Vào những năm đầu của thế kỷ XX, ảnh hưởng của văn học phương Tây, văn học Việt Nam chứng kiến sự ra đời và trưởng thành nhanh chóng của cái tôi trữ tình. Cái tôi trữ tình này không những đã làm nên thành tựu Thơ Mới 1932-1945,...
Trang 1Cái tôi trữ tình và sứ mệnh gieo hạt cho thơ Việt Nam
hiện đại từ Thơ Mới 1932-1945
The appearance of “the self” in New Poetry (1932 - 1945) and its role as starter for
Vietnamese Later Poetry
TS Hoàng Sỹ Nguyên Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam
Hoang Sy Nguyen, Ph.D
Hanoi University of Home Affairs – Quang Nam campus
Tóm tắt
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, ảnh hưởng của văn học phương Tây, văn học Việt Nam chứng kiến
sự ra đời và trưởng thành nhanh chóng của cái tôi trữ tình Cái tôi trữ tình này không những đã làm nên thành tựu Thơ Mới 1932-1945, tạo bước nhảy ngoạn mục từ thơ trung đại sang thơ hiện đại; nó còn xứng đáng là những người tiên phong làm sứ mệnh gieo hạt cho thơ Việt Nam hiện đại từ đó về sau, để thơ Việt đã, đang và sẽ có nhiều mùa gặt bội thu, theo kịp thơ hiện đại, hậu hiện đại thế giới
Từ khóa: Thơ Mới, cái tôi, bước nhảy, sứ mệnh, gieo hạt
Abstract
In the early twentieth century, Vietnamese literature, influenced by Western literature, gave birth to and nurtured the concept of “poetic self” Not only did “poetic self” help to create the remarkable New Poetry movement during the period 1932-1945, marking a spectacular leap from medieval poetry to modern poetry, but it provided the seeds for abundantly fruity seasons of modern Vietnamese poetry from then on, enabling Vietnamese poetry to keep up with modern and postmodern poetry of the world
Keywords: New Poetry, self, leap, seeds
1 Đặt vấn đề
Triết học Mác-Lê Nin coi cái tôi là
sự tự ý thức về cá nhân trong tồn tại tự
nhiên và hoạt động xã hội Là sự tự ý
thức nhưng con người không phải sống
riêng lẽ nên cái tôi luôn bị chi phối bởi
các điều kiện lịch sử xã hội, văn hóa,
nhu cầu thẩm mỹ thời đại Do vậy, gọi
là cái tôi, nhưng cái tôi lại có đặc điểm
chung của một thế hệ, một thời đại, ứng
với phương pháp sáng tác, khuynh
hướng văn học thời đại Sự ra đời của cái tôi trữ tình đó trong Thơ Mới 1932 -
1945 không những đã làm thay đổi diện mạo thơ nước ta của một thời mà còn tạo ra cuộc cách tân và đặt nền móng quan trọng cho tiến trình thơ của nhiều thời Tìm hiểu nguồn gốc sự ra đời của cái tôi trữ tình, nhận diện sứ mệnh gieo hạt của các thi sĩ là để góp thêm tiếng nói tiếp nhận giá trị của Thơ Mới, đồng thời khẳng định nguồn mạch và thành
Trang 2tựu thơ hôm nay của nước ta trong dòng
chảy chung của thơ hiện đại, hậu hiện
đại thế giới
2 Sự ra đời của cái tôi trữ tình
Thơ Mới 1932-1945
Cái tôi là sự biểu hiện của ý thức cá
nhân, nó đã có trong văn học trung đại
A.Guêvích nói: “Trở về thời trung cổ
trước hết cần thấy rằng, chính trong
thời đại này khái niệm cá nhân đã được
hình thành một cách trọn vẹn”(10) Ở
nước ta, thời trung đại, trong sáng tác
của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,
Dương Khuê, Tản Đà, các thi nhân đã
“tự ý thức về mình hơn người trên các
phương diện: tài, tình, chơi, hưởng thụ,
kinh luân và họ thường biểu lộ thái độ
tự do phóng túng Họ tự nhận mình là
người tài tử và muốn lập một sự nghiệp
