Đề tài nghiên cứu tác động của cả dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia bằng cách sử dụng biến tương tác của hai biến số này
Trang 1TRẦN NHẬT HOÀNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
“TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN
THẾ GIỚI”
Trang 2TRẦN NHẬT HOÀNG
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN NGỌC HÙNG
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN
THẾ GIỚI
Trang 3được thu thập và tính toán từ các nguồn rõ ràng cụ thể
Các số liệu được trình bày trong luận văn một cách trung thực và chưa từng được công bố và nộp ở bất cứ nơi nào khác
Bài luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng
TP.Hồ Chí Minh ngày 18 tháng 10 năm 2019
Người thực hiện đề tài
Trần Nhật Hoàng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
TÓM TẮT - ABSTRACT
CHƯƠNG 1.GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi thu thập dữ liệu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Những điểm mới đề tài 4
1.6 Kết cấu của đề tài 5
CHƯƠNG 2.TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
2.1 Tổng quan lý thuyết 6
2.1.1 Lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh 6
2.1.2 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh 7
2.1.3 Lý thuyết về thể ……… 8
2.1.4 Mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế 12
2.1.5 Mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và tăng trưởng kinh tế 14
2.2 Các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài 15
2.2.1 Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế 15
2.2.2 Chất lượng thể chế và tăng trưởng kinh tế 23
Trang 53.2.1 Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 34
3.2.2 Chất lượng thể chế 36
3.2.3 Lạm phát 38
3.2.4 Độ mở thương mại 39
3.2.5 Chi tiêu chính phủ 40
3.2.6 Thất nghiệp 42
3.2.7 Cơ sở hạ tầng 43
3.3 Quy trình nghiên cứu 43
3.4 Phương pháp nghiên cứu 44
3.5 Dữ liệu nghiên cứu 45
CHƯƠNG 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Thống kê mô tả các biến và ma trận tương quan 49
4.2 Kết quả kiểm định tự tương quan và phương sai thay đổi 55
4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 56
4.3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDPGR 56
4.3.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDPPCGR 63
4.3.3 Đối với các quốc gia đã và đang phát triển ……… …69
CHƯƠNG 5.KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
5.1 Kết luận 73
5.2 Khuyến nghị 75
5.3 Hạn chế đề tài 76
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Tóm tắt: Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là mục tiêu chính của tất cả
các quốc gia trên thế giới Trong những nghiên cứu trước đây trên thế giới đã chỉ ra rằng chất lượng thể chế đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia Tuy nhiên, tác động cụ thể chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế thì hầu như phụ thuộc vào thị trường nội địa Mặc dù nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu trên thế giới, nhưng tại Việt Nam, số lượng nghiên cứu về chủ đề này và đặc biệt phân tích sự khác biệt giữa các nhóm quốc gia có thu nhập cao, thấp và trung bình tương đối khan hiếm Nên học viên lựa
chọn đề tài “Tác động của chất lượng thể chế và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia trên thế giới” với mong muốn làm
rõ hơn về vấn đề này
Đề tài nghiên cứu tác động của cả dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia bằng cách sử dụng biến tương tác của hai biến số này và tìm thấy rằng một quốc gia có chất lượng thể chế cao khi thực hiện chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sẽ có thể cải thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia cao hơn so với các quốc gia có chất lượng thể chế thấp Các yếu tố vĩ mô khác ví dụ như lạm phát, chi tiêu chính phủ, thất nghiệp… cũng thể hiện các tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế ở mức ý nghĩa thống kê cao
Mong rằng kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học khách quan để nhìn nhận đầy đủ về vấn đề tăng trưởng ở các quốc gia trên thế giới, đồng thời mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo với các yếu tố và phương pháp khác để giúp cho hướng nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Từ khóa: tăng trưởng, chất lượng thể chế, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Trang 7Summary: Sustainable and high economic growth is the main goal of all
countries in the world Previous studies in the world have shown that institutional quality play an important role in determining economic growth in countries However, the specific impact of institutional quality on economic growth is largely dependent on the domestic market Although receiving a lot of attention from researchers around the world, in Vietnam, the number of studies on this topic and especially analyzing the differences between high-income, low-income countries
and The average is relatively scarce Students should choose the topic "The impact
of institutional quality and the flow of foreign direct investment on the economic growth of countries in the world" with the desire to clarify this issue
Every one investigated the effects of both foreign direct investment inflows and institutional quality on countries' economic growth by using the interaction variables of these two variables and found that one country has High institutional quality when implementing policies to attract foreign direct investment will be able
to improve the nation's economic growth rate higher than countries with low institutional quality Other macro factors such as inflation, government spending, unemployment also show significant impacts on economic growth at a statistically high level
Hopefully, the research results will be an objective scientific basis to fully recognize growth issues in countries around the world, and open up further research directions with other factors and methods to help the research direction be more complete
Key words: growth, institutional quality, inflows of foreign direct investment
Trang 8nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế 20
Bảng 2.2 Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm tác động của chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế 27
Bảng 3.2 Danh sách các quốc gia trong mẫu nghiên cứu 46
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 49
Bảng 4.2 Ma trận tương quan 53
Bảng 4.3 Kiểm định hệ số VIF đối với phương trình biến phụ thuộc GDPGR 54
Bảng 4.4 Kiểm định hệ số VIF đối với phương trình biến phụ thuộc GDPPCGR 55
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định tự tương quan và phương sai thay đổi 55
Bảng 4.6 Kết quả ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế GDPGR 57
Bảng 4.7 Kết quả ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế GDPPCGR 65
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Đặt vấn đề
Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là mục tiêu chính của tất cả các quốc gia trên thế giới Theo đó các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách đã phân tích tác động của các yếu tố kinh tế và phi kinh tế đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Trong đó các cuộc tranh luận gần đây về các yếu tố xác định tốc độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn đã đề cập đến vai trò của khung thể chế khi giải thích sự khác biệt trong thu nhập bình quan đầu người giữa các quốc gia Thể chế - thường được định nghĩa như là “các ràng buộc mà chính con người áp đặt lên bản thân của họ” - được biết đến là có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tế trong những năm đầu của thế kỷ 18 Tuy nhiên, vai trò của thể chế trong việc xác định tốc
độ tăng trưởng kinh tế thì hầu như vẫn bị lu mờ (Nawaz, 2015) do các nghiên cứu trước đây tập trung phân tích vào các yếu tố khác như yếu tố vốn con người, yếu tố vốn vật chất và yếu tố phát triển công nghệ kỹ thuật khi xem xét các yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia
Dường như sau khi công trình về lý thuyết thể chế của North (1990) đề cập đền việc một chất lượng thể chế tốt có thể thúc đẩy tăng trưởng của quốc gia, thì yếu tố thể chế bắt đầu nhận được nhiều sự quan tâm sâu sắc từ các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và các học viên của các viện nghiên cứu Qua thời gia, các nghiên cứu thực hiện đã đưa đến kết luận chung khi cho rằng khung thể chế của một quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tốc độ tăng trưởng của quốc gia (Acemoglu và Robinson, 2010; Jones, 1987; North, 1981; North và Thomas, 1973) Theo đó, một số nghiên cứu thực nghiệm cung cấp bằng chứng mối quan hệ cùng chiều giữa thể chế và tăng trưởng kinh tế như nghiên cứu của Acemoglu và Robinson (2010), Iqbal và Daly (2014), Mauro (1995) và Rodrik và các cộng sự (2004) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cho rằng tác động của
Trang 10thể chế đến tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia phụ thuộc đáng kể vào môi trường kinh tế trong nước Chẳng hạn như các quốc gia ở Mỹ La Tin và các quốc gia ở Mỹ
có sự chấp nhận thể chế ở cùng một mức độ nhưng tăng trưởng kinh tế ở hai nhóm nước là khác nhau (Lin và Nugent, 1995) Pakistan và Ấn độ có thể chế, văn hóa và đặc điểm địa lý tương đồng nhau nhưng hiệu quả kinh tế của hai quốc gia lại có sự khác biệt Mặt khác, các quốc gia đã phát triển như Đức, Anh, Đài Loan và Hồng Kong đã có sự tăng trưởng kinh tế tương đối cao mặc dù khung thể chế giữa các quốc gia lại có sự khác biệt đáng kể (Valeriani và Peluso, 2011)
Từ đây có thể thấy rằng nhìn chung, chất lượng thể chế đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia Tuy nhiên, tác động
cụ thể của chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế thì hầu như phụ thuộc vào thị trường nội địa Cụ thể, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được cho rằng là yếu
tố có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tế và tác động này phụ thuộc mạnh
mẽ vào chất lượng thể chế của các quốc gia Mặc dù đã có nhiều sự quan tâm bởi các nhà nghiên cứu trên thế giới, nhưng tại Việt Nam, số lượng nghiên cứu về chủ
đề này và đặc biệt phân tích sự khác biệt giữa các nhóm quốc gia có thu nhập cao, thấp và trung bình tương đối khan hiếm Đó chính là lý do học viên lựa chọn đề tài
“Tác động của chất lượng thể chế và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến
tăng trưởng của các quốc gia trên thế giới” làm đề tài luận văn thạc sỹ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là xem xét tác động của chất lượng thể chế và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tiến hành phân tích hai câu hỏi nghiên cứu sau:
Trang 11Đầu tiên, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động cùng chiều (+) hay ngược (-) đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới?
