1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài và chất lượng vốn con người đến quy mô kinh tế ngầm ở việt nam

94 76 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả kết hợp sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng: sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu OLS, phương pháp tự hồi quy phân phối trễ ARDL

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

**********

TRẦN VIỆT TÂN

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CHẤT LƯỢNG “VỐN CON NGƯỜI” ĐẾN QUY MÔ

KINH TẾ NGẦM Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HCM, Năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

**********

TRẦN VIỆT TÂN

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CHẤT LƯỢNG “VỐN CON NGƯỜI” ĐẾN QUY MÔ

KINH TẾ NGẦM Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng

Mã ngành: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGYỄN HỒNG THẮNG

TP.HCM, Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài

và chất lượng “vốn con người” đến quy mô kinh tế ngầm ở Việt Nam” là công

trình nghiên cứu của riêng tôi và thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Nguyễn Hồng Thắng

Cơ sở lý luận tham khảo từ các tài liệu được nêu trong phần tài liệu tham khảo,

số liệu và kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực, không sao chép bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019

Người thực hiện luận văn

TRẦN VIỆT TÂN

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

TÓM TẮT

ABSTRACT

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi về không gian 3

1.4.3 Phạm vi về thời gian 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Ý nghĩa thực tiễn 5

1.7 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 7

2.2 Khái niệm thể chế 9

Trang 5

2.3.2 Cách đo lường quy mô kinh tế ngầm 14

2.3.3 Phân loại kinh tế ngầm 15

2.3.4 Nguyên nhân dẫn đến hoạt động kinh tế ngầm 15

2.3.5 Mối quan hệ giữa kinh tế ngầm và kinh tế chính thức 18

2.4 Khái niệm “vốn con người” và đo lường chất lượng “vốn con người” 19

2.5 Một số nghiên cứu thực nghiệm về tác động của FDI, chất lượng thể chế và quy mô kinh tế ngầm 22

2.5.1 Mối quan hệ giữa FDI và chất lượng thể chế 22

2.5.2 Mối quan hệ giữa FDI và quy mô kinh tế ngầm 25

2.5.3 Mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và quy mô kinh tế ngầm 26

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu 30

3.2 Mô hình nghiên cứu 31

3.3 Phương pháp nghiên cứu 34

3.3.1 Hồi quy theo phương pháp bình phương tối thiểu OLS và kiểm định các giả thiết của mô hình OLS 35

3.3.2 Kiểm định tính dừng của các biến 35

3.3.3 Xác định độ trễ tối ưu của mô hình 36

3.3.4 Kiểm định đồng liên kết bằng phương pháp kiểm định đường bao 36

3.3.5 Mô hình sai số hiệu chỉnh ECM 37

3.3.6 Kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các biến số của mô hình 38

3.3.7 Các kiểm định bổ sung 38

Trang 6

4.1 Tổng quan về tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1986-nay 41

4.2 Thực trạng thu hút, quản lý FDI của Việt Nam thời gian qua 42

4.3 Thực trạng về thể chế và chất lượng thể chế của Việt Nam 49

4.4 Thực trạng quy mô kinh tế ngầm ở Việt Nam 51

4.5 Thống kê mô tả 52

4.6 Kết quả thực nghiệm 52

4.6.1 Kiểm định tính dừng 52

4.6.2 Kết quả ước lượng bằng phương pháp bình phương tối thiểu OLS 53

4.6.3 Kiểm định các giả thuyết của mô hình OLS 54

4.6.4 Xác định độ trễ tối ưu của mô hình 56

4.6.5 Kiểm định đồng liên kết bằng phương pháp kiểm định đường bao 57

4.6.6 Một số kiểm định bổ sung cho phương pháp ARDL 58

4.6.7 Kết quả tác động trong ngắn hạn 59

4.6.8 Kết quả tác động trong dài hạn 60

4.6.9 Kiểm đinh mối quan hệ nhân quả Granger giữa các biến số 61

4.7 Thảo luận kết quả 62

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 5.1 Kết luận và hàm ý chính sách rút ra từ nghiên cứu 64

5.1.1 Kết luận 64

5.1.2 Hàm ý chính sách 64

5.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng thể chế phi chính thức 65

5.3 Một số giải pháp cải thiện chất lượng thể chế chính thức 68

Trang 8

TT Từ viết tắt Giải thích

1 UNCTAD Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Thương mại và

Phát triển

4 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

5 IMF International Monetary Fund (Quỹ tiền tệ

Quốc tế)

Trang 9

Bảng 2.1: Mối quan hệ giữa quy mô kinh tế ngầm và quy mô kinh tế chính thức 19

Bảng 3.1: Quy trình nghiên cứu 30

Bảng 3.2: Diễn giải các biến trong mô hình 33

Bảng 4.1: Phân loại FDI vào Việt Nam theo quốc gia và vùng lãnh thổ 43

Bảng 4.2: FDI vào Việt Nam phân theo địa phương 44

Bảng 4.3: Các hình thức FDI tính đến tháng 11/2018 47

Bảng 4.4: FDI vào Việt Nam phân theo ngành nghề 48

Bảng 4.5: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 52

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định tính dừng 53

Bảng 4.7: Kết quả ước lượng bằng phương pháp OLS 54

Bảng 4.8: Kết quả nhân tử phóng đại phương sai VIF 54

Bảng 4.9: Kết quả kiểm định White 55

Bảng 4.10: Kết quả kiểm định Breusch-Godfrey 55

Bảng 4.11: Kết quả kiểm định Jarque-Bera 56

Bảng 4.12: Kết quả xác định độ trễ tối ưu 57

Bảng 4.13: Kết quả kiểm định đồng liên kết 58

Bảng 4.14: Kết quả kiểm định bổ sung cho phương pháp ARDL 59

Bảng 4.15: Hệ số tác động trong ngắn hạn 60

Bảng 4.16: Kết quả tác động trong dài hạn 61

Bảng 4.17: Kiểm định nhân quả Granger giữa các biến 62

Trang 10

Hình 4.1: Diễn biến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986-2015 42

Hình 4.2: Diễn biến của vốn FDI đăng ký và FDI thực hiện tại Việt Nam 46

Hình 4.3: Diễn biến quy mô kinh tế ngầm của Việt Nam giai đoạn 1991-2015 51

Hình 4.4: Kiểm định tính ổn định của mô hình ARDL 59

Trang 11

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Môi trường thể chế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia So với các nước phát triển, chất lượng thể chế ở các nước đang phát triển còn nhiều khiếm khuyết và hạn chế, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến kinh tế ngầm ở các nước đang phát triển luôn tồn tại và tồn tại ở quy mô khá lớn Ở Việt Nam vì nhiều lý do khác nhau mà kinh tế ngầm vẫn tồn tại, và tác động của thể chế phi chính thức (đo lường bằng chất lượng “vốn con người”) là hướng nghiên cứu còn khá ít các nghiên cứu trước đây đề cập đến

Tác giả kết hợp sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng: sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu OLS, phương pháp

tự hồi quy phân phối trễ ARDL, phương pháp kiểm định nhân quả Granger để ước lượng kết quả hồi quy và kiểm chứng mô hình, dựa trên những số liệu được các tổ chức

có uy tín công bố để làm rõ chiều tác động và mức độ tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, của chất lượng thể chế phi chính thức đến quy mô kinh tế ngầm ở Việt Nam

cả trong ngắn hạn và dài hạn

Từ kết quả nghiên cứu đề xuất những khuyến nghị với các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các biện pháp hạn chế hoạt động kinh tế ngầm để thúc đẩy khu vực kinh tế chính thức của Việt Nam phát triển theo hướng bền vững

Từ khóa: Kinh tế ngầm, Thể chế phi chính thức, chất lượng vốn con người, FDI

Trang 12

Abstract

The institutional environment plays an important role in a country's economic growth and development Compared with developed countries, the institutional quality in developing countries has many shortcomings and limitations, this is one

of the reasons for the shadow economy in developing countries to exist and exist in fairly large scale In Vietnam for many reasons, the shadow economy still exists, and the impact of the informal economy (measured by the quality of "human capital") is that the research direction is quite few previous studies mention

The author combines using both qualitative and quantitative research methods: using OLS least squares method, ARDL delay distribution regression method, Granger causality test method to estimate amount of regression results and model verification, based on data published by reputable organizations to clarify the impact and degree of impact of foreign direct investment, of non-institutional quality Officially to the shadow economy scale in Vietnam both in short and longterm

Based on the results of the study, recommendations are made to the authorities in the making of foreign direct investment policies, measures to restrict shadow economy activities to promote the formal economic sector Vietnam's development towards sustainability

