Luận văn chứng thực lại tác động giữa đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư và hiệu quả sử dụng nợ đối với cơ cấu công ty đặc biệt trong ngành F&B Việt Nam thông qua các mô hình kiểm đ
Trang 1ĐẬU LÝ HIỀN THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY ĐẾN ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY NGÀNH THỰC PHẨM VÀ ĐỒ UỐNG
NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2ĐẬU LÝ HIỀN THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY ĐẾN ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY NGÀNH THỰC PHẨM VÀ ĐỒ UỐNG
NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG (hướng ứng dụng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS LÊ PHAN THỊ DIỆU THẢO
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3Tôi cam đoan đề tài “ Tác động của đòn bẩy đến đầu tư của công ty ngành
Thực phẩm và Đồ uống niêm yết tại Việt Nam” là thành quả nghiên cứu dưới sự
hướng dẫn của PGS TS Lê Phan Thị Diệu Thảo Các số liệu, kết quả phân tích, đánh giá trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác và lấy từ thực tế thực nghiệm thị trường Việt Nam và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu trước đây
TP.Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 05 năm 2019
Tác giả luận văn
Đậu Lý Hiền Thảo
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
TÓM TẮT
ABSTRACT
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.6 Kết cấu luận văn 7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 9
2.1 Một số khái niệm 9
2.1.1 Đầu tư 9
2.1.2 Đòn bẩy tài chính 10
2.1.3 Mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư 12
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm 14
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Giả thuyết nghiên cứu 19
3.2 Mô hình nghiên cứu 20
3.2.1 Đầu tư thuần (INV) 21
3.2.2 Đòn bẩy tài chính (LEV) 21
3.2.3 Giá trị doanh nghiệp (TOBIN’s Q) 22 3.2.4 Tỷ số lợi nhuận ròng sau thuế và khấu hao trên tổng tài sản cố định
Trang 53.3.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 26
3.4 Trình tự nghiên cứu 27
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
4.1 Thống kê mô tả 29
4.2 Phân tích tương quan 32
4.3 Phân tích hồi quy 33
4.3.1 Dựa trên dữ liệu các biến 33
4.3.2 Dựa trên dữ liệu bảng nhóm công ty tiềm năng tăng trưởng cao 36
4.3.3 Dựa trên dữ liệu bảng nhóm công ty tiềm năng tăng trưởng thấp 38
4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 41
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Khuyến nghị 47
5.3 Hạn chế của nghiên cứu 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC PHỤ LỤC
Trang 6Từ viết tắt Tên đầy đủ tiếng anh Tên đầy đủ tiếng việt
HOSE Ho Chi Minh Stock
Exchange
Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM
HNX Ha Noi Stock Exchange Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
F&B Food & Beverage Thực phẩm và Đồ uống
Moments
Phương pháp ước lượng moment tổng quát
NPV Net Present Value Giá trị hiện tại thuần
OLS Ordinary least squares Phương pháp bình phương bé nhất
REM Random Effects Models Mô hình hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên
FEM Fixed Efects Models Mô hình hồi quy hiệu ứng cố định
MM Modigliani và Miller Lý thuyết cấu trúc vốn cân đối
Trang 7Bảng 4.3 Kết quả hồi quy tác động của đòn bẩy đến đầu tư 33Bảng 4.4 Kết quả hồi quy tác động của đòn bẩy đến đầu tư nhóm công ty tiềm năng tăng trưởng cao 36Bảng 4.5 Kết quả hồi quy tác động của đòn bẩy đến đầu tư nhóm công ty tiềm năng tăng trưởng thấp 38Bảng 4.6 Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước so sánh với kết quả nghiên cứu của luận văn 45
Trang 8Bài viết này nghiên cứu về tác động của đòn bẩy đến quyết định đầu tư của các công ty trong ngành thực phẩm và đồ uống niêm yết ở thị trường Việt Nam Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính của 52 công ty trong ngành thực phẩm và đồ uống niêm yết trên 2 sàn Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2008 – 2017 Bài nghiên cứu được tiếp cận thông qua công thức mô hình định lượng, sử dụng phương pháp nghiên cứu hồi quy theo hiệu ứng cố định và mô hình hồi quy theo hiệu ứng ngẫu nhiên Kết quả kiểm định cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực càng mạnh đến quyết định đầu tư khi mà tiềm năng tăng trưởng của công ty đó càng lớn, ngược lại, công ty có tiềm năng tăng trưởng thấp thì đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực không đáng kể đến quyết định đầu tư Dựa vào kết quả nghiên cứu nhà quản trị có những quyết định đúng đắn làm gia tăng giá trị công ty
Từ khóa : quyết định đầu tư, đòn bẩy tài chính, ngành thực phẩm và đồ uống
Trang 9This article examines the impact of leverage on investment decisions of companies in the food and beverage industry in Vietnam Research data were collected from the financial statements of 52 companies in the food and beverage industry listed on the two floors of Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) & Hanoi Stock Exchange (HNX) in the period of 2008 -
2017 The paper is approached through a quantitative model formula, using a fixed effect regression research method and a random effect regression model The test results show that financial leverage has a stronger negative impact on investment decisions when the growth potential of that company is larger, whereas companies with low growth potential are leverage The main negative impact on investment decisions is negligible Based on the research results, managers have the right decisions to increase the value of the company
Keywords : investment decision, financial leverage, food & beverage industry
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh kinh tế hội nhập, sau khi gia nhập liên minh kinh tế, việc Việt Nam ký kết Hiệp định Châu Á Thái Bình Dương (APEC) và tham gia Cộng đồng Kinh tế Châu Á (AEC) làm cho ngành thực phẩm và đồ uống đối mặt với những cơ hội và thách thức Theo báo cáo của Viện Toàn cầu McKinsey (MGI), công bố ngày 12/9/2018 tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) ở Hà Nội, Việt Nam nằm trong 18 nền kinh tế mới nổi được đánh giá là nước đạt hiệu quả vượt trội trong vòng 50 năm qua Trong tình hình này, các công ty trong ngành F&B Việt Nam đang có những bước đi mạnh mẽ bằng cách thúc đẩy mở rộng mô hình đầu tư, kinh doanh đa dạng hóa sản phẩm để tạo ra các bước mạnh mẽ để tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Luận văn chứng thực lại tác động giữa đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư và hiệu quả sử dụng nợ đối với cơ cấu công ty đặc biệt trong ngành F&B Việt Nam thông qua các mô hình kiểm định, dựa vào dữ liệu thực tế Theo khảo sát các doanh nghiệp Profit500 do Vietnam Report thực hiện tháng
10 năm 2018 thì ngành F&B là 1 trong 5 ngành có tiềm năng sinh lời lớn nhất giai đoạn tới, tiềm năng tăng đến 20% Công ty cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam (theo Vietnam Report, 2018) nhận định rằng Việt Nam đang trở thành thị trường có sức tiêu thụ thực phẩm - đồ uống rất tiềm năng trong khu vực Cụ thể, theo nghiên cứu toàn cảnh ngành F&B Việt Nam năm 2018 của Vietnam Report, ngành F&B hiện chiếm khoảng 15% GDP và có xu hướng tăng lên với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm Dẫn số liệu từ Tổng cục Thống kê, Việt Nam hiện được đánh giá là một trong những thị trường có sức tiêu thụ thực phẩm – đồ uống rất tiềm năng Chỉ số tiêu thụ của ngành sản xuất chế biến thực phẩm và sản xuất đồ uống trong 9 tháng đầu năm 2018 tăng lần lượt 8,1% và 10,2% so với cùng kỳ năm 2017 (số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam – GSO)
