Đối tượng nghiên cứu Các nhân tố tác động lên phát triển kinh tế bao gồm thể chế, qui mô dân số, cơ sở hạ tầng, chất lượng lao động, chi phí lao động, vốn FDI Tác động không gian qua lạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
CAO THỊ THU TRANG
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 63 TỈNH THÀNH
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
CAO THỊ THU TRANG
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 63 TỈNH THÀNH
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính công (Hướng nghiên cứu)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ HUYỀN
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài: “Phân tích các yếu tố tác động lên tăng trưởng kinh
tế 63 tỉnh thành tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu hoàn toàn do bản thân thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Huyền Các trích dẫn, số liệu đều được dẫn nguồn, kết quả trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 10 năm 2019
Cao Thị Thu Trang
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do thực hiện đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3
1.6.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
1.7 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5
2.1 Khái niệm liên quan 5
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế 5
Trang 52.1.2 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế 5
2.2 Một số quan điểm về lý thuyết tăng trưởng kinh tế 11
2.2.1 Mô hình tăng trưởng của trường phái cổ điển 11
2.2.2 Mô hình tăng trưởng của Các Mác 12
2.2.3 Mô hình trường phái tân cổ điển 12
2.2.4 Mô hình tăng trưởng của Harrob-Domar 13
2.2.5 Mô hình tăng trưởng của Robert Solow 13
2.2.6 Mô hình tăng trưởng hiện đại của Paul Samuelson 14
2.2.7 Mô hình tăng trưởng nội sinh 14
2.2.8 Lý thuyết về thể chế và hoạt động kinh tế 17
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 19
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài 19
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước 21
2.3.3 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu 24
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Mô hình hồi quy đề xuất 25
3.2 Phương pháp nghiên cứu 30
3.2.1 Kiểm định Moran’s I 30
3.2.2 Mô hình kinh tế lượng không gian 31
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 1986 – 2016 37
4.2 Tình hình của các yếu tố tác động tăng trưởng kinh tế hiện nay 41
Trang 64.2.1 Tình hình sử dụng vốn 41
4.2.2 Thực trạng lực lượng lao động 43
4.2.3 Thực trạng thể chế 44
4.2.4 Nhận xét chung về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam 45
4.3 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 45
4.4 Sự tự tương quan không gian giữa các địa phương 46
4.5 Lựa chọn ma trận và mô hình không gian 47
4.5.1 Kết quả tác động trực tiếp 50
4.5.2 Kết quả tác động gián tiếp 50
4.5.3 Kết quả tổng tác động 51
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Kiến nghị 54
5.3 Hạn chế của đề tài nghiên cứu 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Đặc điểm kinh tế của từng thời kì 38
Bảng 4.2: Kết quả thống kê mô tả các biến số trong mô hình nghiên cứu 45
Bảng 4.3: Kiểm định Global Moran’s I của Tăng trưởng kinh tế 47
Bảng 4.4: Kết quả AIC của các ma trận không gian 47
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định Hausman và hệ số độ trễ không gian Rho 48
Bảng 4.6: Kết quả mô hình hồi quy 49
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 4.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam 1986-2014 37 Hình 4.2: Vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước phân theo nguồn vốn 41 Hình 4.3: ICOR của một số nước trong khu vực 42
Trang 9để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững thì chính phủ cần đảm bảo vấn đề cung ứng dịch vụ công phải công bằng, hiệu quả, nâng cao trách nhiệm của người thừa hành công vụ, bên cạnh đó đảm bảo thực hiện an sinh xã hội song song với phát triển kinh
tế
Từ khóa: phát triển, thể chế, không gian
Trang 10ABSTRACT
The international and regional economic integration is increasingly expanding with Vietnam, along with a series of opportunities and challenges Efficient use of all resources, anticipating opportunities as well as preventing and overcoming difficulties
to boost and develop Vietnam's economy is more important than ever The study aims
to analyze the factors affecting the economic growth of 63 provinces and cities in Vietnam Simultaneously analyze spatial impact between factors The study used secondary databases from 2010 to 2016 Next, the study conducted running regression models including POOL OLS, FEM and REM, SAR, SEM and SDM The research results indicate that population size, labor quality, political institutions and FDI have significant impacts on local economic growth The results also indicate that population size and infrastructure in the surrounding localities have an impact on economic growth in a particular province The impact of urbanization and infrastructure on regional economic growth is more local than that in a province At the same time, the study also identifies the political institutions that have a positive impact on local economic growth Based on the study, it can also be concluded that in order to promote sustainable economic growth, the government needs to ensure that the provision of public services is fair, efficient, and enhances the responsibilities of public service executors Besides, it ensures the implementation of social security in parallel with economic development
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Lý do thực hiện đề tài
Cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc là mong ước của mọi người Bàn luận về điều này thật có ý nghĩa vô cùng to lớn Cùng với sự phát triển của nhân loại, những nghiên cứu về các vần đề kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường đã làm tốn không biết bao thời gian, công sức, trí tuệ mà vẫn là chưa đủ