Keyword: Shadow economy, informal economy, quality of human capital, FDI

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường thể chế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia Sự khác biệt về môi trường thể chế là nguyên nhân căn bản dẫn đến khác biệt về tăng trưởng kinh tế, lâu dài hình thành nên các quốc gia phát triển, đang phát triển và kém phát triển (Acemoglu & Robinson, 2008) So với các nước phát triển, chất lượng thể chế ở các nước đang phát triển còn nhiều khiếm khuyết và hạn chế, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến kinh tế ngầm ở các nước đang phát triển luôn tồn tại và tồn tại ở quy mô khá lớn Kinh tế ngầm phát triển liệu có kìm hãm kinh tế chính thức? Theo Alm & Embaye (2013) sự gia tăng quy mô của nền kinh tế ngầm sẽ bóp méo việc phân bổ nguồn lực, làm thay đổi phân phối thu nhập và giảm nguồn thu thuế cho Chính phủ Theo số liệu của Quỹ tiền tệ thế giới IMF năm 2015 thì kinh tế ngầm vẫn tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Ngoài yếu tố chất lượng thể chế, Schneider và cộng sự (2010), Schneider (2012) còn cho rằng không thể bỏ qua sự đa dạng của các thành phần kinh tế (gồm doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài) cũng như chất lượng “vốn con người” khi nghiên cứu sự phát triển của khu vực kinh tế ngầm Bởi vì, doanh nghiệp là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế (bao gồm cả kinh tế ngầm), còn chất lượng “vốn con người” sẽ quyết định đến cơ hội và động cơ của người lao động khi tham gia vào thị trường lao động

Khác với doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài

có ít động lực hơn để gắn bó lâu dài với quốc gia họ đầu tư Sự khác biệt về tập quán kinh doanh, ý thức tôn trọng pháp luật, kinh nghiệm quản lý…của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài vừa là cơ hội vừa thách thức đối với các nước tiếp nhận đầu tư Xét ở khía cạnh tích cực, thông qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm (Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự, 2006; Lê Thanh Thúy, 2007; Lê Việt Anh, 2009; Phạm Đình Long và cộng sự, 2018) đã chỉ ra đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI

(Foreign Direct Investment) đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế của Việt

Trang 14

Nam như: Tạo việc làm, cải thiện thu nhập và lan tỏa công nghệ… Theo số liệu của Tổng cục thống kê thì ngoại trừ hai năm 1996 và 2008 có tính chất đột biến thì nhìn chung Việt Nam vẫn đang điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài với số lượng vốn FDI đăng ký và FDI thực hiện luôn nằm trong xu hướng năm sau cao hơn năm trước Xét ở khía cạnh tiêu cực, khu vực FDI cũng đặt ra nhiều thách thức trong quản lý và mục tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam như: Gây ra tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu Đứng trên góc độ tiếp cận của kinh tế ngầm thì việc chuyển giá, khai báo xuất xứ hàng hóa, gia công giữa công ty mẹ và công ty con… của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài nếu khai báo không trung thực sẽ gây thất thu thuế rất lớn cho ngân sách, tạo ra lợi thế cạnh tranh vượt trội cho các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài so với doanh nghiệp trong nước Lâu dần sẽ làm hạn chế khả năng phát triển của doanh nghiệp trong nước, gián tiếp làm giảm quy mô của khu vực kinh tế chính thức

Theo North (1990) thể chế được chia thành 2 dạng chính là thể chế chính thức (đại diện cho khả năng lập pháp, hành pháp của cơ quan quản lý Nhà nước) và thể chế phi chính thức (văn hóa, tập quán, ý thức dân tộc, chất lượng “vốn con người”) Mối quan hệ giữa chất lượng thể chế, đầu tư trực tiếp nước ngoài và quy

mô kinh tế ngầm là đề tài đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới (Larrain và Tavares, 2004; Kwok và Tadesse, 2006; Dang, 2013; Dreher & Schneider, 2010; Singh và cộng sự, 2012; Razmi và cộng sự, 2013, và Hassan & Schneider, 2016) nhưng theo tìm hiểu của tác giả thì còn rất ít ở Việt Nam Các nghiên cứu trước thường nhấn mạnh vào tác động/vai trò của thể chế chính thức đối với kinh tế ngầm Tuy nhiên thực tế tại các quốc gia đang phát triển cho thấy nếu chỉ hạn chế kinh tế ngầm bằng thể chế chính thức sẽ không hiệu quả (Johnson và cộng sự, 1998; của Hassan & Schneider, 2016) do chất lượng “vốn con người” của người dân chưa được nâng lên thì họ vẫn phải tham gia vào kinh tế ngầm, lý do là

cơ hội để tham gia vào khu vực kinh tế chính thức bị hạn chế Thậm chí ngay cả khi chất lượng “vốn con người” được cải thiện, vẫn có khả năng họ tham gia vào kinh

tế ngầm vì lợi ích của khu vực kinh tế ngầm thường lớn hơn khu vực chính thức,

Trang 15

thủ tục tham gia đơn giản Acemoglu & Robinson (2008) cho rằng, hạn chế kinh tế ngầm bằng cả thể chế chính thức và thể chế phi chính thức là lựa chọn đúng đắn và mang lại hiệu quả lâu dài

Ở Việt Nam vì nhiều lý do khác nhau mà kinh tế ngầm vẫn tồn tại, và tác động của FDI cùng chất lượng “vốn con người” là hướng nghiên cứu còn ít các nghiên cứu trước đây đề cập đến Chính vì những lý do trên và yêu cầu của thực tiễn

phải kiểm soát tốt khu vực kinh tế ngầm mà tác giả lựa chọn đề tài “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài và chất lượng “vốn con người” đến quy mô kinh tế ngầm ở Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định như sau:

(i) Xác định được chiều tác động và mức độ tác động của đầu tư trực tiếp

nước ngoài, của chất lượng “vốn con người” đến quy mô kinh tế ngầm

ở Việt Nam cả trong ngắn hạn và dài hạn

(ii) Dựa trên kết quả nghiên cứu đề xuất những khuyến nghị với các cơ

quan quản lý trong việc hoạch định chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các biện pháp hạn chế hoạt động kinh tế ngầm để thúc đẩy khu vực kinh tế chính thức của Việt Nam phát triển theo hướng bền vững

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Luận văn tập trung vào trả lời một số câu hỏi nghiên cứu sau:

(i) Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động đến quy mô kinh tế ngầm ở

Việt Nam hay không? Nếu có, thì tác động theo hướng tích cực hay tiêu cực?

(ii) Chất lượng “vốn con người” có tác động đến quy mô kinh tế ngầm ở

Việt Nam hay không? Nếu có, thì tác động theo hướng tích cực hay tiêu cực?

Trang 16

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng “vốn con người” và quy mô kinh tế ngầm của Việt Nam

1.4.2 Phạm vi về không gian

Nghiên cứu này được thực hiện cho dữ liệu kinh tế của Việt Nam, cho nên các lý giải của tác giả về kết quả nghiên cứu cũng lấy từ thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam

1.4.3 Phạm vi về thời gian

Các dữ liệu phản ánh đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn con người và quy mô kinh tế ngầm được thu thập từ năm 1991 đến năm 2015, vì năm 1991 các số liệu về quy mô kinh tế ngầm mới được công bố lần đầu tiên Những dữ liệu sau năm 2015 cần có thêm thời gian để thẩm định nên chưa được công bố chính thức

Nguồn dữ liệu: Ngân hàng thế giới WB, Quỹ tiền tệ thế giới IMF, Diễn đàn của Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển UNCTAD, Cục dự trữ liên bang

Mỹ FRED

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Trước hết, tác giả lược khảo các quan điểm về kinh tế ngầm, phân loại các hoạt động kinh tế ngầm, định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài, thể chế và chất lượng thể chế … Sau đó là lược khảo lý thuyết về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng thể chế và quy mô kinh tế ngầm để xây dựng được khung lý thuyết phân tích Từ đó chọn ra mô hình nghiên cứu, chọn biến đại diện cho các yếu

tố để phân tích tác động của chúng đến quy mô kinh tế ngầm của Việt Nam Sau đó,

thu thập dữ liệu từ các nguồn tin cậy như Ngân hàng thế giới WB (World Bank), Diễn đàn Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển UNCTAD (United Nations Conference on Trade and Development), Quỹ tiền tệ thế giới IMF (International Monetary Fund), Cục dữ trữ liên bang Mỹ FRED (Federal Reserve Bank of