Trang 11Theo khảo sát của Vietnam Report về thói quen mua hàng thực phẩm – đồ uống vào tháng 9 năm 2018, cơ cấu chi tiêu cho ngành hàng này chiếm tới 34% trong tổng cơ cấu chi tiêu trung bình hàng tháng của người Việt Nam Bên cạnh đó, ngành này cũng là một trong những ngành công nghiệp quan trọng của Việt Nam Đó là lý
do vì sao ngành F&B của Việt Nam lại đang thu hút nhiều doanh nghiệp nước ngoài quan tâm đầu tư, hợp tác, mở rộng thị trường tiêu thụ
Theo Đinh Tuấn Minh, giám đốc nghiên cứu thị trường F&B của công tynghiên cứu thị trường VietAnalytics, năm 2018, cho rằng các doanh nghiệp thực phẩm và
đồ uống phải luôn theo dõi những mong muốn và nhu cầu của khách hàng F&B là ngành công nghiệp có tính cạnh tranh cao, tốc độ đào thải nhanh và danh tiếng của doanh nghiệp ảnh hưởng rất nhiều đến hành vi của khách hàng, cho dù là nhà hàng, cửa hàng tiện lợi hoặc nhà cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp Đó là lý do vì sao khi ngày càng nhiều các thương hiệu có ý định thâm nhập vào thị trường này, việc điều tra tìm hiểu thị trường là rất cần thiết
Trong một báo cáo ngành năm 2018 của các chuyên gia Công ty Chứng khoán Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBS) cũng nhận định rằng lĩnh vực bán lẻ thực phẩm và nước giải khát tại Việt Nam đang rất phân tán, với sự hiện diện của chỉ một vài doanh nghiệp lớn Lĩnh vực bán lẻ thực phẩm và đồ uống chủ yếu bị chi phối bởi các nhà bán lẻ ngoài doanh nghiệp, bao gồm các nhà bán lẻ truyền thống
và cửa hàng thực phẩm độc lập Theo xếp hạng VietNamReport tháng 10 năm 2018, đứng đầu nhóm ngành thực phẩm đóng gói gia vị đồ ăn có Masan, Acecook, Cái Lân Còn về nhóm ngành đường, sữa, bánh kẹo có Vinamilk, Nestle, tập đoàn Kido; nằm trong top nhóm ngành thực phẩm tươi sống, đông lạnh có Vissan, Vĩnh Hoàn, Chăn nuôi CP; cuối cùng nhóm ngành đồ uống có cồn, không cồn và đồ uống nóng dẫn đầu là Heineken, Sabeco, Suntory Pepsico Các doanh nghiệp thâm nhập bán lẻ chủ yếu giới hạn trong các khu vực đô thị Cũng theo các chuyên gia cho rằng, thị trường thực phẩm đồ uống được kiểm soát bởi một số doanh nghiệp lớn như các doanh nghiệp nội địa Vinamilk, KiDo, Masan Consumer, Minh Phú, Vinafood,
Trang 12Halico, Bibica, Sabeco, các doanh nghiệp nước ngoài như Nestle (cà phê); Nabati Indonesia (bánh kẹo); Diageo, Heineken(đồ uống có cồn) Các công ty đa quốc gia lớn đang thiết lập các đơn vị độc lập và công ty liên doanh để đầu tư vào các lĩnh vực như cà phê, bánh kẹo, đồ uống có cồn, nước ngọt, và hệ thống phân phối bán lẻ Thị trường ngành F&B là sân chơi của các công ty lớn trong ngành F&B Tuy nhiên, để giữ chỗ đứng như hiện tại bên cạnh thách thức cạnh tranh với các công ty ngoại thâm nhập vào thị trường, ban quan trị của các doanh nghiệp lớn còn cần có những động thái trong quyết định tài chính, quyết định đầu tư để có thể duy trì và phát triển ổn định
Đặc trưng ngành F&B là lĩnh vực có tính độc quyền cao nên việc các doanh nghiệp non trẻ gia nhập vào thị trường này còn nhiều trở ngại Khó khăn đó không những bắt đầu từ việc đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, mà còn là tâm lý lo ngại của các đại lý và nhà phân phối trong việc đặt niềm tin vào phân phối sản phẩm Điều đó còn cần đến rất nhiều vào nổ lực thực hiện từng bước truyền thông, quảng cáo đến với người tiêu dùng để cải thiện những rào cản khi mới gia nhập ngành Đó cũng là những bước đi đầu tư thông minh để cải thiện vị thế của chính doanh nghiệp đó Thị trường F&B có ít rào cản gia nhập, nhưng vì nhu cầu tiêu dùng lớn, tốc độ đào thải nhanh, nên vẫn là một thách thức với những doanh nghiệp muốn chinh phục Trong thách thức cũng có cơ hội nên ngành F&B cũng có những góc nhìn lạc quan mà chính nhà quản trị các công ty cần phải tĩnh táo hơn khi đưa
ra quyết định đầu tư
Ngành F&B hiện nay là lĩnh vực mà các công ty nhỏ muốn khởi nghiệp, bởi lẽ, lượng tiêu thụ và thị trường ngành này còn rất tiềm năng để đầu tư và mở rộng quy
mô Mặc dù, các công ty lớn chiếm hữu thị phần và lượng khách hàng quen thuộc sẵn có, tuy nhiên, tiềm năng ngành và thị hiếu người tiêu dùng Việt Nam vẫn còn là sân chơi rất tốt để các công ty nhỏ tạo chỗ đứng riêng cho mình Ngành F&B là ngành bán lẻ tiêu dùng nên đòi hỏi việc tồn kho, đầu tư tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động là việc làm cấp thiết mà bất cứ nhà quản trị nào cũng phải quan tâm và
Trang 13tính toán cẩn trọng Chủ yếu các mặt hàng có thời hạn sử dụng không quá dài, về giá cả và chi phí khi tồn hàng cũng như dự trữ tiền mặt sao cho hợp lý Đó cũng là câu hỏi khi mà nhiều nhà quản trị muốn sử dụng đòn bẩy với việc đưa ra quyết định đầu tư, bỏi họ phải cân nhắc rất nhiều về tấm chắn thuế, cái giá phải trả khi quyết định đầu tư không sinh lời như kì vọng, cũng như chi phí lãi vay cho việc sử dụng đòn bẩy đó tác động như thế nào đến quyết định đầu tư của ban lãnh đạo công ty Quyết định đầu tư là một trong ba quyết định tài chính quan trọng mà các nhà quản trị hay các giám đốc tài chính đều quan tâm nếu muốn dẫn dắt lãnh đạo và gia tăng giá trị công ty Vì vậy, sự tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư lại càng là một vấn đề càng quan trọng không kém Myers (1977) từng đề cập đến trong một bài báo về việc thúc đẩy đòn bẩy tác động đến đầu tư bằng cách giải quyết các khỏan nợ có rủi ro cao Đây là những khoản nợ có khả năng làm giảm giá trị công ty khi quyết định 1 dự án đầu tư kém hiệu quả Ngoài ra tác giả còn dự đoán rằng đòn bẩy có tác động nghịch chiều với giá trị thị trường của các quyết định đầu tư của công ty
Trong thời đại cạnh tranh toàn cầu, các công ty cần đầu tư lớn vào tài sản cố định hữu hình khác để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Mà, vốn và
nợ được coi là nguồn lực chính cho quyết định đầu tư này Nghiên cứu về cấu trúc
nợ và cơ cấu đáo hạn nợ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của công ty là vấn đề cơ bản trong tài chính doanh nghiệp Để đạt được sự tăng trưởng về hiệu suất và năng suất, đòn bẩy cần được quản lý tốt
Bên cạnh đó, cũng có nhiều ý kiến thảo luận xoay quanh về việc các quyết định đòn bẩy tác động đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, các vấn đề về đòn bẩy sẽ gây ra tác động đến các quyết định đầu tư (đòn bẩy có thể gây ra đầu tư dưới mức hoặc đầu tư vượt mức) Đối với ngành F&B, các công ty lớn đã có chỗ đứng trên thị trường ngành cần có những quyết định đầu tư hợp lý, chính điều đó sẽ duy trì sự tăng trưởng đều của cổ phiếu cũng như khẳng định vị thế của mình Còn những công ty non trẻ mới gia nhập
Trang 14ngành, tiềm năng tăng trưởng còn nhỏ thì các quyết định đầu tư càng quan trọng hơn, bởi chính các quyết đình đầu tư đó lại chính là bước ngoặc đột phá, vượt trội giúp tạo chỗ đứng mới trong thị trường ngành Từ những thực tiễn trên nên luận văn quyết định chọn đề tài nghiên cứu về Tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định của các công ty trong ngành F&B
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư của các công ty trong ngành F&B, qua đó, luận văn hàm ý quản trị cho các bên liên quan về các hoạt động quản trị tài chính công ty
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để nghiên cứu tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư, luận văn nghiên cứu trả lời 2 câu hỏi nghiên cứu
(1) Đòn bẩy có tác động đến quyết định đầu tư của các công ty trong ngành F&B hay không?
(2) Đòn bẩy tác động đến quyết định đầu tư có phụ thuộc vào mức độ tăng trưởng công ty trong ngành F&B không?
