Ngô Thì Nhậm (1746-1803), tự Hy Doãn, hiệu là Đạt Hiên, người làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Ông đỗ Giải nguyên năm 1768, rồi tiến sĩ Tam giáp năm 1775, làm quan trải các triều Lê - Trịnh và Tây Sơn.
Trang 1Loại hình tác giả nhà Nho hành đạo trong văn học trung đại Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp Ngô Thì Nhậm
Confucian intellectual in Vietnamese middle-age literature:
The case of Ngo Thi Nham
PGS.TS Lê Văn Tấn Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Le Van Tan, Assoc.Prof.,Ph.D
Graduate Academy of Social Sciences, Vietnam Academy of Social Sciences
Tóm tắt
Ngô Thì Nhậm (1746-1803), tự Hy Doãn, hiệu là Đạt Hiên, người làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội Ông đỗ Giải nguyên năm 1768, rồi tiến sĩ Tam giáp năm 1775, làm quan trải các triều Lê - Trịnh và Tây Sơn Với quan niệm hành tàng linh hoạt, Ngô Thì Nhậm đã theo đuổi và kiên trì con đường hành đạo của kẻ sĩ trong thời loạn Với gần 600 bài thơ còn để lại, ông xứng đáng là mẫu hình nhà nho hành đạo tiêu biểu, một tác giả văn học lớn giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII nói riêng, của văn học trung đại Việt Nam nói chung
Từ khóa: Ngô Thì Nhậm, loại hình tác giả, tác giả nhà nho, nhà nho hành đạo, văn học trung đại
Abstract
Ngo Thi Nham (1746-1803), also called Hy Doan and Dat Hien, was born in Ta Thanh Oai, Thanh Tri, Hanoi He graduated with the highest score in1768, became a PhD in 1775, then worked as a government official under the Le -Trinh and Tay Son regime With a flexible lifestyle, Ngo Thi Nham had patiently pursued Confucianism during the wartime With more than 600 poems, he set an example
of a great author of the later half of the 18th century, as well as of Vietnamese middle-aged literature
Keywords: Ngo Thi Nham, author type, confucian scholar author, confucian scholar on duty Medieval
literature
1 Đặt vấn đề
Nhắc đến Ngô Thì Nhậm là chúng ta
nhắc tới một tác giả văn học lớn của văn
học trung đại Việt Nam ở vào giai đoạn
nửa cuối thế kỷ XVIII Với một quan niệm
hành tàng linh hoạt, con đường hành đạo
của ông nhìn chung khá hiển đạt với những
đóng góp to lớn trên phương diện chính trị
và quân sự cho triều Lê - Trịnh, đặc biệt là
Tây Sơn Suốt cuộc đời của mình, dù ở bất
kỳ cương vị hay hoàn cảnh nào, ông đều luôn kiên trì lí tưởng phục vụ dân, phục vụ nước của một người trí thức chân chính Ở lĩnh vực thơ văn, Ngô Thì Nhậm cũng để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ với nội dung phong phú, cô đọng, giàu giá trị, chân thực và gần gũi với người đọc
2 Con đường hành đạo của kẻ sĩ trong thời loạn
Với bất kỳ trí thức trung đại nào tiếp
Trang 2thu sở học của Nho giáo thì điều mong ước
lớn nhất là những lý thuyết họ tiếp thu
được có thể mang thực hành Bởi chính khi
đó thì tài năng, tâm huyết của họ với triều
chính, xã tắc mới có cơ hội bộc lộ Nhưng
có một thực tế là không phải bao giờ sự lựa
chọn của nhà nho cũng tương thích với sự
lựa chọn của lịch sử, dù chỉ là ở vào một
tình huống nhất định nào đó Có người
thuận lợi, có người không thuận lợi và
cũng có người mà dường như một nẻo
đường đi của mình đã mãi mãi chỉ còn là
mơ ước Chúng tôi cho rằng khi nhìn nhận
các nho sĩ và những đóng góp của họ đối
với lịch sử cần phải được nhìn nhận trên
nhiều chiều cạnh khác nhau mới có thể
dựng lại được một cách trung thực nhất,
khách quan nhất ở mỗi người
Với trường hợp Ngô Thì Nhậm, như
chúng ta biết, tài năng, học vấn và tâm
huyết của ông đối với các triều đại được
hình thành, một mặt từ truyền thống gia
đình; mặt khác là tư tưởng trung quân ái