Thứ hai, chất lượng thể chế có tác động cùng chiều (+) hay ngược (-) đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới ?
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi thu thập dữ liệu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng thể chế và các yếu tố kinh tế vĩ mô khác đến tăng trưởng kinh tế
Phạm vi thu thập dữ liệu
Luận văn sử dụng dữ liệu của 70 quốc gia đang phát triển và đã phát triển ở khu vực Á – Âu trong giai đoạn 2000 – 2016 Dữ liệu của các quốc gia này được luận văn thu thập trên cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế Giới (WorldBank)
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng của Mankiw và các cộng sự (1992), Hall và Jones (1999) và Hayat (2016) để phân tích tác động của chất lượng thể chế và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 2000 – 2016 Cụ thể, phương trình nghiên cứu được trình bày như sau:
𝐺𝑑𝑝𝑝𝑐𝑔𝑟𝑖𝑡 = 𝛽0+ 𝛽1∗ 𝐺𝑑𝑝𝑝𝑐𝑔𝑟𝑖𝑡−1+ 𝛽2 ∗ 𝐹𝐷𝐼𝑖𝑡+ 𝛽3∗ 𝐼𝑛𝑠𝑖𝑡+ 𝛽4 ∗
𝐹𝐷𝐼𝑖𝑡∗ 𝐼𝑛𝑠𝑖𝑡+ 𝛽5∗ 𝑇𝑟𝑎𝑑𝑒𝑂𝑝𝑖𝑡 + 𝛽6∗ 𝑈𝑛𝑒𝑚𝑝𝑖𝑡+ 𝛽7∗ 𝑇𝑒𝑙𝑒𝑖𝑡+ 𝛽8∗ 𝐺𝑜𝑣𝑒𝑥𝑝𝑖𝑡 +
Trong đó
Trang 12𝐺𝑑𝑝𝑝𝑐𝑔𝑟𝑖𝑡 là tăng trưởng kinh tế được đo lường bởi sự gia tăng trong GDP trên đầu người ở năm t và năm t – 1
𝐺𝑑𝑝𝑝𝑐𝑔𝑟𝑖𝑡−1 là tăng trưởng kinh tế ở năm trước
𝐹𝐷𝐼𝑖𝑡 là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được tính bởi tỷ lệ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên GDP
𝐼𝑛𝑠𝑖𝑡 là chất lượng thể chế được đại diện bởi 06 chỉ tiêu của bộ dữ liệu Các chỉ số quản trị toàn cầu bao gồm (1) tiếng nói và trách nhiệm giải trình, (2) ổn định chính trị và không bạo lực, (3) hiệu quả của chính phủ, (4) chất lượng các quy định, (5) nhà nước pháp quyền và (6) kiểm soát tham nhũng
𝐼𝑛𝑓𝑖𝑡 là lạm phát được tính bởi sự gia tăng trong chỉ số giá tiêu dùng
𝐺𝑜𝑣𝑒𝑥𝑝𝑖𝑡 là chi tiêu chính phủ được tính bởi tỷ lệ chi tiêu chính phủ trên GDP
𝑇𝑟𝑎𝑑𝑒𝑜𝑝𝑖𝑡 là độ mở cửa thương mại được tính bởi tổng xuất khẩu và nhập khẩu của quốc gia trên GDP
𝑈𝑛𝑒𝑚𝑝𝑖𝑡 là tỷ lệ thất nghiệp
𝑇𝑒𝑙𝑒𝑖𝑡 đại diện cho cơ sở hạ tầng và được đo lường bởi số lượng đường dây điện thoại trên 100 người
𝜀𝑖𝑡 là phần dư mô hình
1.5 Những điểm mới đề tài
Đề tài nghiên cứu tác động của cả dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia bằng cách sử dụng biến tương tác của hai biến số này và tìm thấy rằng một quốc gia có chất lượng thể chế cao khi thực hiện chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sẽ có
Trang 13thể cải thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia cao hơn so với các quốc gia có chất lượng thể chế thấp
Hơn thế nữa, đề tài cũng phân tích một mẫu nghiên cứu lớn hơn so với một
số nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam, trong đó mẫu nghiên cứu bao gồm 70 quốc gia đã phát triển và đang phát triển ở trên thế giới thuộc khu vực Á – Âu trong giai đoạn 2000 – 2016
1.6 Kết cấu của đề tài
Luận văn bao gồm 05 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN
CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
2.1 Tổng quan lý thuyết
Lý thuyết tăng trưởng cung cấp cách để quan sát và giải thích sự tăng trưởng kinh tế trên toàn cầu Lý thuyết tăng trưởng là một công cụ để hiểu rõ hơn về các yếu tố thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thông qua cung cấp các mô hình, cơ chế, các giải thích và sự kỳ vọng Theo thời gian, nhiều lý thuyết nền và các bằng chứng thực nghiệm đã được thực hiện với mục đích xác định các yếu tố thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia, từ đó đưa ra các đề xuất cho các nhà hoạch định chính sách quốc gia để lắp đầy khoảng cách giữa quốc gia đã phát triển
và đang phát triển cũng như tạo ra sự phát triển bền vững (De Jager, 2004) Đồng thời, trong phần này, luận văn tập trung phân tích lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh exogenous growth) và lý thuyết tăng trưởng nội sinh (endogenous growth)
2.1.1 Lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh
Lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh, thường được biết đến với cái tên là lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển hoặc lý thuyết tăng trưởng Solow – Swan, được đề xuất bởi Solow (1956) Lý thuyết này giả định rằng tăng trưởng kinh tế sẽ được thúc đẩy thông qua các yếu tố ngoại sinh của hàm sản xuất chẳng hạn như vốn tích lũy và lao động Đồng thời, Barro và Sala – I – Martin (1995) đã chứng minh rằng tăng trưởng kinh tế và vốn được tích lũy qua thời gian có mối quan hệ cùng chiều với nhau Theo đó, lý thuyết này giả định rằng lượng lao động và mức độ công nghệ không thay đổi, khi đó sự gia tăng trong vốn đầu tư sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia (Barro và Sala – I – Martin, 1995; De Jager, 2004) Do đó, tăng trưởng kinh tế chỉ bị ảnh hưởng trong ngắn hạn bởi yếu tố vốn tích lũy, mà yếu tố này được xác định bởi tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ chiết khấu Mặt khác, tăng trưởng kinh tế cũng
Trang 15được quyết định bởi các yếu tố ngoại sinh khác như tiến bộ công nghệ kỹ thuật trong dài hạn (Barro và Sala – I – Martin, 1995) Cho nên tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phụ thuộc vào vốn tích lũy và lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật cao Kết quả là, khi các nhà đầu tư nước ngoài dịch chuyển dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia nhận đầu tư và đưa ra các công nghệ kỹ thuật cao đối với quá trình sản xuất của quốc gia sở tại thì có thể làm gia tăng năng suất của lực lượng lao động và vốn (De Jager, 2004) Nhìn chung, lý thuyết này lập luận rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp sẽ tăng cường nguồn vốn của quốc gia sở tại Và sau
đó sẽ thúc đẩy răng trưởng kinh tế với một trạng thái ổn định mới bằng việc tích lũy nguồn vốn này Từ đây có thể thấy rằng lập luận của lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn thông qua việc cải thiện đầu tư trong nước (Herzer và Klasen, 2008)
2.1.2 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh
Vào những năm 1980, khi các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách nhận thấy lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh không giải thích đầy đủ các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (Barro và Sala – I – Martin, 1995), thì Romer (1986) đã đề xuất lý thuyết tăng trưởng nội sinh khi tập trung vào việc phân tích hai yếu tố Theo đó lý thuyết này xác định tăng trưởng kinh tế xuất phát từ vốn con người và sự thay đổi trong công nghệ kỹ thuật (De Jager, 2004) Cơ chế của lý thuyết này liên quan đến việc vốn con người là sự gia tăng trong lực lượng lao động Điều này có nghĩa là tăng trưởng kinh tế có thể được thúc đẩy ngoại sinh với tốc độ gia tăng không thay đổi Sau đó, sự tăng trưởng kinh tế này sẽ được kích thích bởi sự thay đổi trong công nghệ kỹ thuật, điều này cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế có thể được thúc đẩy nội sinh thông qua việc lực lượng lao động thay đổi công nghệ kỹ thuật (De Jager, 2004) Tuy nhiên, đặc điểm chỉnh của lý thuyết này
là sự thiếu hiện diện của sự suy giảm trong tỷ suất sinh lợi của vốn đầu tư (Ho và các cộng sự, 2007) Do đó, sự tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật dưới hình thức tạo
