Trong nghiên cứu sử dụng bảng dữ liệu 30 năm cho 65 quốc gia, nghiên cứu thực nghiệm phát hiện sự phát triển tài chính có tác động lớn đến mức độ xuất khẩu và cán cân thương mại hàng hóa
Trang 1TẠ THỊ HẢI YẾN
TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ PHƯƠNG PHÁP ARDL
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - 2019
Trang 2TẠ THỊ HẢI YẾN
TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ PHƯƠNG PHÁP ARDL
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS TRẦN NGỌC THƠ
TP Hồ Chí Minh - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài Luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài “Tác động của phát triển
tài chính lên cán cân thương mại tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ phương pháp ARDL” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự
hướng dẫn của GS.TS Trần Ngọc Thơ - Giảng viên Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Trong luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, kết quả nêu trong trong luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của luận văn này
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Học viên thực hiện
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT
ABSTRACT
PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Giới thiệu chủ đề nghiên cứu 1
1.2 Khoảng trống nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Bố cục nghiên cứu 4
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1 Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và cán cân thương mại 6
2.1.1 Mối liên kết tài chính - thương mại: Xuất phát điểm ban đầu 6
2.1.2 Quan hệ giữa phát triển tài chính và cán cân thương mại: Một vài khám phá thực nghiệm 12
2.2 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại 14
2.2.1 Giới thiệu 14
Trang 52.2.2 Các cách tiếp cận lý thuyết 14
2.2.3 Một số nghiên cứu thực nghiệm 21
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Khung phân tích cơ sở và dữ liệu nghiên cứu 26
3.1.1 Khung phân tích cơ sở 26
3.1.2 Dữ liệu nghiên cứu 27
3.2 Phương pháp ARDL 32
3.3 Kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto 34
3.4 Kiểm định nghiệm đơn vị Zivot và Andrews (ZA) 35
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 Kiểm định tính dừng 38
4.2 Kết quả hồi quy mô hình ARDL 39
4.3 Kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto 45
PHẦN 5: KẾT LUẬN 46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
OLS (Ordinary Least Squares) Phương pháp bình phương nhỏ nhất GMM (Generalized method of moments) Phương pháp moment bậc cao VAR (Vector Autoregression) Mô hình vectơ tự hồi quy
VECM (Vector Error-correction Model) Mô hình vectơ sai số hiệu chỉnh ARDL (Autoregressive Distributed Lag) Mô hình tự hồi quy phân phối trễ
FD (Financial Development) Phát triển tài chính
ER (Exchange Rate) Tỷ giá hối đoái
BOT (Balance of Trade) Cán cân thương mại
GDP (Gross Domestic Product) Tổng sản phẩm quốc nội
CPI (Consumer Price Index) Chỉ số giá tiêu dùng
FDI (Foreign Direct Investment) Đầu tư trực tiếp nước ngoài
IMF (International Monetary Fund) Quỹ tiền tệ quốc tế
WB (World Bank) Ngân hàng thế giới
ML (Marshall-Lerner) Điều kiện Marshall-Lerner
PPP (Purchasing Power Parity) Ngang giá sức mua
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ tỷ giá và cán cân
thương mại (BOT) 23
Bảng 3.1 Định nghĩa các biến nghiên cứu 30
Bảng 3.2 Thống kê mô tả và ma trận tương quan (giai đoạn 1995-2018) 28
Bảng 4.1 Kết quả kiểm định tính dừng 37
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định tính dừng ZA 37
Bảng 4.3 Kết quả lựa chọn độ trễ tối đa 39
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định ARDL(1,3,1,3) 41
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto 45
Trang 9TÓM TẮT
Bài nghiên cứu nhằm kiểm chứng mối quan hệ giữa phát triển tài chính và cán cân thương mại tại Việt Nam, sử dụng phương pháp ARDL cho dữ liệu chuỗi thời gian giai đoạn 1995-2018 Kết quả kiểm định đường bao ARDL xác nhận mối quan hệ đồng liên kết giữa cán cân thương mại và các yếu tố xác định Nghiên cứu phát hiện mối quan hệ ngược chiều giữa phát triển tài chính lên cán cân thương mại trong dài hạn Kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto xác nhận mối quan hệ nhân quả một chiều xuất phát từ phát triển tài chính đến cán cân thương mại Do đó, nghiên cứu cho rằng phát triển tài chính không phải là công cụ chính sách để giảm thiểu thâm hụt thương mại Mục đích chính của nghiên cứu này nhằm cung cấp các tiêu chí đánh giá chính xác để các nhà hoạch định chính sách hiểu được động năng giữa phát triển tài chính
và cán cân thương mại, từ đó hỗ trợ hoạch định và dự báo chính sách hiệu quả hơn
Từ khóa: Phát triển tài chính; cán cân thương mại; đồng liên kết; ARDL
Trang 10ABSTRACT
This paper aims to examine the relationship between financial development and trade balance in Vietnam by using the ARDL cointegration methodology for time series data from 1995 to 2018 The ARDL bound test confirms that the cointegration exists among trade balance and its determinants The paper also reveals the significantly negative relationship between financial development and trade balance in the long-run The results of Toda-Yamamoto causality test have predicted that unidirectional causality from financial development to trade balance exist in the long-run For policy recommendations, this study does offer not to use financial development as a policy tool to decrease trade deficit The main purpose of this paper is to provide accurate assessment criteria for the policy-makers to understand the dynamics between financial development and trade balance, thus leading to more efficient policy-making and forecasting
Keywords: Financial development; trade balance; cointegration; ARDL
Trang 11Nguồn: Dữ liệu được thu thập từ World Bank
Hình 1.1 Cán cân thương mại của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2018 (đơn vị: tỷ
USD; cố định 2010 USD)
Cán cân thương mại (BOT), được xác định là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu, có vai trò vô cùng quan trọng đối với tình trạng sức khỏe của nền kinh tế (Ahad, 2017) Trong cùng một quốc gia, nếu xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, BOT của quốc gia đó sẽ trong trạng thái thặng dư Ngược lại, nếu nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu, BOT
