Do đó, việc đánh giá tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam là cần thiết.. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 1
NGUYỄN NGỌC THUẬN
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TẠI CÁC NGÂN HÀNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 2
NGUYỄN NGỌC THUẬN
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ CÁC TÀI SẢN
CÓ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS THÂN THỊ THU THỦY
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 3các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Thân Thị Thu Thủy
Các thông tin số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố dưới bất kỳ hình thức nào Các vấn đề tham khảo và tổng hợp từ những công trình nghiên cứu khác đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
TP HCM, ngày … tháng … năm 2019
Tác giả
Nguyễn Ngọc Thuận
Trang 4ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Thanh khoản ngân hàng là một trong những vấn đề quan trọng của ngành ngân hàng, là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động kinh doanh và tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng Do đó, việc đánh giá tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến
tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam là cần thiết Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp GMM với dữ liệu bảng được thu thập từ 27 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2018 Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ tài sản thanh khoản với tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng Việc nắm giữ quá nhiều các tài sản có tính thanh khoản đã làm giảm tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động kinh doanh và dịch vụ trên tổng thu nhập ngân hàng tác động tích cực đến tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Việc tăng cường các khoản thu nhập từ hoạt động kinh doanh và dịch vụ giúp cho các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam tăng lợi nhuận, tránh bị phụ thuộc quá nhiều vào các khoản thu nhập từ lãi cho vay vốn bị tác động mạnh bởi môi trường kinh
tế Tỷ lệ tài sản trên vốn sở hữu, lạm phát cũng tác động tích cực đến tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam Tỷ lệ thất nghiệp tác động ngược chiều với tỷ suất sinh lợi Khi môi trường kinh doanh thuận lợi, tăng trưởng kinh tế ổn định sẽ giúp các ngân hàng gia tăng lợi nhuận, một tỷ lệ lạm phát có thể dự đoán được sẽ giúp các ngân hàng linh hoạt hơn trong chính sách lãi suất, cho vay nhằm đạt được các mục tiêu lợi nhuận
Từ khóa: tài sản có tính thanh khoản, tỷ suất sinh lợi, ngân hàng thương mại, ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Trang 5profitability Bank liquidity, which is one of the important issues of the banking sector, is important factor in ensuring business activities and the rate of profit in the bank Therefore, assessing the impact of holding assets with liquidity to return ratio in the Vietnam Joint Stock Commercial Banks is necessary The research using GMM method with panel data collected from 27 Vietnam Joint Stock Commercial Banks in the period 2008-2018 The study results showed that negative relationship between the proportion liquid assets with rate of profit in the bank The holding too many liquid assets has decreased rate of profit in the bank The ratio of income from operations and non-interest services to total banking income positive impact to return ratio at banks The enhancement of external interest income help Vietnam Joint Stock Commercial Banks increase profits, avoid too much dependent on interest income is strongly affected by the economic environment The unemployment rate in the opposite impact to profitability Leverage ratio and inflation also impact positively in the rate of profit Vietnam Joint Stock Commercial Banks As the business environment favorable, the economic growth stability will help banks increase profits, a rate of inflation which can be predicted will help banks more flexibility in interest rate policy, lending in order to achieve the profit target
Key word: liquid asset, return ratio, Commercial Banks, Vietnam Joint Stock Commercial Banks
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
TÓM TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG 2
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 3
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1: Lý do chọn đề tài 1
1.2: Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3: Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4: Câu hỏi nghiên cứu 3
1.5: Phương pháp nghiên cứu 3
1.6: Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 3
1.7: Kết cấu luận văn 3
Kết luận chương 1 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
2.1: Tài sản có tính thanh khoản tại ngân hàng thương mại 5
2.1.1: Thanh khoản 5
2.1.2: Tài sản có tính thanh khoản 8
2.2 Tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng thương mại 11
2.2.1 Khái niệm 11
2.2.2: Các chỉ tiêu đo lường tỷ suất sinh lợi 12
2.3: Tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng thương mại 14
Trang 72.4.2: Nghiên cứu của Antonina Davydenko (2010) 16
2.4.3: Nghiên cứu của Mahshid Shahchera (2012) 17
2.4.4: Nghiên cứu của Ictor Curtis Lartey, Samuel Antwi, và Eric Kofi Boadi (2013).18 2.4.5: Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nga (2013) 18
Kết luận chương 2 19
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN VÀ TỶ SUẤT SINH LỢI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 20
3.1: Giới thiệu các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 20
3.2: Thực trạng tài sản có tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 21
3.3: Thực trạng tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 23 3.3.1: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA 23
3.3.1.2: Thực trạng lợi nhuận sau thuế tại các NHTM CP Việt Nam 25
3.3.1.3: Thực trạng tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản 26
3.3.2: Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu ROE 28
3.3.2.1: Thực trạng vốn chủ sở hữu tại các NHTM CP Việt Nam 28
3.3.2.2: Thực trạng tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu ROE 30
3.4: Thực trạng tài sản có tính thanh khoản và tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 32
3.4.1: Tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản.32 3.4.2: Tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu 33
Kết luận chương 3 34
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 35
4.1: Mô hình nghiên cứu và các giả thiết 35
Trang 84.3: Phương pháp nghiên cứu 40
4.4.2 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 43
4.4.3 Kết quả ước lượng GMM 44
4.4.4 Kết quả nghiên cứu 47
4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 49
Kết luận chương 4 51
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH ĐẢM BẢO THANH KHOẢN NHẰM NÂNG CAO TỶ SUẤT SINH LỢI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Hàm ý chính sách đảm bảo thanh khoản nhằm nâng cao tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 53
5.2.1 Cân nhắc tỷ lệ nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản 53
5.2.2 Tăng cường việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao kết hợp việc tăng cường phát triển các khoản thu nhập ngoài lãi 54
5.2.3 Linh hoạt điều chỉnh việc nắm giữ tài sản thanh khoản với tốc độ tăng trưởng GDP 55
5.3 Hàm ý chính sách nhằm nâng cao tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 55
5.4 Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo 56
Kết luận chương 5 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTM CP: Ngân hàng thương mại cổ phần
ROA: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
