Thời gian qua, vấn đề quản lý và xử lý đối với các doanh nghiệp có hành vi gây ô nhiễm môi trường cũng đã được triển khai và thực thi nhưng thực tế tình trạng ô nhiễm môi trường do xả th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
ĐOÀN THÁI DƯƠNG
THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỰC TRẠNG VÀ GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
ĐOÀN THÁI DƯƠNG
THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS TS HỒ VIẾT TIẾN
2 TS TRẦN VÂN LONG
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Đoàn Thái Dương – là học viên lớp Cao học Khóa 26 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh” Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và
có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Đoàn Thái Dương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 0
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Câu hỏi nghiên cứu: 2
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 1: LUẬT PHÁP VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 7
1.1 Quan điểm của đảng về bảo vệ môi trường 7
1.2 Các quy định luật pháp liên quan đến bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp 10
1.2.1 Trách nhiệm thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường 10
1.2.2 Trách nhiệm trong việc quản lý, xử lý chất thải trong quá trình sản xuất 12
1.2.3 Các biện pháp xử lý các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường 15
1.3 Các văn bản dưới luật về bảo vệ môi trường của khu công nghiệp 20
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 23
2.1 Tổng quan về các khu công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh 23
2.2 Thực trạng việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp 26
2.3 Hệ thống xử lý chất thải của các nhà máy và của khu công nghiệp 31
2.4 Các vấn đề được đặt ra 39
Trang 5CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 48
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật quy định trách nhiệm bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp 48 3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp 49 3.3 Giải pháp nâng cao hoạt động áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh 50
KẾT LUẬN 58 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6STT
1 ĐTM Báo cáo đánh giá tác động môi trường
2 KCN Khu công nghiệp
3 KCX Khu chế xuất
4 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
5 UBND Ủy ban nhân dân
Trang 7Thành phố Hồ Chí Minh Thực trạng và giải pháp” với mục đính đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường chỉ ra những tồn tại, hạn chế, những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện Từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao ý thức thực hiện, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã bị điều tra xử lý do
vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, ý thức bảo vệ môi trường của doanh nghiệp quá kém, vì lợi nhuận và những lợi ích trước mắt mà không thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường Mặt khác, sự bất cập trong quy định pháp luật
và sự buông lỏng quản lý, thanh tra, kiểm tra hoạt động bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp của cơ quan có thẩm quyền có phần buông lỏng cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên tại các khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Nội dung nghiên cứu của luận văn thực sự có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn đối với các học giả, các doanh nghiệp và các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường
THE ABSTRACT SUMMARY
“Law Enforcement of Environment Protection in Industrial Zones in
Ho Chi Minh City Current situation and solutions” with the purpose of assessing the reality of application of legal provisions on environmental protection, pointing out shortcomings, limitations and difficulties in the implementation process Since then proposed solutions to raise the awareness
of implementation, improve the efficiency of the application of the provisions
of the law on environmental protection of enterprises in industrial zones
The research results show that many businesses have been investigated and dealt with because of violations of the law on environmental protection, the sense of environmental protection of enterprises is too poor, because the
Trang 8inspection and inspection of environmental protection activities in industrial zones of the competent authority are also one of the main causes This situation has led to the above situation in industrial zones in Ho Chi Minh City
The content of the thesis is really theoretical and practical for scholars, businesses and competent agencies in the application of environmental protection laws
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bảo vệ môi trường là một trong những nội dung được cả thế giới quan tâm
và được đưa ra thảo luận trên các diễn đàn quốc tế Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là nội dung cơ bản của sự phát triển góp phần ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững của một đất nước Với Việt Nam, hoạt động bảo vệ môi trường được Đảng, Nhà nước luôn đặt lên hàng đầu và được đề cập trong các chủ trương, đường lối chính sách phát triển kinh tế, văn hóa
xã hội của đất nước, đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường trong lĩnh vực kinh tế, bởi đây là lĩnh vực liên quan mật thiết, gắn liền và tác động nhiều nhất đến môi trường
Viêt Nam, tuy khởi điểm là một nước nông nghiệp, và hiện nay vẫn là một nước phát triển mạnh về nông nghiệp Nhưng đối với công nghiệp, thời gian qua đã
có nhiều bước tiến đáng kể, đặc biệt là việc hình thành nhiều khu công nghiệp trên khắp cả nước Tính đến tháng 6 năm 2018, trên cả nước hiện có 325 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên đã sử dụng là 96,3 nghìn ha, trong đó 223 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động và số khu công nghiệp còn lại đang trong giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng Như vậy có thể thấy, sự phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa thúc đẩy sự hình thành của các khu công nghiệp, khu công nghệ cao nhằm đem lại sự tăng trưởng nhanh về kinh tế của đất nước, đặc biệt phải kể đến là sự phát triển của khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Song song với việc phát triển các khu công nghiệp, thì vấn đề bảo vệ môi trường do xả thải từ các khu công nghiệp luôn là vấn đề được các cấp các ngành và các doanh nghiệp quan tâm, thực hiện Thời gian qua, vấn đề quản lý và xử lý đối với các doanh nghiệp có hành vi gây ô nhiễm môi trường cũng đã được triển khai
và thực thi nhưng thực tế tình trạng ô nhiễm môi trường do xả thải tại các khu công nghiệp vẫn đang diễn ra hàng ngày, với nhiều thủ đoạn tinh vi, việc quy hoạch các khu công nghiệp và giám sát hoạt động bảo vệ môi trường chưa được quan tâm, vẫn
có những doanh nghiệp chưa nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường mà không đầu tư hệ thống xử lý chất thải tập trung hoặc có xây dựng nhưng
Trang 10là những quy trình lỗi thời kém hiệu quả dẫn đến những sự việc nghiêm trọng đã xảy ra như gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho môi trường, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân, hình ảnh
và sự tiến bộ của quốc gia
Hiện nay, vấn đề quy hoạch phát triển và quản lý các khu công nghiệp nhằm đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển kinh tế bền vững nhưng lại không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường là một thách thức to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết về bảo vệ môi trường trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Đồng thời, xây dựng và ban hành cơ sở hành lang pháp lý nhằm bảo vệ môi trường như Luật Bảo vệ môi trường
2014, Luật đầu tư 2014, Luật dân sự 2015, thông tư 35/2015/TT-BTNMT về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành
Tuy nhiên, việc thi hành các quy định pháp luật này trong thực tiễn và tại khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh vẫn nảy sinh một số khó khăn, vướng mắc nhất định, đòi hỏi cần có giải pháp được hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, hạn chế và xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm, phạm tội gây ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp trong thời gian tới
Vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Thực thi pháp luật
Bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh Thực trạng và Giải pháp hoàn thiện” làm Luận văn thạc sĩ luật học, với mong muốn góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong vấn đề bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường
- Các quy định pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp trong vấn đề bảo vệ môi trường Thực tiễn áp dụng tại các khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh? Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc?
- Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật trách nhiệm bảo vệ môi trường?
Trang 113 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, vấn đề thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường, trách nhiệm trong bảo vệ môi trường và các vấn đề có liên quan khác đã được nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:
- Nguyễn Thị Tố Uyên (2013), “Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp
lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luận án đi sâu
nghiên cứu pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường hiện nay, mối liên hệ giữa pháp luật về trách nhiện hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, đồng thời nghiên cứu các vi phạm của công ty VeDan để chỉ ra các bất cập của pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường hiện nay
- Nguyễn Thị Kim Chi (2016), “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luận án đi sâu vào phân tích một số vấn đề lý luận
về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, những kết quả, hạn chế trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam những năm gần đây, đề xuất một số định hướng, khuyến nghị nâng cao hiệu quả việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới
- PGS.TS Nguyễn Đình Tài, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: các vấn
đề đặt ra hôm nay và giải pháp”, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Bài
viết tập trung phân tích các cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, phân tích vai trò, lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Từ đó đề ra các giải pháp giải quyết các vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp và nhà nước
- TS.Phạm Thị Tuyết, “Ô nhiễm môi trường – Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp Việt Nam”, Học viện ngân hàng Bài viết tập trung phân tích thực trạng ô
nhiễm môi trường tại Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam về ô nhiệm môi trường
Ngoài ra, có thể kể đến một số sách chuyên khảo, một số công trình nghiên
cứu luận án tiến sĩ: Doãn Hồng Nhung, Nguyễn Thị Bình (2015), Hoàn thiện hệ
Trang 12thống pháp luật bảo vệ môi trường khu công nghiệp, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội; Vũ Thu Hạnh (2012), “Cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi
trường”, NXB Chính trị Quốc gia; Bùi Đức Hiền- Luận án tiến sĩ “ Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam” Học viện khoa học xã hội
Việt Nam; Và một số bài báo, bài viết khác như: Nguyễn Thị Yến (2013), Bài học
từ một số quốc gia trên thế giới về xã hội hóa đầu tư bảo vệ môi trường, Tạp chí
Giáo dục lý luận số 7/2013, tr 60-62; Bùi Văn Dũng (2012), Bảo vệ môi trường
theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản số 65 (5/2012), tr 26-29; Đinh
Nguyễn An (2013), Bảo vệ môi trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Lý luận chính trị số 9/2013, tr 68-71; Doãn Công Khánh (2010), Bảo vệ
môi trường trong quá trình tự do hoá thương mại, Tạp chí Cộng sản số 812
(6/2010), tr 66-69; Vũ Thị Duyên Thủy (2011), Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi
trường trong hoạt động của các khu công nghiệp Việt Nam, Tạp chí Luật học số
9/2011, tr 60-64; Bùi Cách Tuyến (2015), Bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường tự
nhiên với môi trường sống ở khu công nghiệp, khu đô thị
Các công trình trên đã đưa ra được nhiều giải pháp để nâng cao việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và thực hiện bảo vệ môi trường Có thể khẳng định, những công trình khoa học nêu trên là tài liệu tham khảo hữu ích, giúp tác giả có thêm nhiều thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu của mình
4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh nhằm chỉ ra những tồn tại, hạn chế, những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện Từ đó
đề ra các giải pháp nhằm nâng cao ý thức thực hiện, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp
4.2 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề mang tính lý luận về Trách nhiệm pháp luật của doanh nghiệp đối với môi trường như các khái niệm về bảo vệ môi trường, các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường khu công nghiệp và
Trang 13vai trò của việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường, các quy định về xử lý, chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp Những bất cập, khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định pháp luật
về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Những giải pháp cần thiết
4.3 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu theo hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam
về bảo vệ môi trường như Luật bảo vệ môi trường năm 2014, các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản luật có liên quan
Quá trình áp dụng và thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề bảo vệ môi trường với phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực kinh tế
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, phương pháp thống kê, mô tả và đối chiếu so sánh Thông qua các phương pháp được sử dụng, luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường, thực tiễn áp dụng tại các khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh nhằm làm rõ những điểm còn bất cập của các quy định, những khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao ý thức chấp hành và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thời gian tới
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 04 chương:
Chương 1: Các quy định của pháp luật về thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp với môi trường
Chương 2 Thực trạng việc thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp với môi trường trong các khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật quy định trách nhiệm bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15CHƯƠNG 1: LUẬT PHÁP VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LIÊN
QUAN ĐẾN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Quan điểm nhất quán xuyên suốt trong các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của
Đảng về bảo vệ môi trường đó là: “Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị,
an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta” và “Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững”
