương tạo nên túi khí Khi khí trong hai cơ quan này bị đè ấntăng lên, nó là nguyên nhân làm dãn các phế nang, cuối cùng các phầnnày bị vỡ, gây hậu quả vỡ và chảy máu, có thể gây nên tràn khí màngphổi Ở người trưởng thành, những áp lực mạnh đập vào phía trước củavùng ngực có thể gây gãy xương sườn, sụn sườn và xương ức Càng lựcmạnh tác động phía sau lưng sẽ đưa đầu gãy xương sườn , cột sống có thểvào tới khoang ngực Còn ở trẻ con, thiếu niên và thanh niên trẻ do khungxương phản xạ, đàn hồi của khung xương sườn sẽ có thể không bị gãy

Trang 15

Khi do lực tác động xoay vào vùng ngực có thể gây gãy các xương sườn,xương ức, sụn sườn phức tạp, trong đó kể cả xương ức, gây chấn thươngphức tạp ở phổi Những phần rách của phổi xảy ra khi có lực đập mạnh,gây áp lực vào trong khoang ngực, các cơ quan trong ngực và tổ chứcphổi bị co lại (thu nhỏ) Rách bên trong của phổi có thể nhỏ hoặc đơn độchoặc lớn ở phía dưới trong màng phổi.

Thông thường gãy đơn thuần của xương sườn, có thể không đụng dậphoặc rách màng phổi Tuy nhiên nếu tác động lực mạnh vào vùng ngực

đủ chuyển phần dưới của đầu xương sườn gãy, chúng có thể chọc thủnghoặc rách màng phổi và phổi Khi kiểm tra trên tử thi, thấy đầu dưới củaxương sườn gãy, có thể không chứng minh được nguyên nhân của đầugãy xương sườn chọc vào màng phổi và phổi

Chấn thương phức tạp của phổi:

Chảy máu khoang ngực thường do chấn thương phổi Chảy máu vùngkhoang màng phổi thường không có ý nghĩa nếu rách nhỏ, bởi vì do tínhchất đàn hồi của tổ chức phổi và áp lực đè ép gây rách bởi chảy máu rộngtrong khoang ngực Những chảy máu rộng trong khoang màng phổi xảy

ra nếu rách rộng và kèm theo những mạch máu lớn Chảy máu khoangngực có thể gia tăng do rách của tổ chức ở trung thất, cơ hoành và độngmạch vú trong hoặc những động mạch liên sườn do gẫy xương ức hoặcxương sườn Chấn thương ngực có thể quá mức gây rách màng phổi bịdính cũ, tạo nên chảy máu khoang màng phổi Số lượng máu phụ thuộcvào mức độ phân bố mạch máu vùng màng phổi Trong điều trị hoặcchẩn đoán chọc dò màng phổi, có thể gây chảy hoặc rách động mạch liênsườn, nó là nguyên nhân gây chảy máu vào trong khoang màng phổi.Chọc thủng động mạch phổi bởi ống thông Swan – Ganz có thể xảy ragây hậu quả chảy máu khoang ngực

Trang 16

Chấn thương rách của phổi chảy máu tới khoang màng phổi, điều nàykhông quan trọng nếu rách nhỏ, bởi vì nhu mô phổi tự co lại vì có tínhđàn hồi và sự nguy hiểm khi rách rộng, gây chảy máu trong khoang ngực.Chảy máu lớn trong khoang màng phổi, nếu bị rách lớn và kèm theo chấnthương mạch máu lớn Chảy máu trong khoang ngực dữ dội do chảy máu

từ những chỗ rách của tổ chức ở trung thất, cơ hoành, động mạch vútrong hoặc những động mạch liên sườn do gãy xương ức và xương sườn.Chấn thương do vật tày vùng ngực có thể quá mạnh và gây rách cả vùngdính màng phổi cũ, tạo nên chảy máu trong khoang màng phổi

Chấn thương rách của phổi gây hậu quả rò rỉ khí vào khoang màng phổi

và tạo nên tràn khí màng phổi Khi tràn khí thì nó liên quan tới chảy máutrong khoang màng phổi, nó được gọi là tràn máu – khí khoang màngphổi Chú ý khi tràn khí màng phổi có thể phát triển khi chấn thương ráchsâu tới phổi và phế quản lớn trầm trọng Với mỗi thì hít vào, không khívào đường phế quản thoát ra vào khoang màng phổi Trong thì thở ra, bờmép rách của phế quản hoạt động như cái van không cho không khí từngoài vào từ khoang màng phổi tới phế quản Với mỗi thì hít vào, thể tíchcủa áp lực khí tăng dần cho đến khi gây áp lực cao đủ để hôn mê chophổi, trung thất và tim Khi khám nghiệm, xẹp phổi do áp lực khí ởkhoang màng phổi, cơ hoành, sự thay đổi vị trí tim trong trung thất Khichấn thương rách phổi, kèm theo tĩnh mạch phổi và những phế quản kềbên, không khí tồn tại trong phế quản có thể vào tĩnh mạch phổi và nóchuyển sang buồng thất trái và gây hậu quả tắc mạch ở tim và ở não.Nếu máu trong khoang màng phổi chưa được chuyển, máu sẽ bị hỏng vàchuyển màu từ đỏ sang nâu, cuối cùng sắc tố chuyển thành màu nâuChocolate đọng lại và thành dịch nâu đục Máu nằm trong khoang màngphổi có thể bị loãng ra bởi vãng huyết thanh Rách phổi tràn khí màng

Ngày đăng: 25/10/2012, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w