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư như thế nào đối với các công ty trong ngành thực phẩm và đồ uống niêm yết ở Việt Nam
Xét về mặt thời gian, phạm vi nghiên cứu của luận văn sử dụng các chỉ tiêu,báo cáo tài chính của 52 công ty ngành F&B trong 10 năm 2008 – 2017 Còn về mặt nội dung, phạm vi luận văn nghiên cứu về tác động đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư, bao gồm kiểm định nhóm công ty trong ngành F&B có tiềm năng tăng
Trang 15trưởng cao, đưa ra nhận định lượng tích cực hoặc tiêu cực từ đòn bẩy đến quyết định đầu tư và kiểm định nhóm công ty trong ngành F&B có tiềm năng tăng trưởng thấp, đưa ra nhận định tích cực hoặc tiêu cực từ đòn bẩy đến quyết định đầu tư Đối với phạm vi không gian, bài viết thu thập dữ liệu, lấy dữ liệu 10 năm 2008 – 2017 nghiên cứu 52 công ty ngành thực phẩm và đồ uống đang được chấp thuận niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX)
Lý dó chủ yếu mà các công ty trong ngành F&B chỉ lấy các chỉ tiêu trên sàn HOSE và HNX mà không phải sàn UPCom là vì các dữ liệu trên sàn UPCoM và OTC bị đặt nhiều dấu hỏi về chất lượng, minh bạch trong cả công tác tài chính và quản trị Tính đến ngày 25/7/2018, 80 mã đang trong diện bị hạn chế giao dịch, 9
mã khác bị đình chỉ giao dịch và không ít cổ phiếu khác dù vẫn giao dịch bình thường nhưng vấn đề chất lượng rất đáng lưu tâm Không những vậy, sàn giao dịch UPCoM chính thức đi vào giao dịch năm 2010 nên dữ liệu giao dịch của tất cả các
mã UPCoM giai đoạn 2008-2009 sẽ không có dữ liệu
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng bằng cách thu thập và xử lý dữ liệu, kết hợp với kế thừa mô hình ước lượng từ các bài viết của nhiều tác giả có đề tài nghiên cứu tương đồng, dùng phương pháp thống kê mô tả, so sánh, tính toán để đưa ra nhận định, đánh giá về mặt tích cực và mặt tiêu cực của tác động đòn bẩy đến quyết định đầu tư của 52 công ty ngành F&B
Phương pháp nghiên cứu hồi quy của luận văn kế thừa từ 2 bài báo của Võ Xuân Vinh (2018) và Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự (2013) theo 3 cách gồm mô hình pooed OLS, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và hiệu ứng cố định Các tác giả đều
sử dụng kiểm định là Breusch Pagan để xác định xem mô hình nào phù hợp hơn trong hai mô hình gồm mô hình pooled OLS và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên; ngoài
ra, còn sử dụng thêm kiểm định Hausman để kết luận mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên
Trang 16hay mô hình hiệu ứng cố định sẽ phù hợp hơn Từ đó, các tác giả đều nhận định rằng phương pháp hiệu ứng cố định (fixed effect) là phương pháp hồi quy phù hợp nhất Vì vậy phương pháp này sẽ được tham khảo sử dụng chính vào nghiên cứu này
Dữ liệu nghiên cứu của luận văn được thu thập từ báo cáo tài chính của 52 mã
cổ phiếu niêm yết trên HOSE và HNX Nguồn dữ liệu được lấy từ cổng thông tin trực tuyến về tài chính và chứng khoán của Công Ty Cổ phần Tài Việt (https://vietstock.vn/)
1.6 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 5 chương theo kết cấu và nội dung chính như dưới đây
Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu
Chương này trình bày tóm lược lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đặt ra câu hỏi nghiên cứu, làm rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cuối cùng là cho biết nghiên cứu theo những phương pháp gì
Chương 2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan
Chương 2 nêu và định nghĩa các khái niệm quan trọng, trình bày, tóm tắt lại các nghiên cứu trước về tác động giữa đòn bẩy tài chính và đầu tư của công ty để làm tiền đề đưa các biến vào mô hình ước lượng được sử dụng ở chương 3, đồng thời so sánh, giải thích kết quả thu được ở chương 4
Chương 3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 đưa ra giả thuyết nghiên cứu, trình bày phương pháp thu thập dữ liệu
và phân tích dữ liệu bằng phần mềm STATA, từ đó đề xuất mô hình hồi quy phù hợp thể hiện tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư của công ty
Chương 4 Kết quả nghiên cứu
Từ nguồn dữ liệu đã thu thập, chương 4 tiếp tục xử lý dữ liệu chia làm 2 nhóm
dữ liệu bảng theo phân tích chương 2, sử dụng phần mềm STATA như đã đề xuất ở
Trang 17chương 3 để phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu từ bảng dữ liệu Đồng thời, chương này cũng giải thích kết quả nghiên cứu, và so sánh kết quả nghiên cứu này với kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đó
Chương 5 Kết luận và khuyến nghị
Chương 5 kết luận lại tiến trình nghiên cứu, từ đó đưa ra một số đóng góp trong thực tiễn, kiến nghị nhà quản trị nên có những quyết định đúng đắn tùy theo từng trường hợp cụ thể theo quy mô thực tế Bên cạnh đó, cũng phải đưa ra những hạn
chế của nghiên cứu để cải thiện và rút kinh nghiệm cho những nghiên cứu về sau
Trang 18CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
2.1 Một số khái niệm
2.1.1 Đầu tư
Theo cách hiểu thông thường trong kinh tế học, đầu tư được định nghĩa như là việc sử dụng, theo bất cứ cách nào, các nguồn lực với mục đích làm tăng sản lượng hay thu nhập trong tương lai
Theo Điều 3, Luật đầu tư sửa đổi bổ sung năm 2018 cho rằng đầu tư kinh doanh
là việc mà nhà đầu tư bỏ vốn bằng tiền hoặc các tài sản khác để thực hiện hoạt động kinh doanh cụ thể qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự
án đầu tư Các hoạt động đầu tư kinh doanh này phải được tổ chức thực hiện theo đúng quy định pháp luật
Ngoài khái niệm về đầu tư, sách phân tích tài chính cũng có đề cập đến quyết định đầu tư, thường quyết định đầu tư với các doanh nghiệp trong ngành F&B sẽ liên quan đến một vài nhân tố như là loại hình đầu tư (bao gồm thâm dụng kỹ thuật
và lao động), tổng vốn đầu tư, thời gian hoạt động, phân bổ tài sản, và các thỏa thuận hợp đồng (mua, cho thuê và đi thuê) (Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Thị Liên Hoa, 2008) Giống như hoạt động tài trợ, những quyết định hoạt động đầu tư xác định cấu trúc tổ chức của công ty (tập trung hay phi tập trung), tác động đến tăng trưởng và ảnh hưởng đến mức độ rủi ro kinh doanh
Mở rộng hơn về đầu tư, đầu tư vượt mức là khi nhà quản trị đưa ra các quyết định đầu tư mà không đặt lợi ích của cổ đông lên hàng đầu mà đầu tư quá nhiều (Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự, 2013) Trường hợp một doanh nghiệp thừa tiền mặt sau khi đầu tư cho tất cả những dự án có NPV dương, nhà quản trị có xu hướng đầu tư vào những dự án có NPV âm Nói cách khác, những nhà quản trị luôn muốn mở rộng quy mô doanh nghiệp bất chấp dự án đó có mang lại lợi nhuận hay không
Trang 19Đầu tư dưới mức là khi nhà quản trị quyết định đầu tư ít vào 1 hạng mục và đầu
tư trong 1 thời gian dài (Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự, 2013) Vì những dự
án có rủi ro cao thường mang lại tỷ suất sinh lợi vượt trội cho các cổ đông, còn khi rủi ro xảy ra thì tổn thất phần lớn được dịch chuyển sang trái chủ Lý thuyết đầu tư dưới mức cho rằng các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao thường ít có khả năng khai thác những cơ hội tăng trưởng có giá trị so với những doanh nghiệp có mức đòn bẩy thấp vì chi phí vốn từ bên ngoài và tính thanh khoản thấp dễ đẩy doanh nghiệp rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính Hay, nói cách khác, đầu tư dưới mức còn là tình trạng một công ty từ chối những dự án an toàn rủi ro thấp để đầu tư vào những dự án có rủi ro cao gây thiệt hại cho trái chủ