Đến Đại hội X, lần đầu tiên trong báo cáo về Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010 trình Đại hội đưa ra chỉ tiêu về môi trường (độ che phủ rừng; tỷ lệ dân cư được dùng nước sạch; chỉ tiêu về xử lý chất thải) và “tăng cường bảo vệ, cải thiện môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên” được xác định là một trong sáu nhiệm vụ thuộc “định hướng phát triển ngành, lĩnh vực và vùng”
Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI một lần nữa thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng đối với công tác bảo vệ môi trường: “Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế
- xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trường”
Để cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương bảo vệ môi trường trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng cũng đã ban hành một hệ thống các chỉ thị, nghị quyết đồng bộ, nhất quán tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động, đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong toàn đảng và toàn xã hội như: Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 Bộ Chính trị (Khóa IX) “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Nghị quyết số 41-NQ/TW là một bước quan trọng trong việc thể hiện các quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường ở
Trang 16nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 21/1/2009, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 29-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW Chỉ thị này nhấn mạnh một số nhiệm vụ quan trọng cần tập trung thực hiện, trong đó có nhiệm vụ như: “Tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường ”; “Quy định các chế tài xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường; Không phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự
án đầu tư tiềm ẩn nguy cơ cao đối với môi trường; Không đưa vào vận hành, sử dụng các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu đô thị, công trình, cơ sở y tế, cơ
sở sản xuất mới không đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường”
Trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu, Hội nghị Trung ương 7 Khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản
lý tài nguyên và bảo vệ môi trương” Quan điểm về bảo vệ môi trường một lần nữa được khẳng định “Môi trường là vấn đề toàn cầu Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững Tăng cường bảo vệ môi trường phải theo phương châm ứng xử hài hòa với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng” Đồng thời đưa ra những mục tiêu rất cụ thể về bảo
vệ môi trường: “Không để phát sinh và xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 70% lượng nước thải ra môi trường lưu vực các sông được xử lý; tiêu hủy, xử lý trên 85% chất thải nguy hại, 100% chất thải y tế; tái sử dụng hoặc tái chế trên 65% rác thải sinh hoạt Phấn đấu 95% dân cư thành thị và 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh Kiểm soát an toàn, xử lý ô nhiễm môi trường do hậu quả chiến tranh Nâng cao chất lượng môi trường không khí ở các đô thị, khu vực đông dân cư Cải thiện rõ rệt môi trường làng nghề và khu vực nông thôn Quản lý khai thác hợp lý, sớm chấm dứt khai thác rừng tự nhiên, nâng
Trang 17diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên lên trên 3 triệu ha; nâng độ che phủ của rừng lên trên 45%”
“Phát triển bền vững”,”Phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường”…
là quan điểm cách mạng đúng đắn mà Đảng ta đã kiên trì theo đuổi và thực hiện trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong giai đoạn đổi mới vừa qua Nhận thức rất rõ vai trò của môi trường và bảo vệ môi trường, nước ta đã tích cực tham gia các Công ước, các thỏa thuận quốc tế về môi trường Có thể kể tới như: Công ước đa dạng sinh học (5/1993) có mục tiêu chính là nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học và chia sẻ công bằng, hợp lý những lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh học; Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (11/1994) có mục tiêu ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu; Nghị định thư Kyoto (9/2002) buộc các nước tham gia phải cam kết đạt được các mục tiêu về thải khí nhà kính được xác định cụ thể cho từng nước; hay Công ước Viên về bảo vệ tầng ô zôn (1994); Thỏa thuận Paris về chống biến đổi khí hậu… Nhìn chung các văn bản quốc
tế đó đều khẳng định tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và yêu cầu các nước tham gia có trách nhiệm hơn trong hoạt động bảo vệ môi trường Việt Nam đã tham gia ký kết hầu hết các văn bản pháp lý quốc tế về bảo vệ môi trường, Tiêu biểu như: Công ước đa dạng sinh học; Công ước di sản; Công ước Ramsar; các Công ước MARPOL, SOLAS, COLREG… Đặc biệt ngày 23/6/1994, Việt Nam đã tham gia ký Công ước Luật biển 19821
Đến nay, Nhà nước đã hai lần ban hành Luật Bảo vệ môi trường vào năm
2005 và 2014 cùng với một số’ Nghị định về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như Nghị định 179/2013/nĐ-CP, Nghị định 18/2015/NĐ-CP… Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam (năm 2005) đã dành bốn điều quy định về Bảo vệ môi trường biển (từ điều 55 đến 58) Cụ thể hóa các quy định của Luật Bảo vệ môi
1 Bảo vệ môi trường: Vấn đề trọng tâm trong sự lãnh đạo của Đảng; truong-van-de-trong-tam-trong-su-lanh-dao-cua-dang-1356.html
Trang 18https://kinhtemoitruong.vn/bao-ve-moi-trường, ngày 6/3/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số’ 25/2009/NĐ-CP về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo…
Hội nghị Trung ương 4 khóa X (2/2007) ra Nghị quyết số’ 09-NQ/TW về
“Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước
ta trở thành quốc gia mạnh về biển… làm cho đất nước giàu mạnh từ biển, bảo vệ môi trường biển” Sau khi Quốc hội thông qua và ban hành Luật bảo vệ môi trường
số 55/2014/ QH13 bao gồm một số’ điều sửa đổi, bổ sung ngày 23 tháng 06 năm
2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số’ 19/2015/NĐ- CP ngày 14 tháng 02 năm
2015, quy định chi tiết thi hành một số’ điều của Luật Cùng ngày, Chính phủ cũng
đã ban hành Nghị định số’ 18/2015/NĐ-CP, quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
Những văn bản trên cùng với những văn bản liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường còn hiệu lực đã tạo thành hệ thống pháp lý vững chắc, thể chế hóa quan điểm của Đảng ta trong các nghị quyết Đại hội Đảng và các hội nghị Trung ương trước đó
1.2 CÁC QUY ĐỊNH LUẬT PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP
1.2.1 Trách nhiệm thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi
trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai
dự án đó.2
Như vậy, đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, dự báo những tác động ảnh hưởng xấu đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể, từ đó đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó các sự cố môi trường khi triển khai dự án đó một khâu then chốt và quan trọng Và việc báo cáo đánh giá tác động
môi trường có vai trò rất quan trọng trong kiểm soát ô nhiễm môi trường
2 Khoản 23 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014
Trang 19Đánh giá tác động môi trường và quy định báo cáo về vấn đề này được quy định lần đầu tiên trong Luật Bảo vệ môi trường 1993 và ngày càng hoàn thiện trong Luật Bảo vệ môi trường 2005 và Luật Bảo vệ môi trường 2014
Hiện nay, Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định tương đối cụ thể về đối tượng phải lập đánh giá tác động môi trường, việc thực hiện đánh giá tác động môi trường, lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường, tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường; nội dung chính của đánh giá tác động môi trường, thẩm định đánh giá tác động môi trường; Thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; Phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường
Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định về thẩm định đánh giá tác động môi trường thông qua Hội đồng thẩm định và thông qua bằng cách lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm định Thời gian phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường là trong thời hạn
20 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được chỉnh sửa theo yêu cầu của cơ quan thẩm định, thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan thẩm định có trách nhiệm phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; trường hợp không phê duyệt phải trả lời cho chủ dự án bằng văn bản và nêu rõ lý do
Theo quy định của pháp luật các chủ dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trước khi thực hiện Phải phân tích hiện trạng môi trường tại địa bàn hoạt động của dự án hoặc của cơ sở mình, phải dự liệu trước được những tác động tiêu cực việc xả thải có thể gây ra ô nhiễm xung quanh đồng thời dự tính trước các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn chúng thông qua đó thực hiện phòng ngừa ô nhiễm, sự cố môi trường khi triển khai dự án trên thực tiễn Việc xem xét, phê duyệt
dự án và hoạt động có phát thải khí phải căn cứ vào sức chịu tải của môi trường, bảo đảm không có tác động xấu đến con người và môi trường
Đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường gồm: Dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu
Trang 20di tích lịch sử - văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng; Dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường3
Chủ dự án thuộc đối tượng quy định tự mình hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiện đánh giá tác động môi trường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện đánh giá tác động môi trường Việc đánh giá tác động môi trường phải thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án
Kết quả thực hiện đánh giá tác động môi trường thể hiện dưới hình thức báo cáo đánh giá tác động môi trường Chi phí lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc nguồn vốn đầu tư dự án do chủ dự án chịu trách nhiệm
Tuy nhiên, hiện nay Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 không quy định riêng, rõ ràng, yêu cầu bắt buộc về đánh giá tác động môi trường không khí
1.2.2 Trách nhiệm trong việc quản lý, xử lý chất thải trong quá trình sản xuất
Vấn đề quản lý, xử lý chất thải trong quá trình sản xuất không chỉ là trách nhiệm của doanh nghiệp xả thải mà còn là trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật
Pháp luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau: Lập, phê duyệt, tổ chức thực hiện quy hoạch hạ tầng kỹ thuật xử lý chất thải trên địa bàn Đầu tư xây dựng,
tổ chức vận hành công trình công cộng phục vụ quản lý chất thải trên địa bàn Ban hành, thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho hoạt động quản lý chất thải theo quy định của pháp luật4
Chủ đầu tư khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao trong quản lý chất thải có trách nhiệm: Bố trí mặt bằng tập kết chất thải trong phạm vi quản lý Xây dựng và tổ chức vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung (Điều 89 Luật bảo vệ môi trường 2014)
3 Điều 18 Luật bảo vệ môi trường 2014
4 Điều 88 Luật bảo vệ môi trường 2014;
Trang 21Đối với chất thải nguy hại 5, chủ nguồn thải chất thải nguy hại phải lập hồ sơ
về chất thải nguy hại và đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh Tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện và có giấy phép mới được xử lý chất thải nguy hại Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định danh mục chất thải nguy hại và cấp phép xử lý chất thải nguy hại Chủ nguồn thải chất thải nguy hại phải tổ chức phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; trường hợp chủ nguồn thải chất thải nguy hại không có khả năng xử lý chất thải nguy hại đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường phải chuyển giao cho cơ sở có giấy phép xử lý chất thải nguy hại Chất thải nguy hại phải được lưu giữ trong phương tiện, thiết bị chuyên dụng bảo đảm không tác động xấu đến con người và môi trường Chất thải nguy hại phải được vận chuyển bằng phương tiện, thiết bị chuyên dụng phù hợp và được ghi trong giấy phép xử lý chất thải nguy hại Chất thải nguy hại được vận chuyển sang nước khác phải tuân thủ các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Đối với quản lý chất thải rắn thông thường 6, Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân phát sinh chất thải rắn thông thường có trách nhiệm phân loại chất thải rắn thông thường tại nguồn để thuận lợi cho việc tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý Chất thải rắn thông thường phải được thu gom, lưu giữ và vận chuyển đến nơi quy định bằng phương tiện, thiết bị chuyên dụng
Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm tổ chức thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn thông thường trên địa bàn quản lý
Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có phát sinh chất thải rắn thông thường có trách nhiệm tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý chất thải rắn thông thường Trường hợp không có khả năng tái
sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý chất thải rắn thông thường phải chuyển giao cho cơ sở có chức năng phù hợp để tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý
5 Điều 90, 91, 92 Luật bảo vệ môi trường 2014
6 Điều 95, 96, 97 Luật bảo vệ môi trường 2014
Trang 22Đối với quản lý, xử lý nước thải 7, Nước thải phải được thu gom, xử lý bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường.Nước thải có yếu tố nguy hại vượt ngưỡng quy định phải được quản lý theo quy định về chất thải nguy hại Đô thị, khu dân cư tập trung phải có hệ thống thu gom riêng nước mưa và nước thải
Nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải được quản
lý theo quy định của pháp luật về quản lý chất thải rắn; bùn thải có yếu tố nguy hại vượt ngưỡng quy định phải được quản lý theo quy định của pháp luật về chất thải nguy hại
Chủ quản lý hệ thống xử lý nước thải phải thực hiện quan trắc định kỳ nước thải trước và sau khi xử lý Số liệu quan trắc được lưu giữ làm căn cứ để kiểm tra hoạt động của hệ thống xử lý nước thải Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quy
mô xả thải lớn và có nguy cơ tác hại đến môi trường phải tổ chức quan trắc môi trường nước thải tự động và chuyển số liệu cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Đối với quản lý, kiểm soát, xử lý bụi và khí thải, Tổ chức, cá nhân hoạt động
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát tán bụi, khí thải phải kiểm soát và xử lý bụi, khí thải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường Phương tiện giao thông, máy móc, thiết bị, công trình xây dựng phát tán bụi, khí thải phải có bộ phận lọc, giảm thiểu khí thải, thiết bị che chắn hoặc biện pháp khác để giảm thiểu bụi bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường Bụi, khí thải có yếu tố nguy hại vượt ngưỡng quy định phải được quản lý theo quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
Tổ chức, cá nhân gây tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ phải kiểm soát, xử
lý bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu dân cư gây tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ phải thực hiện biện pháp giảm thiểu, không làm ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư Tổ chức, cá nhân quản lý tuyến đường có mật độ phương tiện tham gia giao thông cao gây tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ phải có biện pháp giảm thiểu, đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường Cấm sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng pháo nổ Việc
7 Điều 99,100,101 Luật bảo vệ môi trường 2014
Trang 23sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng pháo hoa theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ8
1.2.3 Các biện pháp xử lý các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường
Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho tổ chức và cá nhân khác, có trách nhiệm khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại và xử lý theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây phiền hà, nhũng nhiễu cho tổ chức, cá nhân, bao che cho người vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hoặc thiếu trách nhiệm để xảy ra ô nhiễm, sự
cố môi trường thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 160 Luật bảo vệ môi trường 2014)
Luật Bảo vệ môi trường 2014 chỉ quy định mang tính nguyên tắc về xử phạt
vi phạm hành chính do hành vi làm ô nhiễm môi trường Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 về vấn đề này Tuy nhiên, vấn đề này
đã được ghi nhận trong Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Theo đó hình thức xử phạt hành chính do vi phạm pháp luật, gồm: cảnh cáo, phạt tiền và các hình thức xử phạt bổ sung khác
Bên cạnh đó, các chủ thể vi phạm còn có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung, như: Đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm môi trường của cơ sở từ 03 tháng đến 06 tháng; Đình chỉ hoạt động của cơ sở từ 06 tháng đến 12 tháng; Ngoài
ra các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật môi trường còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, như: Buộc phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và báo cáo kết quả đã khắc phục xong hậu quả vi phạm trong thời hạn do người có thẩm quyền xử phạt ấn định trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm quy định tại Điều này gây ra; Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính đối với các vi phạm quy định tại
8 Điều 102, 103 Luật bảo vệ môi trường 2014
Trang 24Điều này; Buộc chi trả kinh phí trưng cầu giám định, kiểm định, đo đạc và phân tích mẫu môi trường trong trường hợp có vi phạm về xả chất thải vượt quy chuẩn kỹ thuật môi trường hoặc gây ô nhiễm môi trường theo định mức, đơn giá hiện hành đối với các vi phạm quy định tại Điều này.(Điều 15 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016)
Những quy định này là cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử
lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường Tuy nhiên, trên thực tiễn áp dụng xử
lý vi phạm hành chính do hành vi làm ô nhiễm môi trường vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường trong bối cảnh hiện nay Bởi: hoạt động xả, thải, gây ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp ngày càng tinh vi, nên việc xác định hành
vi xả, thải làm ô nhiễm môi trường là không dễ dàng; Mặt khác sự buông lỏng trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thực hiện nhiệm vụ của mình cũng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thực hiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường
Để đảm bảo tính răn đe mạnh mẽ hơn nhằm phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm môi trường, ngoài trách nhiệm hành chính, theo pháp luật Việt Nam cá nhân, pháp nhân có hành vi vi phạm pháp luật môi trường có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
Chủ thể gây ô nhiễm môi trường thì tùy theo tính chất mà mức độ của hành
vi mà bị xử lý hành chính hoặc hình sự Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất được áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân có hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây hậu quả nghiêm trọng
Tại điều 235 Bộ luật hình sự 2015 quy định rõ về tội gây ô nhiễm môi trường
“5 Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền
từ 1.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền
từ 5.000.000.000 đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ
06 tháng đến 03 năm;
Trang 25c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền
“1 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy trái quy định của pháp luật từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000 kilôgam;
b) Xả thải ra môi trường từ 5.000 mét khối (m 3 )/ngày đến dưới 10.000 mét khối (m 3 )/ngày nước thải có các thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 10 lần trở lên;
c) Xả nước thải ra môi trường có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 02 lần đến dưới 04 lần;
d) Xả ra môi trường từ 5.000 mét khối (m 3 )/ngày đến dưới 10.000 mét khối (m 3 )/ngày nước thải có độ PH từ 0 đến dưới 2 hoặc từ 12,5 đến 14;
đ) Thải ra môi trường từ 300.000 mét khối (m 3 )/giờ đến dưới 500.000 mét khối (m 3 )/giờ bụi, khí thải vượt quá quy chuẩn kỹ thuật về chất thải 10 lần trở lên;
e) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải rắn thông thường trái quy định của pháp luật từ 200.000 kilôgam đến dưới 500.000 kilôgam;
g) Chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm trung bình theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
Trang 26an toàn bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép;
h) Phát tán ra môi trường bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật hoặc vượt mức giới hạn theo quy định từ 02 lần đến dưới 04 lần
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy trái quy định của pháp luật 5.000 kilôgam trở lên;
b) Xả thải ra môi trường 10.000 mét khối (m 3 )/ngày trở lên nước thải có các thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 10 lần trở lên;
c) Xả nước thải ra môi trường có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật 04 lần trở lên;
d) Xả ra môi trường 10.000 mét khối (m 3 )/ngày nước thải trở lên có độ PH
h) Phát tán ra môi trường bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật hoặc vượt mức giới hạn theo quy định 04 lần trở lên
3 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù
từ 03 tháng đến 02 năm:
Trang 27a) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy trái quy định của pháp luật từ 1.000 kilôgam đến dưới 3.000 kilôgam;
b) Chuyển giao, cho, mua, bán chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy thuộc danh mục cấm sử dụng trái quy định của pháp luật từ 2.000 kilôgam trở lên;
c) Xả thải ra môi trường từ 1.000 mét khối (m 3 )/ngày đến 10.000 mét khối (m 3 )/ngày nước thải có các thông số môi trường nguy hại vượt quá quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 05 lần đến dưới 10 lần;
d) Xả nước thải ra môi trường có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép hoặc vượt mức giới hạn theo quy định từ
i) Phát tán ra môi trường bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật hoặc vượt mức giới hạn theo quy định từ 01 lần đến dưới 02 lần
4 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Pháp luật hình sự đã quy định về xử lý đối với pháp nhân phạm tội gây ô nhiễm môi trườn, nhưng thực tế, đến nay vẫn có rất ít pháp nhân, cá nhân bị xử lý
Trang 28hình sự về hành vi phạm tội này, mặc dà hành vi gây ô nhiễm môi trường với tính chất nghiêm trọng vẫn diễn ra nhiều trong thực tế hàng ngày
Tuy nhiên, các quy định này sẽ là những cơ sở pháp lý cho các cơ quan có thẩm quyền áp dụng xử lý đối với cá nhân pháp nhân phạm tội được phát hiện trong thời gian tới
1.3 Các văn bản dưới luật về bảo vệ môi trường của khu công nghiệp
Vấn đề bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp hiện nay, luôn được Đảng, Nhà nước và cơ quan có thẩm quyền các cấp chú trọng quan tâm, được tổ chức triển khai thực hiện thông qua thể chế hóa bằng các quy định pháp luật Đặc biệt phải kể đến là Luật bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp trong khu công nghiệp: Luật
số 55/2014/QH13 Bảo vệ môi trường ngày 23/06/2014 của Quốc hội, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015 là văn bản có giá trị pháp lý của đề mục và cũng là văn bản có cấu trúc được xác định là cấu trúc của đề mục Bảo vệ môi trường
Trực tiếp quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường năm
2014 gồm có 10 Nghị định của Chính phủ; 14 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 80 Quyết định, Thông tư và Thông tư liên tịch của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; 03 Nghị quyết liên tịch của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ với các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp cũng được pháp điển đầy đủ vào Đề mục Ngoài ra, các quy phạm pháp luật thuộc đề mục Bảo vệ môi trường có liên quan đến rất nhiều các lĩnh vực khác, Bộ Tài nguyên và Môi
trường cùng các Bộ, ngành liên quan đã xác định 45 văn bản có nội dung liên quan
đến bảo vệ môi trường9.Có thể kể ra mốt số ví dụ như: Những quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ của Luật bảo vệ môi trường năm
2014 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; nguyên tắc bảo vệ môi trường; chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường; những hoạt động bảo vệ môi trường được khuyến khích; những hành vi bị nghiêm cấm Những quy định này
9 Hệ thống các quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nguồn: Cổng thông tin điện tử pháp điển ; http://phapdien.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=97 : Truy cập: 22h ngày 11/7/2019
Trang 29thuộc nội dung từ Điều 4 đến Điều 7 của Luật bảo vệ môi trường năm 2014 và được hướng dẫn bởi Điều 4, 5 Nghị định số 140/2006/NĐ-CP Quy định việc bảo vệ môi trường trong các khâu lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển ngày 22/11/2006 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/12/2006; từ Điều 1 đến Điều 5 của Thông tư số 108/2003/TT-BTC Thông tư hướng dẫn cơ chế tài chính áp dụng đối với các dự án vệ sinh môi trường sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) ngày 07/11/2003 của Bộ Tài chính, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28/11/2003 Những quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường được quy định từ Điều 8 đến Điều 34 của Luật bảo vệ môi trường năm 2014 được hướng dẫn chi tiết tại Điều 6,7,8,12 của Nghị định số 140/2006/NĐ-CP; từ Điều 3 đến Điều 7 của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP Quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường ngày 14/02/2015 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/04/2015, Điều 8,9,10,11 của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP; một số điều của Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT Về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường ngày 29/05/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/07/2015, Thông tư số 18/2016/TT-BNNPTNT Quy định một số nội dung về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý ngày 24/06/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/08/2016
