TÓM TẮT Tóm tắt: Nghiên cứu về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự cam kết của người lao động, kết quả hoạt động kinh doanh: trường hợp các các ngân hàng TMCP trên
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi, Đỗ Thị Ngọc Hạnh, học viên cao học khóa 26- Khoa Quản trị kinh doanh, tôi xin cam đoan luận văn “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự cam kết của người lao động và kết quả hoạt động kinh doanh: trường hợp của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” do TS Trần Đăng Khoa hướng dẫn, là công trình nghiên cứu khoa học của tôi, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trước đây bởi bất kỳ ai, bất kỳ tổ chức nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với cam kết trên
Tác giả
Đỗ Thị Ngọc Hạnh
Trang 7MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
TÓM TẮT- ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu……… 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 6
2.1.1 Định nghĩa 6
2.1.2 Các quan điểm lý thuyết về trách nhiệm xã hội 8
2.1.3 Các cách tiếp cận trách nhiệm xã hội 10
2.1.4 Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 14
2.1.5 Trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực ngân hàng 16
2.2 Sự cam kết của người lao động với tổ chức 17
2.2.1 Định nghĩa 17
2.2.2 Đo lường sự cam kết với tổ chức của người lao động 18
2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 22
2.3.1 Định nghĩa 22
Trang 82.3.2 Các chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM 24
2.4 Các nghiên cứu liên quan 27
2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài 27
2.4.2 Nghiên cứu trong nước: 32
2.5 Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và sự cam kết của người lao động với tổ chức 34
2.6 Mối quan hệ của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp kết quả hoạt động kinh doanh 36
2.7 Mối liên hệ giữa cam kết tổ chức và kết quả họat động kinh doanh của doanh nghiệp 39
2.8 Mô hình nghiên cứu 40
CHƯƠNG 3:PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1 Quy trình nghiên cứu 42
3.2 Nghiên cứu định tính 42
3.2.1 Mục tiêu 43
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 43
3.2.3 Kết quả nghiên cứu định tính 45
3.2.4 Thang đo 48
3.2.4.1 Biến độc lập-Ttrách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 48
3.2.4.2 Biến phụ thuộc-Sự cam kết của nhân viên 51
3.2.4.3 Biến phụ thuộc- Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng 52
3.3 Nghiên cứu định lượng 53
3.3.1 Thông tin chung 53
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 54
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
4.1 Mô tả mẫu khảo sát 56
4.2 Phân tích hệ số Cronbach’s alpha 58
4.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 61
4.4 Kết quả phân tích nhân tố khẳng định – CFA 4.4.1 Phân tích nhân tố khẳng định cho từng khái niệm nghiên cứu 64
4.4.2 Kiểm định CFA thang đo chung (mô hình tới hạn) 67
4.5 Kiểm định các giả thuyết 71
Trang 94.5.1 Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) 71
4.5.2 Kiểm định các giả thuyết: 72
4.5.3 Kiểm định bằng BOOTSTRAP 74
4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu 74
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 76
5.1 Kết quả tóm tắt 76
5.2 Hàm ý quản trị 78
5.2.1 Nâng cao trách nhiệm kinh tế 78
5.2.2 Nâng cao trách nhiệm pháp lý 79
5.2.3 Nâng cao trách nhiệm đạo đức 79
5.2.4 Nâng cao trách nhiệm thiện nguyện 80
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 81
5.3.1 Hạn chế của đề tài 81
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CFA: Confirmatory Factor Analysis - Phân tích yếu tố khẳng định
CFP: Corporate Financial Performance - Hiệu quả tài chính của công ty
CSP: Corporate Social Performance - Hiệu quả xã hội của doanh nghiệp
CSR: Corporate Social Responsibility - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
DN: Doanh nghiệp
ĐBSCL: Đồng bằng sông cửu long
EFA: Exploratory Factor Analysis - Phương pháp phân tích nhân tố khám phá KLD: Phương pháp Kinder, Lydenberg, Domini
KMO: Kaiser- Mayer_olkin – Hệ số KMO
KPI: Key Performance Indicator - Chỉ số hiệu quả
ROA: Return on Assets - Tỷ số lợi nhuận trên tài sản
ROE: Return On Equity - Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
ROI: Return On Investment - Tỷ lệ lợi nhuận thu được so với chi phí đầu tư
SEM: Structural Equation Modeling- Mô hình cấu trúc tuyến tính
NH TMCP: Ngân hàng Thương mại cổ phần
TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
World Business Council for Sustainable Development (WBCSD) (2002)
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Sự hình thành và phát triển khái niệm về CSR 7
Bảng 2.2 Tóm tắt các phương pháp đo lường của CSR 15
Bảng 2.3 Sự hình thành và phát triển cam kết tổ chức 19
Bảng 3.1 Thang đo thành phần trách nhiệm thiện nguyện 49
Bảng 3.2 Thang đo thành phần trách nhiệm đạo đức 49
Bảng 3.3 Thang đo thành phần trách nhiệm pháp lý 50
Bảng 3.4 Thang đo thành phần trách nhiệm kinh tế 50
Bảng 3.5 Thang đo sự cam kết của người lao động 51
Bảng 3.6 Thang đo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng 52
Bảng 4.1: Thông tin mẫu nghiên cứu 57
Bảng 4.2: Hệ số Cronbach’s alpha của thang đo các nhân tố 60
Bảng 4.3 Phân tích nhân tố 62
Bảng 4.4: Tóm tắt kết quả kiểm định thang đo 66
Bảng 4.5: Kiểm định giá trị phân biệt cho tất cả các mối quan hệ 66
Bảng 4.6: Bảng trọng số nhân tố chuẩn hóa 67
Bảng 4.7: Tóm tắt kết quả kiểm định thang đo 69
Bảng 4.8: Kiểm định giá trị phân biệt cho tất cả các mối quan hệ 70
Bảng 4.9: Bảng trọng số nhân tố chuẩn hóa 70
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa các khái niệm (chuẩn hóa) 73
Bảng 4.11: Bảng thống kê ước lượng Bootstrap 74
Trang 15DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Các đối tượng tác động của trách nhiệm xã hội 10
Hình 2.2 Mô hình kim tự tháp 11
