Lý do chọn đề tài: Pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp bắt đầu có hiệu lực thi hành tại Việt Nam kể từ năm 2009, đến nay Bộ LĐTBXH đã chủ động tham mưu Quốc hội, Chính phủ ban hành và liê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGÔ HUỲNH DUY LÂM
VẤN ĐỀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI NINH THUẬN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã ngành: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ VĂN HƯNG
Ninh Thuận, tháng 11 năm 2019
Trang 3hiện nay qua thực tiễn tại Ninh Thuận” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời
điểm này Số liệu và tài liệu tham khảo trong luận văn được trích dẫn và có nguồn
gốc rõ ràng
Ninh Thuận, ngày 20 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Ngô Huỳnh Duy Lâm
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
DANH MỤC CÁC QUY TRÌNH
TÓM TẮT
ABSTRACT
MỞ ĐẦU 14
1 Lý do chọn đề tài: 14
2 Tình hình nghiên cứu: 15
3 Câu hỏi nghiên cứu: 18
4 Giả thuyết nghiên cứu: 18
5 Phạm vi nghiên cứu: 18
5.1 Đối tượng nghiên cứu: 18
5.2 Không gian nghiên cứu: 19
5.3 Thời gian nghiên cứu: 19
6 Phương pháp nghiên cứu đề tài: 19
7 Kết cấu đề tài: 19
Chương 1 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BHTN VÀ NHẬN DIỆN HÀNH VI TRỤC LỢI BHTN 20
1.1 Cơ sở pháp lý về Bảo hiểm thất nghiệp: 20
1.1.1 Khái quát về Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 20
1.1.2 Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp 22
1.2 So sánh với Bảo hiểm thất nghiệp của một số nước trên thế giới 24
1.2.1 Bảo hiểm thất nghiệp ở Hoa Kỳ 24
1.2.2 Bảo hiểm thất nghiệp ở CHLB Đức 27
Trang 61.3 Sự trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp 34
1.3.1 Hành vi trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp 34
1.3.2 Nguyên nhân dẫn đến hành vi trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp 35
1.4 Những hệ luỵ khi Bảo hiểm thất nghiệp bị trục lợi 35
1.4.1 Trục lợi, gây thất thoát nguồn quỹ Bảo hiểm thất nghiệp 35
1.4.2 Trục lợi, tạo sự mất công bằng trong thụ hưởng 36
1.4.3 Trục lợi, ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội và gây phẫn nộ trong dư luận xã hội 36
1.5 Sự cần thiết phải có hành lang pháp lý để chống trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
Chương 2 THỰC TIỄN PHÁP LUẬT CHỐNG TRỤC LỢI VÀ TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở NINH THUẬN 39
2.1 Thực tiễn pháp luật về chống trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp 39
2.1.1 Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành để chống trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp 39
2.1.2 Hiệu quả của pháp luật chống trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp trong thực tiễn 41
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp tại Ninh Thuận 42 2.2.1 Tình hình tham gia Bảo hiểm thất nghiệp tại Ninh Thuận 42
2.2.2 Quy trình tính hưởng và chi trả Trợ cấp thất nghiệp tại Ninh Thuận 47
2.3 Tình hình trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận 48
2.3.1 Người lao động trục lợi Trợ cấp thất nghiệp 48
2.3.2 Người sử dụng lao động trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TRỤC LỢI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 55
Trang 73.2 Thay đổi cơ chế phối hợp giữa ngành Lao động – Thương binh và Xã hội với cơ quan Bảo hiểm xã hội Ninh Thuận 63 3.3 Thay đổi cơ chế phối hợp giữa Cơ quan Nhà nước với Người sử dụng lao động 66 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67 KẾT LUẬN CHUNG 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8ASXH An sinh xã hội
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
CMND Chứng minh thư Nhân dân
Trang 9Bảng 1.2: Số liệu của HelloWork – thời gian hưởng trợ cấp (lỗi do NLĐ) Bảng 1.3: Số liệu của HelloWork – thời gian hưởng trợ cấp (lỗi do NSDLĐ) Bảng 1.4: So sánh pháp luật về BHTN ở Việt Nam với một số nước
Bảng 2.1: Số người hưởng TCTN tại Ninh Thuận luỹ kế qua các năm
Bảng 2.2: Số tiền chi TCTN tại Ninh Thuận hàng năm
Bảng 2.3: So sánh số người trục lợi/số người hưởng TCTN hai giai đoạn Bảng 2.4: So sánh số tiền trục lợi/số tiền chi TCTN hai giai đoạn
Bảng 3.1: Mẫu bảng câu hỏi trong phiếu khảo sát, điều tra NLĐ thất nghiệp
Trang 10Hình 2.1: Biểu đồ Số người hưởng TCTN luỹ kế qua các năm
Hình 2.2: Biểu đồ Số tiền chi TCTN hàng năm
Hình 2.3a: Tỷ lệ số người hưởng TCTN/số trường hợp trục lợi giai đoạn 2010-2016 Hình 2.3b: Tỷ lệ số người hưởng TCTN/số trường hợp trục lợi giai đoạn 2017-nay Hình 2.4a: So sánh số tiền trục lợi/số tiền chi TCTN giai đoạn 2010-2016
Hình 2.4b: So sánh số tiền trục lợi/số tiền chi TCTN giai đoạn 2017-nay
Trang 11Quy trình 2.1 Quy trình nộp hồ sơ và xét duyệt hồ sơ hưởng BHTN Quy trình 2.2 Quy trình chi trả TCTN
Quy trình 2.3 Quy trình tạm dừng hưởng TCTN
Quy trình 2.4 Quy trình chấm dứt hưởng TCTN
Quy trình 2.5 Quy trình chuyển hưởng đi, đến
Trang 12Tiếp cận thực tế chính sách BHTN tại Ninh Thuận Tác giả Luận văn nhận thấy pháp luật về BHTN và sự phối hợp giữa các cơ quan chưa chặt chẽ nên NLĐ
và NSDLĐ đã lợi dụng để trục lợi BHTN Sự trục lợi này làm phát sinh các hệ luỵ như: Thâm hụt quỹ BHTN; gây bất ổn đối với chính sách BHTN; tiêu cực về đạo đức xã hội, Trong thời gian qua trên phạm vi cả nước, các nghiên cứu, đề tài khoa học nhìn chung chỉ đề cập tới tổng quan lĩnh vực thất nghiệp, chính sách BHTN cũng như đặc thù áp dụng pháp luật về BHTN của các địa phương Vẫn chưa có công trình khoa học nào xem xét đến khía cạnh trục lợi BHTN Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật, cùng với các phương pháp thống kê; điều tra xã hội học; phỏng vấn chuyên gia, Tác giả sẽ làm sáng tỏ những điểm chưa hoàn thiện của pháp luật về BHTN hiện hành Đồng thời, chỉ ra các hành vi trục lợi chế độ BHTN và những hạn chế trong phối hợp thực hiện chính sách BHTN giữa các cơ quan Với đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật để chủ động ngăn ngừa
sự trục lợi, kết hợp với đề xuất thay đổi cơ chế phối hợp giữa các cơ quan với nhau
và với Doanh nghiệp, tác giả Luận văn hy vọng nếu được áp dụng đồng bộ sẽ hạn chế đến mức tốt nhất tình trạng trục lợi BHTN trên phạm vi cả nước
Từ khóa: Bảo hiểm thất nghiệp, Trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp, Chống trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp
Trang 13Ninh Thuan Province, the Author of this thesis finds that the law on UI and the coordination between Goverment’s Agencies is imperfect, so employees and employers have taken advantage of to gain illegal unemployment benefits It causes the following consequences: Deficiting of UI Fund; destabilizing UI policies; making negative social morality, In Vietnam before, all scientific researches only covered generally overview of unemployment, UI policies beside application of laws on UI in each local areas There has not been any scientific research considering the aspect of profiteering in polices of UI By method of analyzing and comparing laws, statistical method; sociological investigation; interviewing experts, The Author will clarify the incomplete provisions of the current law on UI At the same time, this research will pointing the profiteering acts in unemployment benefits and the illogicality in coordinating between agencies to implementation of
UI policies With the proposal of amending and supplementing legal regulations to proactively prevent the profiteering from UI, and proposing changes in coordination mechanism between Agencies and with Enterprises, the Author hopes that if they are applied synchronously, we will make minimum the state of profiting
unemployment benefits in Vietnam
Keywords: Unemployment insurance, Profiteering from unemployment insurance, Restricting profited from unemployment insurance.