Những quy định về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp tại điều 66 Luật Bảo vệ môi trường 2014 được hướng dẫn chi tiết bởi Thông tư 35/2015/TT-BTNMT về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao của Bộ Tài nguyên môi trường có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/6/2015 quy định rõ những yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc đầu tư, xây dựng khu công nghiệp và trách nhiệm bảo vệ môi trường trong quá trình vận hành các khu công nghiệp Ngoài ra, các hoạt động của các khu công nghiệp cần tuân thủ
Trang 30một số tiêu chuẩn về môi trường như Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp QCVN 40:11/BTNMT ; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại QCVN 07: 2009/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò
đốt chất thải công nghiệp QCVN 30: 2010/BTNMT…
Việc xác định rõ quan điểm, chính sách và các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực hiện bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp Các khu công nghiệp sẽ bám sát các quy định của pháp luật nhằm xây dựng các kế hoạch, tổ chức thực hiện công tác bảo vệ môi trường chặt chẽ, đồng bộ
và có hiệu quả cao
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỒ CHÍ MINH
Sau khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam tăng lên rất nhanh, song hầu hết tập trung vào lĩnh vực dịch vụ như khách sạn, nhà làm việc tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Đầu tư nước ngoài vào công nghiệp, nhất là công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu gặp 2 khó khăn chính là: Cơ sở hạ tầng yếu kém, thủ tục xin giấy phép đầu tư và triển khai dự án đầu tư phức tạp, mất nhiều thời gian Dựa vào kinh nghiệm của nước ngoài, Chính phủ chủ trương thành lập khu chế xuất để làm thí điểm một mô hình kinh tế nhằm thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986
Vì vậy, Quy chế khu chế xuất đã được ban hành kèm theo Nghị định số 322/HĐBT ngày 18/10/1991 và khu chế xuất Tân Thuận - khu chế xuất đầu tiên của
cả nước đã được thành lập theo Quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng số 394/CT ngày 25/11/1991 nay là Chính phủ
Tính đến nay, khu chế xuất Tân Thuận đã thu hút được gần 200 dự án đầu tư đến từ 20 quốc gia và khu vực với tổng vốn đầu tư đạt 1,7 tỷ USD Năm 2016 kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 4,3 tỷ USD, lũy kế kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 45,5 tỷ USD, trong đó xuất siêu đạt 5,1 tỷ USD Ngoài việc tạo ra hàng tỷ USD thặng dư xuất khẩu, khu chế xuất Tân Thuận cũng giúp thay đổi bộ mặt khu vực huyện Nhà Bè, quận 7, biến vùng đất đầm lầy thành khu phát triển công nghiệp hiện đại và trở thành khu chế xuất được các nhà đầu tư đánh giá là hấp dẫn nhất ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Không chỉ tạo ra dấu ấn về thu hút đầu tư, phát
Trang 32triển công nghiệp khu chế xuất Tân Thuận cũng tạo công ăn việc làm ổn định cho gần 65.000 lao động.10
Theo quy hoạch đến năm 2020, Thành phố Hồ Chí Minh có 23 khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung với tổng diện tích 5.822,5 ha Sau 25 năm xây dựng và phát triển, đến nay thành phố đã có 3 khu chế xuất và 16 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích 4.532 ha; trong đó 17 khu chế xuất, khu công nghiệp đã hoạt động, diện tích đất cho thuê đạt 1.544,43 ha/tổng số 2.571,64 ha đất công nghiệp, đạt tỷ lệ lấp đầy 60%.11
Các khu chế xuất và công nghiệp trên địa bàn thành phố đã thu hút được nguồn vốn lớn vào đầu tư sản xuất công nghiệp, tạo kim ngạch xuất khẩu, góp phần tăng thu ngân sách cho thành phố Việc mở rộng thu hút đầu tư vào các khu chế xuất, khu công nghiệp cũng tạo điều kiện để TP Hồ Chí Minh thu hút công nghệ mới và kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ nước ngoài Song song với việc thúc đẩy phát triển kinh tế, các khu chế xuất, khu công nghiệp cũng tạo ra số lượng việc làm đáng kể cho người lao động của thành phố và nhiều địa phương khác, đồng thời góp phần chuyển đổi nhiều vùng đất đầm lầy, đất nông nghiệp năng suất thấp thành vùng công nghiệp với nhiều nhà máy, phân xưởng hiện đại
Tính đến cuối tháng 8/2017, số dự án đầu tư còn hiệu lực tại các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh là 1.482 dự án, tổng vốn đầu tư đạt 9,846 tỷ USD; trong đó có 560 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với vốn 5,669 tỷ USD; 922 dự án trong nước 62.658 tỷ đồng (tương tương 4,177 tỷ USD) Các khu chế xuất, khu công nghiệp cũng đang tạo việc làm ổn định cho gần 290.000 lao động
Có thể nói, quá trình hình thành và phát triển của các khu chế xuất, khu công nghiệp đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển kinh tế của Tp Hồ Chí Minh Trong đó, các khu chế xuất, khu công nghiệp đã, đang và sẽ là những “hạt nhân”
10 Thu hút đầu tư vào KCX-KCN tại TP Hồ Chí Minh- Bài 1: Phát triển nhanh nhưng chưa vững;
chua-vung/c/23769860.epi; Truy cập: 14h35 ngày 30/8/2019
https://baomoi.com/thu-hut-dau-tu-vao-kcx-kcn-tai-tp-ho-chi-minh-bai-1-phat-trien-nhanh-nhung-11 Thành lập các khu chế xuất và khu công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh;
http://www.hepza.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/lich-su-hinh-thanh-va-phat-trien ; Truy cập: 13h40 ngày 30/8/2019
Trang 33thúc đẩy thu hút đầu tư, phát triển sản xuất công nghiệp và gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu cho thành phố Sự phát triển của các khu chế xuất, khu công nghiệp đã góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Tuy nhiên, qua thời gian mô hình phát triển của các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn cũng bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục kịp thời