Việc phân loại đầu tư dựa trên nhiều tiêu chí và nhiều góc độ, mỗi góc độ sẽ phân loại đầu tư theo những cách khác nhau Từ những góc độ phân loại đó, ta biết mục đích sử dụng vốn của nhà quản trị khi đầu tư là gì, từ đó tài trợ và huy động nguồn vốn phù hợp với mục đích sử dụng vốn Quyết định tài trợ, đầu tư cho một phương án kinh doanh luôn gắn liền với quyết định huy động vốn Để huy động vốn doanh nghiệp phải xem xét đến các thứ tự ưu tiên nguồn vốn cũng như các kênh huy động phù hợp Việc sử dụng nợ hay sử dụng đòn bẩy tài chính cũng là một trong các kênh sử dụng vốn tối ưu mà các nhà quản trị cân nhắc khi đưa ra quyết định đầu
độ sử dụng chi phí hoạt động cố định của công ty Còn đòn bẩy tài chính được định nghĩa như là mức độ theo đó các chứng khoán có thu nhập cố định (nợ và cổ phiếu
ưu đãi) được sử dụng trong cơ cấu nguồn vốn của công ty Đòn bẩy hoạt động khác
Trang 20hẳn đòn bẩy tài chính, vì công ty không thể lựa chọn đòn bẩy hoạt động được nhưng đòn bẩy tài chính thì có thể được quyết định thông qua chiến lược của các nhà quản trị Bài luận văn này chỉ đứng dưới góc độ đòn bẩy tài chính để xem xét các quyết định đầu tư của công ty
Đòn bẩy tài chính còn được hiểu là việc sử dụng vốn đi vay cho mục đích kinh doanh sinh lời thay vì dùng vốn tự có Đòn bẩy trên tài chính liên quan đến việc sử dụng nợ để thu lợi nhuận trên tài sản Đòn bẩy tài chính là thể hiện mức độ sử dụng vốn vay trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên 1 cổ phần thường của công ty
Để nhà quản trị đưa ra quyết định đầu tư thì phải cân nhắc nhiều đến đòn bẩy tài chính, cân đối cả 2 chỉ tiêu nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán Nếu chỉ tiêu nợ phải trả cao hơn vốn chủ sở hữu thì tức là công ty này sử dụng đòn bẩy với quy mô lớn, còn ngược lại, nếu vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhiều hơn nghĩa công ty này chưa nghĩ đến việc sử dụng đòn bẩy nhiều trong các quyết định đầu tư của họ Gia tăng lợi nhuận cao là mục tiêu của các các cổ đông, trong đó đòn bẩy tài chính là một công cụ được các nhà quản lý ưa dùng
Đòn bẩy tài chính liên quan đến việc sử dụng chi phí cố định để tài trợ cho công
ty và bao gồm cả những chi phí tăng thêm trước thuế và lãi vay Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, một mức độ đòn bẩy tài chính cao hơn nghĩa là sự dao động trong thu nhập trên mỗi cổ phần thường cũng tăng tương ứng Việc sử dụng đòn bẩy tài chính thường đem lại hiệu quả cao và giúp nhà đầu tư đa dạng hóa danh mục đầu
tư
Đòn bẩy tài chính là liều thuốc kích thích và nhà đầu tư thường sử dụng khi họ
kỳ vọng rằng tỉ suất sinh lời trên tài sản cao hơn lãi suất vay nợ Tuy nhiên, dùng đòn bẩy tài chính sẽ có mặt lợi và mặt hại, tức là, lợi nhuận cao đi kèm với rủi ro Cần có những chiến lược để có thể vận dụng mang lại được hiệu quả cao nhất Tóm lại, đòn bẩy tài chính cung cấp cơ hội để gia tăng sức mạnh cho đồng vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp có nguồn vốn hạn chế
Trang 212.1.3 Mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư
Một vài lý thuyết có nhắc đến mối quan hệ này của đòn bẩy tài chính và quyết định đầu tư như lý thuyết trật tự phân hạng Myers và Majluf (1984) và Ross (1977)
là những người đi đầu trong việc tiên phong nghiên cứu lý thuyết trật tự phân hạng thị trường Lý thuyết này dựa trên giả thuyết cho rằng ban quản trị công ty sẽ có nhiều thông tin hơn đối với các nhà đầu tư, điều đó làm cho nguồn thông tin bất cân xứng, các nhà đầu tư sẽ không biết được tiềm năng, triển vọng và giá trị nội tại thực
sự của doanh nghiệp đó Mà chủ yếu lý thuyết này xoay quanh việc đưa ra các quyết định đầu tư, dẫn đến các quyết định tài trợ và huy động vốn từ nhiều nguồn theo thứ
tự ưu tiên: vốn nội bộ hiện có, các khoản nợ vay từ chứng khoán nợ, cuối cùng là phát hành cố phiếu, nên nếu có nhiều thông tin sẽ khiến cho các quyết định tài chính
rõ ràng và đúng đắn hơn Việc đưa ra các quyết định đầu tư phụ thuộc phần nhiều vào kiến thức của nhà quản lý và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp trong tương lai Lý thuyết này muốn truyền tải không phải là phân tích kết cấu vốn tối ưu
mà là cấu trúc vốn dẫn đến quyết định tài chính, từ đó sử dụng đòn bẩy tài chính phù hợp để đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả nhất Để đưa ra quyết định về sử dụng vốn khi đầu tư, nhà quản trị còn xem xét đến các yếu tố về loại hình hoạt động kinh doanh của công ty, dự án đầu tư và nhu cầu đầu tư tương xứng với tỷ lệ nợ trên tài sản Tóm lại, lý thuyết này cho rằng không có một cấu trúc vốn tối ưu với các công
ty Điều đó còn phụ thuộc vào định hướng của ban quản trị sử dụng kênh đòn bẩy cho phù hợp với quyết định đầu tư danh mục sắp tới của công ty
Tiếp đến, lý thuyết khác của Modilligani và Miller (1958) cũng đã tìm hiểu về ảnh hưởng của việc doanh nghiệp vay vốn nhiều hay ít đến chi phí sử dụng vốn vốn tăng hay giảm Sử dụng đòn bẩy càng nhiều thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% từ nợ vay Hay nói cách khác, việc sử dụng đòn bẩy sẽ làm tăng giá trị công ty nhờ được hưởng khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế phát sinh do lãi vay được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế Giá trị của doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy sẽ gia tăng một khoản đúng bằng hiện giá tấm chắn thuế Trong trường hợp đặc biệt khi vay nợ vĩnh viễn, hiện giá tấm chắn thuế
Trang 22đúng bằng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp nhân với giá trị nợ của doanh nghiệp
Ngoài ra, lý thuyết về đầu tư dưới mức và đầu tư vượt mức có thể giải thích thêm về tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư của công ty Myer (1977) cho rằng các công ty có sử dụng đòn bẩy cao thường từ bỏ cơ hội tăng trưởng vì lo sợ nợ vượt quá năng lực tài chính của công ty Đối với công ty sử dụng đòn bẩy cao, việc đầu tư vào các dự án có giá trị hiện tại thuần dương sẽ sinh lợi cho những trái chủ nhiều hơn các cổ đông Không những thế, lý thuyết về đầu tư dưới mức còn cho rằng nhà quản trị của những công ty sử dụng đòn bẩy nhiều và đầu tư ít hơn thường không xem xét đến các tiềm năng tăng trưởng của công ty họ Trước đó, Kang và cộng sự (2000) đã cho rằng các chính sách tài chính và các quyết định đầu tư của công ty thường bị ảnh hưởng đáng kể trong thị trường không hoàn hảo Tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư cũng được nêu ra dựa trên lý thuyết đầu tư vượt mức Lý thuyết này giải thích rõ ràng cho những mâu thuẫn lợi ích xảy ra giữa nhà quản lý và cổ đông sở hữu Các nhà quản lý luôn đưa