Trang 16ra nhiều ý tưởng mới sẽ là yếu tố then chốt trong việc bỏ qua sự suy giảm trong tỷ suất sinh lợi của vốn đầu tư trong dài hạn Lý thuyết này lập luận rằng sự tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật sẽ được cải thiện nội sinh bằng cách sao chép các kiến thức từ việc nghiên cứu và phát triển (R&D) và việc phát triển kiến thức này có thể tạo ra ngoại tác tích cực và hiệu ứng lan tỏa tăng trưởng kinh tế (Barro và Sala – I – Martin, 1995; Ho và các cộng sự, 2007) Kết quả là, việc nghiên cứu và phát triển,
sự tích lũy về vốn con người và hiệu ứng lan toản kiến thức có thể được xem như là các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (Meyer, 2003) Hiệu ứng lan tỏa xảy ra khi kiến thức được tạo ra từ việc nghiên cứu và phát triển ở một quốc gia
có thể tạo ra tác động tích cực ở quốc gia khác (De Mello, 1997) Lý thuyết tăng trưởng nội sinh xác định tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy trong dài hạn bằng việc đưa ra các quy trình công nghệ kỹ thuật cao ở quốc gia sở tại và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được giả định rằng hiệu quả hơn đầu tư nội địa (De Mello, 1999; Herzer và Klasen, 2008) Do đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ cải thiện tăng trưởng kinh tế thông qua sự lan tỏa công nghệ kỹ thuật
Trang 17Ở khía cạnh khác, thể chế cũng không bó gọn trong một lĩnh vực cụ thể của đời sống con người Nó không chỉ liên quan đến vấn đề kinh tế như phân bố nguồn lực khan hiếm; đến vấn đề chính trị như cấu trúc hay sự phân chia quyền lực nhà nước; mà còn liên quan tới cả vấn đề xã hội như sự công bằng hay vấn đề môi trường như kiểm soát sự ô nhiễm Nó hiện diện ở mọi lĩnh vực trong đời sống con người, xuyên suốt và kết nối các lĩnh vực với nhau để hình thành một chỉnh thể có
tổ chức của các cộng đồng
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, hầu hết các khái niệm về thể chế đều đặt trọng tâm vào các nhân tố mang tính xã hội mà ít nhiều ảnh hưởng đến hành vi của con người John Commons, một trong những nhà kinh tế học thể chế thời kỳ đầu, đã xem thể chế như một dạng hành động tập thể nhằm đạt được sự kiểm soát, giải phóng và mở rộng hành động cá nhân (Commons, 1931) Các mục tiêu hướng tới ở đây của thể chế vừa đối lập vừa thống nhất với nhau Các thỏa thuận của xã hội trong kiểm soát hành động cá nhân, trong những phạm vi nhất định, chính là điều kiện để đảm bảo và mở rộng sự tự do của mọi thành viên trong xã hội
Định nghĩa về thể chế hiện được dẫn nhiều nhất hiện nay là của Douglas North, nhà kinh tế học thể chế đi tiên phong trong việc xây dựng khung khổ phân tích, tích hợp các vấn đề thể chế vào mổ xẻ các vấn đề kinh tế Cách tiếp cận của North không chỉ được các nhà kinh tế sử dụng, mà còn được nhiều nhà khoa học ở các lĩnh vực khoa học xã hội khác bổ sung, chỉnh sửa nhằm đặt nền móng cho các phân tích của họ về thể chế North (1994) cho rằng thể chế là những ràng buộc do con người đặt ra để tạo khuôn khổ cho các mối quan hệ tương tác của mình Thể chế bao gồm các ràng buộc chính thức (quy tắc, luật, hiến pháp ) và phi chính thức (chuẩn mực hành vi, tục lệ, quy tắc ứng xử ), và các đặc trưng thực thi của chúng Thể chế chính là "luật chơi" còn tổ chức và cá nhân trong đó là "người chơi"
Trang 18Ở khía cạnh khác, North (1990) khẳng định rằng khi kết hợp với nhau, các thể chế xác định cấu trúc động cơ của xã hội và nền kinh tế Chúng có thể được tạo ra hoặc tiến triển theo thời gian, và được con người thay đổi Quan niệm của North trước hết xuất phát từ cá nhân, tiếp theo cách phân tích sự kết hợp giữa các lựa chọn cá nhân với các ràng buộc thể chế lên các tập hợp lựa chọn đó Thể chế bao hàm 3 đặc điểm chính: i) Do con người tạo ra; ii) Xác định cấu trúc động cơ và hình thành quan hệ tương tác; và iii) Có các ràng buộc chính thức và phi chính thức,
và có các đặc trưng về mặt thực thi
Cũng tương tự như trên, Avner Greif (2006) cho rằng thể chế là một hệ thống các nhân tố xã hội liên kết với nhau tạo nên quy cách ứng xử, trong đó các nhân tố này mang tính phi vật chất, do con người tạo ra nhưng nằm ngoài mỗi cá nhân mà chúng ảnh hưởng, bao gồm cả quy tắc, niềm tin, chuẩn mực, và tổ chức Hay Glaeser et al (2004) chỉ đơn giản cho rằng thể chế là những ràng buộc tương đối lâu dài và ổn định
Ở góc nhìn khác Nabli and Nugent (1989) cho rằng thể chế là một tập hợp các cấu trúc điều tiết quan hệ giữa các cá nhân và nhóm, tương đối ổn định, và có thể là các tổ chức hay tập hợp các quy tắc trong tổ chức Quan niệm này nêu lên 3 đặc điểm chính của thể chế: i) Các quy tắc là trung tâm và cơ bản; ii) Có khả năng điều tiết hành vi của cá nhân và nhóm, nghĩa là có thể áp dụng trên thực tiễn và tạo nên sự tuân thủ; và iii) Có thể đoán định được do tính ổn định và sự lặp lại
Vấn đề mà nhiều học giả nhấn mạnh trong quan niệm về thể chế chính là các yếu tố xã hội ảnh hưởng tới hành vi, chứ không phải các yếu tố thuộc về môi trường tự nhiên hay năng lực và sở thích của cá nhân Tuy nhiên, bản thân điều này cũng tương đối trừu tượng và khó định hình một cách rạch ròi Thể chế có thể đôi khi tạo ra các động cơ về vật chất; lúc khác lại tác động đến cảm xúc; có khi lại kích thích tình cảm đạo đức; có lúc định hình mong muốn về địa vị xã hội; và thỉnh
Trang 19thoảng điều khiển khả năng nhận thức của con người trong lựa chọn hành động (Davis, 2010)
Như vậy, các khái niệm về thể chế hiện được sử dụng có nội dung và cách phân loại rất khác nhau, thể hiện các cách nhìn nhận và mục tiêu phân tích khác nhau của mỗi tác giả Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi xuất phát từ khái niệm của Amartya Sen Đây khái niệm mà chúng tôi cho rằng tương đối chiết trung, bao hàm được nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề như đã phân tích ở trên, và hiện được Ngân hàng thế giới sử dụng trong các báo cáo của mình Sen (2003) cho rằng thể chế là các quy tắc và tổ chức, bao gồm cả các chuẩn mực không chính thức, nhằm điều phối hành vi của con người Chúng có vai trò thiết yếu đối với phát triển bền vững và công bằng
Khái niệm nêu trên thể hiện một số đặc trưng quan trọng của thể chế: i)
Là sản phẩm của con người, được đặt ra trong thời điểm nhất định và thực thi bởi các phương tiện nhất định; ii) Bao gồm cả khía cạnh luật chơi và người chơi; iii) Mục đích chính là phối hợp và điều tiết hành vi của con người; và iv) Gồm cả bộ phận chính thức và phi chính thức
Tuy nhiên, ở đây cũng nên nhấn mạnh thêm một khía cạnh khác không kém phần quan trọng Đó là xem thể chế vừa như tiền đề, vừa như kết quả của cuộc chơi, nghĩa là nhìn nhận nó trong quá trình liên tục và cân bằng động, chịu sự tương tác của nhiều loại lực khác nhau Aoki (2001) cho rằng xem xét thể chế phải xuất phát từ hai khía cạnh: i) Vấn đề đồng đại: Sự phức tạp, đa dạng và tương tác lẫn nhau của các bộ phận trong cả hệ thống thể chế; và ii) Vấn đề lịch đại: Cơ chế biến đổi và tiến triển của thể chế Về cơ chế biến đổi của thể chế, có ba loại động cơ chính: i) Quá trình chọn lọc trên cơ sở hiệu quả; ii) Quá trình định hướng mang tính chính trị và được hình thành bởi các lợi ích đặc biệt; và iii) Quá trình tái diễn các xung đột trong phân phối các nguồn lực xã hội (Hanisch and Schuter, 1999)