Hình 2.3 Xu hướng nghiên cứu quản lý và đo lường kết quả hoạt động kinh doanh 25
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Yong-Ki Lee và cộng sự (2012) 29
Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Imran Ali và cộng sự(2010) 30
Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu của Gupta và cộng sự (2016) 32
Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu của Hoàng Thị Phương Thảo và Huỳnh Long Hồ (2015) 33
Hình 2.8: Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hùng (2017)………34
Hình 2.9 : Mô hình nghiên cứu đề xuất 41
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 42
Hình 4.1: Kết quả CFA cho nhóm khái niệm thuộc CSR 65
Hình 4.2 Kết quả phân tích CFA (dữ liệu chuẩn hóa) 68
Hình 4.3: Mô hình SEM (dạng chuẩn hóa) 72
Trang 17TÓM TẮT
Tóm tắt: Nghiên cứu về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự
cam kết của người lao động, kết quả hoạt động kinh doanh: trường hợp các các ngân hàng TMCP trên địa bàn TPHCM nhằm mục đích kiểm tra sự tác động của CSR cũng như sự cam kết của người lao động đến kết quả hoạt động kinh doanh ở lĩnh vực ngân hàng Trên cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự cam kết của người lao động và kết quả hoạt động kinh doanh cộng với những nghiên cứu trước đây và nghiên cứu định tính của tác giả thì tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu và các giả thuyết về các mối liên hệ giữa CSR, sự cam kết của người lao động và kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP trên địa bàn TP HCM Mô hình ngiên cứu gồm 3 yếu tố: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự cam kết của người lao động và kết quả hoạt động kinh doanh
Nghiên cứu định lượng được sử dụng để đánh giá độ tin cậy của thang đo, kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ giữa CSR, sự cam kết của người lao động
và kết quả hoạt động Mẫu khảo sát được thực hiện bằng cách phát bảng câu hỏi khảo sát cho 350 người lao động tại các ngân hàng TMCP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Bảng câu hỏi khảo sát gồm 34 câu hỏi, sử dụng thang đo Liker 5 mức độ: (1) Hoàn toàn không đồng ý, (2) Không đồng ý, (3) Trung tính, (4) Đồng ý, (5) Hoàn toàn đồng ý Dữ liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm SPSS và AMOS 20.0
để xử lý dữ liệu, đánh giá độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân
tố khám phá EFA để kiểm định sự hội tụ của các biến thành phần khái niệm, phân tích nhân tố khẳng định CFA, mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), kiểm định Bootstrap để kiểm tra lại mô hình Các thang đo đều đạt yêu cầu cho kiểm định mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình lý thuyết
Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa các biến trong mô hình với mức ý nghĩa
là 5%, cụ thề là mối quan hệ giữa CSR và sự cam kết của người lao động, giữa CSR
và kết quả hoạt động kinh doanh, giữa sự cam kết với tổ chức và kết quả hoạt động kinh doanh Kết quả kiểm định giả thuyết thu được kết quả: CSR có tác động thuận
Trang 18chiều tới sự cam kết tổ chức và kết quả hoạt động kinh doanh với mức tác động lần lượt là: 0,629 và 0,56 Còn yếu tố sự cam kết tổ chức cũng tác động cùng chiều với kết quả hoạt động kinh doanh với mức tác động là 0,368
Từ kết quả nghiên cứu, ta thấy được mối quan hệ giữa CSR, sự cam kết tổ chức và kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP trên địa bàn TPHCM
là mối quan hệ thuận chiều Do đó, để nâng cao sự cam kết của người lao động cũng như nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của mình thì các ngân hàng cần phải thực hiện tốt trách nhiệm xã hội
Từ khóa: CSR, sự cam kết của người lao động, kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 19ABSTRACT Abstract: This research focus on the relationship between Corporate Social
Responsibility (CSR), employee’s commitment and company performance Respectively, it focus to the case commercial bank in Hochiminh city to test the effect
of CSR to its employee’s commitment and bank performances Based on previous studies of CSR, employee’s commitment and corporate performance, this research suggest hypothesis and a theoretical model to test the relationship as mentioned above The key factor that been employed to the model included: CSR, its employee’s commitment and its performance
A quantitative method has been used to test the credibility of the measures and test the hypothesis between the three factors The samples which have been used for the research collected from 350 employees from commercial banks that operated in
Ho Chi Minh City We have distributed a list of 34 questions to the respondent for them to answer It used Liker’s scale which included 5 level: (1) Totally disagreed, (2) Not agreed, (3) Neutral, (4), Agreed, (5) Totally agreed We used the SPSS and AMOS 20.0 to analyse the data collected which employed the Cronbach Alpha scale and analysis of EFA factor We also used the CFA determination factor, SEM linear model and Bootstrap assessment to test the model The result show that all the scale are meet the requirement to test the relationship between three factors that mentioned above
The result has showed the relationship between the variables have the statistically significant correlation by 5% It included the relationship between CSR and employee’s commitment, CSR and bank performance and employee’s commitment and bank performance The testing result show that: CSR have the positive correlation with employee’s commitment and bank performance by 0.629, 0.56 respectively Also, for employees’ commitment versus bank performance, it is the positive relationship with the result of 0.368