Nhờ vào những cải cách kinh tế toàn diện, sự chuyển đổi từ một nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường và thực hiện chính sách mở cửa, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong kinh tế phát triển Hai thập kỷ qua, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã thể hiện đúng quan điểm phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đạt được những tiến bộ ấn tượng về tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn rất nhiều hạn chế cần được khắc phục Nếu như trước khi gia nhập WTO, Việt Nam được kì vọng sẽ trở thành một con hổ mới của Châu Á, tiếp bước được sự phát triển của Hàn Quốc, Hồng Kong, Đài Loan, Singapore
Thực tế tăng trưởng kinh tế Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO chỉ đạt ở mức trung bình 6,5%, ngay khi vừa mở cửa lại chịu tác động tiêu của suy thoái kinh
tế và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Không đạt được kì vọng như mong đợi, Việt Nam còn cơ nguy cơ bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình như Philippine đã từng mắc phải
Từ năm 2014 trở lại đây, kinh tế Việt Nam đã có xu hướng phục hồi và tăng trở lại Bên cạnh đó, việc kí kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do với EU, Chile, Hàn Quốc,…trở thành thành viên chính thức của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) (2010) và mới đây nhất là kí kết thành công hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) (2/2016) giúp cánh cửa hội nhập kinh tế
Trang 12thế giới và khu vực lại ngày càng mở rộng thêm đối với Việt Nam, đi kèm theo đó
là hàng loạt cơ hội và thách thức Tổng cục thống kê đã công bố vào cuối tháng 6
số liệu tăng trưởng trong nửa đầu năm 2019 của Việt Nam Theo đó, tăng trưởng GDP quý II ước đạt 6,71% Với kết quả này, cộng thêm việc sau khi tính toán lại, GDP quý I tăng trưởng 6,82%, chứ không phải chỉ là 6,79% như con số ước tính trước đó, thì tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm ước đạt 6,76%
Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) dự báo Việt Nam là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á năm 2019 Theo đó, tăng tăng trưởng của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2019 vào khoảng 6,8% dù nền nông nghiệp nước này chịu ảnh hưởng nặng nề do hạn hán và dịch tả lợn châu Phi.Việt Nam vẫn ưu tiên, tập trung duy trì đà tăng trưởng công nghiệp mạnh mẽ, phát triển sản xuất, dù
có nhiều ngành có dấu hiệu chững lại từ nửa cuối 2018 Theo đánh giá của ADB: Yếu tố quan trọng giúp duy trì đà tăng trưởng của Việt Nam chính là lực hút FDI, các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng 27% trong suốt 5 tháng đầu năm 2019 Việc tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước, đón đầu cơ hội cũng như phòng ngừa, hạn chế, khắc phục khó khăn để đẩy mạnh, phát triển nền kinh tế nước ta là quan trọng hơn bao giờ hết Do đó, tác giả đã quyết định
chọn đề tài “Phân tích các yếu tố tác động lên tăng trưởng kinh tế 63 tỉnh thành tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố
ảnh hưởng, thứ tự mức độ ảnh hưởng cũng như gợi ý các giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời kì đất nước hội nhập
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện nhằm mục đích:
Phân tích các yếu tố tác động lên tăng trưởng kinh tế tại các địa phương tại Việt Nam
Phân tích mối tác động không gian giữa các yếu tố trong nghiên cứu
Trang 131.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các nhân tố tác động lên phát triển kinh tế bao gồm thể chế, qui mô dân số,
cơ sở hạ tầng, chất lượng lao động, chi phí lao động, vốn FDI
Tác động không gian qua lại giữa các yếu tố tại các địa phương Việt Nam trong việc phát triển kinh tế
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Các yếu tố thể chế, qui mô dân số, cơ sở hạ tầng, chất lượng lao động, chi phí lao động, vốn FDI của 63 tỉnh thành tại Việt Nam
Không gian: 63 tỉnh thành tại Việt Nam
Thời gian: Từ năm 2010 - 2016
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Có sự tương tác về mặt không gian của các yếu tố thể chế, qui mô dân số, cơ
sở hạ tầng, chất lượng lao động, chi phí lao động, vốn FDI giữa các địa phương trong phát triển kinh tế hay không?
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này tiến hành tập trung và hệ thống lại các học thuyết về kinh tế, thể chế và các mối quan hệ thành tố tác động lên tăng trưởng kinh tế Thông qua các bước thống kê và tổng hợp từ cơ sở dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu sẽ tiến hành tìm ra mối quan hệ không gian trong tăng trưởng kinh tế và các yếu tố trong bài Tiếp đến, nghiên cứu tiến hành chạy các mô hình hồi quy bao gồm POOL OLS, FEM và REM, SAR, SEM và SDM Từ cơ sở các mô hình kể trên, nghiên cứu tiến hành tổng hợp, đánh giá kết quả từ các kết quả từ các mô hình trên
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
1.6.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần làm rõ và hệ thống những lý luận về thể chế, sự phát triển kinh tế
Trang 14và mối liên hệ giữa các yếu tố lên sự phát triển của kinh tế của các địa phương tại Việt Nam Thông qua việc hệ thống, nghiên cứu này kỳ vọng sẽ cho ra góc nhìn và
sự hiểu biết một cách toàn diện về yếu tố thể chế, các yếu tố tác động lên phát triển kinh tế
Đóng góp tính mới trong việc tìm ra các yếu tố giúp tăng trưởng kinh tế các địa phương và mối quan hệ không gian giữa các yếu tố đó
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua chạy mô hình hồi quy, nghiên cứu này kỳ vọng sẽ chỉ ra được tình hình thực tiễn trong mối quan hệ giữa thế chể và phát triển kinh tế tại các địa phương ở Việt Nam Bên cạnh đó, nghiên cứu này kỳ vọng sẽ cho ra được mối liên
hệ không gian giữa quy mô dân số, cơ sở hạ tầng, trình độ giáo dục và chi phí nhân công và sự phát triển kinh tế Thông qua kết quả trên, nghiên cứu cũng gợi ý các giải pháp, khuyến nghị nhằm giúp phát triển kinh tế cho chính địa phương của mình cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền
1.7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn được kết cấu thành 5 chương, cụ thể:
Chương 1: Giới thiệu về đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây:
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Trang 15CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 _ Khái niệm liên quan