Trang 17

St.Louis) tác giả tiến hành chạy hồi quy và cuối cùng là kiểm chứng tính hợp lý của

mô hình

Với tập dữ liệu thu về, sau khi hoàn tất việc gạn lọc, kiểm tra, tổng hợp, mã hóa và làm sạch, sẽ tiến hành xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm Eviews Để thực hiện luận văn này tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

+ Phương pháp nghiên cứu định tính: Để tổng kết lý thuyết nền về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng trưởng kinh tế và lược khảo các nghiên cứu trước về mối quan

hệ nhân quả giữa FDI, chất lượng “vốn con người” và quy mô kinh tế ngầm của các quốc gia/khu vực trên thế giới

+ Phương pháp nghiên cứu định lượng: Đầu tiên, tác giả sẽ ước lượng bằng phương pháp bình phương tối thiểu OLS để cung cấp kết quả hồi quy sơ bộ và kiểm định các giả thiết của mô hình OLS theo các tiêu chí của Gauss & Markov Tiếp

theo tác giả sử dụng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ ARDL (Autoregressive Distributed Lag) do Pesaran và cộng sự đề xuất năm 2001, phương pháp kiểm định

nhân quả Granger để ước lượng kết quả hồi quy và kiểm chứng mô hình, dựa trên những số liệu được các tổ chức có uy tín công bố Tác giả sẽ so sánh kết quả của 2 phương pháp ước lượng và lý giải sự hợp lý của phương pháp ước lượng tự hồi quy phân phối trễ ARDL

1.6 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu về hoạt động kinh tế ngầm và các nguyên nhân dẫn đến hoạt động kinh tế ngầm còn rất ít ở Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ ARDL để phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, của chất lượng “vốn con người” đến quy mô kinh tế ngầm ở Việt Nam cả trong ngắn hạn và dài hạn, vì vậy nghiên cứu này sẽ có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn:

(i) Bổ sung một bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của kinh tế ngầm tại Việt Nam và mối quan hệ của khu vực kinh tế ngầm với khu vực kinh tế chính thức

(ii) Xác định và lượng hóa mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng “vốn con người” và quy mô kinh tế ngầm tại Việt Nam

Trang 18

(iii) Gợi ý một số hàm ý chính sách về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

và các biện pháp để quản lý và hạn chế các hoạt động kinh tế ngầm tại Việt Nam

1.7 Kết cấu luận văn

Cấu trúc luận văn gồm 5 chương, không tính phụ lục và tài liệu tham khảo

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu

Chương 1 trình bày tổng quan chung về nội dung, mục đích của nghiên cứu, bao gồm: đặt vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến các khái niệm về kinh tế ngầm, đầu tư trực tiếp nước ngoài, thể chế, chất lượng “vốn con người” và cách đo lường Tác giả sẽ lược khảo các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về mối quan

hệ nhân quả giữa FDI, chất lượng “vốn con người” và quy mô kinh tế ngầm

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Chương 3 tác giả giới thiệu về khung phân tích, nguồn dữ liệu và quy trình nghiên cứu được tác giả thực hiện trong quá trình nghiên cứu Qua đó sẽ chỉ ra cách

mà tác giả xây dựng mô hình, kỳ vọng hướng tác động, lập luận sự hợp lý của các biến đưa vào mô hình, bao gồm: Thiết kế nghiên cứu, khung phân tích, nguồn và cách thu thập dữ liệu, các công cụ nghiên cứu cơ bản, các biến được sử dụng trong nghiên cứu…

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 tác giả trình bày kết quả thống kê mô tả mối quan hệ giữa biến phụ thuộc với từng biến độc lập, ước lượng tác động của FDI và chất lượng “vốn con người” đến quy mô kinh tế ngầm của Việt Nam cả trong ngắn hạn và dài hạn Giải thích ý nghĩa thực tiễn rút ra từ kết quả của nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 5 tác giả trình bày các kết luận được rút ra từ nghiên cứu và khuyến nghị/hàm ý một số chính sách để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các biện pháp

Trang 19

quản lý và hạn chế hoạt động kinh tế ngầm, đồng thời chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 20

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU

TRƯỚC 2.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài và cách đo lường

a Khái niệm

Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), đầu tư trực tiếp nước ngoài phản ánh những lợi ích khách quan lâu dài mà một thực thể kinh tế tại một nước (nhà đầu tư) đạt được thông qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khác Lợi ích lâu dài thể hiện ở chỗ sự tồn tại một mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư với doanh nghiệp được đầu tư Nhà đầu tư có được ảnh hưởng quan trọng và hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó Đầu tư trực tiếp bao gồm việc thực hiện những giao dịch từ đầu và tất cả những giao dịch vốn tiếp theo giữa hai thực thể và các doanh nghiệp được liên kết một cách chặt chẽ Như vậy, FDI là đầu tư vốn nước ngoài có gắn liền với việc quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh đối với dự án, doanh nghiệp tiếp nhận phần vốn đó và có thời hạn lâu dài

Theo Uỷ ban Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), đầu

tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư bao gồm mối quan hệ trong dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài)

Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc đầu tư vốn được thực hiện ở các doanh nghiệp hoạt động ở nước ngoài nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho nhà đầu tư Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi nhà đầu tư nước ngoài mở rộng một mối quan hệ lâu dài với một doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư và có cổ phần trong doanh nghiệp đủ để duy trì một mức ảnh hưởng quan trọng trong việc quản lý doanh nghiệp này

Trang 21

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), đầu tư trực tiếp nước ngoài là dòng đầu tư vốn chủ sở hữu đầu tư trực tiếp trong nền kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm: vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại và nguồn vốn khác Đầu tư trực tiếp là một loại đầu tư xuyên biên giới có liên quan đến một chủ thể trong một nền kinh tế có mức

độ kiểm soát hay ảnh hưởng đáng kể đến quản lý của một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác Ví dụ, đầu tư ròng (thuần) vào một quốc gia để nhà đầu tư có được quyền quản lý lâu dài (nếu nắm được ít nhất 10% cổ phần thường) trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác (đối với chủ đầu tư)

Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ban hành vào ngày 26/11/2014: Luật này không nêu khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng trong Điều 3 có đề cập đến Đầu tư kinh doanh và nhà Đầu tư nước ngoài như sau: Đầu tư kinh doanh “là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; Đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; Đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án Đầu tư” và Nhà Đầu tư nước ngoài “là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”

Từ những liệt kê trên, có thể nhận thấy rằng định nghĩa về dòng vốn đầu tư nước ngoài bao gồm 2 đặc điểm sau: (1) Đầu tư từ quốc gia này đến quốc gia khác, (2) Chủ thể của quốc gia đầu tư có ảnh hưởng lớn đến chủ thể của quốc gia được đầu tư Chính vì vậy, các định nghĩa trên hầu như không có mâu thuẫn Vì vậy, để đồng nhất trong diễn đạt, luận văn sẽ sử dụng định nghĩa của UNCTAD, bởi nó có nhiều sự tương đồng với những điều Luật Đầu tư được nêu ra Đồng thời, trong hầu hết tất cả các nghiên cứu trước đây, cả trong và ngoài nước, thì UNCTAD luôn là nguồn tài liệu tham khảo và số liệu thống kê để xem xét Chính vì thế, định nghĩa của UNCTAD sẽ tạo ra sự thống nhất với các chuỗi nghiên cứu trước đây về đầu tư trực tiếp nước ngoài

b Cách đo lường

Trong các nghiên cứu thực nghiệm, đầu tư trực tiếp nước ngoài được đo lường theo hai cách:

Trang 22

Cách 1: Tính theo tổng dòng vốn FDI mà một quốc gia thu hút được trong

một thời gian (năm, quý hoặc tháng) Tổng dòng vốn FDI có thể đo lường theo FDI đăng ký hoặc FDI thực hiện

Cách 2: Tính theo tổng vốn FDI bình quân đầu người

Mỗi cách tính đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, chủ yếu phụ thuộc vào mục đích của người nghiên cứu

2.2 Khái niệm thể chế và phân loại thể chế

a Khái niệm

Lý luận về thể chế nói chung và thể chế kinh tế nói riêng đã được nghiên cứu

từ đầu thế kỷ 20 và hiện nay vẫn đang được hoàn thiện Do đó, vẫn tồn tại những cách hiểu khác nhau về thể chế

Cách 1: Thể chế là tập hợp những quy tắc chính thức, các quy định không

chính thức hay những nhận thức chung có tác động kìm hãm, định hướng hoặc chi phối sự tương tác của các cá nhân/tổ chức với nhau trong những lĩnh vực nhất định Các thể chế được tạo ra và đảm bảo thực hiện bởi cả nhà nước và các tác nhân phi nhà nước (như các tổ chức nghề nghiệp hoặc các cơ quan kiểm định)