quốc của Nho giáo Nhưng hẳn có lẽ điều
tạo nên một gương mặt riêng mang tên Ngô
Thì Nhậm chính là ý chí và những trải
nghiệm của chính cá nhân ông qua các vua
chúa đương thời Vốn thông minh, học giỏi,
ông đã thi đỗ giải nguyên vào năm 1768, rồi
tiến sĩ năm 1775 Sau khi thi đỗ, ông được
bổ làm quan ở bộ Hộ dưới triều Lê - Trịnh
và nhanh chóng chiếm được cảm tình của
chúa Trịnh Chúa Trịnh Sâm từng ví ông
như con tuấn mã với sức chạy ngàn dặm
Năm 1778, ông được cử làm Đốc đồng
Kinh Bắc và Thái Nguyên, rồi kinh qua các
vị trí như Đông các Hiệu thư, Hàn lâm viện
Hiệu thảo, Hữu thị lang Bộ Công Tại thời
điểm này, ông đã bắt đầu nổi tiếng về tài
năng kinh sử và thơ văn trong đám sĩ phu
Bắc Hà lúc bấy giờ
Trong thời kỳ làm quan dưới trướng
của chúa Trịnh, Ngô Thì Nhậm đã tận tâm tận lực, lao tâm khổ tứ để có thể làm tốt bổn phận của mình, cũng là tinh thần tự nhiệm của nhà nho Ông luôn quan tâm chăm lo đời sống của người dân, không ngần ngại bị chúa thất sủng trình báo thẳng thắn những điều tai nghe mắt thấy về tình cảnh của nhân dân hay những tệ nạn trong giới cầm quyền đương thời Trong bài
“Điều trần Hải Dương xứ tình tệ khải”
(…), ông từng viết: “Ruộng đất ở vùng Đông nam thuộc vào loại tốt nhất trong nước, sông ngòi vây như dải mũ, đai lưng, đồng lầy mầu mỡ, dù hạn hán, lụt lội, cũng không phải lo ngại Nay đồng ruộng hoang vu, bỏ mặc không nhìn đến mà những nhân viên cai quản lại căn cứ vào sổ
cũ để thu thuế, người làm ruộng phải mượn nghề mọn khác để lấy thóc nộp tô Cái ẩn tình đau khổ của dân chính là ở chỗ đó Tích lũy dần lâu đến chỗ không cung ứng nổi nữa Do đó, dân chúng nghèo kiết, tan tác cư ngụ ở các vùng lân cận, những kẻ ngoan ngạnh xảo trá thì tìm đủ mọi cách để được miễn trừ Hiện tình ngày nay ở bản hạt, số mới phiêu bạt có tới 53 xã, số người được miễn trừ không chính đáng tới 30 xã Phụng xét trước năm Canh Thìn, hạng chính đinh phải chịu phu dịch có tới hơn 13.500 suất, mà nay đăng tên vào sổ đinh chỉ có hơn 9.800 suất Tình trạng hao mòn
đó qua năm này tháng khác, không biết duyên do tại đâu mà đến nỗi thế?”1
Trong thời gian làm Đốc đồng Thái Nguyên, Ngô Thì Nhậm còn cùng cha là Ngô Thì Sĩ, lúc
đó đang làm Đốc trấn Lạng Sơn phối hợp với Trấn thủ Tuân Vãng hầu đánh dẹp loạn tại vùng Vũ Nhai và năm đó cũng là năm ông soạn xong tập “Công vụ thành thư” Năm 1779, Ngô Thì Nhậm được thăng chức Đông các hiệu thư, phụng mệnh hiệp đồng với Trấn thủ Tuyên, Thái đánh dẹp
Trang 3cuộc nổi dậy của Hoàng Văn Đồng ở
Tuyên Quang Ít lâu sau ông lại được sai đi
kinh lược ở mỏ bạc Tống Tinh Năm 1780
trở về triều, dâng sớ về phương sách thu
thuế ở xưởng bạc, được chúa Trịnh rất
khen ngợi, ban thưởng hậu Tiếc là vào
cuối năm đó xảy ra vụ án tranh đoạt ngôi
chúa, Ngô Thì Nhậm bị liên can và đến
năm 1782 thì xảy ra binh biến Những
người ít nhiều có liên quan đến vụ án năm
Canh tý hoặc bị giết, hoặc bị bắt giam, tịch
thu gia sản Ngô Thì Nhậm đã buộc phải
lánh nạn về quê của người vợ cả ở am Lệ
Trạch, xã Đội Trạch, trấn Sơn Nam (nay
thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình)
Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai
đã xuống lệnh “cầu hiền” để phục vụ cho
công cuộc xây dựng đất nước Ngô Thì
Nhậm và một số thân sĩ Bắc Hà khác như
Phan Huy Ích, Bùi Dương Lịch, Ninh Tốn,
Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Bá Lan, Đoàn
Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Huy
Lượng… đã lần lượt ra làm quan và đắc lộ
với Tây Sơn
Ra làm quan cho Tây Sơn là Ngô Thì
Nhậm đã vượt qua được quan niệm trung
quân có phần cổ hủ của nhiều nhà nho
trước đây cũng như đương thời Thời gian