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Theo Simon Kurnetz, tăng trưởng là sự gia tăng bền vững về sản lượng bìnhquân đầu người hay sản lượng trên mỗi công nhân
Theo Douglas North và Robert Paul Thomas, tăng trưởng xảy ra khi sản lượng gia tăng nhanh hơn gia tăng dân số
Tóm lại, tăng trưởng kinh tế dưới dạng khái quát là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP), là quá trình làm gia tăng sản lượng thực bình quân đầu người (tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số hay còn gọi là POP đầu người) trong một khoảng thời gian nhất định, trong đó, sản lượng bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ, giúp gia tăng phúc lợi xã hội của con người
2.1.2 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế
Để đo lường và đánh giá tăng trưởng kinh tế, ta dựa vào các chỉ tiêu:
- Về phương diện tiêu dùng, tổng sản phẩm trong nước là toàn bộ giá trị mà
hộ gia đình, doanh nghiệp và tổ chức nhà nước thu được do giá trị gia tăng đem lại
Trang 16Tổng sản phẩm trong nước chủ yếu phản ánh khả năng sản xuất của một nền kinh tế
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
Tổng sản phẩm quốc dân là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo
ta bởi công dân trong một nước trong năm, không phân biệt sản xuất được thực hiện trong hay ngoài nước Là thước đo sản lượng gia tăng mà người dân của một nước thực sự thu nhập được
GNP = GDP + Thu nhập ròng từ nước ngoài
Thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập bình quân đầu người là thương số giữa toàn bộ sản phẩm và dịch
vụ cuối cùng mà tất cả công dân một nước tạo ra trong năm với tổng số dân
Thu nhập bình quân đầu người tỷ lệ thuận với quy mô sản lượng và tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ nghịch với dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế tự nhiên hằng năm Vì vậy, mặc dù thu nhập bình quân đầu người phản ánh sự tăng trưởng và phát triển, nó vẫn chưa nói lên bản chất mà tăng trưởng kinh tế mang lại
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
𝑦 = 𝑌𝑡 − 𝑌𝑡−1
𝑌𝑡−1Trong đó:
y: Tốc độ tăng trưởng của Y
Y: GDP thực hoặc GNP thực hoặc GDP thực bình quân đầu người
Các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế
Từ lý thuyết và thực nghiệm của các trường phái kinh tế khác nhau về tăng trưởng kinh tế, nhận thấy ở các nền kinh tế khác nhau, các yếu tố chính quyết định đến tăng trưởng kinh tế đều bao gồm vốn, lao động, công nghệ Bên cạnh đó, yếu tố tài nguyên, thể chế cũng ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế
Thể chế
Trang 17Schneider (1999) định nghĩa chất lượng thể chế công như là việc thi hành thẩm quyền hoặc kiểm soát để quản lý hoạt động và tài nguyên của một quốc gia
Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID, 2002) theo khía cạnh khác đã định nghĩa thể chế công là một hệ thống phức tạp của sự tương tác giữa các cấu trúc, truyền thống, chức năng và quy trình đặc trưng bởi giá trị của trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và sự tham gia UNDP (2002) định nghĩa thể chế công là phấn đấu vì quy định của pháp luật, tính minh bạch, công bằng, hiệu quả, trách nhiệm và tầm nhìn chiến lược trong việc thực thi quyền lực chính trị, kinh tế và hành chính
Trong khi các tài liệu không cung cấp bất kỳ định nghĩa chính xác duy nhất nào về thuật ngữ thể chế công, nhưng dường như có một sự thống nhất về các khía cạnh của nó “Thể chế công liên quan đến cách chính phủ được cấu trúc, quy trình quản lý và kết quả là thực hiện những điều liên quan đến nhu cầu của những công dân mà họ phục vụ” Jreisat (2002) Các khía cạnh này bao gồm các tổ chức của hệ thống xã hội, kinh tế và chính trị, phân bổ các nguồn lực công cho các thành viên của xã hội, việc thu hồi và thực thi quyền lực chính trị, tất cả đều quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của một xã hội bất kỳ
Như đã thảo luận bởi Keefer (2004), thuật ngữ thể chế công “rất đàn hồi và
đa chiều” Tuy nhiên, Keefer (2004) cũng chỉ ra rằng hầu hết các định nghĩa đều liên quan đến “mức độ mà các chính phủ đáp ứng cho người dân và cung cấp cho họ các dịch vụ cốt lõi nhất định, chẳng hạn như bảo vệ quyền sở hữu, các quy định chung của pháp luật và mức độ mà thể chế cung cấp cho các nhà hoạch định chính phủ một động lực để đáp ứng tốt cho công dân”
Vì bản chất đa chiều của thể chế công, một số định nghĩa đã xuất hiện trong các tài liệu Ngân hàng Thế giới định nghĩa thể chế công là “thực thi quyền lực chính trị để điều hành hoạt động của một quốc gia” Ngân hàng Phát triển châu Phi (1999) mở rộng định nghĩa của Ngân hàng Thế giới để thích ứng với nền kinh tế
Trang 18toàn cầu thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa ADB định nghĩa thể chế công là “một quá trình đề cập đến cách thức mà quyền lực được thực thi trong việc quản lý vấn đề công của một quốc gia và mối quan hệ với các quốc gia khác”
Điều quan trọng cần lưu ý là các định nghĩa của Ngân hàng Thế giới và ADB dường như chú trọng nhiều hơn về hiệu quả của chính phủ trong việc cung cấp dịch
vụ cho các thành viên trong xã hội của họ Tuy nhiên, như được thảo luận bởi Keefer (2004), khái niệm rộng hơn về thể chế công nên bao gồm các cơ chế khuyến khích chi phối các hành động của các tác nhân chính trị Đây là vấn đề của hệ thống chính trị và kinh tế
Những nghiên cứu trước đây về phát triển kinh tế ngầm giả định rằng các chính trị gia sẽ đưa ra quyết định tối đa hóa phúc lợi xã hội Dethier (1999) đã đưa ra quan điểm rằng “chính phủ không phải là nhà độc tài nhân từ mà là những người tìm kiếm cách để tối đa hóa phúc lợi xã hội, nhưng cấu trúc thể chế phức tạp đặc trưng bởi các mối quan hệ đại diện”.Sử dụng hiệu quả các nguồn lực công không chỉ phụ thuộc vào thể chế (hạn hẹp như là cấu trúc tổ chức), mà còn phụ thuộc vào các chương trình ưu đãi trong các tổ chức công Dethier (1999)
Một định nghĩa rộng hơn về thể chế được cung cấp bởi North (1990) là
“những quy tắc của những trò chơi trong xã hội hoặc chính thức hơn là “những trở ngại mà con người đặt ra để hình thành sự giao tiếp giữa con người với nhau trong
xã hội” Định nghĩa rộng hơn này quy định cơ chế khuyến khích trong cơ chế ra quyết định Một định nghĩa khác ám chỉ tới cái nhìn toàn diện hơn về thể chế này được cung cấp bởi Kaufman và Kraay (2002)