Cách 2: Thể chế là một cơ quan, tổ chức công với các cơ cấu và chức năng

được định sẵn một cách chính thức nhằm điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động nhất định áp dụng chung cho toàn bộ dân cư Đối với quốc gia, các thể chế chính trị bao gồm Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan tư pháp Mối quan hệ giữa các thể chế này được quy định bởi Hiến pháp

Theo Thorstein Veblen (1914) “Thể chế là tính qui chuẩn của hành vi hoặc các quy tắc xác định hành vi trong những tình huống cụ thể, được các thành viên của một nhóm xã hội chấp nhận về cơ bản, và sự tuân thủ các quy tắc đó là do bản thân tự kiểm soát hoặc do quyền lực bên ngoài khống chế” Từ điển Việt Nam (1992) cũng đưa ra định nghĩa “Thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ

xã hội buộc mọi người phải tuân theo” Tuy nhiên đến nay định nghĩa của North

(1990) về thể chế vẫn là định nghĩa được nhiều nhà quản lý và nhà nghiên cứu sử

dụng nhất North định nghĩa “Thể chế là các luật lệ của trò chơi trong một xã hội,

Trang 23

hoặc chuẩn mực hơn, là các ràng buộc do con người đặt ra nhằm định hình sự tương tác giữa con người với nhau”

Như vậy, dù có những khác biệt nhất định, song nhìn chung các định nghĩa

về thể chế đều đề cập đến ba khía cạnh quan trọng nhất đó là:

(i) “Luật chơi”: Thể hiện dưới góc độ chính thức (được đưa vào các văn

bản quy phạm pháp luật), hay phi chính thức (thể hiện trong văn hóa hay phong tục tập quán)

(ii) “Cách chơi”: Biểu hiện cho cơ chế hay chế tài để điều chỉnh các hành

vi giữa con người với con người

(iii) “Người chơi”: Là chủ thể gây ra hành vi/sự tương tác (cá nhân, tổ

chức) và cũng là đối tượng cần phải điều chỉnh

Thể chế phi chính thức (Informal Institutions): là hệ thống bền vững các quan

niệm chung và sự hiểu biết mang tính tập thể nhưng không được hệ thống hóa thành những quy tắc và chuẩn mực, qua đó tạo nên sự gắn kết và phối hợp giữa các cá nhân trong một xã hội và phản ánh cấu trúc thực sự của xã hội đó (Scott, 2005) Những hành vi không bắt buộc phải thực hiện giữa con người với con người trong xã hội sẽ được điều chỉnh bằng thể chế phi chính thức Thay bằng quy định trong các văn bản pháp luật, giờ đây các hành vi của con người với nhau sẽ được điều chỉnh thông qua các yếu tố như: Truyền

Trang 24

thống dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, tinh thần khởi nghiệp, thái độ lạc quan với tương lai và đặc biệt là chất lượng “vốn con người”.

2.3 Khái niệm “vốn con người” và cách đo lường chất lượng “vốn con

được tác giả lấy từ định nghĩa của Mankiw (2002) theo đó “Vốn con người là toàn

bộ kiến thức và kỹ năng mà một cá nhân có thể thu được, sử dụng được thông qua giáo dục đào tạo và tự tích lũy kinh nghiệm”

Chất lượng “vốn con người” được các nhà nghiên cứu thực nghiệm tiếp cận

dựa trên 2 hướng: (i) Biểu hiện thông qua số lượng các kiến thức và kỹ năng mà một cá nhân có thể tiếp thu được; (ii) Thông qua các giá trị mà lượng kiến thức hay

kỹ năng đó tạo ra trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Theo Woessmann (2003), Le và cộng sự (2005) có 4 cách tiếp cận chính để đo lường chất lượng “vốn con người” gồm:

Trang 25

Tiếp cận dựa trên chi phí: Tức là “vốn con người” được tiếp cận thông qua

tổng chi phí đầu tư phải bỏ ra, như chi phí cho việc học tập, chi phí cho bảo

vệ sức khỏe …

Tiếp cận dựa trên thu nhập: Tức là thu nhập mà một cá nhân nhận lại được từ

thị trường lao động là thước đo cho chính chất lượng “vốn con người” mà cá nhân đó có

Tiếp cận dựa trên trình độ học vấn: Phương pháp tiếp cận dựa trên chi phí và

dựa trên thu nhập thì có cơ sở lý thuyết về kinh tế vững chắc, nhưng rất khó

để thống kê được trong thực tế Do vậy, để đơn giản hơn thì Romer (1990) hay Barro (2001) sử dụng luôn các thống kê về tỉ lệ người lớn biết độc biết viết trên tổng dân số, số năm đi học trung bình, tỉ lệ dân số hoàn thành các cấp học như trung học, cao đẳng, đại học v.v làm đại diện luôn cho chất lượng “vốn con người”

Tiếp cận sử dụng các chỉ số và điểm chuẩn: Để thống nhất cách đo lường thì

gần đây chương trình phát triển của Liên hiệp quốc UNDP đã nghiên cứu và

xây dựng nên bộ chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Index) dựa trên 3 trụ cột chính là: Chỉ số giáo dục, chỉ số tuổi thọ và chỉ số

thu nhập để minh họa cho chất lượng “vốn con người” Thang điểm từ 0 cho đến 100 điểm, quốc gia nào có điểm số càng cao thì được hiểu là chất lượng

“vốn con người” ở quốc gia đó càng tốt

2.4 Khái niệm kinh tế ngầm, phân loại, cách đo lường, nguyên nhân

2.4.1 Khái niệm

Hoạt động kinh tế ngầm tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, nên tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi quốc gia đặc biệt là phụ thuộc vào thể chế và chất lượng thể chế mà tên gọi và cách phân loại của các hoạt động này không đồng nhất

giữa các quốc gia trên thế giới Thuật ngữ “kinh tế ngầm” (shadow economy) còn được gọi với nhiều tên gọi thay thế khác như kinh tế phi chính thức (informal economy), kinh tế không khai báo (undeclared economy), kinh tế bất hợp pháp (irregular economy), kinh tế bóng/ẩn (hidden economy) Hiện tại, mặc dù nhiều nhà

Trang 26

nghiên cứu và cơ quan quản lý đã đưa ra một số định nghĩa tuy nhiên chưa có định nghĩa nào được thống nhất áp dụng cho tất cả các quốc gia, nên cách đo lường và phân loại kinh tế ngầm chỉ mang tính chất tương đối, và chỉ có giá trị trong phạm vi của từng quốc gia

Theo phân loại của Tổ chức Lao động quốc tế ILO (2003) thì khu vực kinh tế phi chính thức bao gồm một nhóm các doanh nghiệp/hộ gia đình có hoạt động sản xuất ra của cải vật chất nhưng không đăng ký tư cách pháp nhân, sử dụng lao động trong gia đình, quy mô nhỏ, chủ yếu là tự sản xuất tự tiêu dùng Mirus & Smith (1997) cho rằng hoạt động kinh tế ngầm bao gồm các hoạt động tạo ra các khoản thu nhập từ việc mua bán, sản xuất hàng hóa/dịch vụ hợp pháp nhưng không báo cáo; và các khoản thu nhập không thể kiểm soát từ việc mua bán, sản xuất các hàng hóa/dịch vụ phi pháp (ma túy, mại dâm, cờ bạc, buôn bán đồ đánh cắp ) kể cả có phát sinh giao dịch bằng tiền mặt hay không dùng tiền mặt

Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) (2002) thì hoạt động kinh tế ngầm bao

gồm tất cả các hoạt động về nguyên tắc được tính vào GDP nhưng thực tế lại không được tính do không được khai báo hoặc cố tình giấu giếm Đó là các hoạt động sản xuất hàng hóa dịch vụ hợp pháp nhưng không khai báo, sản xuất hàng hóa dịch vụ phi pháp và thu nhập vô hình Alm và cộng sự (2004), Greenidge và cộng sự (2009) đưa ra một định nghĩa rộng hơn, theo đó bất kỳ hoạt động kinh tế nào không được ghi nhận trong các số liệu thống kê của tài khoản thu nhập quốc gia và GDP thì được xem là một thành phần của khu vực kinh tế ngầm

Để thống nhất, trong luận văn này tác giả sử dụng định nghĩa kinh tế ngầm của Schneider (2005) được Quỹ tiền tệ thế giới IMF khuyến khích sử dụng, theo đó