làm quan cho triều Tây Sơn, có thể nói
Ngô Thì Nhậm như được chắp thêm đôi
cánh Bao tâm huyết với triều chính, với
nhân dân của ông đã lại được tiếp tục và ở
một tầm cao mới Trong thời gian làm quan
cho Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm được vua
Quang Trung đặc biệt tin dùng Ban đầu
ông được giao giữ chức Hữu thị lang bộ
Công, tước Tình Phái hầu, cùng với Võ
Văn Ước coi tất cả các quan văn võ của
nhà Lê Sau đó, vào tháng 10 năm 1788,
Tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông,
Quảng Tây) là Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn
quân cùng hàng chục vạn phu dịch tiến qua
biên giới vào nội địa nước ta với dã tâm xâm lược, Ngô Thì Nhậm đã cùng với tướng được cử của Tây Sơn là Ngô Văn Sở bàn tính kế lui giặc Cống hiến quan trọng nhất tại thời điểm này của Ngô Thì Nhậm chính là “nước cờ Tam Điệp” giúp Quang Trung hành quân thần tốc ra Thăng Long
và lập nên chiến thắng lẫy lừng mùa xuân năm 1789 khiến cho quân xâm lược khiếp
sợ Ba năm sau (1792), Ngô Thì Nhậm được kiêm chức Quốc sử thự Tổng tài và vào năm 1793 ông được cử làm Chánh sứ phái đoàn của triều Tây Sơn sang nhà Thanh báo tang vua Quang Trung (mất năm 1792) và cầu phong cho vua mới là Quang Toản Sau khi đi sứ bình an trở về, Ngô Thì Nhậm đã mau chóng vô nam để giúp vua Quang Toản Nhưng thời thế đã vần xoay, sứ mạng lịch sử hướng sang một biên độ khác, nội bộ triều đình chia rẽ sâu sắc, rồi khủng hoảng… Triều Nguyễn lên thay, Ngô Thì Nhậm cùng với một số sĩ quan của Tây Sơn bị mang ra xử phạt đánh bằng roi ở Văn Miếu Sau trận đòn này, về nhà, Ngô Thì Nhậm, phần vì thể trạng thì ít
mà phần vì uất thì nhiều mà chết Ông đã vĩnh viễn dừng lại ở tuổi 57
Như thế, có thể thấy, đặt ra và kiên trì con đường hành đạo của một kẻ sĩ trong thời loạn, dù ở vào tình huống nào, Ngô Thì Nhậm đã cố gắng không mệt mỏi, luôn bền chí và nhiệt thành với sự lựa chọn của mình
Sự minh triết của một nho sĩ lúc nào cũng canh cánh nỗi lo cho triều chính, nhân dân khiến từng cử chỉ, hành động của ông luôn hướng về cuộc đời ở vào những tháng năm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc Những đóng góp của ông trên nhiều phương diện với triều Lê - Trịnh và Tây Sơn là rất lớn và cần phải có những công trình chuyên biệt
3 Những vần thơ ngôn chí
Ngô Thì Nhậm có để lại khoảng gần
Trang 4600 bài thơ Trong số đó có một bộ phận
không nhỏ là những vần thơ ngôn chí, thơ
để nói chí Đó là chí của một nho sĩ hành
đạo mẫu mực mà tấm lòng luôn hướng tới
xã tắc, nhân dân Cái chí mà tác giả đã hấp
thu được từ tư tưởng Nho gia, của người
cha mình - danh sĩ Ngô Thì Sĩ cũng như từ
thực tế trải nghiệm của bản thân Khi được
tin cha mình nhậm chức Trấn thủ Lạng Sơn,
ông đã viết thơ mừng Lời thơ thể hiện niềm
hân hoan, vui sướng, chen lẫn tự hào:
Ngũ sắc tường vân giáp đạo kỳ,
Sủng quang thử nhật bách ban kỳ
Nhất gia binh tượng liên tam trấn,
Vạn lý phong cương khống nhị thùy
Xuất cách thù ân chân ngộ chúa,
Bồi hoan thắng hội toại vi nhi
Vũ ban nguyện hiến Nam Sơn thọ,
Trú cẩm đường tiền khách thái mi
(Hạ tôn thiều phó hùng trấn)
Năm sắc mây lành cờ xí rợp đường,
Ngày quang vinh này trăm vẻ kỳ lạ
Một nhà chỉ huy binh tượng liền ba trấn,
Muôn dặm trông coi bờ cõi hai biên thùy
Đặc biệt ban ơn, thật là gặp chúa,
Hầu vui dịp hiếm, thỏa lòng làm con
Mùa ban y, xin dâng lời chúc thọ Nam Sơn,
Trước “nhà Trú cẩm”, chúc mừng cha già
(Mừng cha đi Trấn thủ Lạng Sơn)2
Ông luôn xác định, tâm niệm về vai trò
tự nhiệm của nhà nho trước cuộc đời Bắt gặp
trong thơ Ngô Thì Nhậm hình tượng một con
người luôn luôn sẵn sang xả thân vì nghĩa cả,