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp bắt đầu có hiệu lực thi hành tại Việt Nam
kể từ năm 2009, đến nay Bộ LĐTBXH đã chủ động tham mưu Quốc hội, Chính phủ ban hành và liên tục cập nhật sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản pháp lý để hướng dẫn
và làm cơ sở triển khai thực hiện BHTN, Trợ cấp thất nghiệp cho người lao động bị mất việc làm BHTN và TCTN là hai nội dung luôn mang tính thời sự, do đó Luật
và các văn bản pháp quy dưới luật về BHTN được chú trọng sửa đổi, cập nhật, ban hành mới nhằm khắc phục các “kẻ hở” để hạn chế tình trạng trục lợi, có thể kể ra Luật Việc làm được ban hành năm 2013; Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2013; Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm; Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện Điều 52 của Luật Việc làm và một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-
CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm;
Trong bối cảnh tình hình kinh tế của tỉnh Ninh Thuận vừa có thuận lợi và khó khăn, thử thách đan xen Mỗi năm trên địa bàn Ninh Thuận, trung bình số doanh nghiệp được thành lập mới là 400 DN, nhưng cũng có gần 100 DN giải thể, phá sản hoặc tạm ngưng hoạt động1 Có DN phát triển và cũng có DN gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh đã tác động đến tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn và
là tác nhân trực tiếp gây nên biến động nguồn lao động của tỉnh
Việc thực hiện chính sách BHTN trên địa bàn Ninh Thuận đã có chuyển biến tích cực, được các cấp - ngành quan tâm Quyền lợi và đời sống của NLĐ được đảm bảo Các cơ quan có liên quan đã phối hợp, tổ chức triển khai thực hiện BHTN trên địa bàn đúng quy định của pháp luật, giải quyết TCTN cho người lao động mất việc theo quy trình “một cửa liên thông” đạt hiệu quả Công tác tuyên truyền, tập huấn
và phối hợp tổ chức đối thoại với các DN về thực hiện pháp luật BHTN diễn ra
tế - xã hội năm 2018 của UBND tỉnh Ninh Thuận
Trang 15thường xuyên Tuy nhiên, NLĐ mất việc làm vẫn chiếm tỉ lệ cao trong tổng số lao động tại địa phương Theo thống kê, trung bình mỗi năm ngành LĐTBXH giải quyết hơn 2.000 hồ sơ BHTN2, câu hỏi đặt ra là có hay không NLĐ đã cố tình thôi việc để hưởng lợi từ TCTN?
Bên cạnh đó, tình trạng NLĐ đang hưởng TCTN, nhưng đến khi có việc làm mới không thành thật khai báo với cơ quan có thẩm quyền để chấm dứt hưởng TCTN vẫn còn diễn ra Sự phối hợp giữa ngành LĐTBXH với ngành BHXH chưa chặt chẽ nên từ năm 2010 đến hết tháng 6/2019 vẫn còn xảy ra 241 trường hợp trục lợi3 (có quyết định hưởng TCTN và đã có quyết định thu hồi); với tổng số tiền cần thu hồi là 1.106.030.500 đồng, trong đó đã thu hồi được 206 trường hợp, vẫn còn 35 trường hợp chưa thu hồi được với số tiền 271.747.200 đồng
Từ tình hình trên, có thể nảy sinh các các hệ luỵ như: Thâm hụt quỹ BHTN
do chi TCTN quá nhiều; thói quen của NLĐ và NSDLĐ trục lợi gây bất ổn đối với chính sách BHTN; góc nhìn tiêu cực về đạo đức xã hội đối với hành vi trục lợi
Đó là lý do tôi chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm chỉ ra các hạn chế của pháp luật
về BHTN hiện hành và đề xuất các biện pháp khắc phục phù hợp
2 Tình hình nghiên cứu:
Từ khi Việt Nam chuyển đối cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 kéo theo hàng loạt DN phá sản hoặc thu hẹp phạm vi kinh doanh dẫn đến một lượng lớn NLĐ thất nghiệp thì vấn đề nghiên cứu BHTN mới được đặt ra BHTN là vấn đề mới cho nên các công trình nghiên cứu chưa nhiều và chủ yếu là những bài viết khoa học về thất nghiệp, về xây dựng chế độ BHTN, hoặc liên quan đến vấn đề này dưới góc độ lý luận và kinh nghiệm của các nước trên thế giới:
sơ đăng ký thất nghiệp
liệu được luỹ kế đến thời điểm báo cáo
Trang 16(1) Về sách: Có thể kể ra cuốn sách “Bảo hiểm xã hội - những điều cần biết” do Nhà xuất bản Thống kê phát hành năm 2001, được biên soạn trên cơ sở lý
luận cơ bản về BHXH và những nghiên cứu, những bài viết của các nhà khoa học, nhà quản lý đã được đăng tải trên các Tạp chí và Kỷ yếu Hội thảo khoa học trong lĩnh vực này; cuốn sách cũng hệ thống hoá những nội dung cơ bản của chính sách BHXH hiện hành và các văn bản mới được ban hành nhằm làm rõ hơn về quyền lợi
và nghĩa vụ của NLĐ trong việc thực hiện chính sách BHXH Bên cạnh đó, cuốn
sách “Hướng dẫn thi hành luật bảo hiểm xã hội, luật bảo hiểm y tế và quy định mới nhất về bảo hiểm thất nghiệp” do Nhà xuất bản Lao động phát hành năm
2019, tổng hợp các nội dung mới nhất về Luật và các văn bản pháp quy (Nghị định, Thông tư) hướng dẫn thi hành các vấn đề về BHXH, BHYT, BHTN
(2) Về Đề tài nghiên cứu khoa học: Đề tài “Xây dựng cơ chế và mô hình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp” của Vụ Lao động – Việc làm
(nay là Cục Việc làm thuộc Bộ LĐTBXH) năm 2008 là những nghiên cứu đầu tiên
về cơ chế, mô hình tổ chức thực hiện chính sách BHTN, công tác quản lý nhà nước
về BHTN Bên cạnh đó, tác giả TS Nguyễn Văn Định trong đề tài “Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” đã nghiên cứu
những vần đề lý luận về thất nghiệp, TCTN và BHTN; cùng với đánh giá thực trạng thất nghiệp, nhu cầu và khả năng tham gia BHTN, thực trạng chính sách và công tác
tổ chức triển khai BHTN ở nước ta qua đó làm rõ quan điểm về tổ chức BHTN, đồng thời đưa ra những kiến nghị và giải pháp Liên quan đến trợ cấp BHTN, tác
giả TS Nguyễn Huy Ban thực hiện đề tài “Nghiên cứu những nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại - vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam” đã tập trung nghiên cứu chính sách về TCTN đối với người
lao động, kết quả nghiên cứu đã đưa ra một số luận cứ khoa học cơ bản và các hình thức thực hiện trợ cấp theo quan điểm khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về vấn đề BHTN Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện chế
độ BHTN của các nước có nền kinh tế phát triển giúp các nhà hoạch định chính sách BHTN nước ta nghiên cứu, tham khảo
Trang 17(3) Về Luận án, luận văn nghiên cứu: Luận án tiến sỹ “Quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay” năm 2016, của tác giả Nguyễn Quang
Trường cung cấp các luận cứ khoa học cho các cơ quan hoạch định, thực thi luật pháp, chính sách về BHTN để phục vụ cho việc điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện quản lý nhà nước về BHTN ở Việt Nam Đồng thời làm sáng tỏ khung lý thuyết của quản lý nhà nước về BHTN trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế Luận án đã cung cấp phương thức, công cụ và biện pháp tăng cường quản
lý nhà nước về BHTN nhằm nâng cao nhận thức, thúc đẩy sự tham gia của NLĐ, tăng cường và hoàn thiện quản lý nhà nước về BHTN Tác giả Phùng Thị Cẩm
Châu trong luận án tiến sỹ “Hoàn thiện quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên” năm 2013, thì tập trung nghiên cứu đánh giá
việc thực hiện BHTN tại tỉnh Thái Nguyên trong một giai đoạn, qua đó mở ra một góc nhìn cho NLĐ, công đoàn cơ sở, các DN, các cơ quan xây dựng chính sách BHTN, các cơ quan quản lý BHTN nhận thức và thực hiện tốt hơn chính sách BHTN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Liên quan đến quỹ BHTN, luận án tiến sỹ
“Quản lý Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” năm 2018, của tác giả Trần
Minh Thắng nghiên cứu kinh nghiệm về BHTN ở một số nước trên thế giới, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý quỹ BHTN ở Việt Nam, chỉ ra nguyên nhân chính làm cho quỹ hiện nay thặng dư do chính sách pháp luật về BHTN còn mang tính thụ động, chủ yếu chỉ hướng đến việc chi trả TCTN, chưa sử dụng thực sự hiệu quả cho các chính sách thị trường lao động chủ động với mục đích chuyển đổi, đào tạo, nâng cao tay nghề cho NLĐ nhằm hạn chế tình trạng thất nghiệp có thể xảy ra như một số nước trên thế giới đang triển khai Ngoài ra, nhiều tác giả nghiên cứu
luận văn Thạc sỹ về BHTN như Ngô Thu Phương với đề tài “Bảo hiểm thất nghiệp trong Luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”, Nguyễn Thị Hoa với đề tài “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay”, và
tác giả Nguyễn Thị Mộng Trầm đã nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo
hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Trang 18Tuy nhiên các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, các bài viết nói trên nhìn chung chỉ đề cập tới tổng quan lĩnh vực thất nghiệp và BHTN trong điều kiện nước ta bước đầu thực hiện chính sách BHTN cũng như đặc thù áp dụng pháp luật
về BHTN của các địa phương trên cả nước Vì thế vẫn chưa có công trình khoa học nào xem xét đến khía cạnh trục lợi chế độ BHTN nói chung, nhất là trục lợi BHTN tại các địa phương, trong đó có địa bàn tỉnh Ninh Thuận, do đó có thể nói đề tài
“Vấn đề trục lợi bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay qua thực tiễn tại Ninh Thuận” là luận văn thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu về sự trục lợi chính sách BHTN trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
3 Câu hỏi nghiên cứu:
- Pháp luật về BHTN được quy định như thế nào?