ra các quyết định chính sách theo xu hướng mở rộng quy mô của công ty mà không quan tâm đến việc đồng thời tăng chi phí của các cổ đông Để bảo vệ lợi ích của mình và ngăn chặn vấn đề đầu tư vượt mức, các cổ đông thường có những biện pháp kiểm soát mâu thuẫn này xảy ra bằng cách hạn chế bằng cách phát hành thêm trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường Việc huy động vốn bằng các chứng khoán nợ càng thắt chặt các quyết định đầu tư hơn bởi lúc này gia tăng thêm nhà đầu tư mới, lúc này mọi quyết định đầu tư gắn liền với lợi ích trái chủ nên càng thận trọng đầu
tư hơn Vì lẽ đó mà việc sử dụng đòn bẩy được cho là một trong những chính sách quan trọng nhằm kiểm soát các quyết định đầu tư vượt mức Điều này dẫn đến các tác động tiêu cực của đòn bẩy đến đầu tư, đặc biệt là đối với các công ty có tiềm năng tăng trưởng còn yếu
Trang 232.2 Các nghiên cứu thực nghiệm
Có nhiều nhà nghiên cứu nghiên cứu về tác động của đòn bẩy tài chính đối với các quyết định đầu tư của doanh nghiệp trên toàn thế giới Trong số đó, Aivazian là tác giả tiêu biểu đưa ra kết quả thực nghiệm nghiên cứu các công ty
niêm yết tại Canada trong giai đoạn 1982 đến 2002 Aivazian (2005) xây dựng
mô hình ước lượng gồm các biến độc lập là tỷ lệ dòng tiền trên tài sản cố định, tăng trưởng công ty, đòn bẩy tài chính, doanh thu trên tài sản cố định và biến phụ thuộc là biến đầu tư Tác giả chạy mô hình hồi quy bằng 3 phương pháp pooled OLS, FEM và REM Sau đó, dùng kiểm định Lagrangian kiểm tra độ phù hợp của 2 phương pháp pooled OLS và REM, kiểm định Hausman kiểm tra độ phù hợp của 2 phương pháp FEM và REM Kết quả kiểm định sau đó, tác giả chọn phương pháp FEM cho mô hình hồi quy Bài nghiên cứu quan sát
2 nhóm công ty phân theo tiềm năng tăng trưởng là nhóm có cơ hội tăng trưởng cao và nhóm có cơ hội tăng trưởng thấp Kết quả trong bài viết cho thấy tỷ lệ
nợ dài hạn trong cơ cấu vốn đã làm giảm tác động của đòn bẩy đến đầu tư đối với các công ty có mức tăng trưởng cao ở Canada Hơn nữa, tác động tiêu cực này càng rõ ràng hơn ở các công ty có cơ hội tăng trưởng thấp
Sau kết quả thực nghiệm của tác giả tại Canada – một nước Bắc Mỹ, luận văn tiếp tục tham khảo thêm một bài báo nghiên cứu một nước châu Âu Cụ
thể, Mehmet Umutlu (2010) nghiên cứu tác động của đòn bẩy đến quyết định
đầu tư của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Istanbul ở Thổ Nhĩ Kỳ,
là 1 trong những thị trường kinh tế mới nổi Bài viết sử dụng mô hình ước lượng của Aivazian (2005) để chạy hồi quy Hai phát hiện chính của bài báo được tóm tắt như sau Đầu tiên, tác giả diễn giải một mối quan hệ tiêu cực giữa đòn bẩy và đầu tư trong đó ngụ ý rằng khoản nợ đó hạn chế quyết định đầu tư của công ty Phát hiện này phù hợp với các tài liệu nghiên cứu trước đây sử dụng bối cảnh của các thị trường phát triển Thứ hai, tác giả thấy rằng đòn bẩy
có tác động tiêu cực mạnh hơn đối với các quyết định đầu tư của công ty đối
Trang 24với các công ty có cơ hội tăng trưởng cao hơn so với các công ty có cơ hội tăng trưởng thấp Phát hiện này là mâu thuẫn với những phát hiện của các nghiên cứu trước đây Bài viết này có đưa ra một vài góp ý mới Đầu tiên, tác giả đặt
ra câu hỏi nghiên cứu là liệu rằng các quyết định đầu tư của nhà quản trị công
ty có phụ thuộc vào đòn bẩy của công ty hay không Thứ hai, tác giả phân tích thêm một thực nghiệm trong thị trường kinh tế mới nổi Đây là một đóng góp rất quan trọng vì thường thì những phát hiện từ các nước phát triển không đủ
để có thể suy ra cho bối cảnh các nước thị trường mới nổi Hơn nữa, vì các quyết định đầu tư phụ thuộc vào tình hình tài chính thực tế trên thị trường không hoàn hảo, do đó mà các nghiên cứu thực nghiệm này thường là yếu tố rất quan trọng, mang tính quyết định để giúp nhà quản trị trả lời cho câu hỏi nghiên cứu
Sau khi tham khảo 2 bài báo ở Canada và Thổ Nhĩ Kỳ, bài viết tham khảo thêm một bài báo của tác giả nghiên cứu ở một nước châu Á khác, cụ thể là Ấn
Độ Franklin John S, Muthusamy K (2011) phân tích tác động đồn bẩy đến
quyết định đầu tư của các công ty dược phẩm Ấn Độ trong giai đoạn 1998 đến
2009 Bài viết sử dụng 3 phương pháp hồi quy pooled OLS, FEM, REM chạy
mô hình các biến đòn bẩy, doanh thu, dòng tiền tự do, suất sinh lợi trên tài sản, tăng trưởng công ty, thanh khoản và lợi nhuận giữ lại, trong đó, đầu tư thuần là biến phụ thuộc Nghiên cứu quan sát 3 nhóm công ty phân loại theo quy mô gồm nhóm công ty quy mô nhỏ, nhóm công ty quy mô vừa và nhóm công ty quy mô lớn Đây là bài nghiên cứu duy nhất trong các bài tham khảo có cách phân loại nhóm dữ liệu để chạy mô hình hồi quy theo 3 nhóm mà không phải chỉ 2 nhóm tăng trưởng cao và tăng trưởng thấp như các bài nghiên cứu trước Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng đòn bẩy có tác động tích cực đến các quyết định đầu tư và tác động tích cực này mạnh mẽ hơn đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ và tác động tiêu cực đến doanh nghiệp vừa, tuy nhiên, với doanh nghiệp lớn thì lại có tác động tiêu cực với quyết định đầu tư Hơn nữa, họ còn cho rằng ngành dược ở Ấn Độ có thị trường tiêu thu lớn, do đó, dòng tiền của
Trang 25ngành này khổng lồ và rất lớn Nên, đòn bẩy không có tác động quá mạnh mẽ đối với ngành dược ở Ấn Độ
Tiếp đến, là một vài bài báo của các tác giả Việt Nam nghiên cứu cùng đề tài liên quan đến tác động đòn bầy đến quyết đầu tư, như là bài của tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự (2013) Bài viết nghiên cứu về mối quan
hệ giữa sử dụng đòn bẩy tài chính và quyết định đầu tư trên thị trường Việt Nam giai đoạn 2009-2011 Sử dụng hồi quy theo 3 phương pháp pooled OLS, FEM và REM, sau đó sử dụng kiểm định Lagrangian Multiplier và Hausman
để lựa chọn phương pháp FEM là phương pháp phù hợp nhất Nghiên cứu dựa trên mô hình ước lượng với 5 biến phụ thuộc gồm đòn bẩy tài chính (LEV), dòng tiền công ty trên tài sản cố định (CF/K), cơ hội tăng trưởng công ty (TOBIN’S Q), tăng trưởng doanh thu (SALE), tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA), thanh khoản (LIQ) Trong bài nghiên cứu của tác giả có 2 biến mới và khác những bài nghiên cứu những năm trước đó là có biến thanh khoản, còn biến ROA thì có trùng với bài nghiên cứu của tác giả Franklin John S, Muthusamy K Vậy nên, bài nghiên cứu có những tính mới cần tham khảo để đưa vào luận văn Bài nghiên cứu chia làm 2 nhóm công ty tăng trưởng thấp và công ty tăng trưởng cao để nghiên cứu Tác giả cho rằng đối với công ty có tăng trưởng cao thì yếu tố đòn bẩy và đầu tư có tác động thuận chiều với nhau Ngược lại, công ty tăng trưởng thấp thì công ty nên hạn chế sử dụng đòn bẩy
để đầu tư do tác động ngược chiều này có khả năng làm gia tăng gánh nặng tài chính và làm cho công ty có nguy cơ phá sản
Hay một bài khác của tác giả Việt Nam, tại hội nghị Quốc tế về Hội nhập và
Thách thức, theo Nguyễn Văn Duy và cộng sự (2015) đã cho rằng nghiên cứu
tác động của đòn bẩy đối với quyết định đầu tư của công ty trong ngành thực phẩm và đồ uống là rất quan trọng đối với doanh nghiệp Các tác giả chạy mô hình định lượng thể hiện tác động của đòn bẩy thông qua các yếu tố hiệu suất của công ty (Tobin Q, ROA), dòng tiền nội bộ công ty (CF), tăng trưởng doanh thu (SALE) và thanh khoản (LIQ) đối với quyết định đầu tư của công ty (I) của
Trang 26các công ty trong ngành F&B niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam từ năm