không quản ngại khó khăn gian khổ:
… Địch khái bất hiềm dương liễu vãng,
Chiêu an chỉ tác thử miêu tuần
… Tuyên bố giáo thanh thần tử chức,
Nguyện tương cam vũ nhuận sơn dân
(Độ Nguyệt Đức giang)
Đi đánh giặc không ngại li biệt lâu,
Việc chiêu an chỉ cốt đi tuần tra
…Tuyên bố giáo hóa, là chức phận tôi con,
Xin đem đám mưa ngọt để tưới nhuần cho dân miền núi
(Qua đò sông Nguyệt Đức, tr.86)
Trong thời gian làm quan cho triều Lê
- Trịnh, Ngô Thì Nhậm đã gắng hết sức lực của mình để phò tá chúa Ông sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ nào khi được giao phó Tình cảm đối với chúa Trịnh được ông thể hiện chân thành, kể cả khi bị án oan năm Canh Tý (1780) Ttác giả đã ca ngợi đức chí hiếu của Trịnh Sâm sánh ngang tựa Ngu Thuấn Và sau khi Trịnh Sâm mất, nơi góc bể chân trời, nhà thơ càng thấu hơn cái đức sáng của chúa Tự ví mình như kẻ cô thần, ông cúi đầu vái vọng Tiên thánh vương bằng một tình cảm rất mực cảm động, tha thiết:
Cương thường lễ nhạc thực trung thiên,
Di úy khiêm cung thập lục niên
Văn trị võ công quang Nghị, Triết, Thần mô thánh đức lý Hy, Hiên
Vân thâm Ngũ Nhạc dư anh vũ, Trú vĩnh Tam Qui lão đỗ quyên
Hải giác cô thần khuê bái kiến, Kiều Sơn vạn lý vọng hương diên
(Cung vãn tiên thánh vương)
Cương thường, lễ nhạc dựng giữa trời,
“Kính sợ” “khiêm cung” mười sáu năm
Văn trị, võ công, làm rực sáng Nghị vương, Triết vương,
Thần mô, thánh liệt, đáng sánh ngang Phục Hy, Hiên Viên
Cung Ngũ Nhạc mây vẩn, còn lại chim anh vũ,
Đất Tam Qui ngày dài, kêu rạc con đỗ quyên
Góc bể chân trời, kẻ cô thần xa vời dâng lạy,
Bái vọng về chiếu thơm nơi Kiều Sơn muôn dặm
(Kính viếng tiên thánh vương, tr.100)
Trang 5Trong thời gian lánh nạn ở quê vợ ở xã
Đội Trạch, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện
Vũ Thư, tỉnh Thái Bình), ông luôn bền gan
mẫn chí, tình cảm, niềm tin luôn hướng tới
ngày mai sẽ tươi sáng, cái ngày mà đấng
quân vương sẽ xuất hiện và ông sẽ lại được
đem tài năng của mình phục vụ triều chính,
phục vụ nhân dân Lời thơ viết ra như để
ông tự động viên, khích lệ mình cần phải
cố gắng:
Học vấn vô tha tại miễn chiên,
Nhất tu đương bách, thập đường thiên
Lăng vân Thái, Họa ưng gia quĩ,
Truy nhật hoa, lưu khoái chước tiên…
(Thư đề “Miễn trai”)
Học hỏi không gì khác hơn là cố gắng,
Một “cần” bằng trăm, mười “cần”
bằng nghìn
Núi Thái, núi Họa cao ngất trời, nên
thêm sọt nữa,
Ngựa hoa, ngựa lưu đuổi kịp mặt trời
cũng phải gia roi…
(Viết đề “Miễn trai”, tr.123)
Với tư tưởng đó nên khi được tham gia
triều chính và được trọng dụng, Ngô Thì
Nhậm như được lột xác Ông đã viết nhiều
bài thơ ngợi ca Quang Trung Nguyễn Huệ,
ngợi ca triều đại Tây Sơn Lời thơ được
viết ra đầy phấn kích với niềm tin, sự lạc
quan của ông về một thời đại mới sẽ được
mở ra:
Vạn đội du long ủng Ngọc Hoàng,
Uy gia hải nội cộng phi dương
Tảo không tích vụ khai thu sắc,
Y cựu trung thiên kiến Thái dương
(Đại phong)
Muôn đội rồng lượn, ủng hộ Ngọc Hoàng,
Cùng bay bổng ra oai trong thiên hạ
Quét quang mây mù, mở ra màu thu,
Thấy vầng Thái dương giữa trời như cũ…
(Gió to, tr.107)
Một loạt bài thơ được ông viết để gửi
cho người em là Học Tốn, ông chú ruột hay ông họ Trần ở Vân Canh, tặng quan trung thư Trần Văn Kỷ… và nhiều bài thơ khác được viết khi Ngô Thì Nhậm đi sứ trở
về từ Yên Kinh đến Phú Xuân tiếp tục cho thấy tình cảm cũng như sự ngưỡng mộ tin tưởng vào vận hội mới của đất nước:
Phong ư xuân lệnh, nhật ư đông, Hàm cảm thường tồn chí ái trung Tuân lật uy nghi, Kỳ thượng trúc, Kiên cương khí vũ, tuế hàn tùng
Thùy thân, hợp đáng lai nguyên lão, Miễn trụ, chân như ức lệnh công Giáng khuyết vân cao, thiều hộ nhĩ, Liễu doanh y ước thái thanh chung
(Tặng trung thư Kỷ Thiện Hầu)
Như gió mùa xuân, như mặt trời mùa đông,
Thông cảm nhau, còn mãi lòng thân ái
Uy nghi nghiêm chỉnh như cây trúc sông Kỳ,
Lòng dạ vững vàng như cây tùng mùa lạnh
Rủ đai, cần phải có bậc nguyên lão, Cất mũ, luôn luôn nhớ đến tôn ông Gần gũi nhạc Quân thiều dưới bóng mây cao trên cửa khuyết,
Văng vẳng chuông Thái thanh đưa đến quân doanh
(Tặng quant rung thư là
Kỷ Thiện Hầu, tr.179)
Và thế là trên đường vào Nam để nhậm chức, lòng ông bỗng trở nên phơi phới Cảnh quan một dải đất nước thu vào tầm mắt thi nhân, châu tuần về với người anh hùng áo vải:
Sơ độ nam du đáo Nghệ An, Phong quan nhất mộng nhất kỳ quan
Sa đê vạn lý triều tông hải, Thạch bảo thiên trùng quải hán san Địa hữu công hầu sa thủy tú,
Thiên sinh hào kiệt đẩu tinh hoàn
Trang 6Mai trình ký thủ danh hương ấp,
Lịch lịch sư mô tại giản biên
(Nghệ An đạo trung)
Lần đầu đi miền Nam đến Nghệ An,
Mỗi cảnh vật là một mộng, một kỳ quan
Đê cát muôn dặm chầu về biển cả,
Lũy đá ngàn trùng, vút tận sông Ngân
Đất có công hầu, cảnh non sông thanh tú,
Trời sinh hào kiệt, sao đẩu tinh vòng quanh
Đường mai ghi nhớ những thôn làng
nổi tiếng,
Rành rành các bậ anh hùng ghi trong
sử sách
(Trên đường Nghệ An, tr.149)
Niềm lạc quan vào một triều đại mới sẽ
mang lại cảnh thái bình cho đất nước, no
ấm cho nhân dân như vậy ở Ngô Thì Nhậm
sẽ khiến cho chúng ta càng thêm hiểu vì sao
sự ra đi đột ngột của Quang Trung khiến
cho ông buồn đau khôn tả Tác giả đã viết
những vần thơ thể hiện nỗi trống vắng
không gì bù đắp nổi trong lòng mình Viễn
cảnh huy hoàng của thời vua sáng tôi hiền
hình như cứ mờ dần, nhòa dần trong ông
khi hình ảnh của đức cao lúc tỏ lúc nhòa:
Cửu tiêu tuyên chỉ thôi triều sứ,
Mã sậu xa trì chỉ Đẩu tiêu
Thiên thự tinh thần khai huyến lạn,
Địa din ham lĩnh thất thiều nghiêu
Hoàng hoàng minh chúc truyền mai dịch,
Bái bái hành tinh phất liễu điều
Ngũ dạ loan thanh tần nhập mộng,
Y hi Nam khuyết bạng Quân Thiều
(Dạ hành)
Cửu trùng xuống chiếu giục giã sứ giả
vào chầu,
Ngựa ruổi xe bon nhắm hướng chuôi
sao Đẩu
Trời sáng các vì sao chói lọi,
Đất bằng phẳng, hết núi non nhấp nhô
Đuốc sáng huy hoàng truyền khắp
trạm mai,
Cờ bay phấp phới chạm vào cành liễu Năm canh tiếng loan nghi luôn vào giấc mộng,
Phảng phất như đang ở cửa khuyết phương Nam nghe nhạc Quân Thiều
(Đi đêm, tr.339)
Trở lên có thể thấy, dù ở vào tình huống nào, phục vụ triều đại nào thì bản thân Ngô Thì Nhậm đều luôn nhiệt thành cống hiến, phục vụ, một lòng vì đất nước,
vì nhân dân Qua những vần thơ của ông, chúng ta có thể thấy được cái hùng tâm tráng chí hết sức lớn lao của một kẻ sĩ hành đạo tiêu biểu trong thời loạn Thơ ngôn chí của ông xứng đáng là một kiểu mẫu cho các nhà nho đương thời và sau ông học tập, noi gương
4 Vẻ đẹp thơ đi sứ
Ngô Thì Nhậm nhận nhiệm vụ công cán sang nhà Thanh trong một bối cảnh đặc biệt Với danh chánh sứ đi báo tang và cầu phong cho vua mới, ông đã lên dường vào ngày 20 tháng 2 năm Quý sửu 1793 từ Thăng Long và ngày 08 tháng 5 ông đến Yên Kinh Ngày 20 tháng 5 ông trở về và tháng 9 cùng năm đó thì Ngô Thì Nhậm tới kinh đô Trong chuyến đi sứ đầy vất vả này, tác giả đã hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ, chứng kiến được uy phong của vua Quang Trung và cũng qua đó thể hiện được tấm lòng tận trung của ông đối với tổ quốc
“Trên đường đi, phàm những chỗ hiểm dị của sông núi, nơi dừng lại, nơi ra đi ở các dịch quán, những di tích của người xưa, những cảnh trước mắt của người nay, nhất nhất đều vẽ lại…”3 Thơ đi sứ của ông còn lại bao gồm những sáng tác giàu giá trị trên
cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Trước hết, khi đặt chân lên tới vùng biên ải, tác giả đã phòng tầm mắt ra xa để ngắm cảnh núi non của tổ quốc mình, lòng
tự hào về một dải non sông gấm vóc, về
Trang 7sức mạnh oai hùng cũng như những chiến
công của cha ông thuở trước:
… Thần kiếm thượng lưu Minh tướng
thạch,
Quỉ môn không tỏa Hán từ yên
Tự tòng Nam Bắc khai quan hậu,
Chỉ điểm tinh biền chí tự Yên
(Lạng Sơn đạo trung, kỳ nhất)
… Gươm thần còn lưu vết trên hòn đá
tướng Minh,
Khói ải Quỷ khóa đền thờ tướng Hán
Sau khi phương Nam phương Bắc mở
thông cửa ải,
Người dẫn đường cho sứ từ Yên Kinh
đến
(Dọc đường Lạng Sơn, bài 1, tr.285)
Chỗ khác ông viết:
… Đạo lộ kiến tòng thanh thảo xuất,
Điền trù văn tự lục vân khai
Kỳ quan tối thị trường thiên sắc,
Trung cực kinh tinh huyến Đẩu Thai…
(Lạng Sơn đạo trung, kỳ nhị)
… Đường đi như xuất hiện từ đám cỏ
xanh,
Ruộng nương như khai khẩn từ trên
mây biếc
Rất đỗi kỳ quan là màu trời một dải,
Trong chòm kinh tinh ở ngôi trung
cực, rực rỡ sao Đẩu sao Thai
(Dọc đường Lạng Sơn, bài 2, tr.285)
Nhìn dòng sông Ninh Minh, dòng sông
phát nguồn từ châu Thượng Tư thuộc dãy
Thập vạn đại sơn Quảng Tây, chảy qua
châu Ninh Minh, rồi đổ vào sông Tả Giang
chỗ gần Bằng Tường, Ngô Thì Nhậm tức
cảnh mà ghi lại bài thơ thể hiện ý thức về
cương giới địa vực giữa hai quốc gia hết
sức rõ rệt:
Bất đãi Phân Mao nhận Lĩnh Mai,
Sóc nam giới hạn tự an bài
Thiên sơn bính củng Vân, Kiềm giáng,
Nhất thủy càn lưu Bác, Lãng lai
Địa đạo ẩn cơ phi ngẫu nhĩ, Thiên công thâm ý khởi đồ tai
Bảo thư “phận định” nhàn khan thục, Hựu bả đồ kinh nhất triển khai
(Ninh Minh giang ký kiến)
Không đợi đến nũi Phân Mao mới nhìn
ra cành mai Dữu Lĩnh, Giới hạn Nam Bắc đã tự xếp đặt Nghìn ngọn núi chầu về đông nam, từ Kiềm Châu,
Vân Nam kéo xuống, Một dòng nước chảy qua tây bắc, từ
An Bác, Thoát Lãng đổ về
Mạch đất huyền vi chẳng phải ngẫu nhiên,
Ý trời âu thẳm nào phải bâng quơ Sách trời vạch rõ cương giới, ngày thường đã xem kỹ,
Nay lại mở bản đồ xem một lần nữa
(Ghi lại những điều trông thấy ở sông
Ninh Minh, tr.297)
Ông làm khá nhiều bài vịnh các nhân vật lịch sử của Trung Hoa như Gia Cát Lượng, Giả Nghị, Văn Thiên Tường, Tô Đông Pha… để bày tỏ sự tôn kính với những bậc tiên hiền xưa nổi danh về tài chí cùng những đóng góp cho triều chính mà
họ phò tá Ẩn sau lời thơ, lẽ chăng còn chính là nỗi lòng của thi nhân luôn hướng
về quê nhà:
Nhân long hóa khứ hiện thần long, Tiễu thạch lâm lưu miện Hán Trung Bắc hướng, trầm cơ khu nhạn trận, Đông thôn, dương mộ dịch đồn phong Đỉnh phân vô lực tranh thương hiệu, Miếu tự hàn tâm ý bích không
Tùng bách y hỉ khuynh cái nhật, Hành Dương thu thủy chiếu cô trung
(Gia Cát Vũ Hầu miếu)
“Rồng người” hóa rồi thì “rồng thần” hiện ra,
Núi đá cao ngất bên dòng sông, nhìn
Trang 8vào Hán Trung
Hướng Bắc Ngụy, mưu sâu bày nhạn
trận,
Nuốt Đông Ngô, nổi giận thổi đồn phong
Thế chia chân vạc không đủ sức tranh
với trời xanh,
Lòng nào còn muốn đền cao vòi vọi
nơi vòm biếc
Cây tùng cây bách như phảng phất
những ngày nghiêng lọng,
Dòng nước thu ở Hành Dương soi
sáng lòng cô trung
(Miếu Gia Cát Vũ Hầu, tr.410)
Với cái nhìn rạch ròi giữa quan điểm
và hành xử của chính quyền trung ương với
cách nhìn, cách nghĩ của quan phủ huyện
và đặc biệt là thái độ của người dân Trung
Hoa đối với quan hệ bang giao giữa hai đất
nước, tác giả đã ghi lại chân thực và thể
hiện tình cảm thực của mình khi chứng
kiến cảnh thanh bình của xứ người Quan
nhàn rỗi, thư thái; người dân có cuộc sống
no ấm:
Nam Ninh tục hiệu “Tiểu Nam Kinh”,
Nhân vật phồn hoa mãn thị thành
Giáp đạo ốc lư trù chướng nhật,
Lâm lưu đài tạ chúc thùy tinh
…
Trị thế quan tào vô biệt sự,
Kỷ phô khổng tước, hạm điều oanh
(Nam Ninh ký kiến)
Nam Ninh tục gọi là “Tiểu Nam Kin”,
Nhân vật phồn hoa đầy cả thị thành
Nhà cửa bên đường, màn che mặt trời,
Đài tạ bên sông, đèn như sao sa
…
Đời thịnh trị nơi công đường không có
việc,
Chim công múa trên ghế, chim oanh
hót ngoài hiên
(Ghi điều trông thấy ở Nam Ninh,
tr.325)
Đi qua huyện Lai Tân thuộc phủ Liễu Châu, tỉnh Quảng Tây, một huyện lỵ nằm ngay bờ bắc của sông Kiếm, thuận tiện giao thương, nhìn cảnh sinh hoạt tấp nập của người dân, tác giả đã ghi lại:
Ngũ quận thông tân nhất thủy hoành,
Sa nga bách trĩ bạng giang thành Thổ đa tích thạch phù long tích, Dân bán Dao, Choang loạn điểu thanh
(Lai Tân ký kiến)
Bến thông năm quận, một dòng sông chảy ngang,
Thành trăm trĩ cao ngất bên bờ sông Đất nhiều đá sỏi nổi lên như xương sống con rồng,
Dân một nửa là người Dao, một nửa là người Choang,
tiếng ríu rít như chim
(Ghi điều trông thấy ở Lai Tân)
Mỗi miền đất, vùng quê, mỗi danh lam thắng cảnh của xứ người đều trên đường sứ
lý đều được Ngô Thì Nhậm vẻ lên rất mực đẹp đẽ Một số dòng sông hay ngọn núi nổi tiếng đã từng đi vào thơ ca cổ điển Trung Hoa đã được ông nhắc tới như sông Ly Giang đoạn chảy qua Quế Lâm, Quảng Tây; sông Tương chi lưu của Trường Giang chảy qua tỉnh Hồ Nam đoạn chảy qua huyện Tương Âm; sông Trường Giang đoạn qua huyện Nhạc Dương Đây là vẻ đẹp của dòng Ly Giang vào mùa thu:
Nhất sơn nhất thủy điệt phùng nghênh, Thủy sắc sơn quang nhất dạng thanh Đạm đãng khinh yên thu bát nguyệt, Tiêu tao hàm lộ dạ tam canh
(Ly Giang thu phiếm)
Một núi một sông lần lượt đón chào,
Vẻ núi, sắc nước trong sáng như nhau Mây khói nhẹ nhàng, trời thu tháng tám, Sương móc lạnh lẽo, nửa đêm canh ba
(Mùa thu thả thuyền trên sông Ly,
tr.397)
Trang 9Còn đây là hình ảnh của Tương Giang:
Nhất vọng di mang Thanh Thảo hồ,
Phong đào bất tác tịch bình phô
Tiền sơn mạc mạc đê hoàn hữu,
Viễn phố thiều thiều tế dục vô
(Tương Giang hiểu phát)
Nhìn ra hồ Thanh Thảo mênh mông
bát ngát,
Sóng yên gió lặng, mặt nước phẳng
như trải chiếu
Núi trước mặt mờ mờ, thấp nhưng còn
thấy có núi,
Bến đằng xa tít tắp, nhỏ dường như
không thấy gì
(Buổi sáng từ sông Tương ra đi,
tr.417) Ngô Thì Nhậm cũng bày tỏ sự bất
bình, thái độ phê phán các triều đại xưa
trong lịch sử Trung Hoa, vì tham vọng cát
cứ, rồi xâm lược, thoán đoạt lẫn nhau mà
dẫn tới đổ máu, người dân thì phải sống
trong cảnh li loạn, đói khát:
Trần giới tam thiên thử nhất thiên,
Phong sa đáo xứ loạn vân yên
Thiều thiều đãng đạo nghi xa chiến,
Mạc mạc bình nguyên khả tỉnh điền
Lưu, Thạch huân chưng thành khoáng hãn,
Liêu, Kim xâm nhiễn quán tinh chiên
Kỷ đa danh lý đề kiên thạch,
Cực mục thê lương khái cổ hiền
(Hà Bắc đạo trung)
Ba nghìn thế giới, cõi trần đây là một
nghìn,
Đến đâu gió cát cũng mù mịt như mây
khói
Đường phẳng, xa tít tắp thích hợp với
chiến trận bằng xe,
Đồng bằng, rộng mênh mông có thể
làm tỉnh điền
Họ Lưu, họ Thạch nung đúc thành thói
hung dữ,
Nước Liêu, nước Kim tiêm nhiễm nên
tục tanh hôi
Biết bao làng nổi tiếng còn đề trên bia đá,
Đầy mắt cảnh thê lương, khiến cảm nghĩ đến người hiền xưa
(Trên đường Hà Bắc, tr.527)
Trong thời gian rong ruổi đi cũng như trở về và lưu trú lại trên đất nước Trung Hoa, có nhiều lúc Ngô Thì Nhậm cảm thấy thân tâm mỏi mệt nhưng ngay khi có lệnh triệu vào kinh ông đã cố gắng, tự khích lệ, động viên mình vượt lên hoàn cảnh để phụng sự đất nước Sự thay đổi của thời tiết, khí hậu, thủy thổ và vạn trường xa ngái cũng đã khiến ông nhiều lần bị ốm
Đó là lúc dễ khiến cho thi nhân sờn lòng nản chí song với ý chí và nghị lực phi thường, Ngô Thì Nhậm đã lấy tổ quốc, lấy
sự tin tưởng của vua để phấn phát tinh thần, để làm điểm tựa cho cho cuộc hành trình, để tinh thần cũng qua đó mà thêm sáng láng:
Giang sơn đáo xứ hộ trì hảo,
Vũ lộ như kim ốc mộc tân
Trung tin tự đa vô vọng hỉ, Bất phương đẩu tẩu sạch tinh thần
(Lực tật thư hoài)
Đến đâu cũng có non sông phù hộ, Nay lại mới được nhuần thấm ơn mưa móc
Giữ trung tín, tự tin là bệnh khỏi, Không lo gì mà không phấn phát tinh thần
(Gượng bệnh tả nỗi lòng, tr.517)
Nô độn niên lại hứa quốc thân, Trì khu dạ dạ khởi hiềm tần
Tòng lai cứu tật hằng sinh tuệ, Tỗn tiết thanh tu thị bảo chân
(Bệnh thuật)
Thân hèn này đã hiến dâng cho nước
từ bấy nay, Giong ruổi ngày đêm há quản tần phiền
Trang 10Xưa nay trong đau khổ thường sinh
sáng suốt,
Kiêng khem, thanh đạm đó là bài
thuốc giữ gìn sức khỏe
(Thuật lại khi ốm, tr.545)
Có thể nói, những vần thơ đi sứ của
Ngô Thì Nhậm đã được viết ra bằng một
cái nhìn thế sự sâu sắc Vượt lên trên thiên
kiến, định kiến về ngoại bang hay nội
quốc, thi nhân đã trải lòng mình với đất và
người, xưa và đương thời trên dọc đường
đi sứ của mình Ông đã viết lên những vần
thơ giản dị, chân thực về phong cảnh, về
người dân của đất nước Trung Hoa Cũng
qua đó mà người đọc thêm cảm nhận về vẻ
đẹp tâm hồn của một kẻ sĩ mà tấm lòng
luôn hướng về đất nước, về nhân dân mình
5 Cảm hứng nhàn tản
Chúng tôi từng cho rằng, cảm hứng về
cái nhàn hay cảm hứng nhàn tản chính là
điểm gặp gỡ thú vị nhất về ba loại hình tác
giả nhà nho, kể cả tác giả thiền sư trong
văn học trung đại Việt Nam.4
Với Ngô Thì
Nhậm thì cảm hứng về cái nhàn xuất hiện
trong hầu hết các tập thơ của ông, kể cả thơ
đi sứ và bất kể là vào thời gian nào của
cuộc hành vì triều chính, xã tắc Đó là lúc
mà ông hướng lòng mình tới thiên nhiên,
phiêu du cùng mây gió, lòng được thanh
thản sau bao tất bật quan trường, công văn
giấy tờ :
Hoàng hoa thu sắc nhất thiên tình,
Giang tự chiêu yêu tản bộ hành
Cận thủy lâu cao chung ảnh tế,
Nghênh hy đạo khiết lý trần khinh
(Giang tự tình du)
Sắc thu, hoa vàng, một ngày tạnh ráo,
Dắt dìu dạo bước trước chùa bên sông
Tầng lầu cao bên mé nước, nho nhỏ
bóng chuông,
Trên đường sạch đón nắng mai, nhẹ
nhàng bụi dép
(Đi dạo nắng ở ngôi chùa bên sông,
tr.133) Trong thời gian ẩn náu ở quê vợ Thái Bình để tránh sự truy sát của chính quyền trung ương lúc bấy giờ, cảm hứng nhàn đã giúp cho thi nhân gìn giữ được sự thanh cao của khí tiết của một kẻ sĩ, không bị bụi trần vấy đục Nó giúp ông nuôi dưỡng được chí khí đợi ngày có cơ hội tiếp tục nhập cuộc Một lần ghé thăm thư đường Vân Động, Ngô Thì Nhậm đã khắc họa được một khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống sinh hoạt của con người thật êm ả, thanh bình:
Khinh chu kích tiếp phù Vân Động, Vạn hộc thanh phong hòa ngã cộng Châu chử hàn âu điệt khứ lưu, Giang thôn tình thụ tần nghênh tống Bản kiều lục thất túy lai qui,
Mục địch ngũ tam sọa lý lộng
Trung hữu thư trai lục liễu âm, Ngân giang tĩnh đối đàm Hàn, Đổng
(Phỏng Vân Động thư đường)
Thuyền nhẹ, gõ mái chèo bơi đến Vân Động,
Muôn hộc gió mát cùng ta làm bạn Bãi bến, chim âu thay đổi tới lui, Giang thôn, cây tạnh luôn đưa đón Sáu bảy ông say rượu đi về trên cầu ván, Năm ban trẻ chăn trâu thổi sáo chơi trò chơi
Trong này có thư đường dưới bóng liễu xanh,
Bên cây đèn ngồi đối diện bàn về Hàn, Đổng
(Thăm thư đường Vân Động, tr.122)
Nhân lúc rảnh rỗi Ngô Thì Nhậm đã thuật lại mong muốn của mình là được đi ở
ẩn, tránh xa cõi tục để lòng được thư thái Trên thực tế thì với ông, điều đó chỉ là niềm mong ước và niềm mong ước ấy cũng chỉ xuất hiện trong một cảnh huống nhất