- Thực trạng áp dụng pháp luật về BHTN tại tỉnh Ninh Thuận có những vấn
đề bất cập gì? Có hay không NLĐ và NSDLĐ trục lợi chế độ BHTN?
- Cần có giải pháp gì để hạn chế sự trục lợi chế độ BHTN?
4 Giả thuyết nghiên cứu:
Người lao động và NSDLĐ đã lợi dụng những vấn đề còn hạn chế của pháp luật về BHTN cũng như sự phối hợp chưa tốt giữa ngành LĐTBXH và cơ quan BHXH trong thực hiện quy trình chi trả chế độ TCTN để trục lợi chế độ BHTN Nghiên cứu này sẽ chỉ ra tình trạng trục lợi chế độ BHTN của NLĐ cả nước nói chung và ở Ninh Thuận hiện nay nói riêng, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục
5 Phạm vi nghiên cứu:
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Pháp luật về BHTN mà cụ thể là Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm
và Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện Điều 52 của Luật Việc làm và một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP;
- Sự trục lợi của NLĐ và NSDLĐ về chế độ BHTN;
Trang 195.2 Không gian nghiên cứu:
Các tình huống trục lợi của NLĐ và NSDLĐ ở Việt Nam hiện nay, nhất là các tình huống trục lợi trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
5.3 Thời gian nghiên cứu:
Giai đoạn 10 năm, từ năm 2010 đến nay
6 Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Trong chương 1 tác giả sẽ sử dụng các phương pháp: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, quy nạp, diễn giải; để làm
rõ cơ sở pháp lý về Bảo hiểm thất nghiệp
Trong chương 2 tác giả sẽ sử dụng các phương pháp: Phương pháp định tính
và định lượng; Phương pháp thống kê toán học; Phương pháp điều tra xã hội học; Phương pháp phỏng vấn chuyên gia, để xác định và thống kê các tình huống trục lợi chính sách BHTN
Trong chương 3 tác giả sẽ sử dụng các phương pháp: Phương pháp tìm lỗi; Phương pháp lựa chọn giải pháp thông qua so sánh hiệu quả, để lựa chọn và đề ra các giải pháp
7 Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu và các phụ lục, đề tài gồm có ba chương chính, chương 1
là nội dung cơ sở pháp lý về BHTN và nhận diện hành vi trục lợi BHTN Trong chương 2, thông qua thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận, tác giả sẽ trình bày pháp luật chống trục lợi BHTN và tình hình trục lợi đã diễn ra trên cả nước nói chung và tại địa bàn Ninh Thuận nói riêng Với chương 3, tác giả kiến nghị các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng trục lợi BHTN thông qua các đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật chưa hoàn thiện
Trang 20Chương 1 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BHTN VÀ NHẬN DIỆN HÀNH VI TRỤC LỢI BHTN
1.1 Cơ sở pháp lý về Bảo hiểm thất nghiệp:
1.1.1 Khái quát về Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
1.1.1.1 Khái niệm về Bảo hiểm thất nghiệp
Thuật ngữ “Bảo hiểm thất nghiệp” gồm hai thành tố: “bảo hiểm” và “thất nghiệp” Để làm rõ khái niệm BHTN là gì, chúng ta thử tìm hiểu từng thành tố được định nghĩa như thế nào?
Bảo hiểm4 là trợ giúp hay đền bù về vật chất khi đau ốm, tai nạn, trong trường hợp đương sự tham gia hoạt động bảo hiểm Dưới góc độ kinh tế học, bảo hiểm là một hệ thống các quan hệ kinh tế điều chỉnh sự hình thành, việc phân phối
và sử dụng quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, biến cố xảy ra Bằng cách mỗi người trong cộng đồng có thể gặp rủi ro cùng loại - cùng nhau đóng góp một khoản phí vào quỹ chung, khi có một người hay nhóm người gặp rủi ro, bảo hiểm sẽ bù đắp thiệt hại (về tài chính, tài sản, nhân mạng, ) cho họ bằng một khoản tiền mặt Thông qua phí bảo hiểm, bảo hiểm được xem như là một công cụ chuyển giao các rủi ro tiềm năng từ một cá nhân sang cộng đồng một cách công bằng
Thất nghiệp5 là không có việc làm để sinh sống Trong kinh tế học, thất nghiệp được hiểu là tình trạng NLĐ muốn có việc làm mà không tìm được việc làm
Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số NLĐ không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội tại một thời điểm Thất nghiệp chính là hệ quả của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế
Như vậy, BHTN được hiểu một cách đơn giản là một khoản bù đắp tài chính cho NLĐ gặp rủi ro khi bị mất việc làm Ở Việt Nam hiện nay, BHTN là một chế
độ dành cho NLĐ được quản lý, điều hành và triển khai thực hiện bởi ngành LĐTBXH và Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Trang 21
Sau khi chuyển từ nền kinh tế bao cấp tập trung sang nền kinh tế thị trường
và bước vào hội nhập với kinh tế thế giới, bên cạnh những thành tựu đạt được về kinh tế – xã hội, thì tình trạng thất nghiệp đang là một trong những vấn đề nan giải
và hết sức bức xúc ở nước ta Hàng năm cả nước có hơn 01 triệu người bước vào tuổi lao động, số lượng lao động trong độ tuổi mỗi năm tăng thêm hơn 400 ngàn người6, nhưng khả năng đáp ứng vị trí việc làm của nền kinh tế lại có hạn Bên cạnh
đó, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển đổi cơ cấu kinh tế; đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, một bộ phận không nhỏ NLĐ do nhiều nguyên nhân khác nhau đã bị mất việc làm, đời sống khó khăn, ảnh hưởng đến ASXH
BHTN ra đời để góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho NLĐ được học nghề, tìm việc làm mới BHTN giúp giảm gánh nặng chi cho ngân sách Nhà nước
và DN7 BHTN không những hỗ trợ một khoản tài chính để NLĐ đảm bảo ổn định cuộc sống trong thời gian mất việc mà còn thông qua các hoạt động tư vấn - giới thiệu việc làm, đào tạo và đào tạo lại nghề nghiệp nhằm giúp cho NLĐ thất nghiệp sớm tìm được việc làm mới ổn định và phù hợp
Vậy, Bảo hiểm thất nghiệp là loại bảo hiểm đảm bảo những quyền lợi mà NLĐ có tham gia sẽ được hưởng khi thất nghiệp Quyền lợi BHTN mà NLĐ sẽ nhận là được trả tiền mặt khi mất việc Ngoài ra, còn bao gồm cả BHYT và hỗ trợ chi phí đào tạo nghề trong quãng thời gian NLĐ tìm công việc mới
1.1.1.2 Ý nghĩa của Bảo hiểm thất nghiệp
BHTN không chỉ là công cụ giải quyết vấn đề thất nghiệp trong xã hội mà còn là chính sách giúp ổn định xã hội một cách tốt nhất Đồng thời, BHTN có chức năng bảo vệ, bù đắp những tổn thất về mặt tài chính cho NLĐ và giúp họ có khả năng cũng như cơ hội quay lại thị trường việc làm Bên cạnh đó, BHTN còn có chức năng hạn chế “sự ỷ lại” của NLĐ vào các chính sách ASXH của Nhà nước, khuyến khích họ chăm chỉ làm việc, sẵn sàng làm việc
Trang 22Ngoài những lợi ích nêu trên thì BHTN vừa đóng vai trò quan trọng đối với
DN, vừa đóng vai trò tối ưu đối với Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề xã hội Nhờ có BHTN, khi NLĐ bị mất việc, chủ doanh nghiệp không tốn phí trợ cấp thôi việc cho NLĐ nên họ sẽ tiết kiệm chi phí và chủ động trong sử dụng nguồn lao động, tạo động lực phát triển sản xuất Cũng nhờ có BHTN mà gánh nặng ngân sách của Nhà nước được giảm bớt khi có thất nghiệp xảy ra
1.1.2 Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp
Pháp luật về BHTN được quy định cụ thể tại các văn bản: Luật Việc làm năm 2013; Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ và Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐTBXH Theo đó:
1.1.2.1 Đối tượng tham gia
Người lao động và người sử dụng lao động theo Điều 43,Luật Việc làm năm
20138 Loại trừ các đối tượng không thuộc diện tham gia sau đây:
- Những người đang hưởng lương hưu hàng tháng hoặc đang nhận trợ cấp mất sức lao động hàng tháng nhưng tiếp tục có sự giao kết HĐLĐ với NSDLĐ9
- NLĐ là giúp việc gia đình
- Công chức10
- Chủ doanh nghiệp
theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau: (a) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn;(b) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn;(c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng
Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng lao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên
có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều này”
9“Người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này đang hưởng lương hưu, giúp việc gia đình thì không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp.”
trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị
sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy
định tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP
Trang 23- NLĐ là công dân nước ngoài11
- Đối với Nhà nước: Hỗ trợ từ 0,5 - 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng BHTN của những NLĐ tham gia BHTN, được trích từ ngân sách và mỗi năm sẽ chuyển một lần vào Quỹ BHTN
1.1.2.3 Điều kiện hưởng
Người lao động quy định tại Khoản 1, Điều 43 của Luật Việc làm năm
2013 đang đóng BHTN được hưởng TCTN khi có đủ bốn điều kiện sau đây:
(1) Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc (gọi chung là HĐLĐ), trừ hai trường hợp:
- NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật;
- Chấm dứt HĐLĐ để hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng
(3) Đã đăng ký thất nghiệp và nộp hồ sơ hưởng trợ cấp tại Trung tâm DVVL (4) Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ sáu trường hợp:
- Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;
Trang 24
- Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;
- Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Thời gian hưởng TCTN được tính theo số tháng đóng BHTN:
+ Cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng TCTN + Sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng TCTN nhưng tối đa không quá 12 tháng
- Thời điểm hưởng TCTN được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng TCTN theo quy định tại Khoản 1, Điều 46 của Luật Việc làm12
1.2 So sánh với Bảo hiểm thất nghiệp của một số nước trên thế giới
1.2.1 Bảo hiểm thất nghiệp ở Hoa Kỳ
Tháng 8-1935, vấn để BHTN mới được đề cập đến trong Luật BHXH của Hoa Kỳ13 Theo Luật này, bảo hiểm và TCTN là nhiệm vụ của chính quyền liên bang và chính quyền các bang, nhằm bù đắp một phần tiền công cho NLĐ có mua bảo hiểm cho thời gian bị mất việc làm (mà không phải do lỗi của họ) Luật chỉ đưa
lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm DVVL do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập”
Trang 25ra nguyên tắc, định hướng chung về thời hạn, mức độ và quyền hưởng TCTN Các bang tùy theo tình hình kinh tế - xã hội, thị trường lao động, nhu cầu nhân lực của các DN ở bang mình mà cụ thể hóa những chi tiết như thất nghiệp, mức trợ cấp, thời hạn hưởng, mức thuế thất nghiệp và lương khởi điểm chịu thuế thất nghiệp của bang trong phạm vi các mức trần tương ứng đã quy định ở Luật BHTN của liên bang Do vậy mức thuế BHTN, mức trợ cấp và thời hạn hưởng ở các bang có thể khác nhau Trong cùng một bang, các mức này cũng có thể khác nhau tùy theo miền, vùng khí hậu và ngành nghề lao động nặng nhọc, độc hại Tuy nhiên, ở tất cả các bang, mức chi TCTN (từ Quỹ BHTN) đều gắn chặt với quyền lợi kinh tế, pháp
lý và thái độ, đạo đức của người thất nghiệp, không bị chi phối bởi mức sống của gia đình và bản thân người thất nghiệp
Theo quy định chung của liên bang:
* Những người từ 16 tuổi trở lên đã đăng ký xin việc làm ở các Sở Lao động
- Giới thiệu việc làm (công lập hoặc tư doanh), nhưng trong thời hạn 04 tuần lễ vẫn chưa tìm được việc làm thì bị coi là thất nghiệp Những công nhân bị sa thải hàng loạt không phải lỗi của họ, sau 30 ngày vẫn chưa có việc làm mới đều bị coi là thất nghiệp
* Người được hưởng TCTN cần hội đủ các điều kiện sau:
- Phải là người thất nghiệp, không có việc làm,
- Phải lao động ổn định ít nhất là 06 tháng ở một ngành nghề có mua BHTN,
- Phải đáp ứng các yêu cầu được hưởng TCTN quy định ở Luật BHTN của liên bang và của bang mình lao động
* Những người bị thất nghiệp (không phải lỗi do họ) được hưởng TCTN ở mức nhất định, tùy theo mức lương và thời gian đã lao động, nhưng không quá 70% lương trước khi bị thất nghiệp với thời hạn không quá 26 tuần lễ
Người bị thất nghiệp mà do lỗi tại bản thân họ (như: tự ý bỏ việc, vi phạm kỷ luật lao động bị đuổi việc, tay nghề kém buộc phải thôi việc) hoặc đã được chủ doanh nghiệp trả trợ cấp thôi việc thì không được hưởng TCTN Để được hưởng TCTN, người thất nghiệp nhất thiết phải làm đơn xin TCTN gửi lên Sở Lao động -
Trang 26Giới thiệu việc làm xem xét, giải quyết Trong đơn phải có đủ các nội dung họ tên, nơi làm việc, mức lương, nguyên nhân thất nghiệp, thời gian đã lao động trước khi thất nghiệp và nguyện vọng xin việc làm Nếu xét thấy lý do thất nghiệp là khách quan và người thất nghiệp hội đủ các yêu cầu được hưởng TCTN, thì người này được cấp “lệnh hưởng TCTN” thường là bằng “séc”, lần đầu được cấp liển 02-03 tuần lễ tùy thuộc quy định của mỗi bang
Hoa Kỳ không quy định mức và thời hạn trợ cấp thống nhất cho toàn quốc
Do vậy, mức và thời hạn hưởng trợ cấp ở mỗi bang là khác nhau Nhưng mức TCTN tối đa và tối thiểu thì ở bang nào cũng có Mức tối đa tỷ lệ thuận với mức lương của lao động có việc làm tương tự, nhưng không được quá mức trần là 70% lương Mức tối thiểu thường lấy mức lương của lao động làm việc không trọn ngày (không đủ 08 giờ) làm chuẩn Thông thường, lương để tính TCTN là mức lương bình quân trong năm cuối cùng trước khi bị thất nghiệp Mặc dù các bang dùng chuẩn mực lương khác nhau để tính TCTN, nhưng mức TCTN ở các bang đều không quá mức chuẩn 70% lương14
Quỹ BHTN được hình thành bằng thuế BHTN do các chủ công ty, DN (có từ
08 công nhân trở lên) đóng góp với mức là 1% lương khởi điểm chịu thuế Mức này
ở thời gian đầu là 3.000 USD (lương bình quân cả năm của NLĐ) Về sau do lạm phát và trượt giá, nên tỷ lệ thuế trên lương tăng lên là 3%, còn mức lương khởi điểm chịu thuế tăng lên mức 7.000 USD/năm15 Có thể nói rằng, ở Hoa Kỳ đến thập niên
90 của thế kỷ XX, thì gần như 100% lao động làm thuê ăn lương đều được BHTN, đây là những lao động xin việc thông qua Sở Lao động - Giới thiệu việc làm, kể cả lao động ở các DN nhỏ, lao động nông nghiệp, giúp việc gia đình và một số lao động thời vụ trong nông nghiệp
mức này cũng chỉ bằng 70% thu nhập sau khi nộp thuế thu nhập và không quá 57,5% lương bình quân của bang; bang Wisconsin lấy mức lương bình quân quý để tính trợ cấp thất nghiệp, nhưng mức này không quá 66,6% lương bình quân của bang
USD/quý trở lên đều phải đóng góp cho Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp với mức là 5% lương khởi điểm chịu thuế 1.000 USD