ROE: Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
VIF: Variance Inflation Factor – Nhân tử phóng đại phương sai
Trang 10Nam giai đoạn 2008 – 2018 22
Bảng 3.2: Tỷ lệ ROA tại các NHTM CP Việt Nam giai đoạn 2008 - 2018 26
Bảng 3.3: Tỷ lệ ROE tại các NHTM CP Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018 30
Bảng 4.1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 39
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 41
Bảng 4.3: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 43
Bảng 4.4: Kết quả ước lượng GMM với ROA 44
Bảng 4.5: Kết quả ước lượng GMM với ROE 456
Trang 11Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018 23 Biểu đồ 3.2: Thực trạng tổng tài sản tại các NHTM CP Việt Nam giai đoạn 2008 –
2018 24 Biểu đồ 3.3: Thực trạng lợi nhuận sau thuế tại các NHTM CP Việt Nam giai đoạn
2008 – 2018 25 Biểu đồ 3.4: ROA tại các NHTM CP Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018 28 Biểu đồ 3.5: Thực trạng vốn chủ sở hữu tại các NHTM CP Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018 29 Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ ROE tại các NHTM CP Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018 31 Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản và ROA tại các NHTM CP Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018 32 Biểu đồ 3.8: Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản và ROE tại các NHTM CP Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018 33
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1: Lý do chọn đề tài
Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ cuối năm 2007 và kéo theo đó là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2010 đã nhấn chìm toàn bộ nền kinh tế Mỹ cũng như hệ thống tài chính toàn cầu với sự sụp đổ của hàng loạt hệ thống ngân hàng, các tổ chức tài chính Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS 2004) đã chỉ ra rằng nguyên nhân gốc rễ của cuộc khủng hoảng đó chính là vấn đề thanh khoản Trên thế giới, rất nhiều ngân hàng phải tuyên bố phá sản hoặc bị mua lại, sáp nhập với các ngân hàng khác do không đáp ứng được nhu cầu thanh khoản Trong quá khứ, một số ngân hàng Việt Nam đã gặp phải tình trạng căng thẳng thanh khoản
và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh cũng như uy tín của ngân hàng Ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt là ngân hàng luôn đảm bảo được nguồn vốn khả dụng với chi phí hợp l để đáp ứng các nhu cầu thanh toán tức thời Việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản sẽ giúp các NHTM đứng vững trước các cú sốc thanh khoản của nền kinh tế Tuy nhiên việc nắm giữ quá nhiều các tài sản có tính thanh khoản sẽ khiến các ngân hàng mất đi các cơ hội đầu tư, kinh doanh, dẫn đến nguy cơ suy giảm khả năng sinh lợi Do đó vấn đề đặt ra là làm thế nào để đảm bảo khả năng thanh khoản mà vẫn đạt được tỷ suất sinh lợi mong muốn của ngân hàng
Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới được tiến hành để xem xét tác động của thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng Trong đó, các nghiên cứu của Mahshid Shahchera (2012) tại các ngân hàng thương mại của Iran và Rizwan Ali Khan& Mutahhar Ali (2016) tại các ngân hàng thương mại của Pakistan, Nghiên cứu của Ictor Curtis Lartey, Samuel Antwi, và Eric Kofi Boadi (2013) tại các ngân hàng thương mại của Ghana cho thấy mối tương quan cùng chiều giữa thanh khoản
và tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Các nhà nghiên cứu khác lại nhận thấy nắm giữ tài sản thanh khoản sẽ áp đặt một chi phí cơ hội vào các ngân hàng cho việc nắm giữ tài sản sinh lời thấp, do đó có tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi Nghiên cứu của Molyneux và Thornton (1992), Goddard và cộng sự (2004) tìm
Trang 13thấy bằng chứng của mối quan hệ tiêu cực giữa tài sản thanh khoản và tỷ suất sinh lợi cho các ngân hàng châu Âu trong giai đoạn cuối năm 1980 và giữa năm
1990 Theo nghiên cứu của Eichengreen và Gibson (2001), càng ít tài sản thanh khoản, các ngân hàng có thể mong đợi mức sinh lời cao hơn Nghiên cứu của Étienne Bordeleau và Christopher Graham (2010) tại 55 ngân hàng của Mỹ và
10 ngân hàng của Canada cho thấy mối tương quan phi tuyến tính giữa thanh khoản
và tỷ suất sinh lợi Việc nắm giữ nhiều tài sản có tính thanh khoản sẽ làm tăng lợi nhuận, tuy nhiên, sẽ tồn tại một điểm giới hạn mà tại đó nếu ngân hàng nắm giữ thêm các tài sản có tính thanh khoản sẽ làm suy giảm lợi nhuận
Qua lược khảo các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy các nghiên cứu ở các không gian nghiên cứu và thời gian nghiên cứu khác nhau sẽ cho các kết quả khác nhau về tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng thương mại Xuất phát từ vấn đề trên, tác giả chọn đề tài “Tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam" để làm luận văn tốt nghiệp
1.2: Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
1.3 : Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các tài sản có tính thanh khoản, tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Nghiên cứu tiến hành trên 27 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Các ngân hàng không thể đáp ứng đầy đủ điều kiện về dữ
Trang 14liệu trong giai đoạn nghiên cứu 2008- 2018 đã được lọc bỏ, các ngân hàng còn lại đều là các ngân hàng đáp ứng đầy đủ dữ liệu phù hợp với bài nghiên cứu + Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong khoảng thời gian
từ năm 2008 – 2018
1.4: Câu hỏi nghiên cứu
- Tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam theo chiều hướng như thế nào?
- Cần có các chính sách như thế nào để đảm bảo thanh khoản nhằm nâng cao
tỷ suất sinh lợi tại các NHTM CP Việt Nam
1.5: Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu dạng bảng GMM (Generalized Method of Moments) để phân tích tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các NHTM CP Việt Nam Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 27 NHTM CP Việt Nam trong thời gian từ năm 2008 – 2018 Dữ liệu về các biến được thu thập thứ cấp từ báo cáo tài chính có kiểm toán của các ngân hàng, các dữ liệu về các yếu tố vĩ mô được thu thập từ Tổng cục thống kê Việt Nam Các dữ liệu được tính toán trước khi đưa vào
mô hình và được xử l với phần mềm Eview để đưa ra kết luận về tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các NHTM CP Việt Nam
1.6: Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Bài nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá tác động của của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các NHTM CP Việt Nam Qua
đó, giúp các nhà điều hành chính sách và các ngân hàng thấy được tầm quan trọng của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản Thông qua kết quả nghiên cứu, bài viết hàm các chính sách đảm bảo thanh khoản nhằm nâng cao tỷ suất sinh lợi tại các NHTM CP Việt Nam
1.7: Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn gồm 5 chương:
Trang 15Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng thương mại
Chương 3: Thực trạng của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản và tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thượng mại cổ phần Việt Nam
Chương 4: Mô hình, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách đảm bảo thanh khoản nhằm nâng cao tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Kết luận chương 1
Trong chương 1, tác giả đã trình bày những thông tin cơ bản về đề tài nghiên cứu, lý
do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn Cuối cùng tác giả trình bày nghĩa của đề tài nghiên cứu và kết cấu của luận văn Chương 1 giúp người đọc hiểu điều khái quát về đề tài nghiên cứu và dễ dàng tìm hiểu nội dung ở những chương sau