sẽ phải đối mặt với tình trạng thâm hụt Thâm hụt thương mại không hề tốt cho tăng trưởng kinh tế về lâu về dài Một hệ quả nhãn tiền có thể gặp phải là các quốc gia buộc phải vay vốn từ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) hoặc Ngân hàng Thế giới (WB) để duy trì cân bằng thương mại Do khoản thanh toán của các khoản vay lãi suất cao, quốc gia có ít tiền hơn để đầu tư vào các dự án mới, tạo ra áp lực đối với tăng trưởng của nền kinh tế Mặt khác, khi tài khoản vãng lai bị thâm hụt, nó có thể được tài trợ bởi các tập đoàn đa quốc gia; các tài sản tốt nhất của một quốc gia có thể bị mua lại bởi các nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra, nền kinh tế của quốc gia thâm hụt sẽ phải
Trang 12đối diện với nguy cơ phá sản, làm suy thoái nghiêm trọng niềm tin của giới đầu tư, dẫn đến các quyết định chuyển hướng đầu tư khỏi quốc gia đó Hơn nữa, sự thâm hụt còn gây ra sụt giảm lớn giá trị tiền tệ, làm giảm mức sống và niềm tin vào các cơ hội đầu tư mới, làm giảm mức thu nhập trong một thời gian dài Tương tự, nếu thâm hụt cán cân thương mại tích lũy do thâm hụt tài khoản vãng lai, một quốc gia phải phụ thuộc vào chi tiêu của người tiêu dùng Sự tăng trưởng của khu vực xuất khẩu giảm lại do khả năng cạnh tranh của hàng hóa kém hơn, dẫn đến sự xóa bỏ nhiều ngành công nghiệp, đặt giới hạn cho sự tăng trưởng của nền kinh tế của chính quốc gia đó Việt Nam, nền kinh tế đang phát triển tại khu vực Đông Nam Á, đang phải đối mặt với thâm hụt cán cân thương mại từ thời đại toàn cầu hóa (tham khảo Hình 1.1) Trong giai đoạn 1995-2018 , trạng thái thâm hụt của cán cân thương mại chiếm áp đảo cả về tần suất xuất hiện (17 lần) lẫn mức độ Cụ thể, cán cân thương mại của Việt Nam đạt thặng dư cao nhất là 1,66 tỷ USD vào năm 2013 nhưng lại thâm hụt nặng nề nhất là 13,88 tỷ USD vào năm 2017 Thâm hụt cán cân thương mại quá nhiều có thể gây nguy hiểm cho các nền kinh tế kể cả Việt Nam (Ahad, 2017) Giới kinh tế học cùng các nhà hoạch định chính sách cần có các giải pháp phù hợp nhằm giải quyết vấn đề này (Muhammad, 2010)
1.2 Khoảng trống nghiên cứu
Về mặt lý thuyết, cán cân thương mại của một quốc gia phụ thuộc vào mức độ hoạt động kinh tế của chính quốc gia đó, mức độ hoạt động kinh tế ở phần còn lại của thế giới và tỷ giá hối đoái, tất cả theo định nghĩa thực (real term) Tăng trưởng kinh
tế trong nước dẫn đến nhập khẩu nhiều hơn và làm suy giảm cán cân thương mại Mặt khác, tăng trưởng kinh tế ở phần còn lại của thế giới dẫn đến xuất khẩu nhiều hơn và cải thiện cán cân thương mại Bằng cách thúc đẩy xuất khẩu và giảm nhập khẩu, định giá thấp (phá giá) tiền tệ cũng được kỳ vọng sẽ làm cải thiện cán cân thương mại của một quốc gia (Bahmani-Oskooee và Fariditavana, 2015) Trong các dẫn chứng thực nghiệm, phát triển tài chính (FD) cũng có một số tác động đến cán cân thương mại Bằng chứng là các quốc gia có khu vực tài chính tương đối phát triển có lợi thế so sánh trong các ngành và khu vực phụ thuộc vào tài chính ngoại sinh (external finance)
Trang 13(Kletzer và Bardhan, 1987) Mối liên hệ giữa phát triển tài chính và cấu trúc của cán cân thương mại đã được Beck (2002) khám phá Trong nghiên cứu sử dụng bảng dữ liệu 30 năm cho 65 quốc gia, nghiên cứu thực nghiệm phát hiện sự phát triển tài chính
có tác động lớn đến mức độ xuất khẩu và cán cân thương mại hàng hóa sản xuất (manufactured goods) Các quốc gia có hệ thống tài chính phát triển tốt hơn có tỷ trọng xuất khẩu cao hơn và cân bằng thương mại hàng hóa sản xuất Mặt khác, Samba
và Yan (2009), thông qua mô hình VAR, lại phát hiện rằng, đối với hầu hết các quốc gia Đông Á, thương mại quốc tế hàng hóa sản xuất giúp tăng cường phát triển tài chính Câu hỏi thực nghiệm về việc liệu mức độ thương mại sản xuất của một quốc gia có chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển tài chính hay không cũng được nghiên cứu bởi Kiendrebeogo (2012) Tác giả thấy rằng các quốc gia có hệ thống tài chính phát triển tốt hơn có xu hướng chuyên sâu về các ngành (industry) dựa vào tài chính ngoại sinh trong sản xuất Ngoài ra, nghiên cứu cũng tiết lộ rằng sự phát triển tài chính có tác động cùng chiều đến xuất khẩu hàng hóa sản xuất, ngay cả khi đã kiểm soát ảnh hưởng của khủng hoảng ngân hàng Tuy nhiên, nghiên cứu của Ahad (2017) không tìm thấy bất kỳ hỗ trợ nào về mối quan hệ ngắn hạn giữa phát triển tài chính và cán cân thương mại Do đó, đến nay, vẫn chưa có một khẳng định, kết luận chính xác về hướng (direction) và dấu (sign) liên kết giữa 2 biến số này Do vậy, chủ đề liên kết giữa phát triển tài chính và cán cân thương mại đòi hỏi phải có thêm các nghiên cứu thực nghiệm lẫn lý thuyết chuyên sâu nhằm bổ sung và hoàn thiện
Tuy vậy, hiện nay, theo hiểu biết của tác giả, chưa một nghiên cứu nào cung cấp bằng chứng về tác động của phát triển tài chính lên cán cân thương mại trong trường hợp Việt Nam Nếu phát hiện được phát triển tài chính có ảnh hưởng đến cán cân thương mại, điều đó có nghĩa là phát triển khu vực tài chính có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế và do đó, trở thành ưu tiên cho các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ các khoảng trống nghiên cứu để lại, tác giả tiến hành kiểm chứng mối quan hệ giữa phát triển tài chính và cán cân thương mại tại Việt Nam giai đoạn
Trang 141995-2018 Khung phân tích đa biến chứa các biến gồm cán cân thương mại (biến phụ thuộc), phát triển tài chính (biến độc lập chính), tỷ giá và lạm phát Tóm lại, nghiên cứu được tiến hành nhằm làm rõ các mục tiêu cụ thể sau:
• Kiểm chứng mối quan hệ dài hạn giữa cán cân thương mại và các yếu tố xác định (phát triển tài chính, tỷ giá và lạm phát)
• Xác minh hướng nhân quả giữa cán cân thương mại và các yếu tố xác định
• Xác minh sự hiện diện của hiệu ứng đường cong J lẫn điều kiện Lerner trong mẫu hình phản ứng của cán cân thương mại trước sự phá giá của nội tệ (VND)
Marshall-Để thực hiện mục tiêu đầu tiên và cuối cùng, thiết lập mối quan hệ dài hạn giữa các biến số và phân tích quan hệ (ngắn hạn lẫn dài hạn) giữa từng biến số với cán cân thương mại, nghiên cứu sử dụng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ đồng liên kết ARDL của Pesaran và cộng sự (2001), cho phép liên kết các hiệu ứng ngắn hạn lẫn dài hạn trong cùng một phương trình Sau khi quan hệ dài hạn được thiết lập, nhằm thực hiện mục tiêu thứ hai, xác minh hướng nhân quả giữa các biến, tác giả áp dụng kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto (1995)
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
- Mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa cán cân thương mại, phát triển tài chính, tỷ giá hối đoái và lạm phát có hiện diện trong trường hợp của Việt Nam, giai đoạn 1995-2018 hay không?
- Quan hệ nhân quả có tồn tại giữa cán cân thương mại và các yếu tố xác định hay không?
- Hiệu ứng đường cong J có hiện diện trong mẫu hình phản ứng của cán cân thương mại sau đợt phá giá tiền tệ không?