Trang 27Khi Luật BHTN mới ra đời ở Hoa Kỳ, thời hạn TCTN bình quân toàn liên bang là 09 tuần lễ, đến giữa thập niên 90 là 16 tuần, hiện nay thời gian tối đa là 26 tuần lễ Nếu sau khi hết hạn tối đa mà vẫn bị thất nghiệp thì có thể kéo dài thời hạn thêm 07-20 tuần nữa tùy thuộc tình hình thị trường lao động và hoàn cảnh kinh tế -
xã hội của mỗi bang, nhưng quy định chung là: nếu tỷ lệ thất nghiệp của bang dưới 6% thì được hưởng TCTN thêm 04 tuần, từ 6% - 7% thêm 07 tuần, từ 7% trở lên thêm 13 tuần Nếu tổng số lao động thất nghiệp trong 06 tháng của bang từ 8% trở lên thì được hưởng trợ cấp thêm 20 tuần
1.2.2 Bảo hiểm thất nghiệp ở CHLB Đức
BHTN ở CHLB Đức16 bắt đầu thực hiện từ năm 1919, được chính thức hóa bằng một bộ luật vào năm 1927, BHTN là một cấu thành trong hệ thống BHXH của CHLB Đức
BHTN ở CHLB Đức là một chương trình BHXH bắt buộc dựa trên sự đóng góp tài chính của NLĐ và chủ sử dụng lao động Năm 2003, tỷ lệ đóng góp BHTN
là 6,5% lương (NLĐ đóng ½, chủ sử dụng lao động đóng ½) Chế độ BHTN được chi trả hàng tháng với tỷ lệ thay thế lương là 60% (hoặc 67%) mức lương thực tế tháng cuối cùng của NLĐ trước khi thất nghiệp
NLĐ xin hưởng chế độ BHTN phải là người bị thất nghiệp, đã đăng ký tại cơ quan việc làm địa phương, đủ điều kiện về thời gian làm việc và đóng bảo hiểm Người thất nghiệp là người làm công ăn lương bị mất việc làm tạm thời và đang tìm công việc làm mới NLĐ đã đóng BHTN bắt buộc và có HĐLĐ tối thiểu 12 tháng trong 03 năm cuối trước khi đăng ký thất nghiệp Đối với lao động thời vụ (thường xuyên làm việc dưới 12 tháng trong một năm) thì cần có đủ 06 tháng làm việc và đóng BHTN bắt buộc NLĐ nước ngoài có công việc thường xuyên tại CHLB Đức cũng được hưởng chế độ BHTN theo các điều kiện tương tự như NLĐ Đức Người trên 65 tuổi sẽ không được nhận chế độ BHTN
Nguyễn Dương, Năm xuất bản: 2016, Tạp chí số: 5B
Trang 28Tại CHLB Đức, “việc làm phụ” là công việc có tổng thời gian làm việc dưới
15 giờ/tuần hoặc có thu nhập dưới 325 euro hoặc lao động tự lập có mức thu nhập tương tự, người có việc làm phụ cũng có thể được đăng ký và hưởng chế độ BHTN
BHTN ở CHLB Đức yêu cầu người hưởng chế độ TCTN phải chứng tỏ sự sẵn sàng nhận công việc mới và nỗ lực của họ nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp Khi nhận đăng ký thất nghiệp, cơ quan việc làm thường yêu cầu người hưởng TCTN đưa ra bằng chứng về nỗ lực của họ đã thực hiện để tìm việc làm mới
Lương thất nghiệp được chi bằng 60% lương thực tế sau khi đã trừ đi các khoản đóng góp bắt buộc (thuế thu nhập, đóng góp BHXH, BHYT) Nếu NLĐ có ít nhất một trẻ em phụ thuộc thì mức lương thất nghiệp là 67% lương thực tế Thu nhập từ TCTN không phải chịu thuế Trong thời gian này, NLĐ vẫn được tiếp tục tham gia BHYT trong một quỹ y tế công và Cơ quan việc làm cũng đóng bảo hiểm hưu trí bắt buộc cho người hưởng chế độ thất nghiệp
Chế độ TCTN được nhận ngay sau khi thất nghiệp và khoảng thời gian hưởng chế độ tùy thuộc vào thời gian làm việc có đóng bảo hiểm trước đó Người thất nghiệp được cơ quan việc làm hỗ trợ giới thiệu việc làm mới Nếu công việc mới mà được trả lương ít hơn mức lương cuối cùng đã nhận trước khi thất nghiệp thì NLĐ được quyền từ chối Trong 03 tháng thất nghiệp đầu tiên, nếu việc làm mới
có lương thấp hơn 20% sẽ được phép từ chối Trong 03 tháng tiếp theo, nếu việc làm mới có lương thấp hơn 30% cũng được phép từ chối Sau 07 tháng thất nghiệp, NLĐ bị buộc phải chấp nhận công việc mới do cơ quan việc làm giới thiệu có mức lương cao hơn mức trợ cấp đang hưởng
Người thất nghiệp sẽ bị tước quyền hưởng chế độ trong 12 tuần (hoặc 06 tuần nếu người thất nghiệp đang trong tình trạng cực kỳ khó khăn) do đối tượng đã
bị chấm dứt HĐLĐ vì vi phạm các điều khoản trong hợp đồng, hoặc sai phạm trong công việc dẫn tới bị sa thải Nếu người thất nghiệp từ chối nhận công việc mới (do
cơ quan việc làm giới thiệu) hoặc từ chối tham gia các chương trình đào tạo cũng bị đình chỉ quyền hưởng tương tự Nếu người thất nghiệp đã từng bị tước quyền hưởng chế độ trong 12 tuần mà tái phạm thì quyền hưởng chế độ sẽ bị tước vĩnh viễn Chế
Trang 29độ BHTN bị ngừng chi trong thời gian người thất nghiệp nhận trợ cấp từ các chế độ BHXH khác như chế độ ốm đau, lương hưu
Chế độ thất nghiệp một phần mới được áp dụng gần đây tại CHLB Đức là một mô hình thay thế thu nhập độc lập trong hệ thống BHTN Mục đích là đảm bảo quyền lợi cho NLĐ đang tham gia vào một số quan hệ lao động “bán thời gian” trong cùng một thời điểm Việc mất một trong số các việc làm bán thời gian này sẽ được xét hưởng chế độ thất nghiệp một phần
1.2.3 Bảo hiểm thất nghiệp ở Đan Mạch
Năm 1907, Đan Mạch đã có BHTN theo chế độ tự nguyện17 Mặc dù Chính phủ hỗ trợ nguồn kinh phí cho Quỹ BHTN nhưng ở Đan Mạch, các liên đoàn lao động chịu trách nhiệm điều hành Chương trình bảo hiểm tự nguyện do các quỹ BHTN quản lý, do đó Đan Mạch phân biệt rõ người có tham gia BHTN và người không tham gia BHTN (những người đó có thể nhận trợ cấp xã hội riêng của Nhà nước) Việc tham gia BHTN là tự nguyện đối với mọi NLĐ
Người tự tạo việc làm, sinh viên mới ra trường, viên chức làm việc trong khu vực công, các đại biểu dân cử cũng đều có thể tham gia BHTN tự nguyện Thời gian làm việc tại các quốc gia EU có thể được tính để được hưởng BHTN ở Đan Mạch NLĐ trả phí thành viên cho nhiều chương trình khác nhau do các công đoàn hỗ trợ, các quỹ BHTN riêng biệt sẽ thu phí BHTN; xử lý hồ sơ bảo hiểm và chi trả quyền lợi BHTN
NLĐ được hưởng BHTN khi tham gia một chương trình BHTN được tài trợ bởi các công đoàn NLĐ được tham gia BHTN ở chương trình của bất kỳ công đoàn nào cho dù họ không phải là thành viên của công đoàn đó NLĐ được hưởng BHTN khi đã tham gia chương trình BHTN được ít nhất 01 năm, đóng phí BHTN đủ 52 tuần trong 03 năm trước đó (thời gian tham gia BHTN ở các quốc gia thuộc khối
EU cũng có thể được tính song sẽ áp dụng những quy định đặc biệt cho những NLĐ này) Khi một NLĐ đã được hưởng TCTN ở mức tối đa thì người đó phải làm việc tối thiểu 26 tuần nữa mới đủ yêu cầu để áp dụng cho một thời gian bảo hiểm mới
Nguyễn Dương, Năm xuất bản: 2016, Tạp chí số: 5B
Trang 30Mức phạt áp dụng cho người tự bỏ việc hoặc bị sa thải vì vi phạm kỷ luật là chậm hưởng 05 tuần và phải đăng ký tại Trung tâm việc làm công lập Thời gian được hưởng TCTN tối đa là 05 năm và sẽ dừng TCTN khi NLĐ đủ 65 tuổi NLĐ có thể nhận 02 năm tiền TCTN trong khoảng thời gian là 03 năm Số tiền TCTN được hưởng là 90% của thu nhập trước khi thất nghiệp, sau khi trừ 8% phí đóng BHTN Tiền trợ cấp ở mức tối đa là 4.700 DKK18 (khoảng 700 USD)/tuần Đối với sinh viên mới tốt nghiệp, TCTN là khoảng 2.680 DKK/tuần Người già trên 60 tuổi với