2008 – 2014 Bài nghiên cứu sử dụng 3 phương pháp pooled OLS, FEM và REM, tuy nhiên, do những tồn tại biến nội sinh nên sử dụng thêm phương pháp nghiên cứu bằng mô hình GMM trong phân tích dữ liệu mảng chỉ ra rằng đòn bẩy có tác động ngay lập tức và có 1 độ trễ nhất định đến quyết định đầu tư Đây là bài báo mang tính mới lạ do có dùng đến mô hình GMM khác với những bài nghiên cứu trước Kết quả cho thấy các yếu tố như dòng tiền nội bộ công ty và tăng trưởng doanh thu cũng có tác động đến quyết định đầu tư, các yếu tố còn lại không ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của công ty ngành F&B Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cũng đưa ra các khuyến nghị cho các công ty trong ngành F&B nên gia tăng đầu tư trong kinh doanh để tăng khả năng cạnh tranh trong giai đoạn Việt Nam hội nhập ngày càng mạnh mẽ Ngoài
ra, công ty cũng cần phải xem lại hiệu suất của mình để có những chiến lược gia tăng tài sản, từ đó, làm giảm sự phụ thuộc của các dự án đầu tư vào các khoản nợ, giảm gánh nặng nợ lên các quyết định đầu tư
Trái với những nghiên cứu trước, tác giả Võ Xuân Vinh (2018) nghiên cứu
tác động đồn bẩy đến quyết định đầu tư từ các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam năm 2006 – 2015 Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hiệu ứng cố định phân tích hồi quy và chia ra 2 nhóm công ty tăng trưởng cao và công ty tăng trưởng thấp để nghiên cứu Thông qua thực nghiệm, dựa trên mô hình ước lượng của bài nghiên cứu Aivazian (2005), Võ Xuân Vinh cho rằng đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực càng mạnh đến quyết định đầu tư khi mà
cơ hội tăng trưởng của công ty đó càng lớn Ngoài ra, đầu tư không hiệu quả có liên quan mật thiết đến các vấn đề về nội bộ công ty, khía cạnh mâu thuẫn lợi ích của nhà quản trị và lợi ích cổ đông nên có thể công ty sẽ có những quyết định đầu tư mà không liên quan đến đồn bẩy tài chính Tuy nhiên, khía cạnh đó không được nói đến trong bài nghiên cứu này
Cũng sử dụng phương pháp tương tự, có một vài bài báo cũ hơn đưa ra kết
Trang 27lớn sẽ tạo ra cơ hội đầu tư mang lại giá trị càng cao (đầu tư vào các dự án có giá trị hiện tại thuần dương) Trong trường hợp tỷ lệ nợ chiếm tỷ lệ lớn trong
cơ cấu vốn của công ty, nó sẽ là nhân tố thúc đẩy các nhà quản lý đưa ra quyết định đầu tư bằng cách sử dụng nợ làm quỹ (có thể, khoản nợ này đang được sử dụng trong dự án với NPV âm hoặc gây ra thiệt hại cho các cổ đông và đầu tư quá mức đang gia tăng gánh nặng nợ) Do đó, nó cho thấy rõ rằng tỷ lệ nợ có
tác động tiêu cực đến giá trị của công ty Hay, một nghiên cứu thử nghiệm tại Cộng hòa Mauritius của Odit & Chitoo (2008) cho thấy đòn bẩy có cả tác
động tích cực và tiêu cực đến quyết định đầu tư của 27 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch Mauritius (SEM) năm 1990 đến 2004 Tác giả đã tách các công ty đó thành hai nhóm là công ty có cơ hội tăng trưởng cao và công ty có
cơ hội tăng trưởng thấp Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định đầu tư của các công ty tăng trưởng thấp (tỷ lệ nợ càng lớn thì đầu tư càng ít) trong khi xu hướng này trở thành yếu tố tích cực trong việc thúc đẩy đầu tư vào các công ty tăng trưởng cao Các công ty này tăng trưởng càng cao thì họ càng đầu tư nhiều hơn khi tỷ lệ nợ càng lớn (đòn bẩy tài chính có tác
động tích cực) Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Firth, Lin và Wong (2008)
được thực hiện tại thị trường Trung Quốc cũng chỉ ra tác động tiêu cực của nợ đối với các quyết định đầu tư đối với các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải hoặc Sở giao dịch chứng khoán Thâm Quyến tại Trung Quốc từ năm 1991 – 2004 Cũng tương tự Firth, Lin và Wong, các nghiên cứu của Yuan và Motohashi (2012) cũng chỉ ra tác động đảo ngược tồn tại của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư Hay ngay cả khi nghiên cứu gần đây nhất của Naeemullah Khan (2015) cũng đề cập đến tác động trái ngược của đòn bẩy đến quyết định đầu tư của các công ty được liệt kê ở Pakistan
Trang 28CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Giả thuyết nghiên cứu
Bài nghiên cứu nghiên cứu về tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu
tư Cụ thể, năm 1963, Modilligani và Miller lại đưa ra kết luận nghiên cứu mới khi loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp, lúc này tác giả cho rằng doanh nghiệp sử dụng tấm chắn thuế như một công cụ hữu hiệu để làm gia tăng giá trị công ty Vì thế mà quyết định đầu tư và quyết định tài trợ có mối quan hệ mật thiết với nhau Sử dụng nợ càng nhiều sẽ làm gia tăng giá trị doanh nghiệp, đi đôi với rủi
ro mất vốn Việc đưa ra quyết định đầu tư liệu có phụ thuộc vào cơ cấu vốn công ty Dựa trên lý thuyết về đầu tư vượt mức và đầu tư dưới mức thì khi nào nhà quản trị nên quyết định đầu tư, khi nào không nên đầu tư để không vừa bỏ lỡ cơ hội đầu tư,
mà cũng vừa không đầu tư quá năng lực tài chính công ty cho phép Do đó, mà nghiên cứu này đưa ra 3 giả thuyết nghiên cứu dưới đây
Giả thuyết 1 là đòn bẩy tài chính có tác động cùng chiều đến quyết định đầu tư
Theo Aivazian (2005), Mehmet Umutlu (2010), Franklin John S, Muthusamy K (2011), hay Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự (2013), Nguyễn Văn Duy và cộng
sự (2015), Võ Xuân Vinh (2018) đều cho rằng đòn bẩy có tác động rất lớn đến nhà quản trị khi họ phải đưa ra một quyết định đầu tư mà quyết định đó sẽ làm gia tăng giá trị cộng ty cũng như gia tăng lợi nhuận Vì vậy mà mục tiêu nghiên cứu ban đầu đưa ra là xem xét tác động cùng chiều này Từ đây, luận văn kỳ vọng kết quả hồi quy ra đúng như giả thuyết tức là có hệ số tác động dương đến đầu tư để kết quả nghiên cứu có ý nghĩa về mặt ứng dụng
Giả thuyết 2 là đòn bẩy tài chính tỷ lệ thuận với quyết định đầu tư của nhóm
công ty có tiềm năng tăng trưởng cao Dựa vào đặc trưng ngành F&B, các ông lớn trong ngành chiếm lĩnh thị phần thị trường nhiều, cụ thể uy tín về thương hiệu, kinh nghiệm về việc sử dụng vốn và kinh nghiệm quản lý, điều đó, giúp các công ty có tiềm năng tăng trưởng cao sử dụng đòn bẩy hiệu quả và duy trì tỷ suất sinh lời đều Bài viết kỳ vọng mối quan hệ thuận chiều của quyết định đầu tư với đòn bẩy tài
Trang 29chính khi mà công ty duy trì mức tăng trưởng và tiềm năng cao trong thị phần toàn ngành Luận văn cũng kỳ vọng kết quả hồi quy cho thấy công ty có tiềm năng càng lớn thì nên dựa vào đòn bẩy nhiều để đưa ra các quyết định trong đầu tư
Giả thuyết 3 đòn bẩy tài chính tỷ lệ nghịch với quyết định đầu tư của nhóm công
ty có tiềm năng tăng trưởng thấp Các nghiên cứu trước đây đều cho thấy mối quan
hệ nghịch chiều của quyết định đầu tư với đòn bẩy tài chính khi mà công ty có cơ hội tăng trưởng và tiềm năng thấp hơn Với đặc trưng ngành F&B khi mà các doanh nghiệp non trẻ, tiềm năng còn thấp, thiếu kinh nghiệm, thiếu uy tín, sở hữu số lượng khách hang trung thành ít sẽ ngần ngại hơn trong việc đưa ra các quyết định đầu tư
mà có sử dụng đòn bẩy tài chính Vì nếu quyết định sai lầm, các doanh nghiệp có thể trả giá cao nhất là mất luôn toàn bộ công ty Đó là lý do đánh đổi mà các nhà quản trị đối với nhóm công ty này phải cân nhắc rất kỹ Luận văn kỳ vọng với giả thuyết đặt ra đối với nhóm công ty có tiềm năng tăng trưởng thấp thì các nhà quản trị nên cẩn thận hơn khi đưa ra các quyết định đầu tư mà sử dụng đòn bẩy tài chính