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1: Tài sản có tính thanh khoản tại ngân hàng thương mại
2.1.1: Thanh khoản
2.1.1.1: Khái niệm
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thanh khoản Ủy Ban Basel về giám sát ngân hàng định nghĩa: “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng đáp ứng nguồn vốn của ngân hàng để tài trợ tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn
mà không bị thiệt hại quá mức” (Basel, 2008)
“Thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng
để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh Một nguồn vốn được coi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh Một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh” (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 232)
Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi tài sản đó thành tiền mặt thấp và thời gian chuyển đổi nhanh Tương tự, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động vốn thấp cùng với thời gian huy động nhanh Do
đó, dựa trên cách tiếp cận cả về tài sản và nguồn vốn “Thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp l để phục vụ nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng” (Trương Quang Thông, 2010)
Việc đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau Trong ngắn hạn: khả năng thanh khoản là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán tức thời tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán liên quan đến khả năng sinh lời và đảm bảo thanh khoản Trong dài hạn: khả năng thanh khoản là khả năng huy động đủ nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý nhằm đáp ứng cho việc gia tăng tài sản (thanh khoản theo cấu trúc, hiện rất được các ngân hàng chú trọng) Như vậy, thanh khoản thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn
Trang 17như đáp ứng nhu cầu rút tiền, cho vay các khoản vay, thực hiện các nhu cầu thanh toán, giao dịch vốn để phục vụ hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại từng thời điểm
Tính thanh khoản khác với khả năng thanh toán của NHTM ở tính chất thời điểm Ngân hàng vẫn còn khả năng thanh toán trong điều kiện có vốn để trang trải các khoản chi phí, nhưng nếu không có khả năng thanh toán các khoản nợ vào thời điểm đến hạn thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản Như vậy, ngân hàng có thể mất khả năng thanh khoản trong khi vẫn có khả năng thanh toán
2.1.1.2: Cung thanh khoản, cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản
Theo Trần Huy Hoàng (2011), các ngân hàng thương mại thường đo lường trạng thái thanh khoản thông qua trạng thái thanh khoản ròng NLP (Net liquidity position)
Theo đó: NPL = Tổng cung thanh khoản - Tổng cầu thanh khoản
Trong đó, Cung thanh khoản là khả năng cung ứng tiền của một ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng Nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm: các khoản tiền gửi sẽ nhận được, thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ, các khoản tín dụng sẽ thu về, bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng, vay mượn từ thị trường tiền tệ và phát hành các giấy tờ có giá Cầu về thanh khoản là nhu cầu thanh toán của khách hàng mà ngân hàng có nghĩa vụ đáp ứng Cầu thanh khoản bao gồm nhu cầu rút tiền và nhu cầu vay tiền của khách hàng Nhu cầu rút tiền gắn liền với tiền huy động được và nhu cầu vay tiền gắn liến với việc tạo ra các sản phẩm mới” Nhu cầu về thanh khoản của ngân hàng bao gồm: Nhu cầu rút tiền của khách hàng đối với các khoản tiền gửi, nhu cầu vay vốn của khách hàng, các khoản lãi phải trả cho các khoản tiền gửi, các khoản vay đáp ứng cho các khoản phải trả khác, các khoản chi phí phục vụ cho việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng, việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông Xét
về yếu tố thời gian, nhu cầu thanh khoản của ngân hàng không chỉ trong ngắn hạn
mà còn trong dài hạn Nhu cầu thanh khoản ngắn hạn mang tính chất tức thời đó là các khoản tiền gửi không kỳ hạn, các khoản tiền gửi tiết kiệm đến hạn Để đáp ứng
Trang 18cho các nhu cầu thanh khoản ngắn hạn, các ngân hàng cần phải dự trữ các tài sản
có tính thanh khoản cao như tiền mặt tại quỹ, các khoản tiền gửi tại NHNN và tiền gửi tại các định chế tài chính khác, trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc,… Nhu cầu thanh khoản dài hạn là các nhu cầu mang tính chất chu kỳ, mùa vụ như nhu cầu rút tiền vào các ngày cận kề với các ngày lễ hội trong năm, nhu cầu vay vốn vào các dịp cuối năm của các cá nhân Để đáp ứng các nhu cầu thanh khoản dài hạn, các ngân hàng cần phải dự phòng khả năng cung cấp vốn từ các nguồn cung khác nhau như lên kế hoạch thu hút tiền gửi và huy động vốn trong dài hạn bằng các thỏa thuận vay vốn từ công chúng và các tổ chức
Trong trường hợp cầu thanh khoản vượt quá cung thanh khoản, ngân hàng sẽ gặp phải trạng thái thiếu hụt thanh khoản Khi đó, để vượt qua tình trạng thiếu hụt thanh khoản, ngân hàng phải xác định bổ sung nguồn cung thanh khoản từ nguồn nào và với chi phí bao nhiêu Ngược lại, nếu cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản, khi đó ngân hàng ở trạng thái dư thừa thanh khoản, các ngân hàng đang nắm giữ quá nhiều tài sản không sinh lời hoặc sinh lời thấp, ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng Khi NLP = 0, ngân hàng đạt được trạng thái thanh khoản cân bằng Tuy nhiên, trạng thái cân bằng về thanh khoản trên thực tế rất khó xảy ra bởi việc dự đoán chính xác tuyệt đối sự biến động về cung thanh khoản và cầu thanh khoản là rất khó
2.1.1.3: Vai trò của thanh khoản đối với ngân hàng thương mại
Khả năng thanh khoản thể hiện khả năng đáp ứng các nguồn vốn nhằm phục
vụ cho việc thanh toán các nghĩa vụ đến hạn cũng như sự gia tăng tài sản có là điều cực kỳ quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng Vì vậy, việc quản
lý thanh khoản là một trong những hoạt động cần thiết và quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại Khả năng quản lý thanh khoản tốt sẽ giúp các ngân hàng giảm xác suất xảy ra những tổn thất do thiếu hụt thanh khoản, đáp ứng được các nhu cầu vốn để gia tăng các tài sản giúp các ngân hàng tận dụng được các cơ hội kinh doanh qua đó gia tăng lợi nhuận Việc suy giảm hoặc mất khả năng thanh khoản của một ngân hàng không chỉ tác động đến chính hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trang 19đó mà còn có thể tác động đến toàn hệ thống ngân hàng Vì vậy, việc quản lý thanh khoản đòi hỏi các nhà quản lý của ngân hàng không chỉ đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng một cách thường xuyên, đầy đủ mà còn phải xem xét các nhu cầu cấp vốn, các diễn biến của thanh khoản trong nhiều tình huống khác nhau bao gồm các điều kiện bất lợi để có biện pháp ứng phó kịp thời Ngân hàng luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn bởi ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn với lãi suất thấp và dùng số tiền đó để cho vay với kỳ hạn dài hơn với mức lãi suất cao hơn Do đó, cần phải có thanh khoản để đáp ứng các nhu cầu cho vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản vay trong hạn hay phải thanh lý các tài sản, các khoản đầu tư có kỳ hạn bởi việc phải thanh lý các tài sản hoặc các khoản đầu tư có
kỳ hạn trước hạn sẽ tốn chi phí và giảm tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Ngoài ra, cần phải có thanh khoản để đáp ứng tất cả các nhu cầu rút tiền hàng ngày hoặc theo mùa vụ một cách kịp thời và trật tự, ổn định
2.1.2: Tài sản có tính thanh khoản
2.1.2.1: Tính thanh khoản của tài sản