20 năm tham gia đóng bảo hiểm có thể được nghỉ hưu sớm và nhận trợ cấp sau 2,5 năm; người trên 63 tuổi, được nhận mức TCTN tối đa cho đến 65 tuổi mà không yêu cầu đi tìm việc Thời gian chờ là 03 tuần đối với đối tượng tự tạo việc làm
Thế mạnh của mô hình này là các quỹ BHTN riêng biệt kiểm soát việc thu quỹ BHTN, xét đơn đề nghị hưởng BHTN, thanh toán tiền TCTN, đó là một cơ chế vận hành hiệu quả và tập trung Điểm yếu là mặc dù BHTN là tự nguyện, Chính phủ vẫn phải hỗ trợ nguồn kinh phí bên cạnh đó, việc được hưởng chế độ BHTN cao sẽ làm giảm ý muốn tìm việc làm của NLĐ Quỹ bảo hiểm riêng biệt cũng có thêm điểm yếu là NLĐ lương thấp hay lao động thời vụ không được tham gia BHTN, tạo
ra bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ thất nghiệp
1.2.4 Bảo hiểm thất nghiệp ở Nhật Bản
Ở Nhật Bản, TCTN là số tiền trợ cấp dành cho NLĐ đã nghỉ việc và đang trong trạng thái thất nghiệp Đây là một phần tiền trợ cấp cơ bản trong chế
18/8/2019
Trang 31Để nhận được trợ cấp, NLĐ phải chuẩn bị các giấy tờ cần thiết (Giấy chứng nhận nghỉ việc; giấy chứng nhận tham gia BHTN; hình thẻ; con dấu; sổ ngân
hàng, ) và phải báo cáo tình trạng việc làm - hoạt động xin việc
Thời gian nhận trợ cấp và số tiền nhận trợ cấp được chia làm 2 trường hợp dựa vào lý do nghỉ việc từ phía công ty hay do NLĐ Nghỉ việc do phía công ty là NLĐ bị mất việc do ý chí của người thuê lao động (công ty bị phá sản, cơ cấu lại công ty, thay đổi phương châm kinh doanh…) Nghỉ việc do phía NLĐ là những trường hợp nghỉ việc do ý chí của NLĐ (chuyển việc, kết hôn, bị bệnh hoặc vi phạm
kỷ luật….) Việc xác định lý do nghỉ việc rất quan trọng, nó liên quan đến thời gian chờ nhận trợ cấp, số tiền nhận trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp
Số tiền trợ cấp cơ bản theo ngày, được tính theo lương của NLĐ trước khi
nghỉ việc theo công thức:
Số tiền trợ cấp 01 ngày = (Tổng tiền lương không bao gồm tiền thưởng của
06 tháng trước khi nghỉ việc) ÷ 180
Tuy nhiên, số tiền trợ cấp 01 ngày không vượt quá một mức nhất định được quy định như bảng 1.120 (tại phụ lục bảng)
Thời gian nhận trợ cấp được tính dựa theo độ tuổi và thời gian đã tham gia BHTN tính đến thời điểm nghỉ việc của NLĐ
+ Trường hợp nghỉ việc do phía NLĐ: phân mức thời gian tuỳ theo đối tượng
là người bình thường hay đối tượng là người bị thương tật, hoặc được chia các mốc dựa theo độ tuổi và số năm tham gia bảo hiểm, cụ thể như bảng 1.221 (tại phụ lục bảng)
https://tomonivj.jp/”tim-hieu-ve-che-do-tro-cap-that-nghiep-o-nhat”/, truy cập ngày 18/8/2019
truy cập ngày 18/8/2019
Trang 32+ Trường hợp nghỉ việc do phía công ty: Đối tượng cũng được chia làm hai nhóm, thời gian phụ thuộc vào độ tuổi và số năm tham gia bảo hiểm, cụ thể như bảng 1.322 (tại phụ lục bảng)
Về nguyên tắc, thời gian có thể nhận TCTN tối đa 360 ngày tính từ ngày nghỉ việc Tuy nhiên có thể gia hạn thêm thời gian nhận trợ cấp nếu thuộc một trong các diện sau: Phụ nữ đang trong thời gian mang thai hoặc nuôi con nhỏ; Người nhận TCTN đang bị thương, bị bệnh; Người nhận TCTN đang phải chăm sóc người thân trong gia đình; NLĐ ra nước ngoài (theo hình thức tình nguyện hoặc theo vợ/chồng
ra nước ngoài làm việc)
Thời gian làm thủ tục cho đến khi nhận được trợ cấp cũng được chia theo hai trường hợp Trường hợp nghỉ việc do phía công ty thì NLĐ bắt đầu được nhận trợ cấp sau khi làm thủ tục 07 ngày Trường hợp nghỉ việc do phía NLĐ, thời gian là 03 tháng + 07 ngày Trong ngày làm thủ tục đầu tiên thì lịch nhận trợ cấp sẽ được ấn định NLĐ phải đến nhận tiền trợ cấp cố định sau mỗi 28 ngày/một lần Lịch nhận tiền không thay đổi trừ trường hợp bất khả kháng Nếu NLĐ chưa đến nhận tiền TCTN, số tiền trợ cấp không mất, nhưng thời gian được nhận lại sẽ bị kéo dài ra khá lâu Trong thời gian nhận trợ cấp, NLĐ phải thực hiện hoạt động xin việc ít nhất hai lần trong mỗi 04 tuần nhận trợ cấp và phải báo cáo về tình hình xin việc mỗi lần đến nhận trợ cấp
Đương nhiên, trước khi nhận hết số tiền TCTN mà NLĐ tìm được một công việc mới thì sẽ ngừng nhận trợ cấp Tuy nhiên NLĐ vẫn có thể được nhận một khoản trợ cấp khác được gọi là “trợ cấp tái xin việc”, tương đương với 30% tổng số tiền trợ cấp còn lại Để nhận được khoản trợ cấp này thì NLĐ phải đáp ứng một số điều kiện nhất định (số ngày còn lại phải từ 1/3 tổng số ngày nhận trợ cấp trở lên, và
từ 45 ngày trở lên, )
truy cập ngày 18/8/2019
Trang 331.2.5 Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc
Hệ thống BHTN ở Trung Quốc23 được thiết lập vào năm 1986, khi Trung Quốc ban hành “Các điều khoản tạm thời về BHTN cho nhân viên thuộc doanh nghiệp nhà nước” Chương trình BHTN đã được sửa đổi cơ bản và tổ chức lại vào năm 1999 thông qua việc ban hành Điều lệ về BHTN với những đặc điểm chính như sau:
- Điều lệ BHTN áp dụng cho tất cả NLĐ ở thành thị gồm cả NLĐ trong các
DN nhà nước, DN tư nhân ở các thành phố và thị trấn… bao gồm cả lao động tự tạo việc làm BHTN không áp dụng đối với công chức Nhà nước và nông dân, ngoại trừ nông dân làm việc theo HĐLĐ trong các DN ở thành thị
- NLĐ đóng 1% tiền lương và DN đóng 2% quỹ tiền lương vào quỹ BHTN Nông dân làm việc theo HĐLĐ trong các DN không phải đóng góp Ngoài ra còn
có các nguồn thu khác như tiền lãi ngân hàng, sự hỗ trợ của Nhà nước
- Người thất nghiệp phải trong độ tuổi lao động từ 16 tuổi đến 60 tuổi, có khả năng lao động, có đăng ký thất nghiệp và đang tìm việc làm, đã đóng BHTN tối thiểu 12 tháng
- Thất nghiệp vì lý do khách quan mới được hưởng TCTN Chính phủ Trung Quốc quy định rõ về những trường hợp không được hưởng hoặc dừng hưởng TCTN như thôi việc tự nguyện; có việc làm; tiếp tục học nâng cao trình độ hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự quốc gia; di cư ra nước ngoài; đã nghỉ hưu hoặc đến tuổi nghỉ hưu
- Mức hưởng được giao cho chính quyền địa phương quy định, thường cao hơn tiêu chuẩn cứu trợ xã hội và thấp hơn mức tiền lương tối thiểu ở địa phương đó Thời gian hưởng TCTN như sau:
+ Tối đa 12 tháng, nếu đóng BHTN từ 01 năm đến 05 năm;
+ Tối đa 18 tháng, nếu đóng BHTN từ 05 năm đến dưới 10 năm;
+ Tối đa 24 tháng, nếu đóng BHTN từ 10 năm trở lên
Nguyễn Dương, Năm xuất bản: 2016, Tạp chí số: 5B
Trang 34- Trợ cấp y tế dành cho người đang hưởng TCTN và để hỗ trợ đóng các chi phí khám bệnh, chi phí y tế đối với những bệnh hiểm nghèo
- Khi người đang hưởng TCTN chết, trợ cấp tuất một lần và tuất hàng tháng
sẽ được chi trả cho gia đình người đã mất
Bảng 1.4 So sánh chế độ BHTN giữa Việt Nam và các quốc gia khác tại Phụ lục
1.3 Sự trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp
1.3.1 Hành vi trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp
Trục lợi BHTN nhìn từ góc độ người lao động là trường hợp NLĐ đã gian dối trong khai báo nhằm hưởng lợi một khoản tài chính từ nguồn Quỹ BHTN chi trả NLĐ gian dối bằng cách che dấu việc làm mới Từ đó dẫn đến việc NLĐ vẫn vừa tiếp tục lãnh TCTN; vẫn vừa được NSDLĐ trả lương, tham gia BHXH (xem như đã quay lại hệ thống BHTN) Có trường hợp nghỉ đẻ đang hưởng chế độ thai sản vẫn đăng ký nhận BHTN
Trục lợi BHTN nhìn từ góc độ người sử dụng lao động là trường hợp NSDLĐ đã gian dối trong khai báo nhằm hưởng lợi một khoản tài chính do không tham gia hoặc không tham gia kịp thời cho NLĐ vào hệ thống BHXH NSDLĐ gian dối bằng cách che giấu lao động mới (không ký HĐLĐ – không tham gia BHXH) hoặc kéo dài thời gian bắt đầu tham gia cho NLĐ Ví dụ NLĐ được nhận vào đơn vị làm việc từ tháng 5 nhưng mãi đến tháng 8 năm đó, NSDLĐ mới bắt đầu khai báo
và tham gia BHXH cho NLĐ, qua đó trục lợi một khoản tiền
Trục lợi BHTN cũng có thể là những trường hợp mà cả NLĐ và NSDLĐ thoả thuận ngầm với nhau lợi dụng kẻ hở pháp luật về BHXH, BHTN để tránh tham gia BHXH nhằm thoả mãn lợi ích của đôi bên: NLĐ được hưởng thêm vài tháng TCTN, còn NSDLĐ tránh phải đóng một khoản tiền để tham gia cho NLĐ vào hệ thống BHXH Hoặc trường hợp NLĐ di chuyển từ DN này sang DN khác, nhưng chỉ sau một thời gian NLĐ lại trở về DN cũ (do NLĐ và NSDLĐ đã thoả thuận ngầm với nhau) Hoặc trường hợp NSDLĐ cho lao động nghỉ việc hưởng TCTN, sau đó lại nhận vào làm việc
Trang 351.3.2 Nguyên nhân dẫn đến hành vi trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp
Từ các tình huống trục lợi thực tế tại các địa phương trên cả nước, được tổng hợp trong thời gian 10 năm thực hiện chính sách BHTN ở Việt Nam Có thể chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hành vi trục lợi BHTN là:
(1) Nguyên nhân đến từ thủ tục đăng ký hưởng TCTN quá đơn giản, NLĐ chỉ cần các loại giấy tờ gồm: Quyết định cho thôi việc hoặc Thông báo chấm dứt HĐLĐ; Sổ BHXH; CMND là đủ điều kiện nộp hồ sơ đề nghị hưởng TCTN
(2) Nguyên nhân đến từ quy định của pháp luật chưa hoàn thiện, “03 tháng
sau khi có quyết định nghỉ việc, NLĐ vẫn còn được đăng ký hưởng TCTN” và mất
thêm 20 ngày để các cơ quan chức năng tiếp nhận giải quyết hồ sơ Như vậy NLĐ
sẽ có gần 04 tháng để làm thủ tục và hưởng TCTN Chính trong khoảng thời gian này, rất nhiều NLĐ đã tìm được việc làm mới và họ cũng không tự giác (hoặc NSDLĐ không tự giác) khai báo với cơ quan BHXH và Trung tâm DVVL địa phương
(3) Nguyên nhân đến từ nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của cả NLĐ
và NSDLĐ
(4) Nguyên nhân xuất phát từ lòng tham của cả NLĐ và NSDLĐ; NLĐ có thêm tiền, còn NSDLĐ đỡ mất một khoản tài chính để đóng cho NLĐ tham gia vào
hệ thống BHXH, BHTN
1.4 Những hệ luỵ khi Bảo hiểm thất nghiệp bị trục lợi
1.4.1 Trục lợi, gây thất thoát nguồn quỹ Bảo hiểm thất nghiệp
Do tính chất đặc thù, BHTN khi tổ chức triển khai cần phải có sự điều phối hợp lý giữa hệ thống quản lý BHXH (thu phí và chi trả trợ cấp) và hệ thống quản lý việc làm (theo dõi, quản lý cũng như hỗ trợ NLĐ) Các DN và NLĐ không ngừng tấn công vào các lỗ hổng luật pháp để trục lợi Dưới góc độ tài chính, BHTN sẽ gặp nguy cơ mất cân đối quỹ BHTN giống như các loại quỹ BHXH và BHYT đã từng gặp phải24 Nếu không thực hiện tốt cơ chế quản lý tài chính, Quỹ BHTN sẽ có thể
Bộ LĐTBXH tháng 11/2010 (http://molisa.gov.vn/Pages/tintuc/chitiet.aspx?TinTucID=20860
Trang 36rơi vào trạng thái bội chi lớn và tạo gánh nặng cho ngân sách Nhà nước trong khi có thể BHTN đã không thực sự phát huy hết hiệu quả vốn có của nó đối với nền sản xuất xã hội Điển hình như trong Báo cáo sơ kết 02 năm thực hiện chính sách BHTN của Bộ LĐTBXH ban hành tháng 3/2017 cho biết chỉ riêng trong hai năm
2015 và 2016, tổng hợp từ số liệu báo cáo của BHXH các tỉnh, thành phố trên cả nước đã phát hiện, đề nghị Sở LĐTBXH cùng tỉnh, thành phố ban hành quyết định thu hồi số tiền 70,96 tỉ đồng TCTN sai quy định đối với 15.156 người Tính đến hết năm 2016, vẫn còn 32,58 tỉ đồng chưa thu hồi được do không liên lạc được với NLĐ hoặc NLĐ chưa có khả năng nộp lại
1.4.2 Trục lợi, tạo sự mất công bằng trong thụ hưởng
Rõ ràng, những NLĐ cùng tham gia hệ thống BHTN nhằm thụ hưởng một khoản tài chính khi mất việc với suy nghĩ cơ hội của họ là ngang bằng nhau, nhưng với những trường hợp trục lợi, họ đã cố tình tự tạo cho mình nhiều quuyền lợi hơn những người còn lại trong cùng hệ thống
1.4.3 Trục lợi, ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội và gây phẫn nộ trong
dư luận xã hội
Hành vi trục lợi dù vô tình hay cố ý đều dẫn đến một hệ luỵ xấu trong ứng xử đạo đức xã hội Những người trục lợi, vô hình chung đã tạo ra hiệu ứng “domino” – anh tham lam và trục lợi được thì tôi cũng bắt chước làm theo Với những NLĐ tham gia hệ thống BHTN có lòng tự trọng và thực hiện đúng theo công bằng xã hội,
họ sẽ cảm thấy rất khó chịu, bất công và lên án gay gắt những hành vi sai trái này
Ngoài ra, với hội nhập kinh tế quốc tế, DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ngày càng tăng trưởng cả về số lượng và quy mô, NLĐ ngoài nước tham gia thị trường lao động Việt Nam ngày càng nhiều, cả làm chủ và làm công ăn lương
&page=18, truy cập ngày 12/10/2019) có đoạn viết: “Quỹ BHYT đã và đang thâm hụt ngày càng
lớn ở mức hàng ngàn tỷ đồng hàng năm Về cân đối quỹ BHXH, hiện Quỹ BHXH có số dư trên 70.000 tỷ đồng, nhưng lại tiềm ẩn mất cân đối trong tương lai do các yếu tố già hoá dân số, cải cách tiền lương và điều chỉnh lương tối thiểu cùng với điều chỉnh chế độ lương hưu và trợ cấp BHXH, Theo một số dự báo, cân đối thu – chi BHXH được đảm bảo đến khoảng năm 2020, sau
đó sẽ giảm dần và đến khoảng năm 2030 thì Quỹ BHXH sẽ phải đối mặt với nguy cơ mất cân đối nếu không có điều chỉnh chính sách.”