Kaufmann và Kraay (2002) định nghĩa thể chế công là “truyền thống và các
tổ chức mà chính quyền được thực thi trong một quốc gia” Theo các tác giả, điều này gồm quá trình mà các chính phủ được tuyển chọn, kiểm soát và thay thế; khả năng của chính phủ để thiết lập và thực thi chính sách; sự tôn trọng của người dân và
Trang 19nhà nước đối với các tổ chức để quyết định các tương tác giữa kinh tế và xã hội Đặc biệt, quá trình mà các chính phủ được tuyển chọn và giám sát tác động rất lớn đến
cơ chế khuyến khích trong các tổ chức chính phủ
Thể chế được hiểu là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm quy định cấu trúc tương tác giữa người với người Các thể chế chính trị – xã hội được thừa nhận
có tác động đến quá trình phát triển đất nước, đặc biệt thông qua việc tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường đầu tư Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế Một thể chế chính trị xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo
ra tốc độ tăng trưởng nhanh chóng Thể chế tạo điều kiện thúc đẩy sự tăng trưởng, tức là tạo ra những điều kiện thuận lợi để hướng các hoạt động theo hướng có lợi và hạn chế các mặt bất lợi
Chỉ số PAPI
Chỉ số PAPI là công cụ phản ánh tiếng nói người dân về mức độ hiệu quả điều hành, quản lý nhà nước, thực thi chính sách và cung ứng dịch vụ công của chính quyền các cấp Chỉ số PAPI bao gồm 6 chỉ số lĩnh vực nội dung, 22 chỉ số nội dung thành phần và hơn 90 chỉ tiêu thành phần về hiệu quả quản trị và hành chính công của toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước
Quy mô dân số
Dân số là một nguồn lực lượng sản xuất chính, là yếu tố khác tạo đầu ra cho nền kinh tế, vì lao động cần thiết để làm việc với nguồn vốn đã có sẵn và không thể thiếu được trong các hoạt đông kinh tế và lao động còn là một bộ phận của dân số, là người được hưởng thụ lợi ích của quá trình phát triển Mọi quốc gia điều nhấn mạnh đến mục tiêu “phát triển vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển” Vì vậy, dân số có vai trò là động lực của sự phát triển, là động lực quan trọng trong
Trang 20tăng trưởng kinh tế Vốn và lao động sẽ làm việc với nhau để tạo ra một mức POP bình quân đầu người, được gọi là trạng thái ổn định
Cơ sở hạ tầng kém làm gia tăng chi phí sản xuất, điều này làm giảm tính hấp dẫn của các nước nhận đầu tư trong mắt nhà đầu tư nước ngoài Cho nên, cơ sở hạ tầng hiện đại sẽ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài nhiều hơn, giúp các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận thị trường tiềm năng và nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trình độ giáo dục
Trình độ giáo dục phản ảnh tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, của giáo dục và đào tạo, qua đó gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào của các nhân tố vô hình như đổi mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của công nhân… mà còn vào cả chất lượng của các yếu tố đầu vào là vốn và lao động
Nếu vốn và lao động được xem như là các yếu tố vật chất có thể lượng hóa được mức độ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế và là những nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng thì trình độ giáo dục được coi là yếu tố chất lượng của tăng
Trang 21trưởng hay tăng trưởng theo chiều sâu Việc tăng trình độ giáo dục gắn liền với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động… Trong đó, khoa học – công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, đặc biệt là các quốc gia phát triển Việc sử dụng những tiến bộ công nghệ làm tăng năng suất lao động, tăng sản lượng sản xuất, tăng giá trị sản phẩm, rút ngắn thời gian tạo sản phẩm, nâng cao chất lượng và tạo giá trị gia tăng cao hơn
Chi phí lao động
Charkrabarti (2001) cho rằng mức lương như là một chỉ số của chi phí lao động, được tranh cãi nhiều nhất trong các yếu tố quyết định khả năng thu hút
Về mặt lý thuyết, tầm quan trọng của chi phí lao động rẻ trong việc thu hút các công ty đa quốc gia được đồng ý bởi giả thuyết phụ thuộc cũng như các giả thuyết hiện đại, mặc dù có rất nhiều ý nghĩa khác nhau Tuy nhiên, thậm chí không
có sự nhất trí nào trong việc so sánh giữa số lượng nhỏ các nghiên cứu mà đã khám phá ra vai trò của mức lương trong sự tác động lên tăng trưởng kinh tế: kết quả từ các quốc gia sở tại có mức lương cao hơn không khuyến khích
Trong ODI (1997) trình bày rằng nghiên cứu thực nghiệm cũng tìm thấy mối quan hệ chi phí nhân công có ý nghĩa thống kê, đặc biệt là đầu tư nước ngoài trong các ngành công nghiệp thâm dụng lao động và các công ty con được định hướng xuất khẩu Tuy nhiên, khi chí phí nhân công tương đối không đáng kể (khi tỉ lệ mức lương ít khác biệt giữa các nước) thì kỹ năng của lực lượng lao động được mong chờ
có tác động quyết định đến tăng trưởng kinh tế
2.2 Một số quan điểm về lý thuyết tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Mô hình tăng trưởng của trường phái cổ điển
Adam Smith (1723-1970) trong học thuyết về “Giá trị lao động” cho rằng:
Trang 22nguồn gốc của sự tăng trưởng đó là lao động, vốn và đất đai, trong đó lao động là quan trọng nhất và là nguồn gốc tạo ra của cải, là yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh
tế Bên cạnh đó, ông khẳng định phân công lao động và chuyên môn hóa lao động là
cơ sở làm tăng năng suất lao động, tăng sản lượng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng
Sau Adam Smith, David Ricardo (1772-1823) cũng cho rằng ba yếu tố đó là lao động, vốn và đất đai tác động đến tăng trưởng Khác với Adam Smith, Ricardo cho rằng nhân tố đất đai là quan trọng nhất, góp phần vào tăng trưởng Ricardo kết luận đất đai là giới hạn đối với sự tăng trưởng Bên cạnh đó, giống với lý thuyết
“bàn tay vô hình” của Adam Smith trước đó, Ricardo cũng cho rằng sự can thiệp của Chính phủ không làm cho nền kinh tế tăng trưởng
2.2.2 Mô hình tăng trưởng của Các Mác
Các Mác (1818-1883) là một nhà kinh tế học, nhà xã hội học, nhà triết học xuất sắc Khi lập luận về tăng trưởng kinh tế, Các Mác cho rằng: Các yếu tố tác động đến tăng trưởng là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật; trong đó tương tự như Adam Smith, Các Mác cũng cho rằng lao động là yếu tố quan trọng và quyết định đối với tăng trưởng Các Mác đã phát hiện ra điều này trong quá trình ông nghiên cứu về giá trị đặc biệt của sức lao động và quá trình sản xuất giá trị thặng dư