Tính thanh khoản của tài sản là khả năng chuyển đổi thành tiền được đo lường bằng thời gian và chi phí Tài sản có tính thanh khoản cao là các tài sản có chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời gian chuyển đổi nhanh Tính thanh khoản của tài sản phản ánh rủi ro khi chuyển đổi thành tiền trong một khoảng thời gian nhất định Tính thanh khoản của một tài sản phụ thuộc vào nhiều nhân tố và có thể thay đổi giữa các vùng, các nước
Tài sản được xem là có tính thanh khoản cao khi có các đặc điểm sau:
- Phổ biến trên thị trường, khả năng chuyển hóa thành tiền một cách nhanh chóng
Trang 202.1.2.2: Các tài sản có tính thanh khoản
- Tài sản ngân quỹ
Là những loại tài sản không sinh lợi được nắm giữ chủ yếu nhằm mục đích đảm bảo dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước, đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả cho người gửi tiền, thanh toán bù trừ và đáp ứng được nhu cầu vốn khả dụng của ngân hàng
Tiền mặt tại quỹ: là số tiền mặt mà các ngân hàng nắm giữ tại quỹ để đáp ứng các nhu cầu giao dịch mang tính chất thường xuyên, hàng ngày của mình Trong trường hợp, số tiền mặt tại quỹ nhiều hơn so với nhu cầu giao dịch của mình, ngân hàng sẽ đem gửi số tiền đó vào NHNN hoặc ngân hàng đại l Ngược lại, trong trường hợp nhu cầu giao dịch vượt quá số tiền mặt tại quỹ, ngân hàng sẽ phải rút tiền mặt từ NHNN hoặc ngân hàng đại lý về để đáp ứng các nhu cầu giao dịch của mình
Tiền gửi của ngân hàng tại NHNN: là số dư tiền gửi của ngân hàng tại NHNN Tài khoản này là tài khoản dự trữ cơ bản của các ngân hàng và các ngân hàng bắt buộc phải duy trì tài khoản này Tài khoản này sẽ được ghi nợ hoặc ghi có sau khi thanh toán bù trừ séc và chuyển tiền điện tử Số dư tài khoản tăng lên nếu ngân hàng gửi thêm tiền mặt, nhận các khoản tiền thanh toán trái phiếu và tín phiếu kho bạc đến hạn, mua số dự trữ dư thừa của các ngân hàng khác thể hiện trên số dư tài khoản tiền gửi tại NHNN, vay NHNN Số dư tài khoản sẽ giảm đi khi các ngân hàng rút tiền mặt, thanh toán mua trái phiếu, tín phiếu kho bạc, trả nợ NHNN hoặc cho các ngân hàng khác vay số dự trữ nhàn rỗi của mình
Tiền gửi của ngân hàng tại các NHTM khác: bao gồm toàn bộ số dư tiền gửi của ngân hàng tại các NHTM khác Các ngân hàng không bắt buộc phải duy trì một
số dư tiền gửi nhất định tại các NHTM khác, số tiền này không được tính vào tổng
số tiền dự trữ bắt buộc của ngân hàng Để bù lại, ngân hàng nhận gửi sẽ cung cấp cho các ngân hàng gửi tiền nhiều loại hình thức dịch vụ khác nhau như hợp vốn cho vay, giao dịch quốc tế và tư vấn đầu tư
Trang 21Tiền mặt đang trong quá trình nhờ thu: Là giá trị các séc mà ngân hàng đã nộp vào NHNN hoặc tại ngân hàng chủ trì trong hệ thống thanh toán bù trừ nhưng chưa được thanh toán (chưa được ghi Có) Khoản mục này nhiều hay ít phụ thuộc vào giá trị các tờ séc và thời gian cần thiết để thanh toán các séc đó
- Tài sản chứng khoán
Ngoài ngân quỹ, chứng khoán cũng là tài sản có tính thanh khoản cao của NHTM Việc sở hữu chứng khoản giúp ngân hàng đa dạng hóa tài sản và tìm kiếm lợi nhuận Không giống như tài sản ngân quỹ, các ngân hàng thu được nguồn lợi nhuận đáng kể khi nắm giữ chứng khoán từ lợi tức được chi trả cho chứng khoán, hoạt động mua bán chênh lệch giá Trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc,… là các loại chứng khoán có tính thanh khoản cao và dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết để đáp ứng cho các nhu cầu thanh toán
- Chứng khoán trên thị trường tiền tệ
Chứng khoán trên thị trường tiền tệ được xem là một trong những tài sản có tính thanh khoản cao của ngân hàng
Hợp đồng mua lại (Repo) và mua lại đảo ngược (Reverse repo) được sử dụng phổ biến trên thị trường tiền tệ, có bản chất là giao dịch đi vay và cho vay có kỳ hạn Trong thị trường tiền tệ, các thành viên sở hữu chứng khoán tại một thời điểm nhất định có thể bán lượng chứng khoán đang sở hữu cho thành viên khác để đáp ứng cho các nhu cầu thanh khoản và cam kết mua lại lượng chứng khoán với mức giá cao hơn so với mức giá đã bán ban đầu sau một khoảng thời gian nhất định Trong hợp đồng repo chuẩn, các khoản lãi từ chứng khoán trong suốt kỳ hạn của hợp đồng vẫn thuộc sở hữu của người bán Người bán chứng khoán cam kết sẽ mua lại số chứng khoán đã bán, đây là hợp đồng mua lại Người mua chứng khoán sau đó sẽ bán lại lượng chứng khoán đã mua, đây gọi là hợp đồng mua lại đảo ngược Các giao dịch mua bán chứng khoán giữa NHNN với các thành viên trên thị trường và giữa các thành viên trong thị trường với nhau được gọi chung là giao dịch repo
Trên thế giới, các giao dịch repo được sử dụng gần như thay thế cho các khoản vay của NHTM tại NHNN Các thành viên trên thị trường tiền tệ sử dụng các
Trang 22hợp đồng repo trong quan hệ vay mượn nhau Ở Việt Nam, các hợp đồng mua lại và mua lại đảo ngược bắt đầu được NHNN Việt Nam sử dụng như một trong các công
cụ điều hành chính sách tiền tệ (nghiệp vụ thị trường mở) từ tháng 7 năm 2000 Đến nay, công cụ này ngày càng phát triển và phát huy vai trò là một công cụ chủ yếu nhằm điều tiết tiền tệ của các tổ chức tín dụng
2.1.2.3: Các chỉ tiêu đo lường tài sản có tính thanh khoản
- Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản - hệ số tài sản lỏng (Liquid assets to total assets: liquid asset ratio):
Tỷ số này đo lường mức thanh khoản tài sản của tổ chức nhận tiền gửi Nó cung cấp thông tin về khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt dự tính và bất thường của khách hàng gửi tại tổ chức nhận tiền gửi Mức độ thanh khoản càng cao cho thấy khả năng đối phó của tổ chức nhận tiền gửi trước những cú sốc càng lớn và ngược lại
Công thức tính như sau:
Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản = Tài sản có tính thanh khoản Tổng tài sản
- Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên nguồn vốn ngắn hạn (Liquid assets to shortterm liabilities):
Tỷ số này đo lường mức thanh khoản của tài sản so với nguồn vốn ngắn hạn
và dùng để đánh giá khả năng cân đối giữa tài sản và nợ Đồng thời, chỉ tiêu này cũng cho biết khả năng đáp ứng việc rút vốn ngắn hạn của khách hàng mà không ảnh hưởng đến thanh khoản của tổ chức nhận tiền gửi
Công thức tính như sau:
Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên nguồn vốn ngắn hạn = Tài sản có tính thanh khoản Nguồn vốn ngắn hạn
2.2 Tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng thương mại
2.2.1 Khái niệm
“Khả năng sinh lợi của một ngân hàng là kết quả sử dụng các tài sản vật chất
và tài sản tài chính mà ngân hàng nắm giữ, khả năng sinh lợi cần ít nhất đủ để đáp ứng được đòi hỏi là đảm bảo duy trì vốn cho ngân hàng hoạt động và phát triển”
Trang 23(Rose, 1999) Tỷ suất sinh lợi của NHTM là một tỷ số phản ánh khả năng sinh lợi trên một đơn vị tài sản, vốn chủ sở hữu… mà NHTM đạt được Tỷ suất sinh lợi lớn hơn 0, khi đó ngân hàng hoạt động kinh doanh có lãi và ngược lại tỷ suất sinh lợi nhỏ hơn 0 thể hiện ngân hàng làm ăn thua lỗ Tỷ suất sinh lợi cao cho thấy khả năng sinh lợi cao, đây là mục tiêu mà các ngân hàng quan tâm hơn hết vì thu nhập cao
có thể giúp các ngân hàng bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị trường
Tỷ suất sinh lợi còn được xem là một trong những tiêu chí dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động bên cạnh các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động ngân hàng
Tỷ suất sinh lợi của ngân hàng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động của một ngân hàng Tỷ suất sinh lợi là thước đo hiệu quả bằng tiền, đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng Tỷ suất sinh lợi được
đo lường thông qua các tỷ số về tỷ suất sinh lợi
2.2.2: Các chỉ tiêu đo lường tỷ suất sinh lợi
Có nhiều chỉ tiêu khác nhau để đo lường tỷ suất sinh lợi nhưng khi đề cập đến tỷ suất sinh lợi của một ngân hàng, các chỉ tiêu sau thường được sử dụng: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, Về cơ bản, các chỉ tiêu này càng cao càng cho thấy hiệu quả hoạt động của ngân hàng càng cao và ngược lại Mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng được sử dụng trong từng trường hợp khác nhau và phản ánh những nghĩa đặc trưng riêng
2.2.2.1 : Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (Return On total Assets – ROA)
ROA đo lường hiệu quả sử dụng tài sản, cho thấy một đồng vốn tài sản bỏ
ra đem về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho ngân hàng
Công thức tính ROA như sau:
ROA = Thu nhập sau thuế Tổng tài sản ROA là thước đo hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng vì mọi tài sản đều
là những khoản đầu tư ROA đánh giá khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng hay lợi nhuận của ngân hàng Một mức ROA thấp phản ánh
Trang 24chính sách đầu tư , cho vay kém hiệu quả hoặc chi phí hoạt động kinh doanh của ngân hàng quá cao Ngược lại, mức ROA cao phản ánh ngân hàng sử dụng một cơ cấu tài sản hợp l , chính sách kinh doanh và đầu tư tài sản hiệu quả
Bên cạnh cách tính chỉ số ROA như trên, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản bình quân – ROAA (Return On Average Asset) được sử dụng để phản ánh chính xác hơn tỷ suất sinh lợi của tài sản ngân hàng trong một thời kỳ, cung cấp một mô tả chính xác hơn về lợi nhuận của ngân hàng nếu tổng tài sản của ngân hàng thay đổi đáng kể trong một năm tài chính
Công thức tính ROAA như sau:
ROAA = Tổng tài sản bình quân Thu nhập sau thuếTrong đó: Tổng tài sản bình quân trong kỳ = (Tổng tài sản đầu kỳ + Tổng tài sản cuối kỳ)/2
2.2.2.2 : Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity – ROE)
ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông
Công thức tính ROE như sau:
ROE = Thu nhập sau thuế Vốn chủ sở hữu
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là ngân hàng
đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Chỉ số ROE cao và ổn định phản ánh việc quản lý sinh lời và hiệu quả Tuy nhiên nếu ROE quá cao so với ROA, chứng tỏ vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, vốn kinh doanh chủ yếu là nguồn vốn huy động và như vậy có thể ảnh hưởng tới mức độ lành mạnh trong kinh doanh ngân hàng
Bên cạnh việc tính chỉ số ROE như trên, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu bình quân ROAE được sử dụng để phản ánh chính xác hơn tỷ suất sinh lợi trên vốn
Trang 25chủ sở hữu của ngân hàng trong từng thời kỳ Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROAE) có thể cung cấp một mô tả chính xác hơn về lợi nhuận của ngân hàng, đặc biệt là nếu giá trị vốn chủ sở hữu của các cổ đông đã thay đổi đáng kể trong một năm tài chính
Công thức tính ROAE như sau:
ROAE = Vốn chủ sở hữu bình quân Thu nhập sau thuếTrong đó: Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ = (Vốn chủ sở hữu đầu kỳ + Vốn chủ sở hữu cuối kỳ)/2
2.3: Tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng thương mại
Mối quan hệ giữa việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản và tỷ suất sinh lợi tại các NHTM là vấn đề mà rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm Tài sản thanh khoản đại diện cho khả năng thanh khoản của ngân hàng Việc quản lý các tài sản thanh khoản là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của quản lý tài chính Nếu ngân hàng không cân đối được tỷ lệ nắm giữ các tài sản thanh khoản nó sẽ trở thành chi phí cho ngân hàng
Theo Chandra (2001, p.72), thông thường một tỷ lệ tài sản thanh khoản cao được xem là một dấu hiệu của sức mạnh tài chính Tuy nhiên theo một số tác giả khác như Assaf Neto (2003, p.22), thanh khoản cao không phải là trạng thái
mà các ngân hàng thực sự mong muốn bởi tài sản có tính thanh khoản thường là cáctài sản mang lại ít lợi nhuận, nó đại diện cho chi phí cơ hội bởi việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao các ngân hàng phải bỏ qua các cơ hội nắm giữ các tài sản có khả năng mang lại lợi nhuận cao hơn
Tuy nhiên, Arnold (2008, p.537) nắm giữ tiền mặt cũng có các lợi thế nhất định như: đáp ứng khả năng thanh toán cho các chi phí hàng ngày, chẳng hạn như tiền lương, nguyên vật liệu và các loại thuế Ngoài ra, do thực tế dòng tiền tương lai không chắc chắn, nắm giữ tiền mặt mang lại giới hạn an toàn đối trong các cuộc suy
Trang 26thoái Việc sở hữu tiền mặt đảm bảo thực hiện các khoản đầu tư có lợi nhuận cao
mà nhu cầu thanh toán ngay lập tức
Do đó, một nhiệm vụ quan trọng đối với người quản lý tài chính là phải đạt được sự cân bằng thích hợp giữa khả năng thanh khoản và lợi nhuận cho các ngân hàng Như vậy, theo Perobeli, Pereira và David (2007, trang 3) quyết định về mức
độ thanh khoản cần phải dựa vào nguyên tắc sau đây:
- Tài sản thanh khoản càng lớn thì lợi nhuận càng giảm (nhưng cũng làm giảm rủi
ro thanh toán)
- Tài sản thanh khoản thấp làm tăng lợi nhuận của ngân hàng nhưng cũng làm tăng rủi ro thanh khoản cho ngân hàng bởi việc đánh đổi giữa việc sở hữu nguồn vốn dài hạn với tài sản thanh khoản
Ngoài ra, theo lý thuyết kinh tế, rủi ro và lợi nhuận có mối quan hệ tích cực (rủi ro càng lớn thì lợi nhuận càng cao) Vì vậy khi thanh khoản cao hơn có nghĩa
là ít rủi ro hơn, và cũng có nghĩa là lợi nhuận thấp hơn
Theo Assaf Neto (2003, trang 22), đầu tư vào tài sản thanh khoản càng nhiều thì lợi nhuận càng thấp, đồng thời chiến lược quản lý thanh khoản cũng ít rủi ro hơn Trong trường hợp này, lợi nhuận thấp hơn so với việc đầu tư ít vào tài sản thanh khoản Ngược lại, với tài sản thanh khoản ít, ngân hàng chấp nhận mất
an toàn và tăng nguy cơ phá sản thì lợi nhuận mang về lớn hơn vì ngân hàng hạn chế khối lượng vốn gắn với tản sản ít sinh lời của ngân hàng Vì vậy
mà bất cứ sự thay đổi nào của thanh khoản cũng mang lại những tác động đối lập với khả năng sinh lời của ngân hàng Bằng cách này, mỗi ngân hàng nên chọn một lượng tài sản thanh khoản phù hợp hơn với khả năng tiếp nhận rủi ro và lợi nhuận của mình Như vậy, có mối quan hệ giữa tài sản thanh khoản và lợi nhuận, các mối quan hệ này đã được thử nghiệm và xác nhận bởi nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới
Trang 272.4: Tổng quan các nghiên cứu trước đây về tác động của của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại 2.4.1: Nghiên cứu của Étienne Bordeleau và Christopher Graham (2010)
Bài nghiên cứu “Tác động của thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng” sử dụng dữ liệu được thu thập từ 55 ngân hàng của Mỹ và 10 ngân hàng của Canada trong giai đoạn 1997-2009 Các biến độc lập được sử dụng là: tỷ lệ tài sản
có tính thanh khoản, tỷ lệ đòn bẩy tài chính, thu nhập từ hoạt động kinh doanh và đầu tư, tỷ lệ chứng khoán phái sinh, tỷ lệ vốn cấp 1 và các biến kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp Biến phụ thuộc lợi nhuận được đại diện bằng tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Kết quả nghiên cứu cho thấy có một quan hệ phi tuyến việc nắm giữ tài sản
có tính thanh khoản và tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng Việc nắm giữ nhiều tài sản có tính thanh khoản sẽ làm tăng lợi nhuận, tuy nhiên, sẽ tồn tại một điểm giới hạn mà tại đó nếu ngân hàng nắm giữ thêm các tài sản có tính thanh khoản sẽ làm suy giảm lợi nhuận Kết quả này phù hợp với ý kiến cho rằng thị trường vốn sẽ đánh giá cao việc nắm giữ thêm tài sản thanh khoản của các ngân hàng, nhưng có một điểm mà lợi nhuận sẽ thấp hơn chi phí cơ hội của việc nắm giữ tài sản có tính thanh khoản Tại thời điểm nền kinh tế xấu đi, thanh khoản của thị trường kém, mức độ tối đa hóa lợi nhuận của tài sản có tính thanh khoản tăng lên Ngân hàng nên nắm giữ tài sản
có tính thanh khoản trong thời điểm nền kinh tế suy yếu Tốc độ tăng trưởng của GDP có tác động tích cực đến lợi nhuận ngân hàng, trong khi tỷ lệ thất nghiệp và tỷ