Trang 37Trong bối cảnh đó, trục lợi BHTN đã để lại một hình ảnh rất xấu trong mắt các DN, doanh nhân quốc tế
1.5 Sự cần thiết phải có hành lang pháp lý để chống trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp
Pháp luật BHTN là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành
và đảm bảo thực hiện về việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả TCTN và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp quay trở lại thị trường việc làm BHTN là một chính sách thuộc hệ thống các chính sách về ASXH, do đó pháp luật
về BHTN cũng là một bộ phận của hệ thống pháp luật ASXH, cần phải đảm bảo tính công bằng thông qua các biện pháp chống trục lợi
Thứ nhất, chống trục lợi để bảo đảm sự công bằng trong chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHTN
Thứ hai, chống trục lợi để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa những người tham gia BHTN
Thứ ba, chống trục lợi để đảm bảo sự công bằng trong thụ hưởng BHTN Thứ tư, chống trục lợi để đảm bảo BHTN phải được thực hiện chính xác, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Như vậy, từ năm 2009, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng một chính sách hỗ trợ ASXH tiến bộ, văn minh Theo đó, NLĐ khi mất việc sẽ được đảm bảo một nguồn thu nhập thông qua TCTN để ổn định cuộc sống trong thời gian tìm kiếm việc làm mới
So sánh với chính sách BHTN các nước trên thế giới, chính sách BHTN của Việt Nam cũng đã tương đối tiệm cận về chế độ tiền TCTN25 và các quyền lợi khác cho NLĐ như: Hỗ trợ NLĐ học nghề; hỗ trợ NLĐ tìm việc làm mới; NLĐ vẫn tiếp tục được hưởng chính sách BHYT,
Trang 38
Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều “lổ hổng” pháp lý làm cho NLĐ dễ dàng trục lợi Ngoài ra, chính sách hiện hành vẫn còn nặng về giải pháp “khắc phục thất nghiệp”, chưa mang tính “phòng ngừa thất nghiệp” cao
Để làm rõ hơn những trường hợp cụ thể trục lợi của NLĐ về chế độ, chính sách BHTN trên toàn quốc nói chung và tại tỉnh Ninh Thuận nói riêng, chúng ta cùng làm rõ thực trạng về pháp luật chống trục lợi BHTN và tình hình trục lợi BHTN qua số liệu thực tế tại tỉnh Ninh Thuận trong chương 2
Trang 39Chương 2 THỰC TIỄN PHÁP LUẬT CHỐNG TRỤC LỢI VÀ TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở NINH THUẬN
2.1 Thực tiễn pháp luật về chống trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp
2.1.1 Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành để chống trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp
2.1.1.1 Chống trục lợi bằng các biện pháp chế tài của Luật
Ngay từ những ngày đầu để chống trục lợi BHTN, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH và đưa người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; theo đó quy định mức xử phạt26 chi tiết dành cho cả NLĐ và NSDLĐ nếu gian dối trong việc lập hồ sơ hưởng chế độ BHXH, BHTN
Đến năm 2015 thông qua Hội nghị sơ kết tình hình thực hiện chính sách BHTN toàn quốc, tiếp thu từ phản ánh của các cơ quan trực tiếp thực hiện chính
người lao động có hành vi kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa những nội dung có liên quan đến việc hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
2 Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người lao động có một trong các hành
vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp sau đây: (a) Thỏa thuận với cơ sở đào tạo nghề làm giả hồ sơ để trục lợi số tiền hỗ trợ học nghề mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; (b) Không thông báo với Trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định khi người lao động có việc làm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp; (c) Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp không thông báo theo quy định với Trung tâm dịch vụ việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: tìm được việc làm; thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; hưởng lương hưu hằng tháng; ra nước ngoài để định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc
3 Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi không thông báo với Trung tâm dịch vụ việc làm nơi đặt trụ sở làm việc của người sử dụng lao động khi có biến động lao động việc làm tại đơn vị theo quy định của pháp luật
4 Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi giả mạo hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để trục lợi chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mỗi hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp giả mạo
5 Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi tổ chức triển khai đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động không theo đúng phương án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
6 Biện pháp khắc phục hậu quả: (a) Buộc nộp lại cho tổ chức bảo hiểm xã hội số tiền bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này; (b) Buộc tổ chức triển khai đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động đúng theo phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 5 Điều này”
Trang 40sách BHTN các địa phương, của các chuyên gia và hệ thống báo chí, Bộ LĐTBXH
đã tham mưu Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 95/2013/NĐ-CP bằng Nghị định 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH và đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Theo đó mức xử phạt đã được tăng lên đáng kể, là một trong các biện pháp chế tài mạnh mẽ nhằm tác động trực tiếp và hạn chế ý định vi phạm pháp luật của NLĐ muốn trục lợi
Như vậy, NLĐ có việc làm vẫn hưởng chế độ BHTN để trục lợi sẽ bị phạt tiền, bị buộc trả lại số tiền trợ cấp đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm và không được bảo lưu thời gian đã đóng BHTN
2.1.1.2 Chống trục lợi bằng biện pháp buộc người lao động nhận việc mới phù hợp
Tại điểm đ, khoản 1, điều 21 Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 quy
định “NLĐ sẽ bị chấm dứt hưởng TCTN sau 02 lần từ chối việc làm do Trung tâm
DVVL nơi đang hưởng TCTN giới thiệu mà không có lý do chính đáng Người lao động đang hưởng TCTN từ chối việc làm thuộc một trong hai trường hợp sau, được xác định là không có lý do chính đáng: (1) Việc làm phù hợp với ngành nghề, trình
độ của NLĐ đã được đào tạo; (2) Việc làm mà NLĐ đó đã từng làm”
Như vậy, NLĐ sau lần thứ hai từ chối công việc phù hợp với ngành nghề của mình (hoặc công việc đã từng làm) do Trung tâm DVVL giới thiệu sẽ bị chấm dứt hưởng TCTN
2.1.1.3 Chống trục lợi bằng biện pháp buộc người lao động trình diện
Tại điểm e, khoản 1, điều 21 Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của
Chính phủ quy định “NLĐ sẽ bị chấm dứt hưởng TCTN khi trong thời gian hưởng
TCTN, có 03 tháng liên tục không thực hiện thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc làm với Trung tâm DVVL”