lẫy lừng để trổ tài, để làm điều khác
thường trong thiên hạ (yêu vi thiên hạ
kỳ) để “đâu đấy tỏ”( ) Đó là từ ý thức
về mình, vì mình, xuất phát điểm là bản
thân mình, lấy cá nhân mình làm trung
tâm chứ không phải ý thức về nghĩa vụ
với cộng đồng, với quân vương”(10)
Tuy vậy, ý thức cá nhân này mới chỉ
dừng lại ở “kiểu người tự giải phóng nửa
vời của thành thị phong kiến - người tài
tử, trong sự kiềm tỏa của thể chế chuyên
chế, của lễ giáo luân thường Nho
giáo ”(10) Điều này chứng tỏ văn học
Việt Nam thời kỳ trung đại đã có lúc vận
động theo xu hướng đổi mới nhưng chưa
thể chuyển sang văn học hiện đại Đến
những năm đầu thế kỷ XX, cùng với sự
đổi thay nhanh chóng của lịch sử, kinh
tế - xã hội, văn hóa, văn học mới cách
tân để hòa nhập cùng văn học hiện đại
thế giới Có được điều này, một trong những yếu tố cơ bản nhất chính là sự hình thành cái tôi trữ tình theo ý thức cá nhân tư sản phương Tây
Sự hình thành ý thức cá nhân tư sản gắn liền với quá trình đô thị hóa Xã hội Tây Âu từ cuối thế kỷ XIII, quá trình đô thị hóa đã diễn ra mạnh mẽ Các thành thị trung đại được phục hưng hoặc mới nảy sinh đều theo hướng tách hẳn nông thôn, nông nghiệp, xây dựng mô hình theo sự phát triển của kinh tế hàng hóa Thành thị là công xã tự do của người sản xuất hàng hoá nên lực lượng sáng tác, thưởng thức văn học cũng mang tính phân công lao đông chuyên nghiệp Ngược lại, ở nước ta, từ thế kỷ XVII về trước, sự giao lưu ra thế giới, ngoài Trung Quốc, và ít nhiều với Ấn Độ, Nhật Bản, còn hầu như “đóng băng” Một đất nước có bờ biển dài từ Bắc chí Nam nhưng chưa hướng ra biển Thời nhà Nguyễn, cơ hội đến nhưng không tận dụng, mà chủ trương “bế quan tỏa cảng” Một số đô thị xuất hiện sớm như Thăng Long, Phố Hiến (ở Đàng Ngoài), Hội An, Huế, Sài Gòn (ở Đàng Trong) nhưng phạm vi ảnh hưởng không lớn Hơn nữa, đô thị nước ta thời trước, trừ Hội An là đô thị đặc biệt do người Nhật
và người Trung Quốc xây dựng, làng quê và thành thị kết hợp với nhau, thành thị hòa tan trong nông thôn Các thị trấn
ở huyện lỵ cũng chỉ mang tính chính trị, hành chính chứ không phải là kết quả của quá trình phân công lao động xã hội Ngay cả các trung tâm hành chính trung ương như Thăng Long, Huế, sự hình thành cũng do chọn địa điểm thuận
Trang 3lợi về giao thông vận tải, quốc phòng,
phát triển nông nghiệp, còn sự phát
triển công thương nghiệp không được
coi là tiêu chí chủ yếu như đô thị
phương Tây Do vậy, văn hóa thành thị
bị chính quyền phong kiến và ý thức hệ
Nho giáo chi phối, chủ yếu là văn hóa
cung đình, cổ truyền Lực lượng sáng
tác văn học là Nho sĩ, quan lại nên sản
phẩm của nó là thơ chứ không phải tiểu
thuyết, kịch nói kiểu phương Tây Mà
sáng tác thơ là để tỏ chí, chở đạo Cách
“phát hành” là đọc cho nhau nghe, chúc
tụng, khắc bia, đề tặng chứ không phải
theo thị hiếu, nhu cầu của quy luật sản
xuất hàng hóa; hình thức thơ theo lối
quy phạm của thơ Đường luật Thế kỷ
XVII, XVIII, sự giao lưu với phương
Tây đã có nhưng còn yếu ớt Phải từ sau
đại chiến thế giới lần thứ nhất, với cuộc
khai thác thuộc địa mạnh mẽ của thực
dân Pháp, các thành thị lớn gắn liền với
việc buôn bán phát triển, tầng lớp thị
dân mới ra đời
Sự phát triển nhanh chóng của đô
thị tách dần nông nghiệp, nông thôn cổ
truyền đến những năm đầu thế kỷ XX
đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh
thần một bộ phận lớn dân số thành thị
Các tác phẩm văn học Pháp cả nguyên
tiếng Pháp hoặc dịch bằng chữ quốc
ngữ bày bán rộng rãi, giá cả rẻ Báo chí
phát triển mạnh mẽ đã làm cầu nối tích
cực cho sự giao lưu và cách tân văn
học Theo Phan Cự Đệ, trong và sau
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Các
báo, tạp chí Nam Phong, Trung Bắc tân
văn, Nhà xuất bản Âu Tây tư tưởng
đã dịch và giới thiệu rộng rãi văn học
phương Tây ở nước ta "Trong các trường học, thanh niên học sinh bắt đầu say sưa với văn học Pháp"(6) Những tác động đó đã đưa đến cho người thanh niên tiểu tư sản thành thị cảm xúc mới
Đó là cảm xúc “thành thật” của con người cá nhân, thích sống tự do, buông thả Những ràng buộc của gia đình, tộc
họ, hương ước khe khắt của làng, xã sau luỹ tre xanh không còn ý nghĩa Quan niệm về cái đẹp đổi thay Giá trị tình yêu, hôn nhân không chỉ bó hẹp trong phạm trù đạo đức theo sự áp đặt của ý thức Nho giáo
Như vậy, cái tân kỳ, tiện lợi của văn minh vật chất, văn hóa, văn học phương Tây có sức mạnh lôi kéo dần cư dân thành thị Nhưng, “cái quan trọng là đồng thời với sự đổi thay trong cuộc sống bình thường đó là sự đổi thay của
cả cuộc sống tinh thần, cả tâm lý, cách suy nghĩ, thị hiếu ”, “Sự thay đổi đó tạo ra những con người khác trước, những đề tài văn học khác trước, những nhân vật khác trước và cả những thể loại văn học khác trước”(5) Đó là tiền
đề quan trọng đưa đến cuộc cách tân văn học đầu thế kỷ XX
Ở phương Tây, từ văn học phục hưng với Bôcatxiô, Sêcxpia, Xecvantec , các giá trị về con người cá nhân được đề cao, nó trở thành sự vận động không ngừng cho toàn bộ cái tôi trữ tình trong văn học Ở Việt Nam, sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, cơ cấu xã hội biến đổi sâu sắc, đô thị mọc lên, nhiều tầng lớp xã hội mới xuất hiện (đặc biệt tư sản, tiểu tư sản ), nhu cầu văn hóa thẩm mỹ kiểu phương
Trang 4Tây tràn vào Ngoài cảm hứng canh tân
của các phong trào Duy Tân, Đông Du,
Đông Kinh nghĩa thục và nội dung
chính trị mới mẻ của một số Chí sĩ cách
mạng, là sự khẳng định ngày càng
mạnh mẽ những hồn thơ phóng túng,
tràn đầy tình cảm, cảm xúc của cái tôi
cá nhân “vượt thoát” ra khỏi hệ thống
ước lệ khe khắt của cái tôi trữ tình thời
phong kiến Đến những năm 1930, cái
tôi cá nhân đã có “chỗ đứng” vững chắc
trong văn chương Nó đã mạnh dạn bày
tỏ đặc điểm nhân cách của nó Những
cảm xúc trong Thơ Mới không chỉ riêng
của Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn
Mặc Tử, Bích Khê mà là sự hòa
quyện cả phần cá nhân với bóng dáng
thời đại
Đó là cội nguồn cơ bản của việc
hình thành cái tôi trữ tình trong văn học
thời kỳ này nói chung, Thơ Mới nói
riêng Hoài Thanh đã luận giải: “Cái
ngày người lái buôn phương Tây thứ
nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem
theo cùng với hàng hoá phương Tây, cái
mầm sau này sẽ nẩy thành Thơ mới”(12)
Theo Vũ Tuấn Anh “Sự biến đổi, phát
triển, thay thế, phân hóa của cái tôi trữ
tình là cốt lõi của vận động thơ”(1)
Cái tôi trữ tình được tồn tại trong
thơ qua hình thức thơ, bao gồm hình
thức ngôn ngữ và hình thức thể thơ, hình
dạng bài thơ Ở góc độ thể loại, cái tôi
trữ tình là một kiểu cảm nhận đời sống
của chủ thể, là một cách nhìn nghệ thuật
của chủ thể; nó mang cá tính sáng tạo
trong việc lựa chọn, sử dụng, sắp xếp thể
thơ, câu thơ, ngôn ngữ thơ; nó là sự thể
hiện bản chất cá nhân trong việc nhận
thức và cảm xúc thế giới, con người thông qua việc tổ chức các phương tiện
của thơ trữ tình Trong Thi nhân Việt
Nam, Hoài Thanh gọi thời đại Thơ Mới
là “thời đại chữ tôi” Sau này, Giáo sư Phan Cư Đệ nhận xét: “Thơ mới khẳng định cái tôi như một bản lĩnh tích cực trong cuộc sống, như một chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật”(7)
Sự ra đời của cái tôi trữ tình Thơ mới là bước ngoặt lớn trong lịch sử tiến trình thơ ca, làm nên diện mạo và giá trị lớn của Thơ Mới Thành tựu của nó không chỉ là dấu ấn khắc đậm sự biến cải to lớn của thơ ca một thời mà còn đặt nền móng, tạo đà cho thơ phát triển Những quan niệm về thơ của các nhà Thơ mới, đặc biệt của các nhà thơ giai đoạn cuối như Chế Lan Viên, Hàn Mặc
Tử, Bích Khê,… chính là những hạt giống cho quan niệm thơ Việt Nam hiện đại, để từ đó thơ Việt hôm nay tiếp tục đơm hoa kết trái
3 Tính chất gieo hạt cho thơ Việt Nam hiện đại
Trong Thơ Mới, thời kỳ đầu, cái tôi trữ tình cá nhân ra đời với những tư tưởng, tình cảm mới đã thể hiện nhu cầu bức thiết đổi mới hình thức thơ Giai đoạn cuối, các nhà thơ thường đắm mình trong những lời thở than, xuất hiện những định nghĩa khác lạ về thơ và danh hiệu người thi sĩ “Cái cực đoan, một mặt có thể giúp nhà thơ khoan được những mũi đất sâu vào một tầng nào đó trong cuộc sống, mặt khác dễ đẩy chính nhà thơ đi ra ngoài phạm vi nghệ thuật”(3)
Hàn Mặc Tử viết:
“không rên xiết là thơ vô nghĩa lý” Vào
Trang 5giai đoạn cuối, Chế Lan Viên, Hàn Mặc
Tử và nhóm Xuân thu nhã tập, Dạ Đài
đã có những tuyên bố về quan niệm thơ
khá đặc biệt, dẫn đường cho sự vận
động đổi thay của thơ - họ xứng đáng là
những người làm nên sứ mệnh gieo hạt
cho thơ Việt Nam hiện đại
Ở lời tựa tập Điêu tàn, Chế Lan
Viên viết: “Thi sĩ không phải là người
Nó là người Mơ, người Say, người
Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là
Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại Nó xáo
trộn dĩ vãng Nó ôm trùm tương lai
Người ta hãi nó vì nó nói nhiều cái vô
nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp
lý Nhưng thường nó không nói, nó gào,
nó thét, nó khóc, nó cười, cái gì nó cũng
tột cùng”(3) Theo Chế Lan Viên, thi sĩ
phải biết làm biến đổi trạng thái của độc
giả, làm lây lan đến họ nỗi buồn, chán,
hãi hùng, tiêu biểu như bài thơ Trên
đường về: “Đây, những Tháp gầy mòn
vì mong đợi/ Những đền xưa đổ nát
dười Thời Gian/ Những sông vắng lê
mình trong bóng tối/ Những tượng
Chàm lở lói rỉ rên than…” Chính quan
niệm trên đây đã chi phối triệt để toàn
diện thơ ông, đưa những sáng tác “sừng
sững như tháp chàm” đến chỗ “lẻ loi”
và “bí hiểm”
Thế giới thơ Hàn Mặc Tử càng đặc
biệt với nhiều nét khác lạ khiến cho
những độc giả bình thường cảm thấy
băn khoăn, khó hiểu Nó là một “cõi đời
cách biệt” đầy nhạc, đầy hương và lênh
lang một màu trắng phi thực có khả
năng đồng hóa tuyệt đối mọi sự vật hữu
hình lẫn vô hình, có trọng lượng lẫn vô
trọng lượng Hàn Mặc Tử đã triệt để
vận dụng tương ứng các giác quan khi cảm nhận và thể hiện thế giới với những cảm xúc, cảm hứng dâng trào:
“Ta muốn hồn ta trào ra đầu ngọn bút/ Mỗi vần thơ đều dính não cân ta/ Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt/ Cho
mê man chết điếng cả làn da” (Rớm
máu) Quan niệm trên đã thúc đẩy thơ
Hàn Mặc Tử đi sâu vào khám phá những miền tối của tiềm thức, vô thức hay nói đúng hơn đã giải thoát ông khỏi những toan tính của ý thức sáng tỏ để thả mình cho cái tiềm thức, vô thức lôi
đi, bước chân vào “đền siêu thực” Quan niệm của nhóm Xuân thu nhã tập bổ sung thêm sự vận động cựa quậy đòi vượt thoát của Thơ Mới những năm cuối Theo họ, trong cái tôi cá nhân của Thơ Mới hiện có và cần có thêm những tín điều huyền diệu, linh thiêng, khó nắm bắt, có màu sắc siêu nhiên Họ cho rằng “Thơ chỉ hình dung cái bản ngã thuần túy, cái bản ngã cuối cùng của thi
sĩ hay sự vật Thơ chỉ là một sự nhớ lại, một cuộc trở về, cuộc trở về của thi sĩ trong cái tôi của mình nằm trong sự vật”(8) Cái “bản ngã” này là cái tôi đã thoát khỏi cái tôi trần thế thông thường,
là cái tôi linh thiêng với những nội dung không xác thực của nó Họ lập luận:
“Là bài thơ nếu bài văn chương (dù ở thể nào, loại nào) có chất thơ, hàm súc cái rung động siêu thoát, phảng phất cái hương vị tuyệt vời và giá trị của nó định ở cái lượng hàm súc cùng cái phảng phất kia, truyền dẫn nhịp nhàng trên cánh nhạc, bồng tới chỗ Trong, Đẹp, Thật = Đạo trong nghệ thuật ( ) Bài thơ theo nghĩa chặt chẽ (kết
Trang 6bằng những câu có vần điệu, hay theo
những niêm luật rõ rệt hay tiềm tàng)
có được trọn vẹn cái lượng và cái phẩm
nói trên kia”(8) Quan niệm này đã đưa
thơ vào địa hạt siêu hình Trong số
những người gieo hạt đó, có lẽ Bích
Khê là thi sĩ có nhiều dấu ấn hơn cả
Trong thơ Bích Khê, cái tôi siêu
hình của con người tâm linh đa chiều
kích được phân li thành muôn mảnh để
làm cuộc viễn du tinh thần, soi sáng bao
niềm bí ẩn của con người như cõi vô
thức, tiềm thức: “… Hồn sao không
động mà say/ Chà! Đôi chim khướu nó
bay tung trời…/ Nhạc đâu bỗng vót
từng khơi,/ Hồn theo với nhạc, hồn ơi là
hồn!/ Buồn thôi như rượu thấm dồn/
Lên men nồng khướt, xoay tròn trên
không” (Cuối thu)
Bích Khê là nhà thơ tượng trưng
Nhiều thi sĩ Thơ mới đã chịu ảnh hưởng
tượng trưng Pháp của Baudelaire,
Rimbaud, Verlaine, Mallarme, Valery,…
Bích Khê là người chịu ảnh hưởng đầy
đủ nhất nhưng lại không theo một mẫu
âm nào cả Lê Huy Oanh nhận xét:
“Những tính chất tượng trưng đã phát
hiện đầy đủ trong tập thơ Tinh huyết
của Bích Khê Vì vậy, muốn tìm hiểu
ảnh hưởng thơ tượng trưng Pháp trong
thơ Tiền chiến không gì hơn là dùng tập
Tinh huyết làm tài liệu tiêu biểu cho
việc nghiên cứu”(2)
Quan niệm về tính thẩm mỹ, thuyết tương giao, tính biểu
tượng, tính nhạc; quan niệm về cái đẹp,
về cách cảm nhận một thế giới mới,
hình ảnh xã hội mới, hiện đại là những
hạt giống đáng quý mà Bích Khê đã
gieo Hoàng Thiệu Khang khẳng đinh:
“Bích Khê đã thực thi một đoạn tuyệt cao hơn thời đại mình với thơ cũ và mọi thách đố dáng sợ hơn với thơ đương đại”(11)
Làm được điều đó, bởi vì “Có những nhà thơ làm thơ, có những nhà thơ vừa làm thơ vừa đẩy lịch sử thơ ca duy tân thêm một bước, có những nhà thơ đem đến một mùa lương thực Lại
có nhà thơ cầm một dúm hạt giống mới trên tay Khê thuộc hạng thứ hai”(9) Những quan niệm thơ khác nhau từ Thế
Lữ, Xuân Diệu đến Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử qua nhóm Xuân thu nhã tập, Đinh Hùng,… đặc biệt Bích Khê thể hiện sự vận động không ngừng, biểu thị khát vọng thay đổi và phát triển của thơ Việt Nam hiện đại Để rồi, sau những năm dài quan niệm văn thơ chi phối theo các cuộc kháng chiến giữ nước thần thánh của dân tộc, ngày nay, khi “cái ta cộng đồng” lắng xuống, cái tôi cá nhân trở lại ý thức sâu sắc sự hiện hữu của chính mình trong xã hội mới thì những quan niệm thơ như thế, ở mặt mẫn cảm và ôn hòa, nó lại tươi nguyên giá trị, gặt hái nhiều mùa vàng bội thu
4 Kết luận
Sự xuất hiện con người cá nhân trong xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX và những biến động lớn của
xã hội đã đưa đến những đổi thay trong thơ, tạo nên cái tôi trữ tình Thơ Mới Cái tôi trữ tình đó chủ yếu biểu thị quan niệm cá nhân của tầng lớp tiểu tư sản, tập trung bản chất và nhu cầu thời đại những năm 1932-1945 và cơ tầng văn hóa xã hội thời kỳ này Buổi đầu mới ra đời, cái tôi Thơ mới mang dáng điệu bỡ ngỡ, rụt rè Về sau, từ chỗ chỉ muốn
Trang 7được bày tỏ, thổ lộ, cái tôi trữ tình Thơ
Mới đã đi đến khát vọng hòa nhập,
hưởng thụ Giai đoạn cuối, cái tôi trữ
tình Thơ Mới có sự phân hóa với những
Bích Khê, Đinh Hùng, Vũ Hoàng
Chương và các nhà thơ nhóm Xuân thu
nhã tập, Dạ Đài… Trong sự vận động
hoàn thiện và tìm đường hướng mới, cái
tôi thi sĩ Thơ Mới đặc biệt chăm lo
chuyên môn hóa nghề thi sĩ và không
ngừng đẽo gọt, thanh chọn cho những
sản phẩm đặc biệt của mình, tạo ra
những thành tựu lớn Quá trình đó đã
tạo bước nhảy đưa thơ Việt Nam từ
trung đại sang hiện đại Đặc biệt, cái tôi
thi sĩ đó đã làm được sứ mênh gieo hạt,
đưa thơ Việt Nam theo kịp thơ hiện đại,
hậu hiện đại thế giới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Vũ Tuấn Anh (1996), Sự vận động của cái tôi
trữ tình trong thơ Việt Nam từ 1945 đến nay,
Luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn, H, tr.22
2 Theo Trần Hoài Anh, “Bích Khê qua cái nhìn
của nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học ở
đô thị miền Nam 1954-1975”, Kỷ yếu Hội
thảo thơ Bích Khê do Hội nhà văn Việt Nam -
Hội văn học nghệ thuật Quảng Ngãi tổ chức tháng 2/2006)
3 Lại Nguyên Ân (1998), “Nói thêm về điểm khởi đầu phong trào Thơ mới (1932 -1945)”,
Tạp chí Văn học (2), tr 58 - 62
4 Phan Huy Dũng (1996), “Cái tôi thi nhân
trong Thơ Mới”, Thông báo khoa học của các trường Đại học, Đại học Sư phạm Vinh,
tr 36 - 41
5 Tôn Thất Dụng (1993), Sự hình thành và vận động của thể loại Tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến 1932, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Ngữ
văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, tr.31
6 Phan Cự Đệ (1997), Văn học lãng mạn Việt Nam 30 - 45, Nxb Giáo dục, H, tr.26, 27
7 Huy Cận - Hà Minh Đức (1997), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (60 năm phong trào Thơ Mới), Nxb Giáo Dục, H, tr.80
8 Văn Giá (2001), Một khoảng trời Văn học,
NXB GD, H, tr.36, 38
9 Bích Khê (1988), Thơ Bích Khê, Sở văn hóa
thông tin Nghĩa Bình, tr.26
10 Nhiều tác giả (2002), Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, H,
tr.58, 1077, 1080
11 Nhiều tác giả (2003), 70 năm đọc thơ Bích Khê, Nxb Thanh niên, H, tr.137
12 Hoài Thanh - Hoài Chân (TB 2000), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.13, 14.
Ngày nhận bài: 04/01/2017 Biên tập xong: 15/3/2017 Duyệt đăng: 20/3/2017