2.2.3 Mô hình trường phái tân cổ điển
Marshall (1842-1924) cho rằng bốn yếu tố là: lao động, vốn, tài nguyên và khoa học – công nghệ tác động đến tăng trưởng giai đoạn này Bên cạnh đó, các nhà kinh tế cũng chia các yếu tố thành 2 nhóm, bao gồm: (Nhóm 1): theo chiều rộng: vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên; (Nhóm 2): theo chiều sâu: khoa học – công nghệ
Tương tự như trường phái cổ điển, mô hình tân cổ điển cũng cho rằng ba yếu
Trang 23tố là: lao động, vốn và đất đai có tác động đến tăng trưởng Đồng thời, cả hai đều phủ nhận vai trò của Chính phủ và ủng hộ sự tự do của thị trường, thống nhất lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith Tuy nhiên, mô hình tân cổ điển đã tìm ra yếu tố công nghệ và đó là nhân tố quan trọng nhất tác động đến tăng trưởng, và đây được xem là điểm mới của mô hình
2.2.4 Mô hình tăng trưởng của Harrob-Domar
Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 1940, hai nhà kinh tế Harrob
và Domar đã cho ra mô hình giải thích sự tăng trưởng Theo đó, các nhân tố tác động đến tăng trưởng gồm có: lao động, nguồn vốn và đất đai Ông cho rằng cần đầu
tư và vốn dự trữ để tăng trưởng kinh tế Nói cách khác tiết kiệm và đầu tư là yếu tố quyết định trong mô hình của Harrob-Domar Tiết kiệm nhiều hơn, đầu tư hiệu quả hơn sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Tuy nhiên vẫn có trường hợp không tăng đầu tư thì nền kinh tế vẫn tăng trưởng Kể cả đầu tư có hiệu quả thì tăng đầu tư hay tiết kiệm cũng chỉ làm gia tăng tốc độ tăng trưởng trong ngắn hạn, không đạt được trong dài hạn Vì vậy, mô hình này chỉ có ý nghĩa cho tăng trưởng trong ngắn hạn và trung hạn hơn là trong dài hạn
2.2.5 Mô hình tăng trưởng của Robert Solow
Năm 1924, Solow đã phát triển mô hình tăng trưởng mang những ý tưởng mới, được gọi là mô hình tăng trưởng Solow Nếu như Harrob-Domar chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuất (thông qua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng, thì mô hình Solow đã đưa thêm nhân tố lao động và công nghệ vào phương trình tăng trưởng Theo đó, các nhân tố được phân thành 2 nhóm tương tự như trường phái tân
cổ điển Đồng thời, ông cũng khẳng định lại vai trò quan trọng của yếu tố công nghệ đối với tăng trưởng, chỉ có khoa học – công nghệ mới tạo nên sự tăng trưởng dài hạn liên tục Bên cạnh đó, Solow không hoàn toàn phủ định vai trò của Chính phủ Vì
Trang 24vậy, mô hình của Solow là sự cộng hưởng hoàn hảo giữa mô hình của trường phái tân cổ điển và mô hình của Keynes thành một mô hình tăng trưởng mới
2.2.6 Mô hình tăng trưởng hiện đại của Paul Samuelson
Dựa vào lý thuyết Keynes, các quốc gia đã lạm dụng khá nhiều các chính sách kinh tế với mục đích hạn chế lạm phát và thất nghiệp, tăng mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, khiến khả năng tự điều chỉnh của thị trường bị hạn chế, đồng thời bắt đầu xuất hiện một số khó khăn mới ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng Trong thời điểm đó, một trường phái mới ra đời ủng hộ xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp, trong đó quan hệ cung, cầu và những quan hệ cơ bản khác được xác định bởi thị trường, còn nhà nước chỉ tham gia điều tiết vừa phải nhằm khắc phục và hạn chế những thất bại của thị trường Bên cạnh đó, Samuelson cho rằng phát triển kinh
tế phải dựa trên cả “hai bàn tay”, đó là thị trường và nhà nước và “Điều hành một nền kinh tế mà thiếu 1 trong 2 thành phần chính phủ hoặc thị trường cũng như vỗ tay bằng một bàn tay”
Lý thuyết tăng trưởng hiện đại một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của khu vực Nhà nước Theo Samuelson, trong nền kinh tế hỗn hợp hiện đại, Chính phủ
có 4 chức năng: thiết lập khuôn khổ pháp lý; thiết lập chính sách ổn định vĩ mô; phân bổ nguồn tài nguyên và cải thiện hiệu lực, hiệu quả nền kinh tế; phân phối thu nhập Bên cạnh đó, 4 yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế, đó là: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, mức độ tích luỹ vốn lớn và sự đổi mới khoa học công nghệ
2.2.7 Mô hình tăng trưởng nội sinh
Mô hình tăng trưởng tân cổ điển được coi là mô hình chuẩn đầu tiên, hội tụ được khá nhiều các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế dài hạn Thế nhưng, mô hình tăng trưởng tân cổ điển vừa là một thành công lớn, lại vừa là một thất bại lớn Một hạn chế lớn nhất của mô hình tăng trưởng tân cổ điển là trong dài hạn, nguồn
Trang 25tác động đến tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người duy nhất trong mô hình này là tốc độ tăng hiệu quả lao động lại được xác định một cách ngoại sinh Những hạn chế của mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã thúc đẩy hướng nghiên cứu mở rộng mô hình để phù hợp hơn với tình hình thực tế của các nước đang phát triển và đã đưa đến sự ra đời của các mô hình tăng trưởng nội sinh Gọi là mô hình tăng trưởng nội sinh là bởi các mô hình mới này cố gắng nội hoá sự tăng trưởng, nghĩa là giải thích sự tăng trưởng bên trong một mô hình của nền kinh tế
Trong mô hình tăng trưởng nội sinh, tăng năng suất có được từ tích luỹ vốn con người hay các hoạt động phát minh sáng chế là yếu tố tạo nên tăng trưởng dài hạn của thu nhập bình quân đầu người Do đó, tăng năng suất - “làm việc thông minh hơn” chứ không phải là “làm việc chăm chỉ hơn” - là yếu tố thiết yếu của tăng trưởng kinh tế nói chung
Nếu như lực lượng chính của tăng trưởng kinh tế không phải là sự tích luỹ vốn hữu hình (như quan điểm truyền thống) mà là tiến bộ công nghệ (được hiểu theo nghĩa rộng là tổng năng suất), thì cho dù các nước nghèo có khả năng tiết kiệm thấp vẫn có thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nếu có thể nhập khẩu công nghệ
từ các nền kinh tế tiên tiến Khi đó, việc đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu và phát triển (hỗ trợ hoạt động cải tiến ở các doanh nghiệp tư nhân, bao gồm cả nhập khẩu công nghệ nước ngoài) sẽ mang lại hiệu quả tăng trưởng kinh tế cao hơn là việc chỉ