Trang 20Mặc dù cần nhìn nhận và đánh giá thể chế trong quá trình tiến triển, một đặc trưng khác của thể chế cũng cần được lưu ý là các quy tắc và ràng buộc phải tương đối tường minh, ít nhất trên nguyên tắc Điều này có nghĩa là các cá nhân và nhóm trong xã hội có thể hiểu được những gì đang vận hành ở hiện tại và dự đoán được, dựa trên các nguyên tắc của hệ thống thể chế, những gì có thể được hình thành trong tương lai Nói cách khác, các thể chế cũng phải có tính ổn định tương đối
Từ những phân tích ở trên, có thể quan niệm rằng thể chế là một hệ thống quy tắc do con người đặt ra và thực hiện nhằm điều tiết và phối hợp hành vi của chính họ; và do đó, bao gồm cả khía cạnh luật chơi và tổ chức thực thi, gồm cả các luật lệ, quy định và chính sách Nó vừa có tính ổn định tương đối do được hình thành và xây dựng dựa trên các nguyên tắc nhất định; vừa có tính động do sự tương tác giữa các bộ phận trong hệ thống và giữa hệ thống với các hệ thống khác
2.1.4 Mối quan hệ giữa dòng vốn đâu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế
Dựa trên lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh và lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh thì có thể thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có ảnh hưởng đáng
kể đến tăng trưởng kinh tế thông qua việc cải thiện đầu tư trong nước, sự chuyển giao công nghệ và sự lan tỏa kiến thức Theo đó, Romer (1993) đã giải thích cho thấy rằng tồn tại việc lắp đầy khoảng cách giữa các quốc gia đang phát triển và đã phát triển thông qua việc chuyển giao công nghệ từ các quốc gia “giàu” đến các quốc gia “nghèo” dưới dạng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Tác giả lập luận rằng, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể dễ dàng chuyển giao công nghệ
kỹ thuật từ các nước “giàu” đến các nước “nghèo”
Bên cạnh đó, nhiều cuộc thảo luận và nhiều bằng chứng thực nghiệm trong
những thập kỷ qua về dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thể hiện mối quan hệ cùng
Trang 21chiều Cụ thể, Ozturk (2007) đã đồng thuận với các phát hiện của các nghiên cứu trước đây về dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, khi cho rằng quốc gia có thể đạt được nhiều lợi ích ở phương diện công nghệ kỹ thuật, giáo dục và cơ sở hạ tầng mà dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại Phần lớn các nghiên cứu trước đây ủng hộ quan điểm khi cho rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử dụng như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau chẳng hạn như tích lũy vốn và chuyển giao vốn, vốn con người và chuyển giao công nghệ có liên quan đến vấn đề lan tỏa kiến thức Ngoài ra, quốc gia nhận được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tối đa hóa lợi ích của nguồn vốn này bằng cách giảm thiểu chi phí giao dịch và đảm bảo sự phân bổ vốn hiệu quả De Mello (1997) đã nhấn mạnh điều kiện công nghệ ở các quốc gia nhận đầu tư như là điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất trong việc hấp thụ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Theo đó, tác giả đã lập luận rằng khi khoảng cách công nghệ giữa quốc gia chủ đầu tư và quốc gia nhận đầu tư là tương đối cao thì dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ đóng góp một phần nhỏ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhận đầu tư Tác giả cũng cho rằng
sự chuyển giao công nghệ và kiến thức có được từ việc nhận được dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ có tác động đến sự phát triển kinh tế trong dài hạn Tuy nhiên, thậm chí công nghệ là khía cạnh quan trọng nhất của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng vẫn rất khó để đo lường và định lượng yếu tố này trong việc xem xét mức độ đóng góp đến tăng trưởng kinh tế (De Mello, 1997) Ngoài ra, Balasubramanyam và các cộng sự (1996) đã tìm thấy vấn đề mở cửa thương mại và thị trường tự do khá cần thiết để có được các tác động tích cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Phát hiện này cũng được ủng hộ bởi nghiên cứu của Borensztein và các cộng sự (1998) người đã tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở những quốc gia có đủ nguồn nhân lực và lực lượng lao động đủ tiêu chuẩn về trình
độ chuyên môn
Trang 22Tuy nhiên, một số nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển lại cho rằng tồn tại các tác động tiêu cực tiềm tàng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh tế của quốc gia nhận đầu tư Chẳng hạn như Herzing và các cộng sự (2008) đã cho rằng thay vì dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài làm gia tăng tính cạnh tranh của thị trường một cách tính cực thì lại làm cho các doanh nghiệp nội địa phải đóng cửa do sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp nước ngoài Hơn thế nữa, Onyemelukwe (2005) đã thảo luận sâu hơn khi cho thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể sẽ làm giảm tỷ lệ tiết kiệm nội địa và tỷ
lệ đầu tư bằng việc kiềm chế cạnh tranh thông qua việc thỏa thuận độc quyền với chính phủ của quốc gia nhận đầu tư trong việc ngăn chặn sự mở rộng của các doanh nghiệp trong nước Tác giả cũng lập luận rằng dòn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
có thể chuyển hướng từ việc sản xuất lương thực thực phẩm sang việc sản xuất các hàng hóa độc quyền Hơn thế nữa, theo báo cáo của UNCTAD cho thấy rằng, các nước đang phát triển tập trung quá nhiều vào dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
và hỗ trợ đáng kể các doanh nghiệp nước ngoài, do đó các quốc gia này sẽ kém tập trung thúc đẩy đầu tư nội địa
2.1.5 Mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và tăng trưởng kinh tế
Các nghiên cứu trước đây nhấn mạnh vai trò của chất lượng thể chế đối với tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này Cụ thể, tác động quan trọng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhần đầu tư là sự lan tỏa kiến thức Sự lan tỏa này xảy ra thông qua các công ty nội địa, theo đó các công ty nội địa sẽ có
xu hướng sao chép các công nghệ kỹ thuật hiện đại của các công ty đa quốc gia (Crespo và Fontoura, 2007) Bên cạnh đó, tác động lan tỏa của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn được tạo ra thông qua việc lực lượng lao động có kỹ năng cao của các công ty đa quốc gia sẽ di chuyển đến các công ty nội địa (Fosfuri và các cộng sự, 2007) Tuy nhiên, Hayat (2016) cho rằng chất lượng thể chế có tác động đang kể đến ảnh hưởng lan tỏa của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng
Trang 23trưởng của quốc gia nhận đâu tư Cụ thể, một chất lượng thể chế tốt như chất lượng của các quy định tốt, tham nhũng thấp, hiệu quả của chính phủ cao và nhà nước pháp quyền tốt có thể tạo ra sự đồng bộ hóa giữa các công ty trong nước và các công ty nước ngoài bằng cách cung cấp sân chơi sòng phẳng Từ đó có thể thu hút nhiều dòng vốn quốc tế và nâng cao sự sẵn lòng đầu tư của các công ty nước ngoài, kết quả là gia tăng ảnh hưởng lan tỏa kiến thức và lực lượng lao động, và cuối cùng, tăng trưởng kinh tế được nâng cao hơn Ngược lại, chất lượng thể chế kém sẽ dẫn đến sự gia tăng chi phí giao dịch và rủi ro cao, điều này sẽ dẫn đến mức độ đầu tư thấp và cam kết lâu dài của các công ty nước ngoài đối với đất nước sở tại Từ đó sẽ làm giảm ảnh hưởng lan tỏa của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh
tế của các quốc gia này Kết quả là sẽ làm suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư
2.2 Các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài
2.2.1 Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh
tế nhận được nhiều sự quan tâm bởi các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách trên thế giới Tuy nhiên cả bằng chứng thực nghiệm và lý thuyết đối với tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư thì vẫn đang tranh cãi Cụ thể, theo lý thuyết tăng trưởng kinh tế tân cổ điển, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ có tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua việc lắp đầy sự thiếu hụt vốn ở các quốc gia đang phát triển (quốc gia nhận đầu tư) Trong khi đó, lý thuyết tăng trưởng nội sinh lại cho rằng tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia phụ thuộc vào các đặc điểm của các quốc gia nhận đầu tư chẳng hạn như vốn con người, lỗ hỏng công nghệ, độ mở thương mại, chất lượng thể chế,
sự phát triển thị trường tài chính…
Trang 24Dưới góc độ thực nghiệm, Benoga và Sanchez - Robles (2003) phân tích mẫu nghiên cứu bao gồm 19 quốc gia Mỹ La Tinh từ năm 1970 – 1990 và tìm thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư khi hồi quy bởi phương pháp ước lượng OLS Tương tự như vậy, Makki và Somwaru (2004) khảo sát số liệu của 66 quốc gia thuộc nhóm nước đang phát triển trên thế giới từ năm 1971 đến năm 2001 và phát hiện thấy rằng các quốc gia càng nhận được nhiều dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thì càng
có thể giúp quốc gia nhận đầu tư cải thiện tăng trưởng kinh tế khi sử dụng phương pháp hồi quy dường như không liên quan (Seemingly unrelated regressions) và phương pháp hồi quy ba bước (Three-Stage Lease Square) Trong trường hợp khác, Seetanah và Khadaroo (2007) nghiên cứu mẫu nghiên cứu ở Châu Phi bao gồm 39 quốc gia thuộc nhóm nước đang phát triển từ năm 1980 đến năm 2000 và cũng tìm thấy bằng chứng thực nghiệm ủng hộ các phát hiện trước đây khi cho rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư Gần đây hơn, Hassen và Anis (2012) nghiên cứu tại Tunisia
từ năm 1975 đến năm 2009 và áp dụng mô hình Vector tự hồi quy và kiểm định đồng liên kết để phân tích mô hình nghiên cứu Qua đó, nghiên cứu này chỉ ra rằng hiệu ứng tích cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh
tế tồn tại trong dài hạn Với mẫu nghiên cứu bao gồm 124 quốc gia đã phát triển và đang phát triển, Iamsiraroj (2016) thực hiện kiểm định ảnh hưởng của dòng vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư từ năm
1971 đến năm 2010 Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư khi sử dụng phương pháp ước lượng OLS
Tuy nhiên, Eller và các cộng sự (2005) tiến hành phân tích mẫu nghiên cứu bao gồm 11 quốc gia ở khu vực Đông và Trung Âu từ năm 1994 đến năm 2003 và tìm thấy bằng chứng thực nghiệm ngược lại với các nghiên cứu đã nêu trên khi cho rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài làm cản trở tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhận đầu tư Nghiên cứu này lập luận rằng do dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
Trang 25ngoài lấn át đầu tư nội địa, cho nên làm suy giảm tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này Tương tự với phát hiện này, Herzer (2010) tìm thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu khi phân tích mẫu nghiên cứu bao gồm 44 quốc gia đang phát triển từ năm 1970 đến năm 2005 Gần đây hơn, Antwi và Zhao (2013) phân tích tại Ghana trong giai đoạn 1980 – 2010 và tìm thấy rằng mối quan hệ tiêu cực giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư trong dài hạn
Mặt khác, các nghiên cứu thực nghiệm khác được tiến hành nhằm giải thích vai trò của các yếu tố đặc điểm của quốc gia nhận đầu tư đối với hiệu ứng tích cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trương kinh tế của quốc gia Đầu tiên, vấn đề tương tác giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn con người đối với vấn đề tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu Chẳng hạn như Li và Liu (2005) thực hiện phân tích một bộ dữ liệu dạng bảng bao gồm 84 quốc gia đã phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 1970 – 1999 và đã tìm thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và gián tiếp thông qua vốn con người Nghiên cứu của các tác giả cũng tìm thấy rằng hệ số hồi âm của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khi sử dụng biến tương tác với lỗ hỏng công nghệ giữa quốc gia đầu tư và quốc gia nhận đầu tư Điều này cho thấy rằng quốc gia nhận đầu
tư và quốc gia đầu tư có sự chênh lệch trong công nghệ càng cao thì các chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở quốc gia nhận đầu tư sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này Cũng trong giai đoạn nghiên cứu này, Bengoa và Sanchez-Robles (2003) đã tiến hành nghiên cứu một bộ dữ liệu dạng bảng bao gồm 18 quốc gia ở Mỹ La Tinh từ năm 1970 – 1999, và tìm thấy rằng rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư Tuy nhiên các tác giả cũng cho rằng để đạt được hiệu ứng tích cực từ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các quốc gia nhận đầu tư phải có đủ vốn con người, sự ổn định kinh tế, và thị trường vốn tự do Tương
Trang 26tự với phát hiện của Bengoa và Sanchez-Robles (2003), Borensztein và các cộng sự (1998) đã tìm thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngài chảy vào (inward FDI)
có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua vốn con người khi xem xét mẫu nghiên cứu bao gồm 69 quốc gia kém phát triển nhất từ năm 1970 – 1989 Các tác giả cũng cho rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhận đầu tư nhiều hơn so với đầu tư nội địa
Một công trình khác được thực hiện bởi De Mello (1999) khi phân tích mẫu nghiên cứu quốc gia không thuộc OECD và thuộc OECD từ năm 1970 – 1990 và tìm thấy một số bằng chứng cho thấy tồn tại mối quan hệ trong dài hạn Cụ thể, nghiên cứu của tác giả đã tìm thấy hiệu ứng tích cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia đã phát triển và phát triển Hơn thế nữa, tương tự với phát hiện của Borensztein và các cộng sự (1998), nghiên cứu này cũng kết luận rằng tăng trưởng kinh tế dài hạn ở các quốc gia nhận đầu tư được quyết định bởi sự lan truyền của kiến thức và công nghệ từ các quốc gia đầu
tư đến các quốc gia nhận đầu tư, và mức độ này được quyết định bởi sự thay thế và
bổ sung giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư nội địa Đối với mẫu nghiên cứu bao gồm các quốc gia không thuộc OECD, tác giả tìm thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp không có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia nhận đầu tư khi hồi quy mô hình nghiên cứu bởi mô hình ảnh hưởng cố định nhưng lại tìm thấy tác động tiêu cực trong ngắn hạn của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến GDP của các quốc gia, điều này được tác giả cho rằng lợi ích của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế chỉ tồn tại ở các quốc gia có thu nhập cao Cùng chủ đề này, Blomstrom và các cộng sự (1994) đã phân tích mẫu nghiên cứu bao gồm 78 quốc gia đang phát triển trên thế giới và tìm thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia đang phát triển nhưng có thu nhập cao nhưng không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm này ở các quốc gia có thu nhập thấp
Trang 27Một số ít nhà nghiên cứu khác đã nhấn mạnh rằng hiệu ứng tích cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào điều kiện của thị trường vốn ở các quốc gia nhận đầu tư Chẳng hạn như Alfaro và các cộng sự (2004) và Durham (2004) đã tìm thấy rằng các quốc gia có ngành ngân hàng và tài chính phát triển thì có thể nhận được nhiều lợi ích từ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự tăng trưởng kinh tế Trong đó, Alfaro và các cộng sự (2004) đã sử dụng dữ liệu chéo (cross-section) từ năm 1975 đến 1995 và tìm thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thể hiện vai trò không rõ ràng đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhưng khi sử dụng các đại diện cho sự phát triển thị trường tài chính, thì hiệu ứng tích cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế được tìm thấy Durham (2004) thì sử dụng dữ liệu của
80 quốc gia đã phát triển và đang phát triển trên thế giới từ năm 1979 đến 1998 và tìm thấy rằng các quốc gia có chất lượng thể chế càng tốt và môi trường pháp lý càng thân thiện với các nhà đầu tư thì dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư Hơn thế nữa, Busse và Groizard (2008) nghiên cứu thực nghiệm mẫu nghiên cứu bao gồm
84 quốc gia đã phát triển và đang phát triển và áp dụng phương pháp hồi quy GMM
để ước lượng mô hình nghiên cứu các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế Qua
đó, nghiên cứu của các tác giả tìm thấy rằng tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhận đầu tư phụ thuộc vào mức độ phát triển tài chính của quốc gia sở tại
Các nhà nghiên cứu khác lại phân tích ở khía cạnh khác khi xem xét vai trò của thương mại trong việc truyền dẫn hiệu ứng tích cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư Bằng việc sử dụng các dữ liệu chéo hẳng năm đối với 46 quốc gia đang phát triển trên thế giới và
áp dụng mô hình ảnh hưởng cố định để hồi quy mô hình nghiên cứu, Balasubramanyam và các cộng sự (1996) đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệm ủng
hộ giả thuyết của Bhagwati khi cho rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trương kinh tế của các quốc gia thúc đẩy xuất hẩu và tiêu
Trang 28cực đối với các quốc gia nhập siêu Cùng với ý tưởng này, Zhang (2001) đã tìm thấy kết quả tương tự khi sử dụng kiểm định đồng liên kết và mô hình Vector tự hồi quy Theo đó, nghiên cứu này thực hiện phân tích mẫu nghiên cứu bao gồm 11 quốc gia , và tìm thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể cải thiện tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trong mẫu ghiên cứu
Bảng 2.1 Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu Mẫu nghiên cứu Phát hiện
Blomstrom và các
cộng sự (1994)
78 quốc gia đang phát triển trên thế giới
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia đang phát triển nhưng có thu nhập cao nhưng không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm này ở các quốc gia có thu nhập thấp
Borensztein và các
cộng sự (1998)
69 quốc gia kém phát triển nhất từ năm 1970 – 1989
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngài chảy vào
có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua vốn con người
De Mello (1999)
32 quốc gia không thuộc OECD và thuộc OECD từ năm
1970 – 1990
Hiệu ứng tích cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào sự lan truyền của kiến thức và công nghệ từ các quốc gia đầu tư đến các quốc gia nhận đầu tư
Zhang (2001) 11 quốc gia
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể cải thiện tăng trưởng kinh tế của các quốc gia
có đô mở cửa thương mại cao
Trang 29Bengoa và
Sanchez-Robles (2003)
18 quốc gia ở Mỹ La Tinh từ năm 1970 –
1999
Hiệu ứng tích cực từ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các quốc gia nhận đầu tư phải có đủ vốn con người, sự ổn định kinh tế,
và thị trường vốn tự do Benoga và Sanchez -
Robles (2003)
19 quốc gia Mỹ La Tinh từ năm 1970 –
1990
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư
Alfaro và các cộng sự
(2004) năm 1975 đến 1995
Hiệu ứng tích cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào điều kiện của thị trường vốn ở các quốc gia nhận đầu tư
Durham (2004)
80 quốc gia đã phát triển và đang phát triển trên thế giới từ năm 1979 đến 1998
Các quốc gia có chất lượng thể chế càng tốt
và môi trường pháp lý càng thân thiện với các nhà đầu tư thì dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư
Makki và Somwaru
(2004)
66 quốc gia thuộc nhóm nước đang phát triển từ năm
1971 đến năm 2001
Các quốc gia càng nhận được nhiều dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thì càng có thể giúp quốc gia nhận đầu tư cải thiện tăng trưởng kinh tế
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài làm cản trở tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhận đầu
tư do dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lấn át đầu tư nội địa
Li và Liu (2005)
84 quốc gia đã phát triển và đang phát triển trong giai đoạn
1970 – 1999
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và gián tiếp thông qua vốn con người
Quốc gia nhận đầu tư và quốc gia đầu tư có
sự chênh lệch trong công nghệ càng cao thì
Trang 30các chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở quốc gia nhận đầu tư sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này
Busse và Groizard
(2008)
84 quốc gia đã phát triển và đang phát triển
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhận đầu tư phụ thuộc vào mức độ phát triển tài chính của quốc gia sở tại
Antwi và Zhao (2013) Ghana trong giai
đoạn 1980 – 2010
Mối quan hệ tiêu cực giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư trong dài hạn
Iamsiraroj (2016)
124 quốc gia đã phát triển và đang phát triển từ 1971 – 2010
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư
Nguồn: Cá nhân tự tổng hợp
Trang 312.2.2 Chất lượng thể chế và tăng trưởng kinh tế
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành để khám phá mối tương quan giữa chất lượng thể chế và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Mặc dù nhìn chung các kết quả thực nghiệm đều chỉ ra rằng chất lượng thể chế sẽ giúp các quốc gia thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng tùy thuộc vào cách đo lường chất lượng thể chế, các đo lường này sẽ có các mức độ tác động khác nhau đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia
Knack và Keefer (1995) phân tích tác động của chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế của 97 quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 1974 – 1989 và tìm thấy rằng chất lượng thể chế đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và đầu tư của nền kinh tế Nghiên cứu của các tác giả sử dụng 05 yếu tố đại diện cho biến chất lượng thể chế bao gồm (i) nhà nước pháp quyền, (ii) tham nhũng, (iii) chất lượng các quy định, (iv) sự bảo vệ chống lại các rủi ro bị tước đoạt và (v) việc từ chối hợp đồng Các chỉ tiêu này đều được thu thập từ Hướng dẫn Quốc tế về Rủi ro quốc gia (ICRG) Qua đó nghiên cứu của các tác giả chỉ ra rằng các yếu tố đại diện cho chất lượng thể chế đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Mauro (1995) phân tích tác động của chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế ở một khía cạnh khác Bằng cách sử dụng dữ liệu chéo của 67 quốc gia trong giai đoạn 1980 – 1983, nghiên cứu này đã cho thấy rằng tham nhũng có tương quan ngược chiều với đầu tư và do đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế Mặt khác, nghiên cứu cũng tìm thấy rằng chất lượng bộ máy nhà nước (bureaucracy) có tác động tích cực đến đầu tư của các quốc gia và từ đó sẽ làm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế Bên cạnh đó, khi sử dụng yếu tố nhà nước pháp quyền làm đại diện cho chất lượng thể chế, Barro (1998) đã tìm thấy rằng nhà nước pháp quyền có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của 100 quốc gia trong giai đoạn 1960 – 1990
Hall và Jones (1999) đã áp dụng phương pháp tiếp cận của Knack và Keefer (1995) và sử dụng đo lường chất lượng thể chế mới bằng cách sử dụng đo lường có
Trang 32trọng số bình quân các chỉ số chất lượng thể chế được thu thập từ ICRG Nghiên cứu tiến hành khảo sát dữ liệu của 127 quốc gia và tìm thấy rằng sự khác biệt trong
cơ sở hạ tầng công cộng xuất phát chủ yếu từ sự chênh lệch trong vốn tích lũy, trình
độ học vấn và năng suất lao động Điều này dẫn đến sự chênh lệch trong thu nhập giữa các quốc gia
Badun (2005) đã nghiên cứu tác động của nhà nước pháp quyền và chất lượng hành chính công đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia ở EU và tìm thấy rằng cả hai yếu tố đại diện cho chất lượng thể chế này đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu của tác giả Tridico (2006) đã giải thích tác động của chất lượng thể chế đến năng suất của các công ty ở
Ba lan và tìm thấy rằng các công ty được đặt tại các vùng có chất lượng thể chế tốt
sẽ có hiệu quả hoạt động tốt hơn Beck và Laeven (2006) đã nghiên cứu mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng thể chế được đo lường bởi tổng 06 chỉ tiêu của WGI ở 24 nền kinh tế chuyển đổi trong suốt giai đoạn 1992 – 2004 bằng cách áp dụng hồi quy dữ liệu dạng bảng và đã tìm thấy mối tương quan tích cực giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng thể chế của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu
Cooray (2009) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng thể chế dựa trên các chỉ tiêu quản trị được cung cấp bởi Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn 1996 – 2003 Nghiên cứu áp dụng mô hình tân cổ điển cho 71 quốc gia bao gồm các nền kinh tế chuyển đổi ở EU và tìm thấy rằng chất lượng thể chế
có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, Peev và Mueller (2012)
đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng thể chế của 24 nền kinh tế chuyển đổi từ năm 1994 – 2007 Trong đó, nghiên cứu của các tác giả
sử dụng yếu tố dân chủ và tự do kinh tế làm đại diện cho chất lượng thể chế của các quốc gia và tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa tăng trưởng kinh tế và các đại diện của chất lượng thể chế Điều này ngụ ý rằng các quốc gia có tính dân chủ càng cao,
có tự do kinh tế càng mạnh thì sẽ càng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các quốc
Trang 33gia này Gần đây hơn Petreski (2014) đã giải thích tác động của chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế của 30 nền kinh tế chuyển đổi trong giai đoạn từ 2005 –
2011 và tìm thấy rằng môi trưởng pháp lý với chất lượng thể chế tốt sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác đã được thực hiện để kiểm tra mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia thuộc các nhóm thu nhập khác nhau (thu nhập cao, thu nhập trung bình và thu nhập thấp) Chẳng hạn như Kaufmann và Kraay (2002) đã nghiên cứu tác động của các chỉ tiêu quản trị công đến tăng trưởng kinh tế của 175 quốc gia trên thế giới trong suốt giai đoạn 2000 – 2001 và tìm thấy rằng chỉ tiêu quản trị công và tăng trưởng kinh tế tồn tại mối quan hệ nhân quả tích cực Mặt khác, Emara và Jhonsa (2014) đã nghiên cứu tác động của chất lượng thể chế (được đại diện bởi 06 chỉ tiêu quản trị thế giới) đến tăng trưởng kinh tế của 197 quốc gia trên thế giới ở năm 2009 bằng cách áp dụng phương pháp hồi quy hai bước Qua đó nghiên cứu của các tác giả đã tìm thấy rằng mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa chất lượng thể chế và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Điều này ngụ ý rằng một chất lượng thể chế tốt sẽ cải thiện tăng trưởng kinh tế và khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ thúc đẩy chất lượng thể chế của quốc gia gia tăng Mendez – Picazo và các cộng sự (2012) đã giải thích tác động của chất lượng quản trị đến tăng trưởng kinh tế ở 11 quốc gia đã phát triển bao gồm Đan Mạc, Phần Lan, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Anh và Mỹ trong suốt giai đoạn 2002 – 2007 và tìm thấy rằng cơ chế quản trị có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia
Hơn thế nữa, Bouoiyour và Naimbayel (2012) đã nghiên cứu tác động của quản trị công (được đại diện bởi chỉ số quản trị thế giới WGI) đến tăng trưởng kinh
tế của 27 quốc gia ở Châu Phi trong suốt giai đoạn 2002 – 2009 bằng cách sử dụng hồi quy dữ liệu dạng bảng và tìm thấy tất cả 06 chỉ tiêu đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu Điều này cho thấy rằng các quốc gia càng có tiếng nói và trách nhiệm giải trình càng cao, càng ổn định
Trang 34chính trị và không có bạo lực, hiệu quả chính phủ càng cao, chất lượng các quy định càng tốt, nhà nước pháp quyền tốt và kiểm soát tham nhũng tốt có thể giúp các quốc gia này thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Fayissa và Nsiah (2013) giải thích mối quan
hệ giữa chất lượng thể chế (được đại diện bởi chỉ số WGI) và tăng trưởng kinh tế ở
39 quốc gia ở Châu Phi từ năm 1995 – 2004 và tìm thấy rằng các thành phần của chất lượng thể chế đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ tác động của chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào mức thu nhập của quốc gia Zubair và Khan (2014) đã nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế của Pakistan từ năm 2002 – 2011 Nghiên cứu của các tác giả đã sử dụng chỉ số WGI đại diện cho chất lượng thể chế và tìm thấy rằng các thành phần của chất lượng thể chế có các ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế khác nhau Cụ thể chỉ có chính trị ổn định và không có bạo lực có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia ở mức ý nghĩa thống kê cao, ngoài ra các biến khác không thể hiện tác động đáng kể