1.5 Bố cục nghiên cứu
Nghiên cứu này được cấu trúc như sau: Phần 1 giới thiệu chủ đề nghiên cứu, khoảng trống cùng mục tiêu nghiên cứu; Phần 2 giới thiệu mối quan hệ giữa cán cân
Trang 15thương mại cùng các yếu tố xác định (trong đó có phát triển tài chính) cùng các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan; Phần 3 trình bày mô hình ARDL và nguồn dữ liệu; Phần 4 trình bày các phát hiện và thảo luận Phần 5 đưa ra kết luận và hàm ý chính sách
Trang 16PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và cán cân thương mại
2.1.1 Mối liên kết tài chính - thương mại: Xuất phát điểm ban đầu
Đến nay, vẫn chưa có một khung lý thuyết hoàn chỉnh nhằm giải đáp cho câu hỏi về tác động của phát triển tài chính lên cán cân thương mại của một quốc gia; mặc cho, đã có một vài nghiên cứu thực nghiệm gần đây cố gắng làm sáng tỏ câu hỏi trên (Ahad, 2017; Kiendrebeogo, 2012) Do đó, tác giả xuất phát từ mối liên kết tài chính-thương mại, nhằm giải thích cho các tác động tiềm năng mà phát triển tài chính gây
ra cho thương mại (xuất khẩu và nhập khẩu) và do đó là cán cân thương mại Cách tiếp cận truyền thống của mối liên kết tài chính-thương mại chỉ ra rằng thương mại
và phát triển tài chính bổ sung cho nhau Mối quan hệ này được mô tả bởi hai giả thuyết, đại diện cho hướng liên kết nhân quả giữa hai biến này
2.1.1.1 Quan hệ nhân quả từ thương mại đến tài chính: Giả thuyết theo sau cầu
Giả thuyết thứ nhất, được gọi là giả thuyết theo sau cầu (demand-following hypothesis), phản ánh mối quan hệ nhân quả từ thương mại đến tài chính Một nền kinh tế thực sẽ cần tài chính; nói cách khác, nhu cầu về dịch vụ tài chính sẽ thúc đẩy
sự phát triển tài chính Giả thuyết này được hỗ trợ bởi Robinson (1952), người đã chỉ
ra rằng “nơi nào doanh nghiệp dẫn đầu, tài chính sẽ theo sau” Điều đáng nói thêm là khu vực thực (real sector) sử dụng các nguồn ngoại sinh (external source) không chỉ
để tài trợ cho hoạt động sản xuất trực tiếp, mà còn cho việc thúc đẩy, nghiên cứu và chi tiêu đào tạo (training expenditure) Trong các nền kinh tế mở, cầu về tín dụng hoặc các công cụ tài chính khác dự kiến sẽ lớn hơn do tính đặc thù của thương mại xuyên biên giới Thứ nhất, cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu đều yêu cầu các công cụ tài chính để phòng ngừa các giao dịch trước các rủi ro ngoại sinh (external risk), như biến động tỷ giá, thiệt hại hoặc chậm trễ vận chuyển Thứ hai, cầu tài chính là hệ quả của sự cạnh tranh cao hơn từ các doanh nghiệp nước ngoài Để xây dựng lợi thế so
Trang 17sánh và đối phó với sức cạnh tranh nước ngoài cao hơn, các nhà sản xuất trong nước cần có nguồn tài chính đáng tin cậy, đầy đủ và hiệu quả, cả dài hạn (cho đầu tư và phát triển nguồn nhân lực) lẫn ngắn hạn (cho các giao dịch xuyên biên giới và xử lý sản xuất) Thứ ba, khi các nhà sản xuất xuất khẩu muốn khai thác các nền kinh tế có quy mô (economy of scale), họ cần nhiều nguồn tài chính ngoại sinh để đảm đương các khoản đầu tư và nghiên cứu mới Một số nhà kinh tế, ví dụ: Beck (2002, 2003)
và Rajan và Zingales (2003), nhận thấy rằng quan hệ nhân quả chạy từ thương mại đến phát triển tài chính là thực sự quan trọng Nghiên cứu của các tác giả trên đã đóng góp quan trọng vào các tài liệu về chủ đề liên kết tài chính và thương mại, nhấn mạnh vai trò của nền kinh tế chính trị (political economy) trong sự phát triển tài chính
2.1.1.2 Quan hệ nhân quả từ tài chính đến thương mại: Giả thuyết cung dẫn dắt
Cách tiếp cận thứ hai của mối liên hệ tài chính-thương mại, được gọi là giả thuyết cung dẫn dắt (supply-leading hypothesis), chỉ ra mối quan hệ nhân quả từ tài chính đến thương mại Giả thuyết được xây dựng từ các tài liệu tài chính-tăng trưởng, cho thấy tác động tích cực của tài chính đối với tăng trưởng kinh tế, nhưng sau đó được mở rộng sang các tác động khác của tài chính, ví dụ cho thương mại quốc tế Giả thuyết cho rằng thị trường tài chính phát triển tốt có thể tạo thành một nguồn lợi thế so sánh cho các thương nhân nước ngoài, do đó tăng cường thương mại và gia tăng độ mở (openness) của nền kinh tế Điểm khởi đầu của một cuộc thảo luận có thể xuất phát từ lập luận được đưa ra bởi Schumpeter rằng, các dịch vụ tài chính hỗ trợ tiết kiệm và đầu tư và cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Schumpeter, 1934)
Đề cập đến khái niệm của Schumpeter về sự hủy diệt mang tính sáng tạo (creative destruction), King và Levine (1993) nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của một hệ thống tài chính đối với tinh thần khởi nghiệp (entrepreneurship) Các tác giả xác định 4 kênh ảnh hưởng, có thể mở rộng năng lực thương mại (trade capacity): lựa chọn các dự án đầu tư hứa hẹn nhất, sử dụng các nguồn lực để tài trợ cho các dự án triển vọng tốt, cho phép các nhà đầu tư đa dạng hóa rủi ro và cuối cùng, đưa ra các lợi ích bổ sung tiềm năng của đổi mới (innovation) Theo Beck và cộng sự (2009), tín dụng loại bỏ các hạn chế tài chính mà nếu không các nhà xuất khẩu sẽ phải đối mặt, do đó dẫn đến
Trang 18đầu tư lớn hơn và có khả năng xuất khẩu lớn hơn Sử dụng các nguyên tắc cơ bản của
mô hình Greenwood và Jovanovic (1989) với hệ thống tài chính nội sinh, Acemoglu (2009) xác nhận rằng trung gian tài chính làm giảm chi phí và tăng suất sinh lời vốn Theo Greenwald, Salinger và Stiglitz (1992), phát triển tài chính giúp loại bỏ một số thất bại của thị trường (market failure) và giảm rủi ro cao điển hình cho các dự án công nghệ tiên tiến, là nguồn gốc của năng lực cạnh tranh quốc gia Lập luận này được chia sẻ bởi Chang, Hung và Lu (2005), khi tìm hiểu sự liên quan có thể có của phát triển tài chính và hoạt động R&D (nghiên cứu và phát triển) trong việc thúc đẩy thương mại quốc tế Manova (2013) tuyên bố rằng phát triển tài chính có hạn không chỉ hạn chế thương mại bằng cách giảm sản lượng, mà còn phá vỡ thương mại bằng cách ngăn cản các công ty có khả năng sinh lợi từ xuất khẩu (biên độ rộng) và hạn chế doanh số xuất khẩu ra nước ngoài (biên độ hẹp) Trong nghiên cứu thực nghiệm của mình, Beck (2002) xác nhận rằng thị trường tài chính phát triển tạo ra khối lượng thương mại cao hơn, cũng như ảnh hưởng đến cấu trúc của nó Một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm khác về cơ bản hỗ trợ cho giả thuyết cung dẫn dắt (Hur, Raj và Riyanto, 2006; Becker, Chen và Greenberg, 2013) Mặc dù mối liên kết giữa phát triển tài chính và xuất khẩu cũng cho thấy tác động tích cực của tài chính lên nhập khẩu, nhưng kết quả thực nghiệm có liên quan vẫn chưa đánh giá rõ ràng tác động đối với nhập khẩu, hay tìm thấy tác động tài chính yếu hơn đối với nhập khẩu so với xuất khẩu (Beck, 2002)