lệ lạm phát gây tác động tiêu cực đến lợi nhuận
2.4.2: Nghiên cứu của Antonina Davydenko (2010)
Bài nghiên cứu “Các nhân tố quyết định tỷ suất sinh lợi tại các NHTM Ukraine” sử dụng dữ liệu thu thập cho các NHTM tại Ukraine trong giai đoạn 2005 – 2009 Biến phụ thuộc được sử dụng là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA và
tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu ROE đại diện cho lợi nhuận ngân hàng Các biến độc lập được sử dụng bao gồm hai nhóm nhân tố: nhân tố nội tại của các ngân
Trang 28hàng và nhóm các yếu tố vĩ mô Để thể hiện tác động của các yếu tố đặc điểm ngân hàng, các biến độc lập: tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ xấu trên tổng các khoản cho vay, chi phí quản lý trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền mặt và các khoản tương đương tiền trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản được sử dụng Ngoài ra, để thể hiện về tác động đặc trưng của ngành, nghiên cứu sử dụng tỷ lệ tổng tài sản của nhóm 10 ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất trên tổng tổng tài sản của toàn hệ thống Nhóm các nhân tố vĩ mô gồm: Biến GDP, chỉ số giá tiêu dùng, tỷ giá hối đoái giữa đồng Hryvna của Ukraine và đô la Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy, biến đại diện cho tính thanh khoản là tỷ lệ tiền mặt và các khoản tương đương tiền có tác động ngược chiều đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Tuy nhiên, khi cho tương tác với biến giả sở hữu nước ngoài, biến thanh khoản lại thể hiện mối quan hệ tích cực với tỷ suất sinh lợi Điều này cho thấy các ngân hàng nước ngoài quản lý thanh khoản tốt hơn so với các ngân hàng trong nước
2.4.3: Nghiên cứu của Mahshid Shahchera (2012)
Bài nghiên cứu “Tác động của tài sản thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi của các NHTM tại Iran” đã phân tích tác động của tài sản thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các NHTM Iran trong giai đoạn 2002 - 2009 bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu dạng bảng không cân bằng phương pháp GMM
Kết quả nghiên cứu cho thấy có một mối quan hệ phi tuyến của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản và tỷ suất sinh lợi ngân hàng Tỷ suất sinh lợi sẽ tăng lên nếu ngân hàng nắm giữ nhiều tài sản có tính thanh khoản, tuy nhiên có một điểm mà tại đó nếu ngân hàng nắm giữ thêm tài sản có tính thanh khoản sẽ làm giảm tỷ suất sinh lợi Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản
và chu kỳ kinh doanh có tác động tích cực đến tỷ suất sinh lợi ngân hàng Hệ số
đo lường mức độ quản lý của nhà nước lại có tác động ngược chiều đến tỷ suất sinh lợi ngân hàng Các cơ quan quản l tăng cường việc giám sát hoạt động của các ngân hàng sẽ làm suy giảm lợi nhuận
Trang 292.4.4: Nghiên cứu của Ictor Curtis Lartey, Samuel Antwi, và Eric Kofi Boadi (2013)
Bài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa thanh khoản và tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng niêm yết Ghana” tìm hiểu mối quan hệ giữa thanh khoản và tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Ghana Nghiên cứu lấy số liệu từ bảy trong số chín ngân hàng niêm yết trong giai đoạn 2005 – 2010 Tác giả sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu và tiến hành hồi quy ROA theo tỷ suất đầu tư tạm thời (TIR: Temporary Invesment Ratio)
Kết quả nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ tích cực giữa các yếu tố thanh khoản và tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng các ngân hàng niêm yết ở Ghana
2.4.5: Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nga (2013)
Bài nghiên cứu “Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh ngân hàng: Nghiên cứu trường hợp các quốc gia Đông Nam Á” tìm
hiểu tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại 9 quốc gia Đông Nam Á bao gồm: Brunei, Cambodia, Indonesia, Lào, Myanma, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam trong giai đoạn 2004-
2016 Tác giả sử dụng phương pháp phương pháp ước lượng OLS (Ordinary Least Squares), REM (Random Effects Model), FEM (Fixed Effects Model), SGMM (System GMM) để phân tích các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản và tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng bao gồm: quy mô ngân hàng, chất lượng tài sản thanh khoản, vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng và thu nhập lãi thuần, và các yếu tố vĩ mô như lạm phát, cung tiền, tăng trưởng, khủng hoảng tài chính) Biến tài sản thanh khoản tác động ngược chiều đến rủi ro thanh khoản, các ngân hàng dự trữ cấu trúc tài sản thanh khoản càng cao rủi ro thanh khoản càng thấp Rủi ro thanh khoản có tác động cùng chiều với hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đông Nam Á và Việt Nam nhưng mức độ tác động khác nhau
Trang 30Kết luận chương 2
Chương 2 của luận văn đã trình bày cơ sở lý thuyết về tài sản có tính thanh khoản và tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng thương mại Qua đó đã cho thấy tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các NHTM Bên cạnh đó, đã lược khảo các nghiên cứu trước đây về tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các NHTM Các nội dung trên là cơ sở để phân tích tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại các NHTM CP Việt Nam
Trang 31CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN VÀ TỶ SUẤT SINH LỢI TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
3.1: Giới thiệu các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Ngân hàng là ngành có mối quan hệ chặt chẽ và gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Ngày 26/03/1988 với việc ban hành Nghị định số 53/HĐBT
về tổ chức bộ máy Ngân hàng Nhà nước Vịêt Nam, hệ thống ngân hàng Việt Nam được phân thành 2 cấp: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và ngân hàng thương mại Theo đó, bốn ngân hàng thương mại được thành lập trên cơ sở chuyển và tách ra từ Ngân hàng Nhà nước, gồm: Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nông nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Theo điều 4, Chương 1, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 của Quốc hội, được sửa đổi, bổ sung bởi: Luật số 17/2017/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các
tổ chức tín dụng Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận Dựa vào hình thức sở hữu, ngân hàng thương mại tại Việt Nam được phân chia thành: ngân hàng thương mại TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, ngân hàng liên doanh
Cùng với quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, ngành ngân hàng Việt Nam
đã có nhiều đổi mới, phát triển cả về số lượng và các loại hình dịch vụ Tính đến năm 2018, tại Việt Nam có 31 NHTM CP Với sự đa dạng về các loại hình ngân hàng, sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài, các dịch vụ do ngân
Trang 32hàng cung cấp,… đã khiến mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc các ngân hàng phải tái cấu trúc để tiếp tục phát triển
Vượt qua nhiều khó khăn thử thách, hệ thống ngân hàng nói chung và NHTM CP nói riêng được xem là phát triển không chỉ thể hiện ở quy mô, doanh số huy động và cho vay tăng lên, mở rộng thị phần; mà còn thể hiện ở năng lực quản trị rủi ro, quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm của ngân hàng Việc đẩy mạnh các biện pháp để xử lý hậu tái cấu trúc nhằm nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị rủi ro, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận với dịch vụ ngân hàng với giá cả và chi phí hợp l … là những vấn đề trọng yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay.
3.2: Thực trạng tài sản có tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Năm 2011 là năm các NHTM CP Việt Nam có tỷ lệ nắm giữ các tài sản thanh khoản cao nhất, trong đó Seabank là ngân hàng có tỷ lệ tài sản thanh khoản cao nhất lên đến 61.1%
Các ngân hàng TPB, Seabank, VCB, Nam Á Bank là các ngân hàng có tỷ lệ nắm giữ các tài sản có tính khoản cao và ổn định qua các năm trong suốt giai đoạn nghiên cứu, tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản của các ngân hàng này phần lớn luôn duy trì tỷ lệ tài sản thanh khoản trên 20% SCB, BIDV là ngân hàng có tỷ
lệ nắm giữ tài sản thanh khoản ở mức thấp, phần lớn tỷ lệ nắm giữ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản ở mức dưới 10%
Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản tại các NHTM CP Việt Nam có xu hướng tăng dần trong giai đoạn 2008 – 2011 Trong giai đoạn này, tỷ lệ nắm giữ tài sản thanh khoản của các ngân hàng phần lớn trên 20%
Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản trong giai đoạn 2012 đến năm 2018 có xu hướng giảm Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản của các ngân hàng phần lớn dưới 20%
Trang 33Bảng 3.1: Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản tại các NHTM CP
Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018
Đơn vị tính: %
2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 ABB 0,239 0,350 0,254 0,219 0,287 0,311 0,307 0,216 0,163 0,189 0,163 ACB 0,341 0,273 0,238 0,346 0,202 0,081 0,068 0,089 0,130 0,083 0,130 BID 0,190 0,169 0,193 0,172 0,162 0,121 0,134 0,123 0,143 0,138 0,143 CTG 0,140 0,131 0,161 0,177 0,145 0,151 0,142 0,111 0,145 0,126 0,145 EIB 0,361 0,245 0,306 0,403 0,429 0,363 0,277 0,102 0,184 0,139 0,184 HDB 0,257 0,342 0,293 0,262 0,172 0,165 0,211 0,162 0,206 0,158 0,206 KLB 0,172 0,230 0,182 0,291 0,199 0,190 0,181 0,107 0,184 0,183 0,184 LPB 0,406 0,240 0,172 0,382 0,283 0,233 0,115 0,073 0,080 0,148 0,080 MBB 0,385 0,386 0,337 0,356 0,287 0,197 0,198 0,190 0,187 0,208 0,187 MSB 0,506 0,416 0,277 0,271 0,315 0,249 0,194 0,148 0,238 0,127 0,238 NamABank 0,224 0,357 0,235 0,263 0,225 0,281 0,419 0,228 0,177 0,119 0,177 NVB 0,425 0,310 0,274 0,195 0,086 0,214 0,210 0,177 0,119 0,173 0,119 OCB 0,072 0,133 0,302 0,193 0,182 0,149 0,148 0,155 0,162 0,207 0,162 PGBank 0,371 0,250 0,125 0,135 0,156 0,290 0,266 0,147 0,082 0,090 0,082 Saigonbank 0,183 0,062 0,144 0,105 0,095 0,075 0,058 0,115 0,171 0,192 0,171 SCB 0,139 0,108 0,144 0,072 0,063 0,071 0,073 0,078 0,070 0,081 0,070 Seabank 0,455 0,541 0,295 0,611 0,521 0,415 0,375 0,219 0,227 0,207 0,227 SHB 0,258 0,271 0,244 0,272 0,287 0,228 0,199 0,177 0,110 0,136 0,110 STB 0,279 0,269 0,261 0,174 0,155 0,110 0,108 0,056 0,052 0,045 0,052 TCB 0,333 0,340 0,362 0,294 0,235 0,135 0,142 0,115 0,211 0,162 0,211 TPB 0,575 0,141 0,183 0,362 0,189 0,210 0,320 0,291 0,169 0,211 0,169 VCB 0,291 0,302 0,303 0,332 0,212 0,262 0,308 0,252 0,317 0,335 0,317 VIB 0,261 0,335 0,298 0,317 0,154 0,125 0,121 0,102 0,091 0,121 0,091 VietAbank 0,275 0,190 0,222 0,157 0,150 0,090 0,088 0,132 0,225 0,200 0,225 Vietbank 0,553 0,321 0,384 0,316 0,167 0,123 0,183 0,202 0,195 0,128 0,195 Vietcapital
Bank 0,431 0,150 0,352 0,294 0,393 0,308 0,176 0,162 0,175 0,156 0,175 VPB 0,154 0,311 0,245 0,319 0,296 0,195 0,142 0,106 0,107 0,101 0,107
(Nguồn: Báo cáo tài chính của các NHTM CP Việt Nam)
Trang 34Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản tại các NHTM
CP Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018
Đơn vị tính: %
(Nguồn: Báo cáo tài chính của các NHTM CP Việt Nam)
3.3: Thực trạng tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
3.3.1: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA
3.3.1.1 Thực trạng tổng tài sản tại các NHTM CP Việt Nam
Tổng tài sản của các NHTM CP Việt Nam.có xu hướng tăng lên từ năm 2008 đến năm 2018
Giai đoạn năm 2008 – 2011, quy mô tổng tài sản tăng nhanh, phần lớn các ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tổng tài sản dương và có tốc độ tăng trưởng cao Tăng trưởng tổng tài sản trong giai đoạn này đạt trên 20%, điều này có thể lý giải được bởi trong giai đoạn này nền kinh tế bắt đầu bước vào giai đoạn phục hồi và phát triển sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008
Giai đoạn 2011- 2015, quy mô tổng tài sản tiếp tục tăng tuy nhiên tốc độ tăng trưởng tổng tài sản giảm lại, không còn tăng nhanh như giai đoạn 2018 – 2011
Trang 35Ngoài ra , có một số ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tổng tài sản âm, trong số đó là EIB, MSB có tổng tài sản sụt giảm liên tục trong giai đoạn này
Giai đoạn 2016 – 2018, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản có xu hướng tăng và
ổn định Tất cả các NHTM CP đều có tốc độ tăng trưởng tổng sản dương ngoại trừ MSB
So với năm 2008, tổng tài sản năm 2018 đã tăng hơn 7 lần và đạt hơn 7,8 triệu tỷ đồng Các ngân hàng BID, CTG và VCB có quy mô tổng tài sản năm 2018 đạt mức trên 1.000.000 tỷ đồng và vượt xa các NHTM CP còn lại Đứng đầu là BID với 1.313.037 tỷ đồng, tiếp theo là CTG với 1.164.434 tỷ đồng và VCB với 1.074.026 tỷ đồng Theo sau đó là nhóm các ngân hàng SCB, STB, MBB, SHB, ACB, VPB và TCB với quy mô trên 200.000 tỷ đồng, vượt trội hơn hẳn các NHTM
Trang 363.3.1.2 : Thực trạng lợi nhuận sau thuế tại các NHTM CP Việt Nam
Biểu đồ 3.3: Thực trạng lợi nhuận sau thuế tại các NHTM CP Việt Nam giai
đoạn 2008 – 2018
Đơn vị tính: tỷ đồng
(Nguồn: Báo cáo tài chính của các NHTM CP Việt Nam)
Trong giai đoạn 2008 – 2018, các ngân hàng BID, CTG và VCB có lợi nhuận sau thuế dẫn đầu và đạt mức trên 2.000 tỷ đồng
Giai đoạn từ 2008 – 2011 lợi nhuận sau thuế của phần lớn các ngân hàng có
xu hướng tăng lên Năm 2008, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới, với những khó khăn trong hoạt động kinh doanh, đầu tư vào các hoạt động chứng khoán, bất động sản, hoạt động cho vay của ngân hàng hạn chế nên lợi nhuận sau thuế thấp Giai đoạn 2009 – 2010, nền kinh tế phục hồi trở lại sau cuộc khủng hoảng năm 2008 thì lợi nhuận của các ngân hàng có xu hướng tăng trở lại, ngoại trừ SCB (-32,2%) vào năm 2009, (-11,64%) năm 2010 và VCB (-22%) năm 2009
Giai đoạn 2012 – 2015, lợi nhuận của các ngân hàng có xu hướng giảm xuống Đỉnh điểm là năm 2012, hơn một nửa số ngân hàng có tốc độ tăng trưởng lợi nhuận âm: ACB (-75,6%), CTG (-1,4%), EIB (29,6%), HDBank (-
Trang 3723,45%), KienLongBank 11,1%), LPB 11,1%), MSB 71,6%), NamABank 24,9%), NCB (-98,6%), OCB (-24,1%), SCB (-78,3%), SeABank (-58,2%)… Một số ngân hàng có tăng trưởng lợi nhuận âm liên tục như: ABB, EIB, KLB, LPB, MSB, Vietbank, Vietcapital Bank,… Một trong những nguyên nhân khiến cho tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng giảm trong giai đoạn này đó chính là vấn đề nợ xấu, do đó chi phí trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu này tăng cao, làm sụt giảm đáng kể lợi nhuận của các ngân hàng
(-Năm 2016 – 2018, lợi nhuận của các ngân hàng có xu hướng tăng trở lại khi vấn đề nợ xấu của các ngân hàng được giải quyết, tình hình kinh tế vĩ mô có những chuyển biến tích cực và ổn định Năm 2018, VCB đạt mức lợi nhuận sau thuế hơn 14.000 tỷ đồng, TCB hơn 8.400 tỷ đồng và VPB hơn 7.300 tỷ đồng Tiếp theo sau
đó là các ngân hàng BIDV, MBB, ACB, CTG là các ngân hàng có lợi nhuận sau thuế cao vượt trội hơn hẳn so với các ngân hàng còn lại
3.3.1.3 : Thực trạng tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
Bảng 3.2: Tỷ lệ ROA tại các NHTM CP Việt Nam giai đoạn 2008 - 2018
Đơn vị tính: %
2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 ABB 0,37 1,18 1,31 0,75 0,87 0,24 0,17 0,14 0,33 0,58 0,79 ACB 2,10 1,31 1,14 1,14 0,44 0,50 0,53 0,51 0,57 0,74 1,56 BID 0,81 0,95 1,03 0,79 0,53 0,74 0,76 0,68 0,61 0,56 0,52 CTG 0,93 1,14 0,93 1,36 1,22 1,00 0,86 0,73 0,71 0,68 0,47 EIB 1,47 1,73 1,38 1,66 1,26 0,39 0,21 0,03 0,24 0,55 0,43 HDB 0,63 1,02 0,78 0,95 0,62 0,25 0,48 0,48 0,49 0,92 1,48 KLB 1,27 1,22 1,56 2,21 1,89 1,47 0,76 0,65 0,40 0,54 0,55 LPB 5,95 3,11 1,95 1,74 1,31 0,71 0,46 0,33 0,75 0,84 0,55 MBB 1,59 1,59 1,56 1,53 1,31 1,26 1,23 1,13 1,11 1,10 1,71 MSB 0,97 1,21 1,00 0,70 0,21 0,31 0,14 0,11 0,15 0,11 0,63 NamABank 0,16 0,51 0,96 1,26 1,13 0,47 0,50 0,55 0,08 0,44 0,79 NVB 0,52 0,76 0,78 0,74 0,01 0,06 0,02 0,01 0,02 0,03 0,05 OCB 0,64 1,63 1,55 1,19 0,84 0,74 0,56 0,42 0,61 0,97 1,76
Trang 38PGBank 1,06 1,68 1,34 2,54 1,25 0,15 0,51 0,17 0,49 0,22 0,42 Saigonbank 1,44 1,77 4,73 1,98 2,00 1,18 1,14 0,24 0,73 0,26 0,20 SCB 1,20 0,58 0,46 0,37 0,04 0,02 0,04 0,02 0,02 0,03 0,03 Seabank 0,78 1,50 1,14 0,12 0,07 0,19 0,11 0,11 0,11 0,24 0,35 SHB 1,35 1,16 0,97 1,06 0,02 0,59 0,47 0,39 0,38 0,54 0,52 STB 1,40 1,61 1,23 1,46 0,66 1,38 1,16 0,39 0,02 0,27 0,44 TCB 2,00 1,84 1,38 1,75 0,43 0,41 0,62 0,80 1,34 2,39 2,64 TPB 2,09 1,19 0,77 (5,51) 0,77 1,19 1,02 0,74 0,53 0,78 1,33 VCB 2,28 1,53 1,39 1,14 1,06 0,93 0,79 0,79 0,87 0,88 1,36 VIB 0,49 0,81 0,84 0,66 0,80 0,07 0,65 0,62 0,54 0,91 1,58 VietAbank 0,70 1,33 1,11 1,10 0,67 0,22 0,13 0,20 0,16 0,15 0,17 Vietbank 1,77 0,58 0,36 2,00 0,14 0,19 (1,28) (0,38) 0,18 0,63 0,62 Vietcapital
Bank 0,15 1,64 0,69 1,59 1,00 0,45 0,63 0,18 0,01 0,084 0,20 VPB 1,07 1,07 0,84 0,97 0,70 0,84 0,77 1,24 1,72 2,32 2,28
(Nguồn: Báo cáo tài chính của các NHTM CP Việt Nam)
ROA của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có giá trị trung bình trong khoảng từ 0,6% đến 1,4% Các ngân hàng TCB, VCB, VPB, MBB, ACB, CTG là những ngân hàng có tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản vượt trội và ổn định qua các năm
Năm 2008 tỷ lệ ROA của LPB (5,95%) cao nhất là do năm này LPB vừa được thành lập, quy mô tổng tài sản còn tương đối nhỏ nên tỷ lệ ROA lớn Năm
2011, tỷ lệ ROA của TPB (-5,51%) là thấp nhất do trong năm này lợi nhuận của TPB âm hơn 1.371 tỷ đồng
ROA bình quân của các NHTM CP Việt Nam có xu hướng giảm dần từ năm
2008 đến năm 2015 Nguyên nhân chủ yếu là do tăng quy mô và tốc độ tăng trưởng tổng tài sản tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận Ngoài ra, lợi nhuận của một số ngân hàng có xu hướng giảm do những biến động của nền kinh tế, lạm phát tăng cao, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh, tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp hơn giai đoạn trước, tỷ lệ nợ xấu cao dẫn đến lợi
Trang 39nhuận giảm Năm 2016 – 2018, ROA có xu hướng tăng trở lại do tình hình kinh tế
có nhiều chuyển biến tích cực, lạm phát duy trì mức ổn định, các ngân hàng mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng, nợ xấu được xử l , lợi nhuận được cải thiện đáng kể
Biểu đồ 3.4: ROA tại các NHTM CP Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018
Đơn vị tính: %
(Nguồn: Báo cáo tài chính của các NHTM CP Việt Nam)
3.3.2: Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu ROE
3.3.2.1: Thực trạng vốn chủ sở hữu tại các NHTM CP Việt Nam
Vốn chủ sở hữu của các NHTM CP Việt Nam có xu hướng tăng dần từ năm
2008 đến năm 2018 Năm 2018, quy mô vốn chủ sở hữu đạt mức trên 500.000 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu trung bình của các ngân hàng TMCP Việt Nam khoảng 19.000 tỷ đồng Các ngân hàng đứng đầu về vốn chủ sở hữu của hệ thống ngân hàng TMCP Việt Nam là CTG, VCB, BID, TCB, VPB và MBB Các ngân hàng trên có
Trang 40quy mô Vốn chủ sở hữu đạt trên ba mươi nghìn tỷ đồng CTG luôn dẫn đầu về vốn chủ sở hữu với hơn 67.000 tỷ đồng, tiếp sau đó là VCB với hơn 62.000 tỷ và BID với hơn 54.000 tỷ đồng KLB, NVB PGBank, Saigonbank, Vietcapital Bank là các ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu thấp dưới 4.000 tỷ đồng
Biểu đồ 3.5: Thực trạng vốn chủ sở hữu tại các NHTM CP Việt Nam giai đoạn
2008 – 2018
Đơn vị tính: tỷ đồng
(Nguồn: Báo cáo tài chính của các NHTM CP Việt Nam)
Năm 2008 – 2011, Vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng nhanh Quy mô vốn chủ sở hữu năm 2011 gấp 2.08 lần so với năm 2008 Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu hơn 20% Giai đoạn 2011- 2016 tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu chậm lại, thậm chí có nhiều ngân hàng vốn chủ sở hữu có xu hướng giảm Năm 2017 – 2018, tốc
độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu tăng trở lại và đạt mức tăng trưởng trung bình trên 13%/năm So với quy mô vốn chủ sở hữu năm 2008, vốn chủ sở hữu năm 2018 đã tăng khoảng 4,5 lần