3.2 Mô hình nghiên cứu
Do đề tài nghiên cứu của Võ Xuân Vinh (2018) là nghiên cứu gần nhất và có cùng ý tưởng nghiên cứu với nghiên cứu của tác giả, vậy nên, luận văn sử dụng mô hình ước lượng của tác giả Võ Xuân Vinh (2018) để xây dựng mô hình nghiên cứu,
từ đó kiểm tra tác động của đòn bẩy tài chính đến đầu tư
𝑰𝑵𝑽𝒊,𝒕 = 𝜶 + 𝜷𝟏∗ 𝑳𝒆𝒗𝒆𝒓𝒂𝒈𝒆𝒊,𝒕−𝟏+ 𝜷𝟐 ∗ 𝑸𝒊,𝒕−𝟏+ 𝜷𝟑∗ 𝑪𝑭𝒊,𝒕
𝑲𝒊,𝒕−𝟏
+ 𝜷𝟒∗ 𝑺𝒂𝒍𝒆𝒊,𝒕−𝟏
𝑲𝒊,𝒕−𝟏 + µ𝒊𝒕 (𝟏) Trong đó:
i, t lần lượt định danh chủ thể công ty ngành F&B và thời gian t
𝜶 là hằng số
Trang 30µ𝒊𝒕 là phần dư
𝑰𝑵𝑽𝒊,𝒕 là biến phụ thuộc vào chính sách đầu tư của công ty i đến thời điểm t ,
𝐼𝑁𝑉𝑖,𝑡 = 𝐼𝑖,𝑡
𝐾𝑖,𝑡−1
𝑰𝒊,𝒕 là khoản đầu tư thuần của công ty i tại thời điểm t
𝑲𝒊,𝒕−𝟏 là giá trị TSCĐ thuần của công ty i đến thời điểm t-1
𝑳𝒆𝒗𝒆𝒓𝒂𝒈𝒆𝒊,𝒕−𝟏 là đại diện cho đòn bẩy của công ty i tại thời điểm t-1
𝑸𝒊,𝒕−𝟏 là Tobin’s Q – đo lường cơ hội tăng trưởng của công ty i tại thời điểm t-1
𝑪𝑭𝒊,𝒕 là dòng tiền nội bộ của công ty i tại thời điểm t
𝑺𝒂𝒍𝒆𝒊,𝒕−𝟏 là doanh thu thuần của công ty i tại thời điểm t-1
3.2.1 Đầu tư thuần (INV)
Khoản đầu tư thuần được tính bằng giá trị sổ sách của TSCĐ hữu hình tại thời điểm t – giá trị sổ sách TSCĐ hữu hình tại thời điểm (t-1) + khấu hao tại thời điểm
t Trong đó, chỉ tiêu khấu hao lấy từ chỉ tiêu “Khấu hao TSCĐ và BĐSĐT” của bảng Lưu chuyển tiền tệ, trường hợp doanh nghiệp không công bố thì tính theo công thức như sau: Khấu hao = Giá trị tuyệt đối ( Hao mòn (TSCĐ hữu hình + tài chính) t – Hao mòn (TSCĐ hữu hình + Tài chính) t-1)
Tài sản cố định hữu hình thuần được tính bằng công thức lấy tổng TSCĐ hữu hình, TSCĐ thuê tài chính Lưu ý, tất cả đều được tính bằng cách lấy nguyên giá TSCĐ trừ đi gía trị hao mòn
Cuối cùng, lấy khoản đầu tư thuần chia cho tài sản cố định hữu hình thuần
3.2.2 Đòn bẩy tài chính (LEV)
Đòn bẩy tài chính là sử dụng vốn vay để kinh doanh sinh lời thay vì dùng vốn tự
Trang 31trong việc ra các quyết định tài chính của nhà quản trị công ty Những doanh nghiệp
có tỷ trọng nợ phải trả càng lớn so với tỷ trọng vốn chủ sở hữu thì càng sử dụng đòn bẩy tài chính nhiều, ngược lại, sử dụng đòn bẩy càng ít khi tỷ trọng nợ phải trả càng nhỏ Đòn bẩy tài chính liên quan đến việc sử dụng nợ để thu lợi nhuận trên tài sản Tóm lại, đòn bẩy tài chính cung cấp cơ hội để gia tăng sức mạnh cho đồng vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp có nguồn vốn hạn chế
Định nghĩa đòn bẩy tài chính là gì theo cách mà các chuyên gia định nghĩa sẽ gây khó hiểu Có thể hiểu đơn giản rằng, khi muốn đầu tư vài trăm triệu để đầu tư chứng khoán hay kinh doanh, nhưng vốn tự có không đủ để thực hiện dự án đó, phải đi vay tiền ở các công ty tài chính hoặc ngân hàng để đầu tư Nếu doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy thì doanh nghiệp có thể sẽ mất rất nhiều thời gian để tích góp được số vốn đó Trong bối cảnh các chính sách hỗ trợ tài chính ngày càng trở nên thuận lợi thì các nhà đầu tư bất động sản Việt Nam sử dụng đòn bẩy tài chính như là công cụ để thu lợi nhuận Và trong bất động sản cũng vậy, các nhà đầu
tư có số vốn hạn hẹp sẽ dùng đòn bẩy tài chính để tăng đồng vốn đầu tư và thu lợi nhuận Ngoài những điểm tích cực thấy trước mắt, đòn bẩy tài chính cũng là con dao 2 lưỡi, nếu vận dụng không khéo léo và thông minh thì đòn bẩy này sẽ tạo ra cơn khủng hoảng trong tương lai, các nhà đầu tư có thể bị trắng tay và phá sản Chỉ tiêu này được tính bằng công thức tỉ lệ tổng nợ dài hạn và ngắn hạn trên tổng tài sản
3.2.3 Giá trị doanh nghiệp (TOBIN’s Q)
Đây là chỉ tiêu nhằm đo lường tiềm năng tăng trưởng của các công ty nghiên cứu Để đại diện cho giá trị doanh nghiệp thì đa số nghiên cứu sử dụng chỉ số Tobin’s Q Hệ số q của Tobin (Tobin's Q) là tỷ số giữa giá trị thị trường và giá trị thay thế của một tài sản cố định Tobin’s Q là giá trị sổ sách của một công ty cùng với giá trị ước tính của cổ phiếu trên thị trường trên giá trị sổ sách của công ty đó Các chỉ số ROA, ROE vẫn thường được sử dụng trong nhiều bài nghiên cứu trước, tuy nhiên bài nghiên cứu này lại sử dụng Tobin’s lại hợp lý hơn Là do ROA, ROE
Trang 32chỉ thể hiện kết quả từ dữ liệu lịch sử còn Tobin’s Q thể hiện kỳ vọng của nhà đầu
tư trong tương lai Mà bài viết thì đang nói đến quyết định đầu tư và các quyết định trong tương lai của nhà quản trị nên yếu tố giá trị công ty phải được đo lường bằng Tobin’s Q Nếu hệ số Q cao, công ty sẽ đầu tư nhiều hơn vì việc huy động thêm vốn
sẽ rẻ hơn do thị giá của công ty khá cao so với chi phí huy động thêm vốn, hay nói cách khác, công ty có hệ số Q cao là công ty có cơ hội tăng trưởng cao Ngược lại, nếu hệ số Q thấp, công ty sẽ không gia tăng đầu tư vì chi phí huy động thêm vốn khá đắt, hay, công ty này có cơ hội tăng trưởng thấp Đo lường Tobin’s Q qua công thức của Nguyễn Thị Ngọc Trang & Trang Thúy Quyên (2013)
Tobin’s Q = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ+𝐺𝑖á 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔+𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị ướ𝑐 𝑡í𝑛ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑐ổ 𝑝ℎầ𝑛 ư𝑢 đã𝑖
𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑠ổ 𝑠á𝑐ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛Theo Trịnh Thị Phan Lan (2015) giải thích Tobin’s Q bằng công thức ước lượng sau:
Trong đó, giá trị sổ sách của các khoản nợ là chỉ tiêu nợ phải trả, được tính
bằng tổng nợ ngắn hạn và nợ dài hạn được lấy từ bảng cân đối kế toán của BCTC
Giá thị trường của cổ phiếu là giá trị vốn hóa thị trường tại ngày giao dịch cuối
cùng của kỳ dữ liệu Còn, giá trị sổ sách của tài sản là chỉ tiêu tổng tài sản được lấy
từ bảng cân đối kế toán của BCTC
3.2.4 Tỷ số lợi nhuận ròng sau thuế và khấu hao trên tổng tài sản cố định thuần
Tử số là tổng lợi nhuận ròng sau thuế (hay còn gọi là thu nhập ròng sau thuế) và khấu hao Chỉ tiêu lợi nhuận ròng sau thuế được tính bằng cách lấy lợi nhuận trước
Trang 33thuế và lãi vay trên Bảng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty sau đó trừ đi chi phí lãi vay và cuối cùng trừ thuế thu nhập doanh nghiệp Do ngành F&B là ngành
sử dụng nhiều tài sản cố định nên việc phân tích khấu hao vào quyết định đầu tư cũng rất quan trọng Đó là lý do mà chỉ tiêu khấu hao được cộng vào lợi nhuận sau thuế để tính dòng tiền nội bộ của công ty
Chỉ tiêu khấu hao được tính bằng cách ước tính vòng đời tài sản cố định, phân
bổ định kỳ theo năm Lý do tất yếu của việc giảm giá trị sử dụng cũng như giá trị tài sản cố định là loại tài sản bị hao mòn tự nhiên theo thời gian sử dụng hoặc do tiến
bộ khoa học kỹ thuật làm cho tài sản cố định đó trở nên lỗi thời và không sử dụng được nữa Việc khấu hao tài sản cố định giúp nhà quản trị phân bổ giá trị để biết giá trị còn lại tài sản công ty, nhờ đó đề xuất kế hoạch dự toán đầu tư máy móc thiết bị, đầu tư cơ sở vật chất, tăng quy mô hoặc quyết định đầu tư để gia tăng lợi nhuận công ty hơn nữa Đứng dưới góc độ kế toán, chỉ tiêu khấu hao được đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh trích từng năm kéo dài trong quá trình sử dụng tài sản cố định Thực tế, có 2 cách tính khấu hao như sau Một là, khấu hao trong trường hợp doanh nghiệp công bố đầy đủ thì lấy từ chỉ tiêu “Khấu hao TSCĐ và BĐSĐT” của bảng Lưu chuyển tiền tệ Hai là, khấu hao trong trường hợp doanh nghiệp không công bố thì tính theo công thức như sau = Giá trị tuyệt đối ( Hao mòn (TSCĐ hữu hình + tài chính) t – Hao mòn (TSCĐ hữu hình + Tài chính) t-1)