“Kinh tế ngầm bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế bị pháp luật của quốc gia đó coi là phi pháp; các hoạt động kinh tế hợp pháp nhưng không được báo cáo, hoặc được che dấu khỏi sự quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm: (i) trốn tránh các nghĩa vụ thuế; (ii) trốn tránh các khoản đóng góp an sinh xã hội, tránh

Trang 27

các quy định của pháp luật lao động như lương tối thiểu, giờ làm tối đa, tiêu chuẩn

an toàn lao động…; (iii) tránh các rắc rối liên quan đến thủ tục hành chính”

2.4.2 Cách đo lường quy mô kinh tế ngầm

Do định nghĩa kinh tế ngầm chưa thống nhất, nên cách đo lường cũng chưa đồng thuận Tuy nhiên tổng kết các nghiên cứu thực nghiệm về kinh tế ngầm thì có

ba phương pháp đo lường quy mô kinh tế ngầm được sử dụng rộng rãi, đó là: (i) Phương pháp theo mô hình; (ii) phương pháp trực tiếp; (iii) phương pháp gián tiếp

Phương pháp theo mô hình: Phương pháp này dựa trên mô hình DYMIMIC

(Dynamic Multiple-Indicators Multiple-Causes) bao gồm hai mô hình: Mô

hình đo lường được sử dụng nhằm liên kết các chỉ số quan sát được với các chỉ số không quan sát được; và mô hình cấu trúc được sử dụng nhằm xác định mối quan hệ nhân quả giữa các chỉ số không quan sát được Trong trường hợp này, quy mô kinh tế ngầm là biến không quan sát được, và được giả định bị ảnh hưởng bởi tập hợp các chỉ số có thể quan sát được

Phương pháp trực tiếp: Phương pháp này dựa trên cách tiếp cận vi mô

thông qua các cuộc điều tra, bao gồm: (i) Phương pháp điều tra khảo sát; và (ii) Phương pháp kiểm toán thuế Ưu điểm chính của phương pháp này là thu

được những thông tin chi tiết về cấu trúc nền kinh tế ngầm Tuy nhiên, độ chính xác và kết quả đo lường thường phụ thuộc rất nhiều vào cách thức xây dựng bảng câu hỏi và sự sẵn lòng hợp tác của đối tượng được điều tra Hầu hết các đối tượng được điều tra thường giấu thông tin Bất lợi của phương pháp này là chỉ cung cấp được các ước tính ngắn hạn, không thể cung cấp sự

đo lường quy mô khu vực kinh tế ngầm trong một khoảng thời gian dài

Phương pháp gián tiếp: Phương pháp này dựa trên cách tiếp cận vĩ mô, sử

dụng các chỉ tiêu kinh tế và các chỉ tiêu khác để trích xuất thông tin thể hiện

xu hướng quy mô nền kinh tế ngầm Trong cách tiếp cận này, có 5 phương pháp (cách thức) để ước lượng quy mô kinh tế ngầm, bao gồm: (1) Chênh lệch giữa thống kê tài khoản quốc gia và chi tiêu quốc gia; (2) Chênh lệch

Trang 28

giữa lực lượng lao động chính thức và thực tế; (3) Phương pháp tiêu thụ điện năng; (4) Phương pháp giao dịch; và (5) Phương pháp cầu tiền

2.4.3 Phân loại kinh tế ngầm

Phân loại hoạt động kinh tế ngầm là cách gián tiếp để định nghĩa kinh tế ngầm, tuy nhiên việc phân loại các hoạt động kinh tế ngầm cũng có sự khác nhau giữa các nhà nghiên cứu Feige (1990), Rolf & Roger (1997) chia kinh tế ngầm

thành hai loại: (i) Thứ nhất, là các hoạt động không vi phạm pháp luật; (ii) Thứ hai,

OECD (2002), Anno (2003) đều sử dụng khái niệm “nền kinh tế không quan sát được” (Non-observed economy) để phân loại kinh tế ngầm Theo đó, kinh tế

ngầm được phân thành ba lĩnh vực:

Sản xuất ngầm vì lý do thống kê và kinh tế: Vì lý do thống kê đó là các hoạt

động sản xuất ở quy mô hộ gia đình, sử dụng quan hệ họ hàng hoặc các mối quan hệ cá nhân gần gũi Vì lý do kinh tế là các hoạt động kinh tế báo cáo số liệu dưới mức thực tế

Sản xuất phi chính thức: là các hoạt động sản xuất hoặc kinh doanh những

sản phẩm/dịch vụ hợp pháp nhưng hoàn toàn không báo cáo và không đăng

Sản xuất bất hợp pháp: là tất cả các hoạt động nhằm hướng đến sản xuất hay

phân phối những sản phẩm hay dịch vụ mà việc bán, phân phối hoặc sở hữu chúng bị pháp luật cấm

Trang 29

2.4.4 Nguyên nhân dẫn đến hoạt động kinh tế ngầm

Sự tồn tại của hoạt động kinh tế ngầm đã trở thành một hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, không chỉ ở các quốc gia chậm phát triển mà ngay tại các quốc gia phát triển thì quy mô của các hoạt động kinh tế ngầm vẫn có dấu hiệu của sự tăng trưởng Một số nhà nghiên cứu cho rằng kinh tế ngầm làm biến dạng sự phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập mà Chính phủ lại không thu được thuế, do vậy cần phải loại bỏ dần dần khỏi nền kinh tế khi đất nước phát triển Theo kết quả nghiên cứu của Alm & Embaye (2013) thì quy mô kinh tế ngầm ở nhóm nước có thu nhập thấp và trung bình chiếm khoảng 37% GDP của các quốc gia đó Võ Hồng Đức & Lý Hưng Thịnh (2014) nghiên cứu cho 8 quốc gia đang phát triển của khu vực Asean cũng cho thấy quy mô kinh tế ngầm chiếm khoảng 20% GDP của các quốc gia này Vậy câu hỏi là tại sao và do nguyên nhân gì?

Theo Hirschman (1970) sự gia tăng của hoạt động kinh tế ngầm được xem là phản ứng của người dân đối với sự quá tải của gánh nặng thuế, an sinh xã hội và sự cứng nhắc của thể chế Thay vì phải lên tiếng đòi hỏi các thay đổi từ chính trị và

chính sách thì người dân thường chọn cách “an toàn hơn” để thoát khỏi những

“ràng buộc” này bằng việc gia nhập vào khu vực kinh tế ngầm Điều này đồng

nghĩa với việc quy mô kinh tế ngầm là một trong những thước đo phản ánh chất lượng thể chế của chính quốc gia đó Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới có thể rút ra bốn nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tồn tại và phát triển tế ngầm gồm: (1) Chính sách kinh tế hiện hành; (2) Thể chế và chất lượng thể chế; (3) Hệ thống phúc lợi xã hội; (4) Sự thay đổi từ thị trường sức lao động

Nguyên nhân từ chính sách kinh tế hiện hành: Hệ thống thuế là vấn đề tập

trung được hầu hết các nhà nghiên cứu nhấn mạnh về vai trò của nó đối với

sự tồn tại và phát triển của các hoạt động kinh tế ngầm (Trandel, 1994; Schneider & Neck, 1993; Loayza, 1996 và Feige, 2007) Quá nhiều loại thuế

và mức thuế suất cao là 2 nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các hành vi trốn thuế, tránh thuế của các chủ doanh nghiệp Schneider & Neck (1993) khi nghiên cứu các hoạt động kinh tế ngầm tại Áo đã tìm được mối tương quan

Trang 30

dương giữa hệ thống thuế và quy mô kinh tế ngầm Theo đó hệ thống thuế càng cao và phức tạp sẽ khuyến khích sự mở rộng của hoạt động kinh tế ngầm Hai tác giả lập luận rằng các cá nhân và hộ gia đình sẽ luôn so sánh lợi ích khi trốn thuế và hậu quả trốn thuế để đưa ra quyết định Kết luận này nhận được sự ủng hộ trong các nghiên cứu của Kirchgaessner (1983), Jan Klovland (1984)

Thể chế và chất lượng thể chế: Theo Hirschman (1970) sự xuất hiện của

hoạt động kinh tế ngầm là phản ứng của các cá nhân/tổ chức trước thể chế và chất lượng thể chế của mỗi quốc gia Về nguyên tắc, các thể chế chính thức (hệ thống các văn bản pháp quy) là khuôn khổ để định hình hành vi/cách ứng

xử đối với mỗi cá nhân, tổ chức để tạo sự ổn định xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế Như vậy, nếu các quy định này lỏng lẻo sẽ tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế ngầm phát triển Điều không may theo phát hiện của Johnson và công sự (1998) là nếu một thể chế chính thức quá phức tạp với nhiều cấm đoán cũng sẽ thúc đẩy các hoạt động kinh tế ngầm của các cá nhân/tổ chức