Nawaz (2015) cố gắng giải thích tác động của các chỉ số đại diện cho chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trong giai đoạn 1981 – 2010 Nghiên cứu của các tác giả thu thập mẫu nghiên cứu bao gồm 56 quốc gia đã phát triển và đang phát triển trên thế giới và sau đó phân chia mẫu nghiên cứu thành các mẫu nhỏ bao gồm 22 quốc gia có thu nhập thấp và 34 quốc gia có thu nhập cao Tác giả lập luận rằng có sự khác biệt trong tác động của chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế theo thu nhập quốc gia Hơn thế nữa, chất lượng thể chế được tác giả
sử dụng 06 chỉ tiêu được thu thập từ ICRG bao gồm (i) chính trị ổn định, (ii) hồ sơ đầu tư, (iii) kiểm soát tham nhũng, (iv) luật pháp và luật lệ, (v) trách nhiệm giải trình dân chủ và (vi) chất lượng bộ máy nhà nước Ngoài ra, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp hồi quy GMM để ước lượng mô hình nghiên cứu và tìm thấy rằng các thành phần của chất lượng thể chế đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Tuy nhiên mức độ tác động của các yếu tố có sự khác biệt theo nhóm thu nhập các quốc gia Chẳng hạn như, tác động tích cực của kiểm soát tham
Trang 35nhũng, chất lượng bộ máy nhà nước và pháp luật và luật lệ đến tăng trưởng kinh tế
ở các quốc gia có thu nhập cao thì tương đối cao hơn so với các quốc gia có thu nhập thấp Nhưng hồ sơ đầu tư giúp các quốc gia đang phát triển (thu nhập thấp) cải thiện tăng trưởng kinh tế nhanh hơn so với các quốc gia đã phát triển (thu nhập cao)
Bayar (2016) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế của 31 nền kinh tế chuyển đổi ở Châu Âu trong suốt giai đoạn
2002 – 2013 Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các thành phần của chất lượng thể chế được tổng hợp bởi WGI và áp dụng mô hình hồi quy dường như không liên quan (SUR) và đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng tất cả các thành phần của chất lượng thể chế (ngoại trừ chất lượng các quy định) đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở mức ý nghĩa thống kê 10% Nghiên cứu cũng tìm thấy rằng kiểm soát tham nhũng và nhà nước pháp quyền là hai yếu tố quan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế so với các thành phần khác của chất lượng thể chế, trong khi đó chính trị ổn định và không bạo lực là yếu tố có tác động yếu nhất trong các thành phần
Bảng 2.2 Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm tác động của chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu Mẫu nghiên cứu Phát hiện
các yếu tố đại diện cho chất lượng thể chế đều
có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia
Chất lượng bộ máy nhà nước (bureaucracy)
có tác động tích cực đến đầu tư của các quốc
Trang 36gia và từ đó sẽ làm thúc đẩy tăng trưởng kinh
Hall và Jones (1999) 127 quốc gia
Sự khác biệt trong cơ sở hạ tầng công cộng xuất phát chủ yếu từ sự chênh lệch trong vốn tích lũy, trình độ học vấn và năng suất lao động Điều này dẫn đến sự chênh lệch trong thu nhập giữa các quốc gia
Kaufmann và Kraay
(2002)
175 quốc gia trong suốt giai đoạn 2000 – 2001
chỉ tiêu quản trị công và tăng trưởng kinh tế tồn tại mối quan hệ nhân quả tích cực
Badun (2005) các quốc gia ở EU
nhà nước pháp quyền và chất lượng hành chính công đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế
Tridico (2006) các công ty ở Ba lan
các công ty được đặt tại các vùng có chất lượng thể chế tốt sẽ có hiệu quả hoạt động tốt hơn
Beck và Laeven
(2006)
24 nền kinh tế chuyển đổi trong suốt giai đoạn 1992 – 2004
mối tương quan tích cực giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng thể chế của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu
Bouoiyour và
Naimbayel (2012)
của 27 quốc gia ở Châu Phi trong suốt giai đoạn 2002 –
các quốc gia càng có tiếng nói và trách nhiệm giải trình càng cao, càng ổn định chính trị và không có bạo lực, hiệu quả chính phủ càng
Trang 372009 cao, chất lượng các quy định càng tốt, nhà
nước pháp quyền tốt và kiểm soát tham nhũng tốt có thể giúp các quốc gia này thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Mendez – Picazo và
các cộng sự (2012)
11 quốc gia đã phát triển trong suốt giai đoạn 2002 – 2007
chất lượng thể chế có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế
Peev và Mueller
(2012)
24 nền kinh tế chuyển đổi từ năm
1994 – 2007
mối quan hệ tích cực giữa tăng trưởng kinh tế
và các đại diện của chất lượng thể chế (yếu tố dân chủ và tự do kinh tế)
Petreski (2014)
30 nền kinh tế chuyển đổi trong giai đoạn từ 2005 – 2011
Môi trưởng pháp lý với chất lượng thể chế tốt
sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh
Nawaz (2015)
56 quốc gia đã phát triển và đang phát triển trong giai đoạn
1981 – 2010
Tác động tích cực của kiểm soát tham nhũng, chất lượng bộ máy nhà nước và pháp luật và luật lệ đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia
có thu nhập cao thì tương đối cao hơn so với
Trang 38các quốc gia có thu nhập thấp Nhưng hồ sơ đầu tư giúp các quốc gia thu nhập thấp cải thiện tăng trưởng kinh tế nhanh hơn so với các quốc gia thu nhập cao
Bayar (2016)
1 nền kinh tế chuyển đổi ở Châu Âu trong suốt giai đoạn 2002 – 2013
Tất cả các thành phần của chất lượng thể chế (ngoại trừ chất lượng các quy định) đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở mức
ý nghĩa thống kê 10%
Nghiên cứu cũng tìm thấy rằng kiểm soát tham nhũng và nhà nước pháp quyền là hai yếu tố quan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế so với các thành phần khác của chất lượng thể chế, trong khi đó chính trị ổn định
và không bạo lực là yếu tố có tác động yếu nhất trong các thành phần
Nguồn: Cá nhân tự tổng hợp
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Đầu tiên, chương này đã tổng quan các lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm có liên quan đến chủ đề mà luận văn nghiên cứu Cụ thể chương 02 đã trình bày lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh, tăng trưởng nội sinh cũng như đã khái quát sơ
bộ mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và tăng trưởng kinh tế Kết quả tổng quan cho thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách bổ sung nguồn vốn tích lũy cho quốc gia cũng như chuyển giao công nghệ cho quốc gia nhận đầu tư Hơn thế nữa, chất lượng thể chế có thể cải thiện tăng trưởng kinh tế bằng việc tạo ra sân chơi sòng phẳng cho các công ty nội địa và nước ngoài cũng như giảm rủi ro chính trị, giảm chi phí giao dịch
Trang 40CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình nghiên cứu
Luận văn dựa trên mô hình nghiên cứu của Mankiw và các cộng sự (1992), Hall và Jones (1999) đặc biệt là mô hình của Hayat (2016) và mô hình nghiên cứu của Sử Đình Thành (2014) để phân tích tác động của chất lượng thể chế và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 2000 – 2016
Cụ thể, phương trình nghiên cứu được trình bày như sau:
𝐺𝑑𝑝𝑝𝑐𝑔𝑟𝑖𝑡−1 là tăng trưởng kinh tế ở năm trước
𝐹𝐷𝐼𝑖𝑡 là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được tính bởi tỷ lệ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên GDP
𝐼𝑛𝑠𝑖𝑡 là chất lượng thể chế được đại diện bởi 06 chỉ tiêu của bộ dữ liệu Các chỉ số quản trị toàn cầu bao gồm (1) tiếng nói và trách nhiệm giải trình, (2) ổn định chính trị và không bạo lực, (3) hiệu quả của chính phủ, (4) chất lượng các quy định, (5) nhà nước pháp quyền và (6) kiểm soát tham nhũng
𝐼𝑛𝑓𝑖𝑡 là lạm phát được tính bởi sự gia tăng trong chỉ số giá tiêu dùng