cố gắng gia tăng lượng vốn hữu hình
Các mô hình tăng trưởng nội sinh, đặc biệt là các mô hình xét đến vốn con người đã góp phần giải thích đáng kể sự chênh lệch về thu nhập giữa các quốc gia Các mô hình này cho thấy được không có xu hướng các nước nghèo (ít vốn) có thể đuổi kịp các nước giàu về mức thu nhập bình quân, cho dù có cùng tỷ lệ tiết kiệm Nguyên nhân bắt nguồn từ sự chênh lệch không chỉ ở lượng vốn vật chất (có
Trang 26thể bù đắp nhờ đầu tư và viện trợ nước ngoài) mà quan trọng hơn là ở vốn con người Bởi thế, ý nghĩa to lớn của các mô hình tăng trưởng nội sinh là: tốc độ tăng trưởng dài hạn có thể phụ thuộc vào hành động chính sách của chính phủ (đánh thuế, cung ứng cơ sở hạ tầng, bảo hộ sở hữu trí tuệ, cung cấp các dịch vụ công liên quan đến giáo dục, y tế ), vì các chính sách này có thể tác động tới các hoạt động sáng chế, phát minh và tích lũy vốn con người
Tuy nhiên, các mô hình tăng trưởng nội sinh còn bỏ qua những yếu tố như sự yếu kém về cấu trúc hạ tầng, cấu trúc thể chế ở các nước đang phát triển, mà đây cũng là những yếu tố kìm hãm tăng trưởng, giống như mức tiết kiệm và tích luỹ vốn con người thấp Chúng ta nhận ra rằng từ lâu các nhân tố phi kinh tế có mối tương tác với quá trình tăng trưởng Tuy nhiên, trong các mô hình tân cổ điển và tăng trưởng nội sinh, lịch sử và thể chế không có vai trò gì
Các kỹ thuật tính toán tăng trưởng đo sự quan trọng tương đối của mức vốn, lao động và công nghệ trong quá trình tăng trưởng kinh tế chỉ thực hiện trong khuôn khổ một hàm sản xuất kinh tế vĩ mô Nhưng theo như các nhà kinh tế hiện đại lập luận rằng thể chế là yếu tố mang tính thúc đẩy của một xã hội, do đó luật pháp, quy tắc… tạo nên nền tảng thể chế của một xã hội sẽ chi phối sự phân bổ các nguồn lực của xã hội và nền kinh tế, và do vậy có ảnh hưởng lớn đến năng suất
Nếu như các mô hình kinh tế nghiên cứu về các yếu tố nội sinh trong sản xuất
do thay đổi công nghệ chỉ cung cấp những lời giải thích gần đúng cho tăng trưởng kinh tế tương đối, thì những mô hình nào đưa ra lời giải thích đáng tin cậy hơn cả? Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng thể chế mới là yếu tố cơ bản quyết định cho tăng trưởng kinh tế Nhấn mạnh tầm quan trọng của lý thuyết thể chế và các thể chế kinh tế, để có các đánh giá khách quan hơn, cần xem xét tới vai trò cũng như hoạt động của chính phủ Mô hình nội sinh nêu lên những hạn chế về khả năng rượt đuổi
Trang 27của các nước đang phát triển bởi sự hạn chế về khả năng vốn con người Giải pháp
để những nước này thoát nghèo và đuổi kịp các nước phát triển chỉ có thể là đầu tư
và phát triển nguồn nhân lực Muốn việc đầu tư và phát triển nguồn nhân lực đạt hiệu quả cao thì Chính phủ có vai trò chính yếu nhất
2.2.8 Lý thuyết về thể chế và hoạt động kinh tế
Mặc dù nghiên cứu chi tiết về vai trò của thể chế công đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển là tương đối mới, tầm quan trọng của thể chế công tốt đã được công nhận từ thế kỷ trước được thể hiện trong các nghiên cứu sau đây được lấy từ một trong những bài giảng của Adam Smith: “điều kiện tiên quyết để thực hiện một nhà nước thịnh vượng cao nhất từ một nhà nước có sự man rợ thấp nhất là hòa bình, thuế và một chính quyền của công lý được chấp nhận: tất cả các phần còn lại được mang đen từ tiến trình tự nhiên của sự vật (1755)”
Liên kết được công nhận lâu đời này không có giai đoạn trung tâm trong việc nghiên cứu phát triển kinh tế cho đến khoảng mời lăm năm trước đây, khi mối tương quan giữa chất lượng thể chế và hoạt động kinh tế trở nên rõ ràng hơn được thể hiện trong nghiên cứu khu vực Châu phi hạ Sahara của Ndulu và O’Connell (1999) Họ nhận thấy rằng độc tài gắn liền với nền kinh tế yếu kém Thể chế tốt cho phép công dân tham gia vào hoạt động chính trị và các hoạt động chung của vấn đề công có thể liên quan đen sự trao quyền, do đó có thể nâng cao hiệu quả hoạt động
Trong nghiên cứu đạt giải Nobel của mình, James Buchanan (1986) lập luận rằng các nhà kinh tế nên nhìn vào “Hiến pháp của chính thể kinh tế để kiểm tra các quy định và những hạn chế mà trong đó các tác nhân chính trị hành động” Ông ngầm cho thấy rằng thể chế không phát triển khi lợi ích vượt quá chi phí từ điểm
“lợi ích chung”
Trong một nỗ lực để trả lời câu hỏi tại sao một số quốc gia có thể chế kém có
Trang 28xu hướng làm chậm tăng trưởng kinh tế, một số lượng lớn các tác giả đã xem xét mối liên hệ giữa cấu trúc chính trị hay thể chế, thể chế kinh tế và hiệu quả kinh tế
Lý thuyết chính trị cho rằng thể chế được hình thành bởi những người cầm quyền để chuyển nguồn lực cho chính họ (Acemoglu, Johnson, và Robinson, 2004; La Porta
et al, 1999)
Acemoglu et al (2004) lập luận rằng các nhóm có lợi ích khác nhau sẽ thích thể chế khác nhau và các nhóm có quyền lực chính trị mạnh hơn cuối cùng sẽ quyết định những thể chế nào ưu tiên thực hiện Câu hỏi đặt ra trong phần này là thể chế tác động như thế nào đến hoạt động kinh tế Một trong những câu trả lời cho câu hỏi
đó là tìm kiếm đặc lợi và giả thuyết nắm bắt trạng thái Theo giả thuyết này, các tầng lớp quyền lực chính trị có lợi ích mâu thuẫn với lợi ích của công chúng nói chung sẽ tham gia vào các hoạt động tìm kiếm đặc lợi Như vậy, họ sẽ không sẵn sàng để thay đổi hiện trạng
Đặc lợi và nhiệm vụ bảo vệ đặc lợi trong tương lai có thể dẫn đến phân bổ không hiệu quả các nguồn lực theo khía cạnh phúc lợi xã hội Hơn nữa, các nguồn lực được dành cho các hoạt động tìm kiếm đặc lợi lãng phí thay vì hoạt động sản xuất (Kimenyi và Tollison, 1999)
Dethier (1999) cho rằng “hiệu quả sử dụng các nguồn lực công phụ thuộc vào các chương trình khuyến khích của các tổ chức công và cải cách nên tập trung vào việc thiết kế các chương trình đảm bảo cam kết và thực hiện chính sách tối đa hóa phúc lợi xã hội đáng tin cậy Thể chế tốt cải thiện nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên, do đó nâng cao tăng trưởng kinh tế (Dethier 1999)
Các thể chế chính trị thiết lập hệ thống pháp luật quy định các quy tắc kiểm soát biến động Trong một tiến trình chính trị, các nhóm lợi ích khác nhau cạnh