2.1.1.3 Quan hệ nhân quả hai chiều giữa tài chính và thương mại
Phân tích nền tảng lý thuyết của mối quan hệ tài chính-thương mại, mối nhân quả hai chiều cũng nên được thảo luận Điều đó có nghĩa là tài chính và thương mại
có thể phụ thuộc lẫn nhau Nói cách khác, cầu khu vực thực cho các dịch vụ tài chính tạo ra sự phát triển tài chính và ngược lại, tức là hệ thống tài chính phát triển tốt là điều kiện tiên quyết cho sự mở cửa thương mại Aizenman và Noy (2009) xây dựng một khung lý thuyết dẫn đến phản hồi hai chiều (two-way feedback) giữa tài chính
và độ mở thương mại (trade openness), và xác minh thực nghiệm các mối liên kết này Các tác giả xác nhận tầm quan trọng của độ trễ độ mở thương mại (lagged trade
Trang 19openness) trong việc gây ra tác động Granger lên độ mở tài chính (financial openness), cũng như tầm quan trọng của độ trễ độ mở tài chính trong việc giải thích
độ mở thương mại Mối quan hệ nhân quả hai chiều cũng được kiểm tra trong nghiên cứu của Bordo và Rousseau (2012) Các tác giả phân tích 17 nền kinh tế có thu nhập cao trong giai đoạn 1880-2004 bằng cách sử dụng tổng xuất khẩu và nhập khẩu trên GDP làm thước đo độ mở thương mại và tỷ lệ tiền rộng (tổng M2) trên GDP làm đại diện cho phát triển tài chính Trong giai đoạn cuối 1960-2004, sự phát triển tài chính được đại diện bởi tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP Các tác giả khám phá nhân quả hai chiều xảy ra trước năm 1930, nhưng sau năm 1945, các mối liên kết này không tồn tại Bordo và Rousseau (2012) kết luận rằng do những thay đổi trong môi trường kinh tế vĩ mô và chính trị, mối liên kết thương mại-tài chính có thể ổn định ở trạng thái cân bằng mới, trong đó các nhân tố bên ngoài làm hạn chế mối quan hệ giữa chúng hơn là tác động củng cố lẫn nhau
2.1.1.4 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và thương mại quốc tế đã được xem xét
từ góc độ kinh tế theo quy mô và kết quả cho thấy thương mại quốc tế chịu ảnh hưởng bởi khu vực tài chính (Beck, 2002; Svaleryd và Vlachos, 2005) Như một lời giải thích tiềm năng cho ảnh hưởng của phát triển tài chính, Beck (2002) cũng như Svaleryd và Vlachos (2005), cho rằng khu vực tài chính phát triển hơn có thể dẫn đến khu vực tư nhân tiết kiệm nhiều hơn, điều này có thể tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng tài trợ ngoại sinh và cuối cùng giúp các doanh nghiệp vượt qua những hạn chế thanh khoản (liquidity constraint) Khu vực tài chính trong nước phát triển cũng hữu ích trong việc gia tăng vay mượn của các doanh nghiệp nước ngoài nhằm
mở rộng các hoạt động đổi mới trong nền kinh tế trong nước (Omran và Bolbol, 2003) Theo Rajan và Zingales (1998), phát triển tài chính giúp các doanh nghiệp tránh được các rủi ro đạo đức (moral hazard) cùng các vấn đề lựa chọn bất lợi (adverse selection), và để tăng cường tăng trưởng xuất khẩu bằng cách sử dụng tài chính ngoại sinh Manova (2013) chỉ ra rằng các thị trường tài chính phát triển hơn hỗ trợ các ngành công nghiệp, với sự phụ thuộc cao hơn vào tài chính ngoại sinh, xuất khẩu
Trang 20nhiều hơn Amiti và Weinstein (2011) xác nhận mối liên hệ giữa khả năng tiếp cận tài chính ngoại sinh và thương mại quốc tế ở cấp độ doanh nghiệp Kim, Lin và Suen (2010) kiểm tra sự ảnh hưởng của thương mại quốc tế đối với sự phát triển tài chính Các kết quả nghiên cứu chỉ ra tầm quan trọng của độ mở thương mại trong việc xác định mức độ phát triển tài chính Hơn nữa, kết quả cho thấy các tác động thương mại dài hạn và ngắn hạn khác nhau, và mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và phát triển tài chính có thể mang tính đặc thù quốc gia Samba và Yan (2009) tìm thấy kết quả tương tự đối với các quốc gia Đông Á, khi chỉ ra rằng thương mại quốc tế dẫn đến sự phát triển tài chính ở hầu hết các quốc gia trong mẫu Susanto và cộng sự (2011) tìm thấy hiệu ứng tích cực của sự phát triển tài chính đối với thương mại song phương, nổi bật hơn trong khu vực sản xuất, với quy mô kinh tế tương đối lớn Hơn nữa, theo kết quả nghiên cứu của các tác giả, xuất khẩu từ các nước đang phát triển chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển tài chính hơn là xuất khẩu từ các nước phát triển Demir và Dahi (2011) chỉ ra rằng khu vực tài chính phát triển tốt có tác động tích cực đến xuất khẩu với giá trị gia tăng cao hơn và xuất khẩu hàng hóa sản xuất phụ thuộc vào tài chính ngoại sinh Awojobi (2013) kiểm tra mối quan hệ ở Hy Lạp và tìm thấy mối quan hệ một chiều từ độ mở thương mại đến phát triển tài chính Kar và cộng sự (2013) xem xét mối quan hệ ở Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 1989-2007 và tìm thấy mối quan hệ một chiều từ phát triển tài chính đến thương mại quốc tế
Gries, Kraft và Meierrieks (2009) kiểm tra mối quan hệ giữa phát triển tài chính, phát triển kinh tế và thương mại quốc tế và tìm thấy bằng chứng chỉ ra rằng việc độ sâu tài chính (financial deepening) và mở cửa thương mại đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế Theo Goksel (2012), tồn tại các hiệu ứng tiêu cực từ những hạn chế tài chính ở một quốc gia lên hiệu quả xuất khẩu, và sự thay đổi trong cấu trúc tài chính giữa các quốc gia cũng ảnh hưởng thương mại song phương Các phát hiện thực nghiệm trong nghiên cứu của tác giả cho thấy rằng phát triển tài chính khuyến khích xuất khẩu ở một số quốc gia, vì các công ty cần tín dụng để trang trải chi phí
Do đó, khối lượng giao dịch giữa các quốc gia có thị trường tài chính tương đối “khỏe mạnh” sẽ cao hơn Theo Feng và Lin (2013), các doanh nghiệp định hướng xuất khẩu
Trang 21(export-oriented firm) phải đối mặt với chi phí cố định lớn hơn trong sản xuất và phụ thuộc nhiều hơn vào tài chính ngoại sinh Do đó, các điều kiện tài chính xấu đi ảnh hưởng bất lợi đến các doanh nghiệp định hướng xuất khẩu hơn so với các doanh nghiệp định hướng trong nước Theo Mishkin (2009), thương mại quốc tế sẽ kích thích phát triển tài chính Một nền kinh tế có thị trường và thể chế tài chính phát triển hơn có xu hướng có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn đáng kể (Shahbaz và Rahman 2012) Chimobi (2010) xem xét mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính, độ