Vấn đề hiện nay của các khu chế xuất, khu công nghiệp TP Hồ Chí Minh là chất lượng công tác quy hoạch và triển khai thực hiện quy hoạch chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển Trong đó, công tác xây dựng quy hoạch các khu chế xuất, khu công nghiệp chưa làm rõ yếu tố liên kết vùng và ngành; chưa làm rõ mối liên kết chuỗi sản phẩm giữa các khu, vì vậy chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, thị trường, khả năng cung ứng của thành phố
Thành phố Hồ Chí Minh từng là đơn vị mở đầu và dẫn đầu về phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp cả nước trong một thời gian dài Tuy nhiên, vai trò đầu tàu này đang có xu hướng giảm sút trong những năm gần đây
Cụ thể, TP Hồ Chí Minh được xem là trung tâm kinh tế của cả nước nhưng hiện mới có 17 khu chế xuất, khu công nghiệp đi vào hoạt động với tổng diện tích quy hoạch hơn 2.571 ha Thêm vào đó, các dự án đầu tư trong các khu chế xuất, khu công nghiệp của TP Hồ Chí Minh đa số có quy mô vốn nhỏ; số dự án có công nghệ tiên tiến, hàm lượng chất xám, giá trị gia tăng cao chiếm tỷ lệ cũng ít Tỷ lệ công nghệ cao của các khu chế xuất, khu công nghiệp vẫn ở mức thấp, khoảng 10%; số doanh nghiệp có giấy chứng nhận công nghệ cao chỉ "đếm được trên đầu ngón tay"
Xét về tổng thể, sự phát triển của các khu chế xuất, khu công nghiệp tại TP
Hồ Chí Minh thời gian qua đang thiên về số lượng khu và tỷ lệ lấp đầy nhưng chất lượng phát triển chưa tương xứng với vị trí là trung tâm khoa học công nghệ của cả nước Mặt khác, tính liên kết giữa các doanh nghiệp trong một khu công nghiệp và giữa các khu công nghiệp với nhau còn yếu, chưa tạo được cụm sản xuất chuỗi sản phẩm có quy mô lớn, giá trị gia tăng cao
Một thực tế khác, hầu hết doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào các khu chế xuất, khu công nghiệp của thành phố thường kéo theo cả chuỗi cung ứng riêng phục vụ cho nhu cầu sản xuất khép kín Nói cách khác, các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 34chỉ mới khai thác các nguồn lực đầu vào giá rẻ như lao động, đất đai, chính sách thuế của thành phố mà chưa có sự liên kết cung ứng với các doanh nghiệp địa phương
Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp trọng yếu (gồm cơ khí chế tạo, điện tử - công nghệ thông tin, cao su - nhựa, chế biến tinh lương thực thực phẩm) và hai ngành công nghiệp truyền thống (dệt may và da giày) Tuy nhiên, việc sản xuất nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng (công nghiệp hỗ trợ) phục vụ cho các ngành này còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất sản phẩm đầu cuối dẫn đến phát triển công nghiệp thiếu bền vững Phần lớn nguyên liệu đầu vào của các ngành công nghiệp như sản xuất thép kỹ thuật, hợp kim, nhựa, nguyên liệu được phẩm, vải, thuốc nhuộm đều phải nhập khẩu từ nước ngoài Nguyên nhân của thực trạng trên là do chưa hình thành được cụm liên kết ngành thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ cho các doanh nghiệp của
TP Hồ Chí Minh Các doanh nghiệp hoạt động rời rạc, chưa kết nối để hỗ trợ lẫn nhau
Thêm vào đó, các lĩnh vực hỗ trợ phát triển công nghiệp tại TP Hồ Chí Minh như hệ thống phân phối, viện nghiên cứu, trường đào tạo nhân lực, đầu mối chuyển giao công nghệ cũng chưa được hình thành rõ nét Ngoài ra, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật nhất là giao thông, cấp thoát nước đang chịu sức ép quá tải
Mặt khác, Ban quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp hiện không được giao chức năng, nhiệm vụ về thanh tra nên phải thực thi cơ chế “phối hợp” trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước, gặp khá nhiều khó khăn, giảm hiệu lực quản lý nhà nước, hạn chế tính chủ động, chưa phát huy tốt vai trò đầu mối và hiệu lực quản
lý nhà nước; cơ chế cải cách hành chính “một cửa tại chỗ” tại khu chế xuất, khu công nghiệp để thuận lợi cho thu hút đầu tư chưa được phát huy đầy đủ
Với thực tế đó, nếu không định hướng lại và thay đổi chiến lược phát triển, các khu chế xuất, khu công nghiệp của thành phố sẽ khó thu hút và giữ chân được các nhà đầu tư khi không còn các lợi thế về quỹ đất, giá lao động…
2.2 Thực trạng việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp
Trang 35Trong nhiều năm qua cùng với sự phát triển của đất nước, thành phố Hồ Chí Minh cũng không ngừng phát triển với nhiều khu công nghiệp, nhiều công trình xây dựng được hình thành, tạo nên một mối đe dọa lớn đối với môi trường Các cấp chính quyền đã chi những khoản chi phí khổng lồ để khắc phục tình trạng ô nhiễm tuy nhiên theo như kết quả đo được thì tình hình ô nhiễm ngày càng gia tăng, thậm chí còn biến tướng theo chiều hướng xấu, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân
Ô nhiễm môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh được biết là rất đa dạng, nhưng trong đó đáng chú ý là tình hình ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí là nghiêm trọng nhất Hệ thống kênh rạch trong khu vực nội thành TP.HCM có chiều dài khoảng 76km với 5 tiểu lưu vực chính gồm kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè Tân Hóa - Lò Gốm, Tàu Hủ - Kênh Đôi, Kênh Tẻ - Bến Nghé, Bến Cát - Vàm Thuật Theo tính toán, mật độ kênh rạch khu vực các quận nội thành hiện đang ở mức rất thấp và không có lợi cho việc thoát nước đáng lưu ý một số kênh do nạo vét quá sâu nhưng bề rộng mặt cắt bị thu hẹp đến 50% Theo thống kê hiện nay có đến 60%-70% chiều dài của các tuyến kênh trong nội thành bị ô nhiễm nặng, vấn đề ô nhiễm chủ yếu là ô nhiễm chất hữu cơ và coliform.Trong đó, theo thống kê các nguồn thải công nghiệp trên địa bàn thành phố từ năm 2010 đến 2012 được thực hiện trên 24 quận/huyện với 826 nguồn thải, chỉ có khoảng 60% nguồn thải có hệ thống xử lý nước thải, các nguồn thải còn lại chỉ xử lý qua sơ bộ (bể tự hoại) trước khi xả thải ra môi trường Các chất thải công nghiệp làm cho nhiều con sông, kênh rạch tại thành phố ô nhiễm nặng, sức khỏe người dân khu vực lân cận bị ảnh hưởng nghiêm trọng12
Bên cạnh ô nhiễm nguồn nước còn vấn đề ô nhiễm không khí cũng đáng lo ngại và ngày càng gia tăng Ô nhiễm không khí tại địa bàn thành phố chủ yếu là do bụi lơ lửng và từ các hoạt động của phương tiện giao thông gây ra Theo số liệu quan trắc về chất lượng không khí thấy rằng nồng độ CO trong không khí có xu hướng giảm dần Nhưng 6 tháng đầu năm, nồng độ CO được ghi nhận tăng vọt ở nhiều điểm như An Sương, ngã tư Huỳnh Tấn Phát – Nguyễn Văn Linh, Hàng
12 Môi trường thành phố Hồ Chí Minh đang bị đe dọa; xahoi/baothoinay-xahoi-vande/item/33325602-moi-truong-tp-ho-chi-minh-dang-bi-de-doa.html ; Truy cập: 19h25 ngày 12/7/2019