Trang 29tranh quyền lực chính trị, đặc lợi kinh tế trong khuôn khổ các quy tắc được xác định bởi hệ thống pháp luật Nếu không có một cơ chế khuyến khích thích hợp trong các thể chế chính trị, các quy tắc có thể được thiết lập để đem lại lợi ích cho những nhóm đặc biệt có lợi thế chính trị
Nếu không có sự bảo vệ pháp lý cơ bản - nói về quyền sở hữu và chống lại tước quyền sở hữu của chính phủ - sở hữu tư nhân, tốc độ tăng trưởng đầu tư tư nhân bị sụt giảm, do đó sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người Đầu tư tư nhân, đặc biệt là đầu tư nước ngoài cũng không được khuyến khích
vì quan liêu Điều này sẽ làm chậm tăng trưởng kinh tế
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Raymond J Saulnier (1968) với nghiên cứu “Các nhân tố trong phát triển kinh tế Mỹ”:
Ông cho rằng nước Mĩ thay vì đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn thì hãy làm sao để đạt được một hiệu suất kinh tế tối ưu Ông xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế thông qua các yếu tố tăng trưởng GNP Tác giả phân các yếu tố ảnh hưởng tăng trưởng kinh tế làm 2 loại: các yếu tố quyết định thời gian làm việc của người lao động và các yếu tố ảnh hưởng đến đầu ra cho mỗi giờ
Trang 30của nguồn nhân lực và vật chất được sử dụng tối đa
Nghiên cứu đã sớm đề cập đến tầm quan trọng của năng suất lao động trong việc phát triển kinh tế, đặc biệt là vai trò của công nghệ đã làm nền tảng cho các nghiên cứu sau này Tuy nhiên tác giả vẫn chưa đề xuất được mô hình chứng minh cho những lập luận của mình và dường như nghiên cứu này chỉ phù hợp cho
các nền kinh tế phát tiển như Mỹ, chưa thật sự phù hợp với nền kinh tế nước ta
Cecilia Wong (2001) với nghiên cứu “Mối quan hệ giữa chất lượng cuộc sống và phát triển kinh tế địa phương: Một nghiên cứu thực nghiệm về các khu vực chính quyền địa phương ở Anh”
Chất lượng môi trường cao, điều kiện sống và làm việc có văn hóa, và các lợi ích về sự tiện nghi của địa phương được cho là rất quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm bằng cách giữ các doanh nghiệp địa phương và thu hút đầu tư vào bên trong Tuy nhiên, có một lập luận khác cho thấy sức hấp dẫn ban đầu của các nền kinh tế đang phát triển sẽ sớm bị ảnh hưởng bởi những tác động tiêu cực của tăng trưởng về chất lượng cuộc sống ngày càng xấu đi Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu thực nghiệm quan điểm của các nhà hoạch định chính sách ở hai khu vực nước Anh về sự đóng góp của các yếu tố chất lượng cuộc sống cho quá trình phát triển kinh tế địa phương Sau đó, nó sử dụng một bộ các chỉ số để kiểm tra thống kê mối quan hệ giữa chất lượng cuộc sống và các yếu tố phát triển kinh tế địa phương khác của 363 khu vực chính quyền địa phương ở Anh
James Riedel (2005) và các cộng sự: FOPLact Team
Các nhà nghiên cứu đã đề cập đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trên nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, các tác giả đều đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong duy trì một nền kinh tế ổn định, một môi trường đầu tư ngày càng
thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam
Trang 31Kei Stuart (2006) với nghiên cứu "Vietnam as an Emerging Economy"
Cho rằng nền kinh tế Việt Nam đạt được những thành tích vượt bậc là do
những thay đổi trong chính sách vĩ mô của Chính phủ Kei Stuart nhận định nguyên
nhân bên trong của sự tăng trưởng này là do sự thay đổi trong quá trình ra quyết định "new blood"; sự điều chỉnh cần thiết về hành chính, kinh tế, đối ngoại và việc
áp dụng các công cụ của nền kinh tế thị trường chính là các yếu tố đã giúp Việt Nam đạt được mức tăng trưởng cao trong khi vẫn duy trì mối quan hệ tốt với các nước
trong khu vực và láng giềng
Parash Upreti (2015) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển”:
Với nguồn dữ liệu lấy từ Worldbank 2015, nghiên cứu này nổ lực tìm ra những yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung đồng thời so sánh các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng
trưởng của các nước phát triển có như nhau không
Ông sử dụng mô hình hồi quy OLS (bình phương nhỏ nhất) để chạy số liệu
thu thập được từ 76 nước đang phát triển trong 4 năm 1995, 2000, 2005 và 2010
growth= f( initialGDP,INS,debt, resource,aid, life, invest, fdi)
Kết quả cho thấy sản lượng xuất khẩu và tài nguyên thiên nhiên ảnh hưởng tích cực lên tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, tuổi thọ cao hơn và tỷ lệ đầu tư cao cũng tác động tốt lên kinh tế của các nước đang phát triển
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Hiện tay tại Việt Nam có khá nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động tới tăng trưởng kinh tế qua các thời kì Điển hình như bài nghiên cứu của:
Trang 32Nguyễn Xuân Thành (2002) đã sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng để tính toán đóng góp của vốn (đo lường bằng trữ lượng vốn trong nền kinh
tế với tỷ lệ khấu hao là %), lao động (đo lường bằng số lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế) và tổng năng suất yếu tố(TFP) vào tốc độ tăng trưởng GDP Nghiên cứu cho thấy đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GDP của Việt Nam là vốn
Theo nghiên cứu của Trần Thọ Đạt (2005) thì tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 1986-2004 (trừ năm 2003) có sự đóng góp khá cao của yếu
tố TFP Dựa trên kết quả nghiên cứu của hai tác giả Trần Thọ Đạt và Nguyễn Xuân Thành ta thấy có sự khác nhau rõ rệt về đóng góp của TFP vào tăng trưởng của nền kinh tế trong giai đoạn 1986 - 2000 Cụ thể là đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP trong nghiên cứu của Trần Thọ Đạt luôn cao hơn kết quả của Nguyễn Xuân Thành Nguyên nhân là do cách lựa chọn các chỉ tiêu đo lường cho K trong hàm sản xuất Cobb-Douglas là khác nhau Theo như nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành sử dụng trữ lượng vốn để đại diện cho yếu tố K với tỷ lệ khấu hao là 3% thì Trần Thọ Đạt sử dụng chỉ tiêu tài sản tích lũy với tỷ lệ khấu hao là 5% Điều này dẫn đến tốc
độ tăng trưởng cũng như đóng góp của vốn vào tăng trưởng GDP là khác nhau ở hai nghiên cứu Bên cạnh đó, nghiên cứu của Trần Thọ Đạt đã loại trừ yếu tố chu kỳ kinh doanh khi tính toán tăng trưởng bằng cách ước lượng GDP tiềm năng của nền kinh tế
Lê Xuân Bá (2006) sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas cho nền kinh
tế Việt Nam giai đoạn 1990-2004, tốc độ tăng trưởng hơn 90% của nền kinh tế được giải thích bởi sự đóng góp của yếu tố vốn, vốn con người và số lượng lao động Đóng góp của TFP chỉ dưới 10% tốc độ tăng trưởng trong cả giai đoạn
Cù Chí Lợi (2008) đã sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để xem xét mối tương quan giữa gia tăng về vốn, lao động và tăng trưởng đầu ra Nghiên cứu
Trang 33này cho thấy vai trò của yếu tố tổng năng suất, yếu tố trong tăng trưởng kinh tế ởViệt Nam là khá thấp (giai đoạn (1990-2006) khoảng 6% và giai đoạn (2001-2006)
là 9,6%) Vấn đề gia tăng về vốn và lao động là những nhân tố chủ yếu đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam
Nguyễn Thị Cành, Nguyễn Anh Phong và Trần Hùng Sơn (2009) xác định tỷ phần thu nhập của vốn và lao động thông qua ước lượng hệ số mũ của hàm sản xuất Cobb-Douglas Kết quả tính toán với số liệu từ năm 1990 – 2009, trong 1% tăng lên của GDP thì đóng góp của vốn là 73%, của lao động là 2,5% và của tổng năng suất yếu tố là 24,5%
Sử Đình Thành (2011) đã tiến hành nghiên cứu chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam kiểm định nhân quả trong mô hình đa biến Bài viết này tập trung nghiên cứu quan hệ nhân quả giữa chi tiêu công với tăng trưởng kinh tế
Mô hình nghiên cứu được thiết kế từ hàm sản xuất tổng quát, trong đó chi tiêu công được tách ra thành hai yếu tố, gồm chi từ nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN) và chi từ vốn ODA với mục đích xem xét tính hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực tài chính công; đồng thời độ mở thương mại, đầu tư tư nhân và lao động được xem xét như là các biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu Với dữ liệu trong giai đoạn 1990-2010, thông qua phương pháp kiểm định nhân quả Granger trong mô hình VAR đa biến, công trình phát hiện mô hình nghiên cứu có ý nghĩa; chi tiêu công với hai cấu phần có quan hệ nhân quả với tăng trưởng kinh tế, nhưng không có chiều ngược lại Một phát hiện rất đáng quan tâm trong kết quả nghiên cứu là chi tiêu công không có quan hệ với đầu tư tư nhân Trên cơ sở đó, công trình đề xuất một vài khuyến nghị nhằm hoàn thiện chính sách chi tiêu công của Việt Nam
Nguyễn Quang Trung và Trần Phạm Khánh Toàn (2014) đã nghiên cứu tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Đông Nam
Trang 34Á Bài nghiên cứu phân tích tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn 1995-2012 Qua phân tích hồi quy dữ liệu bảng chỉ ra tổng chi tiêu công, chi tiêu công cho y tế, cho an ninh quốc phòng có tác động cùng chiều đến tăng trưởng kinh tế; trong khi chi tiêu công cho giáo dục tác động ngược chiều Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra lực lượng lao động, đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế; lạm phát, độ mở nền kinh tế tác động ngược chiều
Lê Văn Thắng và Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017) đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến FDI của các tỉnh thành Việt Nam bằng mô hình kinh tế lượng không gian, sử dụng mô hình kinh tế lượng không gian Durbin để xem xét một cách tổng thể, bao gồm cả những yếu tố tương quan trong không gian địa lý giữa các tỉnh thành gần nhau từ năm 2011 – 2014, kết quả cho thấy qui mô thị trường, chất lượng lao động và quần tụ doanh nghiệp có tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và có tính chất lan tỏa khỏi ranh giới địa phương
2.3.3 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu
Nhìn chung, các tác giả trong và ngoài nước đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau đến thực trạng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và tầm qua trọng của sự đóng góp về yếu tố nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và các quốc gia khác Các nhà khoa học cũng đưa ra những nhân tố tích cực góp phần tạo ra động lực tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm qua Nhưng đa số các tác giả chỉ tiếp cận định tính hoặc định lượng hoặc tiếp cận dưới dạng chính sách, có nghĩa
là xem xét từng nguồn lực một cách riêng lẻ, mà chưa đánh giá một cách tổng hợp thực trạng thu hút, khai thác và sử dụng nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế
Bên cạnh đó, những số liệu được sử dụng đã không còn tính cập nhật so với hiện tại đặc biệt chỉ trong một năm đã có rất nhiều sự kiện kinh tế diễn ra Bên cạnh
Trang 35đó, dữ liệu của tác giả sử dụng sẽ cập nhật đến năm 2016 sẽ phản ánh chính xác hơn thực trạng nền kinh tế Việt Nam những năm gần đây
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình hồi quy đề xuất
Có thể nói thuật ngữ “thể chế” (KT-XH) ở VN là tương đối mới và chỉ được
sử dụng gần đây Các văn kiện, báo cáo trước đó thường dùng là “cơ chế, chính sách” Điều này có nghĩa là chúng ta vẫn còn có sự mơ hồ giữa các thuật ngữ này trong một thời gian dài Thực chất – thể chế, cơ chế, chính sách và cơ chế điều hành là một tập hợp các phương sách, biện pháp ở những vị trí, cấp độ khác nhau
và có mối quan hệ qua lại với nhau trong hoạt động quản lý và điều hành KT-XH của mỗi quốc gia Trong đó thể chế giữ vai trò đầu não Trong đó, hoạt động phát triển kinh tế luôn thường xuyên là đối tượng sự điều chỉnh và ảnh hưởng chính của thế chế Một địa phương có phát triển kinh tế được hay không chính là dựa trên sự điều chỉnh cơ chế thể chế tại địa phương đó
Một địa phương có cơ chế thể chế điều hành linh hoạt sẽ giúp cho các doanh nghiệp trong và ngoài địa phương đó dễ dàng tiến hành hoạt động kinh doanh sản xuất của mình Thông qua đó mà kinh tế tại phương đó sẽ tăng trưởng Ngược lại một địa phương có cơ chế điều hành kém linh hoạt, thiếu hiệu quả cũng sẽ là một yếu tố kiềm hãm việc kinh doanh sản xuất của các doanh nghiệp trên địa phương
đó Nhìn chung, tác động của thể chế lện doanh nghiệp có thể là tác động tích cực hoặc tác động tiêu cực ngay tại chính địa phương đó Việc xác định được tác động của thể chế lên phát triển kinh tế sẽ góp phần không nhỏ giúp cho chính địa phương điều chỉnh được môi trường kinh doanh của mình, thủ tục hành chính nhằm phát triển kinh tế đi lên