Hệ thống phúc lợi, an sinh xã hội: Các nghiên cứu của Volker Riebel

(1984), Schneider & Enste (2000) cho thấy với hệ thống chi phí dịch chuyển cho hệ thống phúc lợi xã hội đã thúc đẩy các cá nhân lựa chọn làm việc ở khu vực kinh tế ngầm hơn là làm việc trong khu vực chính thức Điều này là phù hợp với các nguyên lý của kinh tế học, theo các tác giả mỗi cá nhân khi quyết định khu vực làm việc thì luôn phải đánh đổi/cân nhắc giữa chi phí và lợi ích Do vậy, nếu việc tham gia vào khu vực chính thức khó khăn hơn, phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn lao động hơn (bằng cấp, sức khỏe, ngoại hình…) hoặc thu được lợi ích ít hơn thì người lao động sẵn sàng chuyển sang khu vực phi chính thức

Sự thay đổi của thị trường sức lao động: Khu vực kinh tế chính thức luôn

đứng trước các “cú sốc” về kinh tế (thiên tai, khủng hoảng kinh tế, chiến

tranh…) Nên sự thay đổi trên thị trường sức lao động cũng là một nguyên nhân làm gia tăng các hoạt động kinh tế ngầm Sự thay đổi này nằm ở ba góc

Trang 31

độ: Thứ nhất, độ tuổi lao động ngày nay ngày càng được rút ngắn tương đối

ngắn so với tuổi thọ và sức khỏe của người lao động Điều này dẫn đến nhiều người ở độ tuổi nghỉ hưu nhưng vẫn đủ sức khỏe và có mong muốn tiếp tục làm việc thì không được khu vực kinh tế chính thức tuyển dụng, buộc họ

phải chuyển sang khu vực phi chính thức Thứ hai, thời gian làm việc linh

hoạt, đánh giá công việc theo kết quả cuối cùng nên khuyến khích nhiều lao động có thể đảm nhiệm cùng lúc nhiều công việc cả ở khu vực chính thức và

khu vực phi chính thức Thứ ba, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật sẽ đưa máy

móc làm thay cho công việc của con người với năng suất và chất lượng cao hơn Điều này, làm cho một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động không đủ trình độ sử dụng máy móc hoặc không cạnh tranh được về năng suất lao động sẽ thất nghiệp Trong khi các hoạt động kinh tế ngầm thì ít đòi hỏi tiêu chuẩn về lao động, thủ tục ra nhập hoặc rút khỏi đơn giản hơn, dẫn đến hoạt động kinh tế ngầm gia tăng và quản lý cũng như xử lý sẽ phức tạp hơn nhiều

2.4.5 Mối quan hệ giữa kinh tế ngầm và kinh tế chính thức

Theo tìm hiểu của tác giả thì mối quan hệ giữa kinh tế ngầm và kinh tế chính thức được thực hiện khá nhiều ở các quốc gia phát triển, nhưng ở các quốc gia đang phát triển thì số lượng công trình nghiên cứu về hoạt động kinh tế ngầm còn khiêm tốn Kết quả nghiên cứu định lượng về mối quan hệ này cũng khá mơ hồ, không đồng nhất và chia thành hai nhóm:

Nhóm kết luận cùng chiều: Một số nghiên cứu trước kết luận rằng kinh tế

ngầm có mối quan hệ cùng chiều với kinh tế chính thức Điều này có nghĩa là quy

mô kinh tế ngầm có khuynh hướng tăng lên cùng với quy mô của khu vực kinh tế chính thức Nghiên cứu của Adam & Ginsburgh (1985) cho kinh tế Bỉ, nghiên cứu của Schneider & Bajada (2003) cho kinh tế Canada đều cho kết luận như vậy Các tác giả lập luận rằng khi Chính Phủ thực hiện nới lỏng các điều kiện kinh doanh để tạo điều kiện cho kinh tế của khu vực chính thức phát triển thì cũng là điều kiện để kinh tế ngầm phát triển theo Dưới góc độ quản lý nhà nước thì khu vực kinh tế ngầm tồn tại vì muốn tránh các khoản thuế, nhưng dưới góc độ hoạt động sản xuất

Trang 32

vật chất thì khu vực kinh tế ngầm cũng phải sử dụng các loại nguyên, nhiên vật liệu, điện năng, vận chuyển v.v… do vậy khi quy mô kinh tế ngầm phát triển cũng đóng góp gián tiếp khuyến khích khu vực kinh tế chính thức phát triển (mặc dù điều này không được hạch toán trong ngân sách nhà nước)

Nhóm kết luận ngược chiều: Cũng nhiều nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ

ngược chiều giữa quy mô kinh tế ngầm với quy mô kinh tế chính thức Tức là, khi kinh tế chính thức càng phát triển thì quy mô kinh tế ngầm càng bị thu hẹp Các nghiên cứu này tập trung vào ước lượng quan hệ một chiều Fichtenbaum (1989) kết luận sự tăng trưởng nhanh hơn của hoạt động kinh tế ngầm đã tác động tiêu cức đến kinh tế chính thức của Mỹ trong suốt giai đoạn từ 1970-1989 Kaufmann & Kaliberda (1996) nghiên cứu cho các quốc gia chuyển đổi từ các nước xã hội chủ nghĩa sang tư bản chủ nghĩa cho kết luận là hoạt động kinh tế ngầm làm giảm nhẹ tăng trưởng GDP của khu vực chính thức Cụ thể là 10% tích lũy sự suy giảm của khu vực kinh tế chính thức, là do có sự tăng lên 4% của khu vực kinh tế bất hợp pháp

Tác giả lược khảo một số nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế ngầm với quy mô khu vực kinh tế chính thức thông qua bảng 1

Bảng 1: Mối quan hệ giữa kinh tế ngầm và kinh tế chính thức

Adam & Ginsburgh (1985) Bỉ Quan hệ dương SE  GDP

Schneider (1999) Đức & Áo Quan hệ dương SE  GDP

Dobre và cộng sự., (2009) Tây Ban Nha Quan hệ âm GDP  SE

Phạm Minh Tiến (2014) 08 nước Asean Quan hệ âm SE  GDP

Trang 33

Ghi chú: SE (Shadow economy) là quy mô của khu vực kinh tế ngầm, GDP là

quy mô của khu vực kinh tế chính thức

2.5 Một số nghiên cứu thực nghiệm về tác động của FDI, chất lượng “vốn con người” và quy mô kinh tế ngầm

2.5.1 Mối quan hệ giữa FDI và quy mô kinh tế ngầm

Việc lý giải bằng thực tế kênh tác động của FDI đến kinh tế ngầm tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư đã được nghiên cứu nhưng khá rời rạc, và vẫn là thách thức đối với các nhà nghiên cứu Theo giải thích của Nikopour và cộng sự (2009) thì thu hút FDI cao hơn sẽ thúc đẩy GDP, tức là khu vực chính thức phát triển điều này gián tiếp làm giảm quy mô khu vực kinh tế ngầm giảm đi Tương tự như vậy, Davidescu & Strat (2015) tìm thấy một quan hệ nhân quả ngắn hạn một chiều tiêu cực chỉ chạy từ FDI đến nền kinh tế ngầm trong trường hợp của Romania, nhưng cũng không giải thích cụ thể là tác động đó bằng kênh truyền dẫn nào

Christensen and Kapoor, (2004) cho rằng kênh truyền dẫn đầu tiên đó là

“gánh nặng thuế”, các MNC và các công ty con của MNC hoạt động trên nhiều quốc gia nên họ có kinh nghiệm để so sánh khả năng “trốn thuế” ở các quốc gia

Thực tế này đã được chứng minh là ở những quốc gia/vùng kinh tế có mức thuế suất

rất thấp (được gọi là các thiên đường thuế - Tax haven) thì số lượng thu hút FDI

luôn rất lớn (Killian, 2006) Kết luận này cũng được nghiên cứu của Ali & Bohara (2017) xác nhận, theo đó kinh tế ngầm cao hơn làm tăng dòng vốn FDI vì các MNC tận dụng lợi thế trốn thuế ở các nước chủ nhà với quy mô nền kinh tế cao hơn