Tóm lại, dòng tiền nội bộ của công ty tại thời điểm xác định trong kỳ nghiên cứu
là yếu tố quan trọng quyết định cơ hội tăng trưởng Nếu công ty có đủ dòng tiển nội
bộ thì số vốn này có thể được sử dụng cho hoạt động đầu tư Franklin John S, Muthusamy K (2011) cho rằng mục đích của việc phân bổ vốn cho dự án đầu tư là
để tạo ra giá trị dòng tiền trong tương lai lớn hơn vốn đầu tư ban đầu, gia tăng lợi nhuận cho cổ đông Vì thế mà dòng tiền nội bộ của công ty cũng chính là lợi nhuận công ty trừ các khoản mục bất thường cộng cho khấu hao tài sản cố định hữu hình
Ở dữ kiện này, giả thuyết các khoản mục bất thường của công ty bao gồm lời hoặc
lỗ của công ty Do nhà quản trị dựa trên mô hình này để đưa ra quyết định đầu tư
Trang 34sắp tới nên bài viết sử dụng dữ kiện dòng tiền chính là tổng lợi nhuận sau thuế và khấu hao tài sản cố định của công ty i tại thời điểm t
3.2.5 Mức tăng trưởng doanh thu của công ty
Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là chỉ tiêu dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán, bao gồm cả doanh thu bán hàng hoá, sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho công ty mẹ, công ty con trong cùng tập đoàn
Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy tỷ lệ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ với tài sản cố định thuần Trong bốn giai đoạn vòng đời của công ty, công ty trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, đầu tư mở rộng quy mô , mở rộng lĩnh vực kinh doanh trong vòng đời của mình thì thường có mức doanh thu tăng trưởng cũng khá nổi bật Mặc dù vậy, luận văn cũng cần tránh nhầm lẫn giữa tăng trưởng doanh thu
và tăng trưởng lợi nhuận, do lợi nhuận đã trừ đi thuế và các khoản phí khác, còn doanh thu bao gồm các chi phí, thuế phát sinh tăng khi quyết định đầu tư mới chẳng hạn Một công ty có doanh thu tăng trưởng mạnh nhưng không đều thì cũng không bằng một công ty có tăng trưởng mạnh và đều qua các năm, vì vậy các dữ kiện trong quá khứ của doanh thu sẽ là một trong những yếu tố mà các nhà đầu tư khi tài trợ vốn sẽ phải xem xét và phân tích rất kĩ Nhờ vào quá khứ tăng trưởng doanh thu tốt cũng là một trong những lợi thế để các nhà quản trị khi muốn thu hút vốn từ các nhà đầu tư cho một dự án mới
3.3 Dữ liệu nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp chọn mẫu
Chọn 52 mã cổ phiếu được niêm yết trên 2 sàn chứng khoán HOSE, HNX có BCTC từ năm 2008 – 2017 Dữ liệu được được phân ngành F&B dựa vào doanh thu chiếm tỷ trong cao nhất trong cơ cấu doanh thu của doanh nghiệp để lấy cơ sở phân ngành Nguồn gốc dữ liệu được lấy từ dữ liệu tổng hợp các chỉ tiêu BCTC từ website vietstock.vn
Trang 35Đối với dữ liệu liên quan đến BCTC (chỉ tiêu từ 3 bảng: Cân đối kế toán, Kết quả hoạt động kinh doanh, Lưu chuyển tiền tệ), luận văn sẽ lấy dữ liệu theo thứ tự
ưu tiên đối với báo cáo đã kiểm toán hoặc chưa kiểm toán, hợp nhất hoặc đơn lẻ hoặc công ty mẹ
Đối với dữ liệu giao dịch trên thị trường chứng khoán (Vốn hóa thị trường, khối lượng/giá trị giao dịch, ), dữ liệu sẽ được lấy tại ngày giao dịch cuối cùng của kỳ
dữ liệu Dữ liệu chỉ cung cấp khi doanh nghiệp có giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán (HNX/HOSE), còn tại thời điểm doanh nghiệp chưa được chấp thuận giao dịch trong giai đoạn lấy dữ liệu, bị tạm ngưng giao dịch, hoặc tạm hủy niêm yết trên sàn A để chuẩn bị giao dịch trên sàn B thì dữ liệu này sẽ không lấy thông tin Dữ liệu sẽ được cung cấp theo tình hình công bố thông tin của doanh nghiệp và thị trường, mức độ sai số của dữ liệu sẽ nằm trong khoảng +/-5%
3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp Đây là phương pháp thu thập các dữ liệu sẵn có bên trong và bên ngoài công ty thông qua website công bố công khai, chắt lọc dữ liệu có lựa chọn theo từng đối tượng cần nghiên cứu Lấy các chỉ tiêu tổng hợp từ báo cáo tài chính của các công ty ngành thực phẩm và đồ uống niêm yết trên 2 sàn chứng khoán HOSE và HNX Tuy nhiên,
từ năm 2008 – 2017 sẽ có 1 vài công ty không có dữ liệu vài năm do chưa được niêm yết Với những năm không có dữ liệu tính Tobin’s Q thì loại bỏ mã cổ phiếu công ty năm đó để dữ liệu được cân bằng
3.3.3 Phương pháp xử lý dữ liệu
Mc Connell và Servaes (1995) đã vận dụng đúng hai lý thuyết “đầu tư vượt mức” và “đầu tư dưới mức” vào các nghiên cứu của mình từ đó rút ra từ tổng thể một tập hợp các công ty phi tài chính của Mỹ những năm 1976, 1986, 1988 Trong mỗi năm, tác giả chia bộ dữ liệu thành hai nhóm, nhóm doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao và nhóm doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng thấp Từ đó đút kết rằng giá trị doanh nghiệp tỷ lệ nghịch với đòn bẩy cho các doanh nghiệp có cơ
Trang 36hội tăng trưởng cao (Tobin’s Q cao), và tỷ lệ thuận với đòn bẩy cho các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng thấp (Tobin’s Q thấp) Kết quả này lại phù hợp với giả thuyết cho rằng đòn bẩy gây ra vấn đề “đầu tư dưới mức” và làm giảm giá trị doanh nghiệp, cũng như giả thuyết cho rằng đòn bẩy làm suy giảm “ đầu tư vượt mức” và làm gia tăng giá trị doanh nghiệp
Kế thừa các nghiên cứu trước đó, bài viết chia thành hai nhóm loại hình công ty gồm công ty có tiềm năng tăng trưởng cao và công ty có tiềm năng tăng trưởng thấp
đo lường dựa trên biến Tobin’s Q theo mô hình ước lượng
3.4 Trình tự nghiên cứu
Để biết tác động đòn bẩy đến quyết định đầu tư, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính trên phần mềm STATA theo mô hình ước lượng Cụ thể như sau
Bước 1: Thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu biến theo mô hình ước lượng Loại bỏ các năm không có dữ liệu Phân nhóm theo tiềm năng tăng trưởng công ty bằng phương pháp trung vị
Bước 2: Thống kê mô tả các biến
Bước 3: Chạy ma trận hệ số tương quan của các biến độc lập Tiếp đến, luận văn lần lượt kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi cho mô hình bằng phương pháp Breusch and Pagan Lagrangian, kiểm định đa cộng tuyến bằng phương pháp nhân
tử phóng đại phương sai, và cuối cùng kiểm định hiện tượng tự tương quan bằng phương pháp phương pháp Woodridge test Tạo ra mô hình ước lượng mới để tiếp tục chạy hồi quy bước 4
Bước 4: Hồi quy tuyến tính theo 3 phương pháp pooled OLS, FEM, REM Dùng kiểm định Breusch – Pagan để lựa chọn phương pháp phù hợp trong 2 phương pháp pooled OLS – REM, tiếp đến kiểm định Hausman để lựa chọn 1 trong 2 phương pháp FEM – REM Từ 2 kiểm định đó ta rút ra mô hình phù hợp nhất để xác định
Trang 37mô hình ước lượng Lần lượt cho các biến dữ liệu mẫu, nhóm công ty tiềm năng tăng trưởng cao, nhóm công ty tiềm năng tăng trưởng thấp
Bước 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu So sánh kết quả nghiên cứu với các bài nghiên cứu trước đó