mở thương mại và tăng trưởng kinh tế ở Nigeria bằng cách sử dụng dữ liệu từ 2005; phương pháp đồng liên kết đa biến Johansen được áp dụng, nhưng không tìm thấy mối quan hệ đồng liên kết giữa tăng trưởng, độ mở thương mại và phát triển tài chính Shaheen và cộng sự (2011) cũng xác nhận mối quan hệ dài hạn giữa phát triển tài chính, thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế trong trường hợp của Pakistan Korhan và cộng sự (2015), dựa trên kết quả thực nghiệm cho Pakistan, cho thấy hệ thống tài chính tốt hơn sẽ thúc đẩy thương mại quốc tế và do đó, tăng trưởng kinh tế Theo Korhan và cộng sự (2015), phát triển tài chính có thể đại diện cho một mức độ lợi thế so sánh nhất định đối với ít nhất là những ngành công nghiệp có sự phụ thuộc cao hơn vào tài chính ngoại sinh Các ngành công nghiệp như vậy có khả năng có tỷ trọng xuất khẩu cao hơn và thu được nhiều lợi ích thương mại hơn ở các quốc gia có mức độ phát triển tài chính cao hơn Tuy nhiên, hiện diện mối liên kết tiềm năng khác giữa phát triển tài chính và thương mại quốc tế Mối quan hệ lẫn nhau giữa phát triển tài chính và thương mại quốc tế có thể tồn tại thông qua mối liên kết giữa tiêu dùng tài trợ bằng nợ (debt-finance consumption) và nhập khẩu Nhu cầu trong nước tăng trưởng mạnh mẽ nhờ vào các khoản nợ nước ngoài và sự tăng giá thực của đồng nội
1970-tệ đã kích thích tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu chủ yếu và dẫn đến tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai ở các nước châu Âu chuyển đổi (Aristovnik, 2008; Zakharova, 2008; Bakker và Gulde, 2010; Obadić và cộng sự, 2014) Kiendrebeogo (2012) kiểm tra mối liên kết giữa phát triển tài chính và thương mại quốc tế ở các nước phát triển
và đang phát triển trong giai đoạn 1961-2010 Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ hai chiều giữa phát triển tài chính và thương mại quốc tế Hơn nữa, kết quả chỉ ra
Trang 22rằng do mức độ phát triển kinh tế khác nhau, do đó, quan hệ nhân quả khác nhau giữa các nước phát triển và đang phát triển Kết luận lại, các nghiên cứu hiện có không cho ra một kết luận nhất quán liên quan đến mối quan hệ giữa phát triển tài chính và thương mại quốc tế
2.1.2 Quan hệ giữa phát triển tài chính và cán cân thương mại: Một vài khám phá thực nghiệm
Như đã đề cập ở phần trước, sự phát triển tài chính ảnh hưởng đến thương mại quốc tế, và do đó, có thể là cán cân thương mại Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu thực nghiệm hiện có khám phá về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và cán cân thương mại là cực kỳ khan hiếm Có thể điểm qua các nghiên cứu của các tác giả sau Beck (2002) xem xét mối quan hệ giữa thương mại sản xuất và phát triển tài chính Nghiên cứu sử dụng khoảng thời gian từ năm 1966 đến năm 1995 và phương pháp GMM; và
đi đến kết luận rằng phát triển tài chính tác động đáng kể đến cán cân thương mại, mức độ hàng hóa công nghiệp và mức độ xuất khẩu Beck (2003) xác minh tác động của lợi thế so sánh của các ngành công nghiệp sử dụng thêm tài chính ngoại sinh trong phát triển tài chính, bằng cách sử dụng dữ liệu 56 quốc gia và 36 ngành công nghiệp khác nhau Phương pháp luận mà các tác giả sử dụng được phát triển bởi Rajan
và Zingales (1998) Kết quả cho thấy các quốc gia có hệ thống tài chính phát triển tốt
sử dụng tài chính ngoại sinh cao hơn, và thặng dư cán cân thương mại cao hơn, xuất khẩu đóng góp nhiều hơn trong các ngành công nghiệp Tuy nhiên, đến mãi gần đây,
sự quan tâm vào tác động của phát triển tài chính lên cán cân thương mại của một quốc gia mới được tìm hiểu tiếp tục Ahad (2017), thông qua phương pháp ARDL, phát hiện trong giai đoạn 1972-2014, phát triển tài chính, cán cân thương mại, tỷ giá
và lạm phát tại Pakistan có quan hệ đồng liên kết với nhau Phát triển tài chính có tác động đáng kể đến cán cân thương mại trong dài hạn, nhưng trong ngắn hạn, tác động tìm thấy là không đáng kể Tương tự, tỷ giá hối đoái và lạm phát tương ứng có mối quan hệ tiêu cực và tích cực lên cán cân thương mại trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn Kết quả từ kiểm định nhân quả Granger trong khuôn khổ VECM xác nhận, phát triển tài chính tác động nhân quả lên cán cân thương mại trong dài hạn, nhưng
Trang 23không phải trong ngắn hạn Phương pháp phân rã phương sai (VDA) xác nhận phát triển tài chính đóng góp chính vào việc giải thích cán cân thương mại trong tận 10 năm Đề cập đến hiệu ứng bất đối xứng tiềm năng trong mối quan hệ giữa hai biến trọng tâm, Belen (2016) điều tra động lực phi tuyến (nonlinear dynamic) của phát triển tài chính lên cán cân thương mại Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn quý 1/1987 - quý 2/2015, bằng cách áp dụng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ phi tuyến (NARDL) Phát hiện thực nghiệm cho thấy rằng cả tăng và giảm trong phát triển tài chính đều có tác động khác nhau đến cán cân thương mại Phát hiện này khẳng định rằng sự cải thiện trong phát triển tài chính sẽ gây ra sự suy giảm đáng kể trong cán cân thương mại, điều ngược lại vẫn đúng nhưng tác động của sự suy giảm phát triển tài chính lại thấp hơn Điều đó khẳng định mối quan hệ ngược chiều giữa phát triển tài chính và cán cân thương mại, trái ngược với phát hiện của Ahad (2017)
Bằng cách xem xét các nghiên cứu đã qua, tác giả có thể kết luận rằng tài liệu hiện tại không cung cấp bất kỳ bằng chứng nào về tác động của sự phát triển tài chính đối với cán cân thương mại trong trường hợp của Việt Nam Việc phát triển tài chính
có thể là yếu tố quyết định tiềm năng của cán cân thương mại Việt Nam đã bị bỏ qua trong các nghiên cứu trước đây Nghiên cứu này lấp đầy khoảng trống đó và bổ sung các tài liệu hiện có bằng cách điều tra tác động của phát triển tài chính đối với cán cân thương mại trong giai đoạn 1995-2018 tại Việt Nam Các nước có khu vực tài chính phát triển có nhiều lợi thế so sánh hơn trong lĩnh vực công nghiệp giúp tăng xuất khẩu dẫn đến giảm thâm hụt thương mại (Kiendrebeogo, 2012) Hệ thống tài chính tốt hơn giúp việc chu chuyển vốn giữa người đi vay và người tiết kiệm tốt hơn, đồng thời tạo cơ hội tốt ngang nhau cho các doanh nghiệp lớn và nhỏ phát triển Hệ thống tài chính tốt còn kích thích sự gia tăng trong hàng hóa trung gian làm tăng thêm cầu đối với hàng hóa cuối cùng (Shahbaz và Rahman, 2012) Cải thiện lĩnh vực công nghiệp giúp tăng sản lượng cho cả mục đích tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (Samba và Yan, 2009) Tương tự, hệ thống tài chính phát triển có tác động tích cực đáng kể đến đóng góp xuất khẩu thay vì nhập khẩu, giúp cải thiện cán cân thương mại (Beck, 2002) Khi cải cách phát triển tài chính diễn ra, nó sẽ nâng mức tài chính