Theo tìm hiểu của tác giả thì chỉ có nghiên cứu của Hesam Nikopour và cộng

sự (2009) là đề cập trực tiếp đến mối quan hệ giữa FDI và kinh tế ngầm Nhóm tác giả sử dụng dữ liệu của 145 quốc gia trên thế giới từ 2000-2005, bằng phương pháp ước lượng momen tổng quát (system GMM) tìm thấy bằng chứng thống kê là FDI

và kinh tế ngầm có mối quan hệ nhân quả Granger hai chiều Theo đó, thu hút FDI càng tăng thì quy mô kinh tế ngầm giảm, còn quy mô kinh tế ngầm tăng lại thu hút FDI tốt hơn

Trang 34

Mối quan hệ giữa FDI và kinh tế ngầm cũng có thể được lý giải theo cách phản chiếu, tức là thông qua kinh tế chính thức Bởi vì, kinh tế ngầm và kinh tế chính thức có tính “đối lập” tương đối, khi khu vực này phát triển thì khu vực kia có

xu hướng bị thu hẹp Kueh (1992) nghiên cứu các vùng duyên hải của Trung Quốc, kết luận FDI đóng góp có ý nghĩa vào tổng vốn đầu tư cũng như tăng trưởng sản lượng và xuất khẩu Blomstrom và cộng sự (1992) và Rodriguez-Glare (1996) cũng cho rằng FDI có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước sở tại thông qua chuyển giao công nghệ và hiệu quả lan tỏa Chuyển giao công nghệ trực tiếp từ các doanh nghiệp đa quốc gia đối với các chi nhánh địa phương cho phép các nước chủ nhà nâng cấp các ngành công nghiệp của họ bằng cách tiếp thu công nghệ mới trong sản xuất Athukorala và Menon (1995) cho thấy FDI tác động đến Malaysia về chuyển giao công nghệ và cải thiện kỹ năng của lực lượng lao động FDI cũng góp phần gián tiếp đến tăng trưởng thông qua các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh với các chi nhánh nước ngoài và sự phổ biến của kỹ năng lao động trong nền kinh tế khi các nhân viên di chuyển đến các công ty thuộc sở hữu trong nước

FDI không chỉ gia tăng cung cấp vốn ở các nước tiếp nhận mà còn đưa đến các hiệu ứng lan tỏa thông qua rất nhiều kênh như sao chép, học hỏi kỹ năng, cạnh tranh và xuất khẩu (Gorg và Greenaway, 2004) Ramirez (2000) nghiên cứu FDI tác động đến tăng trưởng kinh tế Mexico, giai đoạn 1960-1995 với phương pháp hiệu chỉnh sai số Kết quả ghi nhận tác động tích cực của FDI đến kinh tế Mexico thông qua năng suất lao động Bende-Nabende và Ford (1998) dùng dữ liệu của Đài Loan giai đoạn 1959-1995 với phương pháp ước lượng 3SLS để nghiên cứu FDI, điều chỉnh chính sách và tăng trưởng ở Đài Loan Kết quả, FDI tác động tích cực đến kinh tế Đài Loan

Kim và Seo (2003) sử dụng dữ liệu ở Hàn Quốc giai đoạn 1985-1999, cho thấy tác động tích cực mạnh mẽ từ tốc độ tăng trưởng GDP tới FDI và không tồn tại tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế nhưng FDI góp phần tăng trưởng đầu tư trong nước, thể hiện tác động lan tỏa của dòng vốn FDI Akinlo (2004) dùng dữ liệu

ở Nigeria giai đoạn 1970-2001 để nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng

Trang 35

kinh tế, cho thấy FDI tác động đến kinh tế Nigeria Dritsaki và cộng sự (2004) phát hiện tác động một chiều từ FDI đến xuất khẩu và từ FDI đến GDP thực ở Hy Lạp bằng cách sử dụng dữ liệu hàng năm của IMF giai đoạn 1960-2002 Fedderke và Romm (2006) dùng dữ liệu giai đoạn 1956-2003 ở Nam Phi, cho thấy dòng vốn FDI vào Nam Phi chủ yếu theo chiều ngang thay vì theo chiều dọc

Gần đây, Mihai Daniel Roman và Andrei Padureanu (2012) đề xuất mô hình cho mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế trong quá trình chuyển đổi ở Romania, luận văn sử dụng mô hình tân cổ điển với chức năng sản xuất Cobb-Douglas để phân tích tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Kết quả, kinh tế Romania tăng trưởng từ ảnh hưởng tích cực của chính sách tài khóa, FDI và từ mức

độ hòa nhập vào EU

Ở Việt Nam, Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2006) sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian giai đoạn 1988-2003, cho thấy tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế qua kênh đầu tư Le Thanh Thuy (2007) nhận định FDI vừa tác động trực tiếp vừa tác động lan tỏa gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam Le Viet Anh (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cho thấy đóng góp tích cực của dòng vốn FDI đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1988-2002

2.5.2 Mối quan hệ giữa chất lượng “vốn con người” và quy mô kinh tế ngầm

Số lượng các nghiên cứu trước đề cập trực tiếp vào mối quan hệ giữa chất lượng “vốn con người” và quy mô kinh tế ngầm còn khá ít Giles và Tedds (2002) cho rằng tác động của chất lượng “vốn con người” đến quy mô kinh tế ngầm là khá

mơ hồ, và có liên quan chặt chẽ đến các quy định của pháp luật về lao động và quản

lý thị trường lao động Theo Giles và Tedds (2002) ở các quốc gia có chất lượng

“vốn con người” cao thì quy mô khu vực kinh tế ngầm sẽ giảm do người dân nhận thức tốt về pháp luật nên họ sẽ tuân thủ pháp luật Bên cạnh đó, nhờ trình độ học vấn cao họ có thể dễ dàng tìm kiếm việc làm ở khu vực kinh tế chính thức Tại các quốc gia có chất lượng “vốn con người” cao, hoạt động kinh tế ngầm chủ yếu vì động cơ trốn/né thuế của các chủ doanh nghiệp chứ không tìm thấy động cơ từ phía

Trang 36

người lao động Tuy nhiên ở các quốc gia chậm hoặc đang phát triển thì vấn đề lại hoàn toàn khác Do chất lượng “vốn con người” thấp nên các quốc gia chậm/đang phát triển luôn phải đối mặt với một tỉ lệ thất nghiệp cao

Dell’Anno và Solomon (2006) tìm được hệ số tương quan dương tỉ lệ thất nghiệp và quy mô kinh tế ngầm Phân tích sâu hơn mối quan hệ này, hai tác giả

nhận thấy tỉ lệ thất nghiệp sẽ dẫn đến hai tác động cho nền kinh tế, đó là: (i) Tác

động trực tiếp là làm giảm tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế chính thức (tuân

theo định luật Okun) và (ii) Tác động gián tiếp làm tăng các hoạt động kinh tế ngầm

(do áp lực về thu nhập để đảm bảo đời sống) Nói cách khác, khu vực kinh tế ngầm hoạt động như “vùng đệm” hay “cứu cánh” cho người dân khi mà khu vực kinh tế chính thức gặp các trục trặc

Nghiên cứu của Mutascu (2008) cho kinh tế Romania giai đoạn 1990-2007

và nghiên cứu của Bajda và Schneider (2009) cho các nước OECD cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về tính chất “vùng đệm” này Bajda và Schneider (2009) cho rằng vấn đề việc làm sẽ sôi động hơn ở khu vực kinh tế ngầm bất chấp chất lượng “vốn con người” cao hay thấp khi tỉ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng lên trong nền kinh tế Mặc dù Chính phủ có cố gắng bù đắp một phần thu nhập cho lực lượng lao động thông qua các chính sách về trợ cấp thất nghiệp hoặc bảo hiểm thất nghiệp, nhưng áp lực về thu nhập để duy trì cuộc sống buộc người dân phải tham gia vào kinh tế ngầm vì hầu như họ không có lựa chọn nào đáng tin cậy hơn trong hoàn cảnh thất nghiệp Một ngạc nhiên khác là không chỉ người thất nghiệp tham gia vào kinh tế ngầm mà ngay cả người đang có việc làm toàn thời gian hay bán thời gian cũng có thể tham gia vào kinh tế ngầm theo phương thức không chính thống hoặc bán thời gian (ví dụ: bán hàng cá nhân thông qua các mạng xã hội)

Bajda và Schneider (2009) chọn ra 12 quốc gia thuộc OECD (đây là các nước

có chất lượng “vốn con người” cao theo xếp hạng của Tổ chức Lao động quốc tế)

có quy mô kinh tế ngầm tăng để nghiên cứu thì kết quả lại cho thấy quy mô kinh tế ngầm vẫn tăng mặc dù tỉ lệ thấp nghiệp giảm Lý giải cho điều này, hai tác giả cho rằng tỉ lệ thất nghiệp có ảnh hưởng tạm thời chứ không phải vĩnh viễn Theo đó,