Trang 20From the study research, we understand that there are a positive relationship between CSR, employees’ commitment and bank performance for the case of commercial bank which operated in Hochiminh City Therefore the implication is to improve the level of employees commitment and also its performance, these commercial bank need to invest more resources to CSR activities
Key words: CSR, employee’s commitment, bank’s performance
Trang 21TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP, SỰ CAM KẾT CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH: TRƯỜNG HỢP CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở TP HCM
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là khái niệm đã có từ những năm
1950, được Bowen (1953) đưa ra thảo luận và sau đó trở thành một chủ đề ngày càng được quan tâm bởi nhiều nhà kinh doanh, nhà quản trị, nhà nghiên cứu và toàn xã hội Tính đến hiện tại thì trên kết quả tìm kiếm của google cụm từ “ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” bằng tiếng anh sẽ cho chúng ta hơn 360 triệu kết quả tìm kiếm Qua quá trình phát triển cả về lý luận và thực tiễn, có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng vấn đề liên quan tới trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cần được quan tâm vì nó
có ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh và phát triển bền vững của doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay và sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã giúp cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận với các kiến thức quản trị hiện đại Thêm vào đó ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài với tiềm lực kinh tế lớn đầu tư và tạo ảnh hưởng lên nền kinh tế Việt Nam Các doanh nghiệp này mang theo các phương thức quản trị hiện đại và trong đó hoạt động CSR cũng là một yếu
tố không thể thiếu Các kiến thức quản trị này lúc đầu được các doanh nghiệp nội địa lớn học hỏi và áp dụng nhưng hiện tại đã được một bộ phận rộng rãi hơn áp dụng bao gồm các doanh nghiệp nhỏ hơn thực hiện Tuy chưa trở thành một phong trào mạnh
mẽ nhưng các hoạt động CSR đã góp phần đóng góp vào việc hình thành và cũng cố mối quan hệ đa chiều hơn giữa xã hội và doanh nghiệp, góp phần làm cho doanh nghiệp tham gia thực hiện gia tăng sự phát triển bền vững Kết quả khảo sát do Viện khoa học và xã hội tiến hành trên 24 doanh nghiệp thuộc hai ngành là giày da và dệt may đã cho chúng ta thấy rằng các doanh nghiệp này có thực hiện các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nên doanh thu của các doanh nghiệp này tăng lên 25%, năng suất lao động cũng tăng từ 34,2 triệu đồng lên 35,8 triệu đồng
Trang 22Đối với lĩnh vực ngân hàng, hoạt động CSR ở lĩnh vực ngân hàng là điều hết sức cần thiết (Al-bdour et al 2010) vì đây là một ngành đặc biệt quan trọng, giữ vai trò then chốt trong sự phát triển của xã hội thông qua quản lý dòng tiền, tài sản tài chính có giá, quản lý rủi ro tài chính và tổ chức hệ thống thanh toán Do đó đóng vai trò “hệ thống tuần hoàn” của nền kinh tế, nơi chi phối, dẫn dắt các ngành khác Như
đã trình bày ở trên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra CSR đóng góp vào sự phát triển mang tính bền vững của doanh nghiệp, do đó điều này lại càng cần thiết đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có rủi ro cao như ngân hàng Các ngân hàng thương mại cổ phần với tầm nhìn và giá trị cốt lõi là: Hướng đến khách hàng, hướng đến sự hoàn hảo, năng động, sáng tạo, chuyên nghiệp, hiện đại Thêm vào đó phương châm hoạt động của các ngân hàng cũng nhấn mạnh đến sự trung thực, chính trực, minh bạch, đạo đức nghề nghiệp, tôn trọng và bảo vệ và phát triển thương hiệu, phát triển bền vững và trách nhiệm với cộng đồng, xã hội Do đó việc xem CSR là một chiến lược dài hạn giúp tạo ra giá trị của ngân hàng là điều tất yếu, vì nó sẽ giúp xây dựng lòng tin và sự tôn trọng của khách hàng, của đối tác và cộng đồng xã hội Để thực hiện được sứ mệnh của mình thì ngân hàng cần phải luôn tìm tòi và phát triển các chiến lược hoạt động liên quan tới CSR sao cho đạt được kết quả mong muốn Ngoài
ra, vấn đề làm sao phân bổ nguồn tài nguyên hiện có một cách hiệu quả là điều cần thiết cần được nghiên cứu kĩ trước khi thực hiện Nhằm hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa CSR và sự cam kết của người lao động từ đó ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần cho nên nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự cam kết của người lao động và kết quả hoạt động kinh doanh: trường hợp của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” là cần thiết Kết quả của nghiên cứu này sẽ giúp các
nhà quản trị của các ngân hàng nhận định rõ hơn về các mối quan hệ nhiều mặt của hoạt động CSR không chỉ trực tiếp mà còn gián tiếp ảnh hưởng tới sự cam kết của người lao động qua đó ảnh hưởng tới kết quả hoạt động của ngân hàng Từ những hiểu biết này, các nhà quản trị của các ngân hàng sẽ có sự hoạch định, xây dựng chiến
Trang 23lược đúng đắn hơn để hướng đến mục tiêu đề ra bên trên góp phần vào sự phát triển bền vững của ngân hàng
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Căn cứ vào lý do chọn đề tài như trên, tác giả muốn thực hiện đề tài nghiên cứu này với các mục tiêu chính như sau:
- Xác định mối quan hệ của CSR, sự cam kết của người lao động và kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần
- Đưa ra các hàm ý quản trị giúp các NHTMCP ở TP HCM nâng cao sự cam kết của người lao động, tăng kết quả hoạt động kinh doanh thông qua hoạt động trách nhiệm xã hội
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Các thành phần nào đo lường khái niệm CSR, sự cam kết tổ chức và kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần?
Cơ sở để xây dựng và phát triển thang đo CSR, sự cam kết tổ chức và kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần?
Các mối quan hệ giữa CSR, sự cam kết tổ chức và kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần như thế nào?
Cơ sở nào để hoàn thiện các hoạt động CSR nhằm nâng cao sự cam kết tổ chức của người lao động và nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần?
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: CSR, sự cam kết của người lao động, kết quả hoạt động
kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TPHCM
Mối quan hệ giữa: CSR và cam kết của người lao động, CSR và kết quả hoạt động kinh doanh, cam kết của người lao động và kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 24Đối tượng khảo sát: nhân viên, chuyên viên và các trưởng, phó các phòng nghiệp
vụ tại các ngân hàng TPCP trên địa bàn TPHCM
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được khảo sát trong hệ thống các ngân hàng
thương mại cổ phần trên địa bàn TPHCM
Thời gian thực hiện cuộc khảo sát: tháng 5/2019
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu sử dụng
Nguồn dữ liệu thứ cấp:
Dữ liệu được phục vụ cho quá trình nghiên cứu được tổng hợp từ các nguồn:
- Các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan trong và ngoài nước
- Giáo trình tham khảo
- Các bài báo, tạp chí khoa học
Nguồn dữ liệu sơ cấp:
Dữ liệu được thu thập từ kết quả điều tra các nhân viên, chuyên viên và các trưởng phó phòng đang công tác tại các ngân hàng TMCP trên địa bàn TPHCM về mối quan hệ giữa TNXH của doanh nghiệp, sự cam kết tổ chức và kết quả hoạt động kinh doanh
1.6 Cấu trúc luận văn
Kết cấu luận văn gồm:
Chương 1: Giới thiệu
Giới thiệu cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Trình bày cơ sở lý thuyết về CSR, cam kết tổ chức và kết quả hoạt động kinh doanh, các nghiên cứu liên quan, mối quan hệ giữa CSR với sự cam kết tổ chức và
Trang 25kết quả hoạt động kinh doanh, mối quan hệ giữa sự cam kết tổ và kết quả hoạt động kinh doanh, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, phương pháp phân tích
và xử lý số liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày kết quả kiểm định thang đo, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đưa ra của mô hình
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Tóm lược về kết quả đạt được, hàm ý quản trị, trình bày những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 26CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về : (1) trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, (2) sự cam kết tổ chức, (3) kết quả hoạt động kinh doanh, (4) mối quan hệ giữa CSR và sự cam kết tồ chức, (5) mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động kinh doanh, (6) mối quan hệ giữa sự cam kết tổ chức và kết quả hoạt động kinh doanh, (7)
mô hình nghiên cứu
2.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
về sự phát triển của các nghiên cứu về CSR
Từ khi hình thành và phát triển cho đến nay thì khái niệm CSR vẫn còn tồn tại một số tranh luận liên quan đến một định nghĩa rõ ràng và thống nhất về CSR do bản thân khái niệm này là một thuật ngữ không rõ ràng và phức tạp với nhiều tầng ý nghĩa (Nasrullah and Rahim, 2014)
Bên cạnh đó, mỗi tác giả lại có những nhìn nhận, đánh giá khác nhau về CSR
và sử dụng những thuật ngữ khác nhau để giải thích về vấn đề này như là đạo đức doanh nghiệp, doanh nghiệp bền vững, đầu tư trách nhiệm xã hội và trách nhiệm doanh nghiệp Theo Leonard và Mcadam (2003) thì trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là việc doanh nghiệp đó thực hiện cam kết để nâng cao hạnh phúc của cộng đồng thông qua việc kinh doanh có đạo đức
Theo Ủy ban Châu Âu (2001) thì trách nhiệm xã hội là một khái niệm mà theo
đó các doanh nghiệp tích hợp các vấn đề xã hội và mối quan tâm về môi trường trong
Trang 27hoạt động kinh doanh của mình và được đặt trong sự tương tác của họ với các bên liên quan trên cơ sở các doanh nghiệp này tự nguyện
Bảng 2.1: Sự hình thành và phát triển khái niệm về CSR
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới thì: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động
Trang 28và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”
Với quan điểm cho rằng ngân hàng cũng là một loại hình doanh nghiệp thì tiêu chuẩn ISO 26000 cho rằng:“Trách nhiệm xã hội của ngân hàng là sự tự nguyện của ngân hàng cam kết thực hiện tốt các vấn đề về quản trị công ty, quyền con người, thực hành lao động, môi trường, công bằng trong hoạt động, khách hàng và cộng đồng trên cơ sở tuân thủ các luật pháp quốc gia, thông lệ quốc tế và đảm bảo hài hòa lợi ích các bên đồng thời góp phần phát triển kinh tế xã hội quốc gia một cách bền vững”
Theo tác giả thì trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, đảm bảo chất lượng đời sống của người lao động, đảm bảo lợi ích cho cả toàn cộng đồng thông qua trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm thiện nguyện
2.1.2 Các quan điểm lý thuyết về trách nhiệm xã hội
Có nhiều quan điểm khác nhau về CSR, dưới đây là các quan điểm lý thuyết khác khác nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như: Lý thuyết cổ đông, lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên liên quan, và mô hình kim tự tháp của trách nhiệm
xã hội
Lý thuyết cổ đông (Shareholder Theory): đây là lý thuyết để hình thành khái
niệm về CSR Theo lý thuyết cổ đông thì nhiệm vụ của các DN, của các nhà quản trị
DN là làm sao để tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp, tối đa hóa sự giàu có của cổ đông mà không cần phải thực hiện một trách nhiệm xã hội nào (Friedman, 1962) Tuy nhiên sau đó các nhà nghiên cứu khác đưa ra những nhận định khác nhau và chỉ trích quan điểm này rất nhiều
Lý thuyết đại diện (Agency Theory): theo Jensen và Meckling (1976) thì giữa
các nhà quản lý trong doanh nghiệp và những cổ đông luôn tồn tại sự xung đột lợi ích Theo Barnea và Rubin (2010) cho rằng các nhà quản trị doanh nghiệp quá quan
Trang 29tâm đến việc đầu tư quá mức vào CSR để có được lợi ích cá nhân và việc xây dựng danh tiếng, chi phí cho các cổ đông Mặt khác, Jo và Harjoto (2011) cung cấp bằng chứng ủng hộ quan điểm giải quyết xung đột trong đó tuyên bố rằng các nhà quản lý tham gia vào CSR để giải quyết các xung đột giữa các bên liên quan khác nhau Lý thuyết này còn chỉ ra rằng việc phát triển TNXH sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory): theo Freeman (1994) thì lý
thuyết các bên liên quan là một nhiệm vụ chính yếu cho các nhà quản lý là cân bằng các tập hợp quan hệ có thể ảnh hưởng đến việc một tổ chức có thể đạt được những mục tiêu đề ra Theo quan điểm này thì thành công của một tổ chức phụ thuộc vào mức độ quản lý các mối quan hệ với các nhóm chính như khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp, cộng đồng, tài chính và những người khác có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện mục đích của tổ chức Công việc của người quản lý là giữ sự hỗ trợ của tất cả các nhóm này, cân bằng lợi ích của họ Bên cạnh đó thì McGuire và cộng sự (1988) cho rằng “Các nghiên cứu trước về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã định nghĩa vai trò của các bên liên quan trong việc tác động lên quyết định tổ chức” Lý thuyết các bên liên quan được sử dụng để giải thích các mô hình trách nhiệm xã hội; các động lực của doanh nghiệp liên quan đến việc thực hành trách nhiệm xã hội (Fernando và cộng sự, 2014)
Lý thuyết tính chính đáng (Legitimacy theory): Lý thuyết về tính chính đáng
có nguồn gốc lý thuyết từ kinh tế chính trị Quan điểm trong kinh tế chính trị cho rằng khía cạnh kinh tế không tách rời ngữ cảnh chính trị, xã hội và thể chế mà nền kinh tế
đó đang hoạt động (Gray et al., 1996) Lý thuyết tính chính đáng cho rằng sự tồn tại liên tục của các tổ chức được xác lập bởi sức mạnh thị trường và các kỳ vọng của xã hội Do đó việc thấu hiểu được các mối quan tâm rộng hơn của công chúng được thể hiện qua các kỳ vọng xã hội trở thành một yếu tố quan trọng trong sự tồn tại của tổ chức Lý thuyết tập trung vào phỏng đoán rằng tổ chức phải giữ vị trí xã hội của mình bằng cách đáp ứng các yêu cầu mà xã hội mong muốn Điều này đã được chứng minh
Trang 30qua các nghiên cứu của Shocker và Sethi (1974), Guthrie và Parker (1989) và Suchman (1995)
Deegan (2002) đã đưa ra một nhìn nhận tổng quan về tính chính đáng
và các động cơ để các nhà quản lý cung cấp các báo cáo về hoạt động CSR Ông đã đưa ra nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tính chính đáng có ảnh hưởng tới động cơ đằng sau việc cung cấp các báo cáo về CSR Deegan (2002) đã đánh giá các nghiên cứu trước đó và phát hiện ra các thông tin cung cấp trong báo cáo hàng năm là một công
cụ để duy trì tính chính đáng Đánh giá cũng cho rằng để thuyết phục công chúng nhiều hơn thì tổ chức thường cung cấp càng nhiều thông tin về CSR
2.1.3 Các cách tiếp cận trách nhiệm xã hội
Mặc dù hiện nay CSR là một vấn đề được đề cập tương đối phổ biến Nhưng trên thực tế còn nhiều cách tiếp cận khác nhau về CSR, dưới đây là một vài hướng tiếp cận phổ biến:
Các bên liên quan: Freeman (1984) đầu tiên tiếp cận lý thuyết này là về đạo
đức kinh doanh trong một tổ chức Các bên liên quan là bất kỳ nhóm hay cá nhân bị ảnh hưởng, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, bởi các hoạt động của công ty (nhân viên,
cổ đông, khách hàng, cộng đồng, đối tác) Các doanh nghiệp cần phải thực hiện cân bằng lợi ích tối ưu nếu các bên xung đột lợi ích (Deegan và Samkin, 2009)
Hình 2.1 Các đối tượng tác động của trách nhiệm xã hội
Nguồn:Tác giả tổng hợp
Trang 31Mô hình kim tự tháp: được Carroll (1991) đề xuất Ông đã đồng thuận với diễn
giải về CSR của Bowen (1953) “nghĩa vụ của doanh nghiệp là theo đuổi các chính sách nhằm đưa ra quyết định hướng tới thỏa mãn các mục tiêu và giá trị của xã hội” Trên cơ sở này Carroll đã phát triển một cách chi tiết hơn khái niệm CSR, làm rõ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm : kinh tế, pháp lý, đạo đức và nghĩa vụ thiện nguyện mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định Bốn khía cạnh này được Carroll sắp xếp trong mô hình kim tự tháp như bên dưới:
Hình 2.2 Mô hình kim tự tháp
Nguồn: Carroll (1991, 1999)
Trang 32Trách nhiệm kinh tế: Theo Caroll đầu tiên khi nói về trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp là nói đến trách nhiệm kinh tế bởi vì vấn đề kinh tế là vấn đề quan trọng của mỗi doanh nghiệp, nó là vấn đề đầu tiên và quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Vai trò chính của các doanh nghiệp thể hiện ở trách nhiệm kinh tế là sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng cần Động cơ về lợi nhuận được thiết lập như là động lực chính cho tinh thần kinh doanh của doanh nghiệp
Trách nhiệm pháp lý: được mô tả như là tầng tiếp theo trong mô hình này để
miêu tả sự phát triển của trách nhiệm xã hội lên một nấc thang mới Trách nhiệm pháp
lý tồn tại song song với các trách nhiệm kinh tế Trách nhiệm pháp lý phản ánh quan điểm về "đạo đức được mã hóa" theo nghĩa là chúng thể hiện quan niệm cơ bản về các hoạt động kinh tế công bằng do các cơ quan lập pháp nhà nước thiết lập nhằm đảm bảo doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ quy định chung và ngăn cản doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động có hại tới xã hội Khi bắt đầu tham gia kinh doanh, doanh nghiệp được xã hội yêu cầu thực hiện “hợp đồng xã hội” thông qua pháp luật, các công ty được kỳ vọng là sẽ theo đuổi các nhiệm vụ kinh tế của họ trong khuôn khổ pháp luật Xã hội yêu cầu các doanh nghiệp hoạt động làm sao đạt được lợi ích
về mặt kinh tế mà không thực hiện các hành vi sai trái Do đó, một bộ phận không thể tách rời của doanh nghiệp khi nói về trách nhiệm xã hội đó chính là việc doanh nghiệp tuân thủ pháp luật
Trách nhiệm đạo đức: Tầng thứ ba của CSR là trách nhiệm đạo đức Mặc dù
các trách nhiệm kinh tế và pháp lý đã thể hiện được phần lớn các trách nhiệm bắt buộc đối với doanh nghiệp liên quan tới các ràng buộc kinh tế và pháp lý Tuy nhiên, ngoài ra xã hội cũng mong đợi doanh nghiệp tuân thủ các chuẩn mực đạo đức không hoặc chưa được luật hóa thành văn bản pháp lý Trách nhiệm đạo đức phản ánh các tiêu chuẩn, định mức, kỳ vọng hoặc mối quan tâm của nhiều đối tượng bao gồm người tiêu dùng, nhân viên, cổ đông và cộng đồng Nói một cách khác, trách nhiệm đạo đức
là sự kỳ vọng cao hơn mà xã hội yêu cầu doanh nghiệp đạt được so với các quy định pháp lý hiện hành Mặc dù trách nhiệm đạo đức được mô tả như tầng tiếp theo của
Trang 33kim tự tháp CSR, nhưng trách nhiệm đạo đức có mối tương tác năng động với trách nhiệm pháp lý và kinh tế Nghĩa là, trách nhiệm đạo đức liên tục được đẩy mạnh để trở thành các trách nhiệm pháp lý bắt buộc nhằm đáp ứng yêu cầu cao hơn của xã hội vào doanh nhiệp Do đó việc nhận biết và thực hiện đầy đủ các trách nhiệm đạo đức
là không phải là dễ dàng đối với các doanh nghiệp khi các giá trị đạo đức là một khái niệm rộng và thay đổi thường xuyên
Trách nhiệm thiện nguyện: là trách nhiệm mà các doanh nghiệp tham gia thông
qua các hoạt động tích cực nhằm nâng cao phúc lợi (Trevino và Nelson, 1999), là những hoạt động của doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và giá trị con người trong xã hội Các cộng đồng mong muốn các công ty đóng góp tiền bạc,
cơ sở vật chất và thời gian của nhân viên cho các chương trình hoặc mục đích nhân đạo, nhưng họ không coi các công ty là phi đạo đức nếu họ không thực hiện trách nhiệm thiện nguyện này Do đó, hoạt động từ thiện thường mang tính tự nguyện hơn đối doanh nghiệp mặc dù luôn có kỳ vọng của xã hội rằng doanh nghiệp nên tham gia vào các hoạt động này Các hoạt động này không có giới hạn và tùy vào nguồn lực của doanh nghiệp mà họ có thể đóng góp và tham gia
Thực tế hiện nay thì trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một phạm trù tương đối rộng và được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau Các định nghĩa
về trách nhiệm xã hội được diễn đạt theo các cách khác nhau, tuy nhiên nội dung vẫn phản ánh trách nhiệm xã hội đều có đặc điểm chung là bên cạnh việc phát triển của doanh nghiệp sao cho phù hợp với pháp luật hiện hành thì đều phải gắn kết với lợi ích chung của toàn cộng đồng xã hội
Trong bài nghiên cứu của mình thì tác giả sử dụng mô hình Kim tự tháp của Carroll (1991,1999) làm phương pháp luận bởi vì mô hình này có tính toàn diện, là quan điểm được nhiều học giả chấp nhận và được sử dụng nhiều trong các bài nghiên cứu ứng dụng Bên cạnh đó thì nhiều NHTMCP ở Việt Nam đã cam kết thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo quy tắc và chuẩn mực quốc tế được thiết lập bởi mạng lưới hiệp ước toàn cầu VN (GCNV) và tổ chức Tài chính quốc tế (IFC)
Trang 34mà trong đó các thành phần của trách nhiệm xã hội là trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và thiện nguyện luôn được nhấn mạnh
2.1.4 Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Do tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nên không có sự thống nhất trong cách đo lường Theo như Abbott và Monsen (1979) nói rằng có hai khó khăn cơ bản trong việc đo lường CSR liên quan đến mục tiêu nghiên cứu đó là: thiếu thông tin định lượng về các hoạt động xã hội và việc phát triển một phương pháp phù hợp để đo lường toàn bộ tác động của các hoạt động xã hội của công ty lên phạm vi xã hội rộng hơn
Nhiều học giả đã đo lường trách nhiệm xã hội theo những cách khác nhau Tuy nhiên theo ZiYan Zhang (2016) thì có hai phương pháp được công nhận rộng rãi trong việc đo lường CSR:
Phương pháp thứ nhất thường được sử dụng đó là chỉ số nổi tiếng về CSR mà trong đó những người tham gia thử nghiệm sẽ đánh giá về doanh nghiệp trên một hay nhiều phương diện liên quan tới CSR Cụ thể, hầu hết các nhà nghiên cứu đều sử dụng chỉ số KLD để đo lường CSR trong kiểm tra về mối quan hệ giữa CSR với CFP (Orlitzky et al., 2003; Inoue & Lee., 2011;Cornett et al., 2014), trong khi các tác giả khác sử dụng chỉ số Dow Jones Sustainability World Index (Chih et al., 2010)
và số còn lại áp dụng chỉ số xã hội riêng của quốc gia mình (Becchetti et al., 2008; Lech, 2013, Choi et al., 2010; Makni et al., 2009)
Phương pháp thứ hai được sử dụng đó là phân tích nội dung Thông thường, phân tích nội dung sử dụng báo cáo về CSR của các công ty được xuất bản thông qua nhiều ấn phẩm, đặc biệt là báo cáo thường niên (Brine et al., 2007; Uadiale and Fagbemi, 2012)
Tóm lại, có nhiều phương pháp khác nhau để đo lường CSR và mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm khác nhau Tuy nhiên các nghiên cứu thường dựa vào
Trang 35tình hình thực tế của đề tài nghiên cứu và cách lấy dữ liệu để chọn cách đo lường phù hợp
Bảng 2.2 Tóm tắt các phương pháp đo lường của CSR Phương pháp đo lường CSR Chi tiết
Phương pháp Phân tích nội dung
của báo cáo thường niên
Báo cáo thường niên thường thể hiện hoạt động của công ty trong năm trước đó Báo cáo thường niên có mục đích là thông tin đến cổ đông về tình hình hoạt động trong năm cũng như tình hình tài chính của công ty
Chỉ số nổi tiếng về CSR Chấm điểm doanh nghiệp về một hay nhiều
phương diện của hoạt động xã hội Chỉ số xã hội MSCI ESG bao gồm:
Quản tri doanh nghiệp
Quan hệ với cộng đồng
Sự đa dạng
Mối quan hệ với nhân viên
Bảo vệ môi trường
Quyền con người
Tính năng của sản phẩm
Phương pháp Kinder, Lydenberg, Domini (KLD) được phát triển bởi Công ty Kinder, Lydenberg, Domini & Co Research và Analytic Inc., Chỉ số KLD đánh giá các công
ty dựa trên bảy tiêu chí quan trọng liên quan tới CSR Nó dựa trên sự quan tâm của các bên
có liên quan tới DN ( Margolis et at., 2007)
Chỉ số Dow Jones Sustainability
World Index
Quản trị DN, quản trị rủi ro
Thương hiệu
Giảm thiểu thay đổi khí hậu
Quản lý chuỗi cung ứng
Đối xử với người lao động
Được đưa ra vào năm 1999, bao gồm một nhóm các chỉ số nhằm đánh giá sự bền vững trong hoạt động của 2500 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Mỹ Chỉ số DJSI được dựa trên phân tích về hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường và hoạt động xã hội của doanh nghiệp
Nguồn: ZiYan Zhang (2016)
Trang 362.1.5 Trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực ngân hàng
Trong bối cảnh hiện nay, CSR đã trở thành một chủ đề dành được nhiều sự quan tâm trong ngành tài chính ngân hàng bởi sự ảnh hưởng lớn của nó đến xã hội (Scholtens, 2009) Các ngân hàng đã tăng cường chi tiêu cho các hoạt động liên quan tới CSR (Truscott et al., 2009; Marin and Ruiz, 2009) bằng cách đưa các hoạt động này vào nghiệp vụ ngân hàng ví dụ như tín dụng cá nhân cho người nghèo (Prior and Argandona, 2008), các khoản ưu đãi tín dụng từ ngân hàng chính sách xã hội Như Thompson and Cowton (2004) đưa ra, các ngân hàng thường có rủi ro về danh tiếng cao hơn so với các công ty trong các ngành khác và thường dễ chịu các tổn thương liên quan tới phản ứng tiêu cực từ các bên liên quan Một điều tối quan trọng đối với các ngân hàng là phải quản trị rủi ro liên quan tới danh tiếng để tạo sự khác biệt với các đối thủ cạnh tranh và duy trì sự tin tưởng của các bên liên quan (Flavian et al., 2005) Các ngân hàng bán lẻ đã chi hàng triệu đô la vào các hoạt động CSR để tăng cường danh tiếng (McDonald and Rundle-Thiele, 2008)
Các ngân hàng thường xem xét CSR như một trong các quyết định chiến lược
để gia tăng hình ảnh trước công chúng (McDonald and Lai, 2011) và khách hàng (Bhattachraya and Sen, 2004) Tuy nhiên, một điều không rõ ràng đó là chúng ta chưa thể biết được hoạt động CSR nào có khả năng tạo hiệu ứng tích cực lên khách hàng (Chomvilailuk and Butcher, 2013) Thêm nữa, mối quan hệ giữa CSR và phản ứng của các bên liên quan chưa được kiểm chứng bên ngoài các quốc gia phương Tây (McDonald and Lai, 2011) Với sự lan rộng của hiệu ứng CSR trên toàn cầu, Lindgreen et al., (2009) đặt ra câu hỏi liệu rằng các bên liên quan tại các nước đang phát triển có phản ứng tương tự như ở các nước phát triển hay không
Ngành ngân hàng trong các năm gần đây đã trở thành những nhà đầu tư lớn và mang tính dẫn dắt trong hoạt động CSR trên toàn thế giới (Marin et al., 2009; Truscott
et al., 2009) và danh tiếng của các tổ chức tài chính phụ thuộc nhiều vào các chương trình xã hội (Poolthong and Mandhachitara, 2009) Các ngân hàng tiếp tục phát hành các báo cáo về hoạt động bền vững đều đặn hàng năm
Trang 37So với các ngành khác thì các ngân hàng thường nổi trội về hình ảnh hơn các loại hình doanh nghiệp khác trong xã hội Tuy nhiên, các nghiên cứu về các ngân hàng và hoạt động CSR vẫn còn khiêm tốn (Carnevale et al., 2012) Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng lý thuyết về CSR của Carroll để đo lường và kiểm
chứng về CSR trong lĩnh vực ngân hàng
2.2 Sự cam kết của người lao động với tổ chức
2.2.1 Định nghĩa
Các tổ chức phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt và khi họ chuẩn
bị cho những thay đổi, thách thức mới sắp tới có tính chiến lược, quyết định sự sống còn của tổ chức thì một trong số các thành phần của sự sống còn là duy trì và nâng cao khả năng sử dụng hiệu quả nhất yếu tố nguồn lực con người của tổ chức Trong thời đại hiện nay, không một tổ chức, doanh nghiệp nào có thể hoạt động với hiệu quả cao nhất trừ khi mỗi nhân viên của họ cam kết với mục tiêu của tổ chức và làm việc như một thành viên tham gia tích cực và hiệu quả vào thành công chung của tổ chức Các nhà nghiên cứu nhận thấy cam kết với tổ chức sẽ có lợi cho các công ty (Morris and Sherman, 1981)
Theo Katz (1964), hành vi của nhân viên cần thiết cho hiệu quả tổ chức, bao gồm: sự tham gia và ở lại với tổ chức của nhân viên, các nhân viên đạt được các yêu cầu cụ thể của tổ chức và nhân viên chủ động tham gia vào các hoạt động của tổ chức một cách sáng tạo và tự giác Vì thế việc phân công, bổ nhiệm những nhân viên giỏi
ở những vị trí phù hợp với năng lực là rất quan trọng Do đó, người quản lý cần phải hiểu được khái niệm về cam kết, nó là gì, hoạt động như thế nào và quan trọng nhất
là những hành vi nào sẽ được thể hiện bởi những nhân viên có sự cam kết với tổ chức
Theo Mowday và các cộng sự (1979) thì cam kết của nhân viên là thước đo về
sự nhận thức của người lao động với giá trị cốt lõi của tổ chức, sẽ gắn bó với tổ chức, cam kết nỗ lực tối đa khả năng của bản thân để góp phần thực hiện mục tiêu chung ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp
Trang 38Theo Meyer và Allen (1991), cam kết với tổ chức được xem là một trạng thái tâm lý buộc chặt mối quan hệ cá nhân vào tổ chức Meyer và Allen (1991) đề nghị khái niệm gắn kết với tổ chức gồm 3 thành phần: cam kết tình cảm, cam kết duy trì,
và cam kết đạo đức
+ Cam kết tình cảm: được định nghĩa đó là cá nhân gắn bó về mặt tâm lý với
tổ chức, mong muốn được tiếp tục làm việc cho tổ chức, gắn kết với tổ chức Theo Mowday (1982), tiền đề của cam kết tình cảm thường rơi vào bốn loại: (1) đặc điểm
cá nhân, (2) đặc điểm cấu trúc (tổ chức), (3) đặc điểm liên quan đến công việc và (4) kinh nghiệm tích lũy trong quá trình làm việc
+ Cam kết duy trì: Nếu rời khỏi tổ chức thì người lao động sẽ cảm thấy tổn thất lớn Khi rời khỏi tổ chức thì nhân viên sẽ lãng phí thời gian, công sức bỏ ra để
có được kinh nghiệm làm việc tại tổ chức cũng như các quyền lợi khác đang được hưởng với các lợi ích về thâm niên công tác, lãng phí thời gian để tìm công việc khác phù hợp Họ sẽ đối mặt với những thay đổi trong cuộc sống hàng ngày do việc chuyển đổi công việc khác hoặc phá vỡ các mối quan hệ đang hiện có Nhân viên cam kết với tổ chức dựa trên cam kết liên tục bởi vì họ cần phải như thế để đảm bảo quyền lợi
mà họ đang được hưởng
+ Cam kết đạo đức: nhân viên cảm thấy có nghĩa vụ tiếp tục công việc
Theo tác giả thì sự cam kết tổ chức xuất phát từ nhận thức và tình cảm thực
sự của người lao động, có ý định ở lại làm việc lâu dài cùng tổ chức, luôn gắn bó cùng tổ chức trong mọi hoàn cảnh khác nhau, cam kết nỗ lực tối đa khả năng của
bản thân để góp phần thực hiện mục tiêu chung ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp 2.2.2 Đo lường sự cam kết với tổ chức của người lao động
Qua nhiều giai đoạn phát triển, sự cam kết được định nghĩa và đo lường theo nhiều cách khác nhau Bảng 2.3 cung cấp một cái nhìn nhiều chiều về các mô hình liên quan tới sự cam kết của nhân viên với tổ chức đã được các nhà nghiên cứu đưa
ra trong suốt một thời gian dài
Trang 39Bảng 2.3 Sự hình thành và phát triển cam kết tổ chức
Trang 40Nguồn: Tác giả tổng hợp
Nói về sự cam kết của người lao động đối với tổ chức có nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau Tuy vậy có thể nhận ra một xu hướng chung trong các nghiên cứu này đó là sự tập trung vào sự các hành vi liên quan tới sự cam kết Ví dụ như khi chúng ta nói rằng một nhân viên có những hành động vượt ngoài sự mong đợi thì chúng ta tập trung vào biểu hiện của sự cam kết đó là những hành động mà các nhân viên đó thực hiện đóng góp vào tổ chức Những phương pháp hành vi này đươc thảo luận chi tiết trong nghiên cứu của Staw và Salacik (1977)