Trang 24ngoại sinh cho các doanh nghiệp tư nhân trong sự hiện diện của việc thực thi hợp đồng và tăng cường quyền hạn tín dụng và cải cách tư pháp Sự gia tăng tài chính ngoại sinh giúp một quốc gia đối mặt với sự cạnh tranh với các quốc gia có hệ thống tài chính kém phát triển khác Nó gây ra sự gia tăng xuất khẩu bằng cách tăng cường
tỷ lệ xuất khẩu, giúp cải thiện cán cân thương mại (Beck, 2003)
2.2 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại
2.2.1 Giới thiệu
Phần tiếp theo thảo luận tổng quan các tài liệu lý thuyết có liên quan đến mối quan hệ của tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Ngoài ra, tác giả cung cấp thêm các nghiên cứu và những phát hiện thực nghiệm trước đây về tác động (mối quan hệ) của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại Trong phần tổng quan các phương pháp
lý thuyết, phương pháp co giãn (elasticity approach) nhằm kiểm tra điều kiện Marshall-Lerner; phương pháp hấp thụ (absorption approach) xem xét nền kinh tế từ phía tổng tiêu dùng; cách tiếp cận đường cong J cho thấy sự mất giá làm suy giảm cán cân thương mại trong ngắn hạn nhưng làm cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn được cho là sẽ tồn tại Bên cạnh đó, mô hình thay thế không hoàn hảo hai quốc gia (two country imperfect substitute model) quy định mối liên kết (tác động) trực tiếp và mối quan hệ của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại bên cạnh việc xem xét các yếu tố khác Ngoài ra, không thể không nhắc đến cách tiếp cận tiền tệ (monetary approach) đánh giá cầu và cung tiền dư thừa có ảnh hưởng đến cán cân thương mại; tuy nhiên, do nghiên cứu không bao gồm biến cung tiền vào khuôn khổ phân tích thực nghiệm, do đó, tác giả bỏ qua phần trình bày cách tiếp cận này
2.2.2 Các cách tiếp cận lý thuyết
2.2.2.1 Cách tiếp cận co giãn
Tất cả các cách tiếp cận được phát triển để giải thích ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại lấy nguồn gốc từ phương pháp co giãn Cách tiếp cận xem xét xuất khẩu và nhập khẩu phụ thuộc vào giá tương đối thông qua tỷ giá hối
Trang 25đoái Nói chính xác hơn, Rincon (1998) tuyên bố rằng phản ứng của cầu xuất khẩu
và nhập khẩu đối với sự thay đổi giá trị của đồng nội tệ chính là ý tưởng mấu chốt của phương pháp này Phương pháp co giãn dựa trên hai tác động trực tiếp của sự mất giá/định giá thấp đến cán cân của tài khoản vãng lai Hai hiệu ứng trực tiếp được đặt tên là hiệu ứng khối lượng (volume effect) và hiệu ứng giá cả (price effect) Khi đồng nội tệ mất giá hoặc định giá thấp so với ngoại tệ, giá cả hàng hóa trong nước tương đối rẻ hơn cho cả người dân trong nước và người nước ngoài Mặt khác, hàng hóa nhập khẩu trở nên tương đối đắt hơn Sau đó, bối cảnh này sẽ dẫn đến sự gia tăng
về khối lượng hàng hóa xuất khẩu và giảm khối lượng hàng hóa nhập khẩu và được đặt tên là hiệu ứng khối lượng Nhờ đó, cán cân thương mại sẽ được cải thiện Mặt khác, do sự mất giá/định giá thấp tương đối, nhiều tiền sẽ được sử dụng để mua mặt hàng nhập khẩu và trường hợp này được đặt tên là hiệu ứng giá cả Trong khi hiệu ứng khối lượng hoạt động dẫn đến cải thiện cán cân thương mại, hiệu ứng giá cả hoạt động làm cán cân thương mại xấu đi Cuối cùng, Pilbeam (1992) đề cập rằng tác động ròng của sự mất giá/định giá thấp đối với cán cân thương mại phụ thuộc vào tác động của hai tác động (hiệu ứng khối lượng hoặc giá cả), cái nào quyết định (chi phối) cái nào, và nó được quyết định với độ co giãn của cầu xuất khẩu và nhập khẩu Phương pháp co giãn trở nên phổ biến với những đóng góp nhất định của Marshall (1923) và Lerner (1944), tức điều kiện Marshall- Lerner Điều kiện này chỉ đơn giản phát biểu rằng sự mất giá/định giá thấp thực của đồng nội tệ sẽ cải thiện cán cân thương mại nếu tổng các độ co giãn, ở dạng tuyệt đối, của cầu nhập khẩu và xuất khẩu lớn hơn 1 đơn vị Tác giả sẽ trình bày chi tiết trong phần sau
2.2.2.2 Cách tiếp cận hấp thụ
Một phân tích mới được gọi là phương pháp hấp thụ, được phát triển nhằm khắc phục một số hạn chế của phương pháp co giãn thông thường Lưu ý rằng, cách tiếp cận này không phải được trình bày để bác bỏ cách tiếp cận co giãn Marshall ban đầu, trái ngược với điều đó, nó được đưa ra để tích hợp phương pháp co giãn với trọng tâm của Keynes về thu nhập quốc dân (Isard, 1995) Cách tiếp cận này được mô hình hóa để điều tra các tác động của mất giá tiền tệ lên thu nhập quốc dân của Robinson
Trang 26(1947), Harberger (1950), Meade (1951) và Alexander (1952) vào đầu những năm
1950 Trong phương pháp hấp thụ chung đòi hỏi 2 kết quả Kết quả đầu tiên là, theo cách tiếp cận hấp thụ, định giá thấp ảnh hưởng đến xuất khẩu thực, ảnh hưởng đến thu nhập thực và cuối cùng tạo ra hiệu ứng phản hồi trên dòng chảy thương mại Cách tiếp cận nhấn mạnh rằng định giá thấp sẽ dẫn đến tăng sản lượng trong nước và giảm sản lượng nước ngoài, vì nó làm giảm giá hàng hóa trong nước Nó được gọi là hiệu ứng thay thế (substitution effect) cho phép dịch chuyển cầu sản xuất từ nước ngoài sang trong nước (Isard, 1995) Kết quả thứ hai được gọi là hiệu ứng thu nhập (income effect), trái ngược với hiệu ứng thay thế Đơn giản, sau khi đồng nội tệ mất giá, sự gia tăng xuất khẩu ròng cũng làm tăng thu nhập gia đình dẫn đến tăng nhập khẩu thông qua khuynh hướng nhập khẩu cận biên (marginal propensity to import) Hiệu ứng cuối cùng đối với cán cân thương mại gắn liền với sự kết hợp giữa hiệu ứng thay thế và thu nhập Theo Yeager (1970), phương pháp hấp thụ ít cải thiện cán cân thương mại theo nghĩa thực so với phương pháp co giãn Thêm vào đó, hiệu ứng thay thế dự kiến sẽ vượt quá hiệu ứng thu nhập Logic đằng sau phát hiện này là sự gia tăng xuất khẩu ròng sẽ dẫn đến sự gia tăng thu nhập thực và chỉ một phần của sự gia tăng thu nhập này dự kiến sẽ được tiêu thụ do khuynh hướng hấp thụ cận biên (marginal propensity to absorb) được dự kiến sẽ ít hơn 1
2.2.2.3 Điều kiện Marshall-Lerner
Điều kiện Marshall-Lerner (ML) phát biểu rằng, “sự mất giá tiền tệ sẽ cải thiện cán cân thương mại của một quốc gia trong dài hạn nếu tổng giá trị tuyệt đối của độ
co giãn giá cầu hàng nhập khẩu và xuất khẩu vượt quá 1 đơn vị” (Mahmud và cộng
sự, 2004) Cách tiếp cận này giả định tỷ giá hối đoái ổn định là phương pháp có thể cải thiện cán cân thương mại Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái dễ chịu ảnh hưởng bởi các
cú sốc ngoại sinh và có thể không ổn định Nhằm minh họa chi tiết, tác giả trình bày các phương trình toán học liên quan điều kiện ML, dựa theo nghiên cứu của Salvatore (2011) Để đơn giản, cán cân thương mại là chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và nhập khẩu, niêm yết theo ngoại tệ
Trang 27B = VX− VM = QX× PX− QM× PM (2.1)
xuất khẩu và nhập khẩu tính theo ngoại tệ Để thấy được thay đổi của cán cân thương mại sau đợt phá giá tiền tệ nhỏ, lấy vi phân phương trình (2.1), theo đó:
biên độ nhỏ, do đó, phương trình (2.2) có thể viết lại:
Vì độ co giãn cầu theo giá của xuất khẩu được dùng để tính thay đổi phần trăm
hạng của phương trình (2.3) ta thu được:
Trang 28Bất đẳng thức (2.13) thỏa mãn điều kiện Marshall-Lerner
2.2.2.4 Cách tiếp cận đường cong J
Hiệu ứng đường cong J đối với cán cân thương mại quy định rằng cán cân thương mại của một quốc gia, được đo bằng đơn vị nội tệ, có thể sẽ giảm (suy thoái) trong ngắn hạn, sau khi đồng nội tệ bị mất giá (phá giá); nhưng trong dài hạn, cán cân thương mại có thể được cải thiện (Isard, 1995; Jha, 2003) Lý thuyết này cho rằng trong ngắn hạn, giá nhập khẩu, tính bằng nội tệ, sẽ tăng nhanh hơn giá xuất khẩu, trong khi khối lượng giao dịch sẽ chỉ phản ứng sau một thời gian trễ, làm cho cách
Trang 29tiếp cận đường cong J khác với các cách tiếp cận khác Điều này là do, khi tiền tệ bị mất giá, hàng hóa nhập khẩu có xu hướng trở nên đắt đỏ hơn, khi giả định nhập khẩu
và xuất khẩu thay đổi ngay lập tức; do đó, dẫn đến tác động tiêu cực lên cán cân thương mại Sau một thời gian ngắn, khối lượng xuất khẩu có thể bắt đầu tăng do giá cạnh tranh thấp hơn ở thị trường nước ngoài và người tiêu dùng trong nước mua ít hàng nhập khẩu hơn Do đó, cán cân thương mại được cải thiện sau khi sự mất giá (phá giá) tiền tệ xảy ra Ngoài ra, người tiêu dùng nước ngoài có thể chọn mua hàng hóa được xuất khẩu sang nước của mình vì chúng trở nên rẻ hơn (khi tính bằng ngoại tệ) so với hàng hóa sản xuất trong nước (Hacker và Hatemi-J, 2004) Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng, mất giá tiền tệ có thể dẫn đến đầu tư thấp hơn, do đó, làm giảm tăng trưởng kinh tế (Weeks, 2001) Do đó, nghiên cứu này có thể kiểm chứng sự tồn tại của hiệu ứng đường cong J trong nền kinh tế Việt Nam, mặc dù, mục tiêu này không phải là trọng tâm chính trong nghiên cứu
Nguồn: Suwanhirunkul và Masih (2018)
Hình 2.1 Hiệu ứng đường cong J lên cán cân thương mại sau khi phá giá tiền tệ
2.2.2.5 Mô hình thay thế không hoàn hảo hai quốc gia
Mô hình thay thế không hoàn hảo hai quốc (two country imperfect substitute model) của Rose và Yellen (1989) là một cách tiếp cận khác để giải thích cân bằng thương mại Cách tiếp cận này cho thấy bản chất của mối quan hệ của tỷ giá hối đoái thực lên cán cân thương mại trong cả ngắn hạn và dài hạn Nó quy định rằng định giá thấp của tỷ giá hối đoái thực cải thiện cán cân thương mại Bên cạnh đó, mô hình giả định rằng không có sự thay thế hoàn hảo trong nhập khẩu và xuất khẩu đối với hàng
Trang 30hóa và dịch vụ được sản xuất tại trong nước (Rose và Yellen, 1989) Mô hình giả định như sau; đầu tiên, độ co giãn của cầu theo giá và độ co giãn thu nhập trong và ngoài nước là dương Thứ hai, thu nhập ở nước ngoài hoặc quốc gia nhập khẩu có thể ảnh hưởng đến mức xuất khẩu của nền kinh tế trong nước bên cạnh giá hàng thay thế trong nước và giá của hàng hóa nhập khẩu Hơn nữa, cần phải ngăn chặn ảo giác tiền
tệ (money illusion) bằng cách xem xét hàm cầu tiền là đồng nhất (homogeneity) Mô hình này được thể hiện dưới dạng rút gọn một phần của cán cân thương mại trong nước, là một hàm (function) của tỷ giá hối đoái thực, thu nhập trong và ngoài nước Phương trình dạng rút gọn được suy ra từ sự kết hợp của giá nhập khẩu tương đối (là một hàm của giá cả nước ngoài thực), thu nhập thực và tỷ giá hối đoái thực Bằng việc áp dụng mô hình của Rose và Yellen (1989), các kết quả kết luận rằng thu nhập nước ngoài và tỷ giá hối đoái thực có tác động tích cực đến cán cân thương mại trong khi thu nhập trong nước lại có tác động tiêu cực đến cán cân thương mại Ưu điểm của mô hình này là áp dụng một phương trình đơn trong quá trình phân tích Ngoài
ra, do không cần các tham số cấu trúc (structural parameter) nên kết quả có khả năng đưa ra mối quan hệ (tác động) mong muốn hoặc không mong muốn của tỷ giá hối đoái thực lên cán cân thương mại (Rose, 1991) Tuy nhiên, mô hình kết hợp các biến
từ các cách tiếp cận khác và do đó, không phải là mô hình độc lập Các biến này như
đã nêu gồm tỷ giá hối đoái thực song phương (RER), thu nhập trong nước và thu nhập nước ngoài; các biến khác cũng có thể được bao gồm trong mô hình Mô hình cũng
có thể áp dụng phân tích điều kiện Marshall-Lerner hoặc phân tích sự tồn tại của hiệu ứng đường cong J trên cán cân thương mại sau khi phá giá tiền tệ
Do đó, các phương pháp lý thuyết khác nhau được thảo luận cho thấy những tác động khác nhau của tỷ giá hối đoái thực và các biến số khác như cung tiền, thu nhập trong và ngoài nước đối với cán cân thương mại Theo Bahmani-Oskooee (1992), tỷ giá hối đoái thực được xác định theo phương pháp co giãn là có ảnh hưởng lớn đến cán cân thương mại và do đó, hỗ trợ chính sách phá giá tiền tệ để cải thiện cán cân thương mại Bên cạnh đó, cách tiếp cận tiền tệ quy định rằng cung tiền có thể được
sử dụng như một công cụ để cải thiện cán cân thương mại nhưng cung tiền dư thừa
Trang 31có thể dẫn đến thâm hụt thương mại Ngoài ra, Bahmani-Oskooee (1992) nhấn mạnh rằng thu nhập trong nước ảnh hưởng tiêu cực đến cán cân thương mại và khuyên rằng chính sách tài khóa thắt chặt có tác dụng trong việc cải thiện cán cân thương mại Mặt khác, mô hình thay thế không hoàn hảo hai quốc gia liên quan đến ER thực song phương giữa hai quốc gia (đối tác thương mại) và cán cân thương mại của nước sở tại (home country) Tuy nhiên, mô hình chấp nhận các biến từ các cách tiếp cận khác
để thiết lập mối quan hệ (hiệu ứng), và do đó, nó không phải là mô hình độc lập Tuy nhiên, cũng cần nhắc lại rằng, mục tiêu quan trọng của nghiên cứu này là tìm hiểu tác động của phát triển tài chính lên cán cân thương mại Việt Nam, nên việc đề cập các
lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại là cần thiết, nhằm tạo nền tảng lý thuyết lẫn thực nghiệm vững chắc cho việc đưa biến tỷ giá hối đoái thực vào khuôn khổ phân tích, sẽ được trình bày trong Phần 3 Tuy nhiên, do phương pháp ARDL (phương pháp kinh tế lượng chính được sử dụng trong nghiên cứu này) kết hợp các hiệu ứng ngắn hạn lẫn dài hạn trong cùng 1 phương trình Do đó, bên cạnh kiểm chứng hiệu ứng (mối quan hệ) giữa phát triển tài chính và cán cân thương mại, tác giả có thể kiểm chứng sự hiện diện của hiệu ứng đường cong J hoặc điều kiện Marshall-Lerner trong dài hạn
2.2.3 Một số nghiên cứu thực nghiệm
Phần tổng quan các bằng chứng thực nghiệm tập trung vào các nghiên cứu được thực hiện nhằm thiết lập mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện thông qua các phương pháp kinh tế lượng khác nhau và thiết lập các kết quả tương đối phong phú Ví dụ, Waliullah và cộng sự (2010) xem xét mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn giữa các cán cân thương mại, tỷ giá hối đoái thực, cung tiền và thu nhập cho Pakistan Nghiên cứu sử dụng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) bằng cách sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 1970 đến 2005 Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng cung tiền có tác động tiêu cực đến cán cân thương mại và định giá thấp tỷ giá hối đoái có tác động tích cực đến cán cân thương mại Muhammad (2010) phân tích các yếu tố quyết định thâm hụt thương mại của Pakistan bằng cách sử dụng mô hình sai số hiệu chỉnh và phương pháp đồng liên
Trang 32kết Johansen trong giai đoạn từ năm 1975 đến 2008 Nghiên cứu kết luận rằng chi tiêu hộ gia đình có tác động tiêu cực đến cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái đa phương thực, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thu nhập nước ngoài có tác động tích cực đến cán cân thương mại Duasa (2007) khám phá mối liên kết dài hạn và ngắn hạn giữa cán cân thương mại, cung tiền, thu nhập và tỷ giá hối đoái thực ở Malaysia Nghiên cứu lấy dữ liệu từ năm 1974 đến 2003 và sử dụng phương pháp ARDL để phân tích Các phát hiện xác nhận sự tồn tại của mối quan hệ dài hạn giữa cán cân thương mại, cung tiền và thu nhập nhưng không tìm thấy mối quan hệ nào giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Shawa và Shen (2013) phân tích tác động của tự do hóa thương mại, thu nhập nước ngoài, tỷ giá hối đoái thực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, lạm phát, chi tiêu chính phủ, chi tiêu tiêu dùng hộ gia đình, phát triển nguồn nhân lực và FDI đối với cán cân thương mại cho Tanzania Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật OLS để phân tích trong giai đoạn 1980-2012 Kết quả cho thấy rằng FDI, phát triển nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, tự do hóa thương mại
và thu nhập nước ngoài có tác động tích cực và các biến số còn lại có tác động tiêu cực đến cán cân thương mại tỷ giá hối đoái thực có tác động không đáng kể đến cán cân thương mại Bảng 2.1 dưới đây tóm tắt một số kết quả thực nghiệm quan trọng
từ các nghiên cứu khác nhau
Trang 33Bảng 2.1
Tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ tỷ giá và cán cân thương mại (BOT)
Tác giả Quốc gia Phương pháp Biến độc lập Dấu và ý nghĩa
1974-2003
ngắn hạn (+) Không, dài hạn
Mối quan hệ dài hạn giữa BOT, tỷ giá, thu nhập và cung tiền Cung tiền, thu nhập đóng vai trò quyết định hành vi dài hạn của BOT Chính sách tăng trưởng và tiền tệ có hiệu quả trong kiểm soát BOT thay vì chính sách tỷ giá
Tỷ giá hối đoái thực
đa phương (REER)
(+) Có, ngắn hạn
(-) Có, dài hạn
Phá giá thực cải thiện xuất khẩu và do đó là BOT trong dài hạn, nhưng làm xấu BOT trong ngắn hạn; do đó, hiệu ứng đường cong
J hiện diện Kiểm định nhân quả Granger cho thấy tỷ giá hối đoái thực tác động nhân quả lên BOT
Thu nhập trong nước (-) Có Thu nhập nước ngoài (+) Có
thiện BOT trong dài hạn, đồng nghĩa sự hiện diện của điều kiện Marshall-Lerner
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(+) Có
Trang 34Onafowora
(2003)
Malaysia, Thái Lan, Indonesia
biến Sự mất giá tiền tệ dẫn đến sự sụt giảm trong BOT trong ngắn hạn nhưng làm cải thiện sau đó trong dài hạn; do đó hiệu ứng đường cong J và điều kiện Marshall-Lerner được thành lập
Thu nhập trong nước (+) Có Thu nhập nước ngoài (-) Có
hoảng tài chính 1997 (D97)
2002-2007
Tỷ giá hối đoái thực
đa phương (REER)
dài hạn, đồng nghĩa điều kiện Lerner được xác lập Chính sách tăng trưởng tác động tiêu cực lên BOT
Rose
(1991)
Nhật Bản, Đức, Anh, Canada,
Mỹ
Phương pháp OLS, dữ liệu theo tháng giai
1974-1986
Tỷ giá hối đoái thực, cung tiền, thu nhập trong nước và nước ngoài, lãi suất ngắn hạn
Không có quan
hệ dài hạn
Nghiên cứu không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào xác nhận ảnh hưởng của tỷ giá thực lên cán cân thương mại Do đó, các biến động của tỷ giá không có ý nghĩa chính sách
Stučka
(2004)
ARDL, dữ liệu theo quý giai
1994-2002
đồng nghĩa điều kiện Marshall-Lerner được xác nhận Chính sách thu nhập không phải là công cụ điều hành BOT
Thu nhập trong nước (-) Không Thu nhập nước ngoài (+) Không
Trang 35Không có quan hệ dài hạn giữa BOT và các biến độc lập Phá giá tiền tệ thất bại trong việc cải thiện BOT
1975-2008
Tỷ giá hối đoái thực
đa phương (REER)
yếu tố xác định Phá giá tiền tệ giúp cải thiện BOT trong dài hạn, nhưng không ảnh hưởng BOT trong ngắn hạn Do đó, điều kiện Marshall-Lerner được tìm thấy, nhưng hiệu ứng đường cong J không được xác nhận
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(+) Có
Thu nhập nước ngoài (+) Có
1970-2005
hạn (+) Có, dài hạn
Tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa BOT và các yếu tố xác định của nó Phá giá tiền tệ cải thiện BOT cả trong ngắn hạn và dài hạn Tuy vậy, hiệu quả của chính sách tỷ giá ít hơn so với chính sách tiền tệ
Nguồn: Tổng hợp của tác giả