Trang 37

kinh tế ngầm sẽ là nơi trú ẩn tạm thời khi tình trạng thất nghiệp gia tăng, chứ trong một quốc gia pháp trị thì hầu hết lực lượng lao động đều muốn tham gia ở khu vực kinh tế chính thức Nói cách khác, tỉ lệ thất nghiệp sẽ tác động trong ngắn hạn còn chất lượng “vốn con người” sẽ tác động đến quy mô kinh tế ngầm trong dài hạn Mối quan hệ này có thể được giải thích rõ hơn thông qua 2 tác động sau:

Tác động thu nhập: Theo đó, khi thu nhập giảm sẽ dẫn đến sự suy giảm về

tổng cầu trong toàn nền kinh tế Tức là sẽ làm giảm cả quy mô của khu vực chính thức lẫn khu vực kinh tế ngầm

Tác động thay thế: Theo đó, khi khu vực kinh tế chính thức gặp các “trục

trặc” sẽ làm gia tăng tỉ lệ thất nghiệp Lực lượng lao động bị thất nghiệp sẽ tìm kiếm cơ hội thay thế ở khu vực kinh tế ngầm, điều này làm quy mô kinh

tế ngầm phát triển

Trong nghiên cứu của Maloney (2004) thì chất lượng “vốn con người” lại là nguyên nhân cổ vũ cho sự gia tăng của khu vực kinh tế ngầm Theo giải thích của Maloney thì người lao động có chất lượng “vốn con người” cao thường đòi hỏi điều kiện làm việc, thu nhập và chế độ phúc lợi xã hội tương xứng Điều này là chính đáng nhưng tạo ra áp lực chi phí lớn cho doanh nghiệp, và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Trong ngắn hạn, chủ doanh nghiệp có thể sẽ chấp nhận, nhưng trong dài hạn họ luôn tìm kiếm các giải pháp thay thế rẻ tiền hơn như sử dụng lao động trẻ

em, người yếu thế trong xã hội… Ngoài ra chính sách bảo trợ xã hội cũng góp phần không nhỏ, do áp lực phải tuân thủ các quy định về bảo trợ xã hội cao của Chính Phủ mà người lao động và người sử dụng lao động xuất hiện nhu cầu thỏa thuận để cùng trốn/né các trách nhiệm này Theo Kucera và Roncolato (2008) thì việc trốn tránh này diễn ra phổ biến ở lực lượng lao động có thu nhập thấp và quốc gia chậm phát triển

Chất lượng “vốn con người” còn ảnh hưởng đến quy mô kinh tế ngầm thông qua quy định về số giờ làm việc và độ tuổi nghỉ hưu Cùng với tiến bộ về khoa học

kỹ thuật, khi người lao động có chất lượng “vốn con người” tốt họ có năng suất lao động cao hơn, hoàn thành công việc nhanh hơn Nếu doanh nghiệp cứng nhắc áp

Trang 38

dụng quản lý thời gian làm việc hoặc chế độ đãi ngộ không thỏa đáng thì người lao động sẽ lảnh tránh/trì hoãn công việc chính thức và tìm kiếm công việc bán thời gian ngay trong chính thời gian làm việc Các giao dịch trực tiếp khó được thực hiện thì người lao động có trình độ cao thường tìm kiếm cơ hội hoặc vô tình tham gia vào khu vực kinh tế ngầm thông qua các giao dịch tận dụng ưu thế của mạng internet Điều này chỉ được thực hiện nếu có chất lượng “vốn con người” tốt Như vậy, chất lượng “vốn con người” tăng thì quy mô kinh tế ngầm có xu hướng tăng lên Bên cạnh đó, việc quy định độ tuổi nghỉ hưu cũng có ảnh hưởng tương tự Người có chất lượng “vốn con người” cao mà phải nghỉ hưu sớm thì không khác gì

cổ vũ họ tham gia làm gia tăng hoạt động của khu vực kinh tế ngầm

Đến nay, quan điểm về khu vực kinh tế ngầm còn nhiều khoảng cách, những

người theo thuyết nhị nguyên thì coi khu vực kinh tế ngầm là “sản phẩm phụ” của

khu vực kinh tế chính thức và cần phải loại bỏ càng nhiều càng tốt Nhưng những

người ủng hộ trường phái pháp lý thì quan niệm rằng khu vực kinh tế ngầm là “một lựa chọn thay thế cần thiết” và tồn tại một bộ phận trong lực lượng lao động sẽ

tham gia vào khu vực kinh tế ngầm một cách tự nguyện vì khu vực này không đòi hỏi điều kiện gia nhập, tránh đóng thuế và đóng góp an sinh xã hội (Tanzi, 1982; Schneider, 1997; Maloney, 2004) Trường phái pháp lý ủng hộ cho quan điểm kinh

tế ngầm là kết quả của chất lượng thể chế và chất lượng “vốn con người” thấp

Tóm lại, mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng “vốn con người” và quy mô của khu vực kinh tế ngầm vẫn cho các kết luận không đồng nhất Theo cách giải thích của Hirschman (1970) nó bắt nguồn từ truyền thống, văn hóa, tôn giáo, ý thức, niềm tin xã hội, chuẩn mực đạo đức của người dân ở từng quốc gia Khi gặp những khó khăn/rào cản ở khu vực kinh tế chính thức thì người dân thường lựa chọn cách “thoát ra” khỏi nền kinh tế chính thức, hơn là “lên tiếng” đòi hỏi sự thay đổi hoặc các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp hơn Đứng trên góc độ của những người yếu thế trong xã hội như trẻ em, người khuyết tật, người bị suy giảm khả năng lao động thì sự tồn tại của khu vực kinh tế ngầm có thể được coi là

“cơ hội việc làm mới” đối với họ Theo tìm hiểu của tác giả thì các nghiên cứu

Trang 39

trước cho trường hợp kinh tế Việt Nam thường sử dụng chỉ số “kiểm soát tham nhũng” làm đại diện cho chất lượng thể chế Trong khi chất lượng “vốn con người” của người dân và chất lượng điều hành của Chính Phủ thực sự là mối quan hệ tương

hỗ, hai chiều Điều này kết hợp với sự không đồng nhất trong tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tự minh chứng cần có thêm các nghiên cứu thực nghiệm khác để phân tích sâu hơn tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài và chất lượng

“vốn con người” đến sự thay đổi quy mô khu vực kinh tế ngầm ở Việt Nam

Tiểu kết chương 2

Trong chương này, tác giả đã đưa ra các khái niệm/định nghĩa về kinh tế ngầm, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và chất lượng “vốn con người” Đồng thời tác giả cũng lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trong và ngoài nước

về mối quan hệ giữa 3 biến số kinh tế này Kết quả thực nghiệm giúp tác giả xây dựng được mô hình nghiên cứu, lựa chọn biến, và phương pháp ước lượng Những vấn đề này sẽ được tiếp tục trình bày trong chương 3

Trang 40

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Quy trình nghiên cứu

Trên cơ sở quy trình nghiên cứu của John W.Creswell (2014) tác giả xây dựng quy trình nghiên cứu cho đề tài như sau:

Bảng 3.1: Quy trình nghiên cứu

Bước 1: Tác giả trích dẫn một số đánh giá, số liệu về mối quan hệ nhân quả

giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng thể chế và hoạt động kinh tế ngầm Từ

đó tìm ra khe hổng nghiên cứu, xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu

và phương pháp nghiên cứu

Bước 2: Tác giả khảo lược các lý thuyết về kinh tế ngầm, cách đo lường quy

mô kinh tế ngầm, các yếu tố tác động đến hoạt động kinh tế ngầm Đồng thời sưu tầm và tổng hợp các kết quả của các nghiên cứu trước có liên quan để xây dựng

Tổng hợp

lý thuyết nghiên cứu

Thu thập dữ liệu

từ các nguồn

Phân tích

Phân tích mối quan hệ nhân quả, tác động ngắn hạn, tác động dài hạn giữa các biến trong mô hình

Kiểm định

độ phù hợp và kiểm chứng mô hình lý thuyết

Tổng hợp và xử

lý dữ liệu trước khi phân tích

Mục tiêu

nghiên

cứu

Lý thuyết nghiên cứu nền

Các nghiên cứu trước liên quan

Xây dựng mô hình nghiên cứu

lý thuyết

Phân tích thống

kê mô tả các biến nghiên cứu

Ngày đăng: 16/02/2020, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm