1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Luật Chuyển giao công nghệ qua thực tiễn triển khai thi hành

8 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 574,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự án Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì soạn thảo đã được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ hai và dự kiến thông qua tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV (Tháng 6/2017).

Trang 1

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện

Luật Chuyển giao công nghệ qua thực tiễn triển khai thi hành

Some petitions for completing The Law on Technology Transfer through practical

implemenation

ThS Nguyễn Ngọc Vinh

Vụ Pháp chế, Bộ Khoa học và Công nghệ

Nguyen Ngoc Vinh, M.A

Department of Legislation, Ministry of Science and Technology

Tóm tắt

Ngày 29 tháng 11 năm 2006, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Chuyển giao công

nghệ, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Qua 10 năm triển khai thực hiện, Luật đã góp phần thúc

đẩy hoạt động đổi mới và chuyển giao công nghệ trong nước Tuy nhiên, trước thay đổi nhanh chóng

của thực tiễn phát triển đất nước và hội nhập quốc tế, Luật Chuyển giao công nghệ sau một thập kỷ đi

vào cuộc sống đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập

Dự án Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì soạn thảo đã được

trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ hai và dự kiến thông qua tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV (Tháng 6/2017) Đây là cơ hội tốt để khắc phục những điểm còn tồn tại của Luật, đặc biệt đối với vấn đề phát triển thị trường khoa học và công nghệ, quản lý hợp đồng chuyển giao công nghệ, quản lý công nghệ trong các dự án đầu tư và thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Từ khóa: chuyển giao công nghệ, thị trường khoa học và công nghệ, thương mại hóa, khởi nghiệp công

nghệ, tổ chức trung gian

Abstract

On November 29th, 2006, at the 10th session, the 11th National Assembly passed the Law on Technology Transfer, effective from July 1st 2007 After 10 years of implementation, the Law has contributed to promoting the renewal and technology transfer in the country However, before the rapid change of the country's development and international integration, the Law has exposed some shortcomings

The Draft Law on Technology Transfer (amended), drafted by the Ministry of Science and Technology, was submitted to the 2nd session of National Assembly for getting feedbacks and is expected to be adopted at the 3rd session of the 14th National Assembly (June 2017) This is a good opportunity to overcome the shortcomings of the Law, especially on science and technology market development, management of technology transfer contracts, technology management in investment projects and commercialization of research results./

Keywords: technology transfer, science and technology market, commercialization, technology start-up,

intermediary organization

Trang 2

Dự án Luật Chuyển giao công nghệ

(sửa đổi) do Bộ Khoa học và Công nghệ

chủ trì soạn thảo đã được trình Quốc hội

cho ý kiến tại kỳ họp thứ hai và dự kiến

thông qua tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa

XIV (Tháng 6/2017)

Qua 10 năm triển khai thực hiện, Luật

đã góp phần thúc đẩy hoạt động đổi mới và

chuyển giao công nghệ trong nước, ứng

dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ

(KH&CN) trong sản xuất và đời sống, từng

bước giúp cải thiện năng lực công nghệ của

doanh nghiệp

Tuy nhiên, trước thay đổi nhanh chóng

của thực tiễn phát triển đất nước và hội

nhập quốc tế, Luật Chuyển giao công nghệ

sau một thập kỷ đi vào cuộc sống đã bộc lộ

một số vướng mắc, bất cập, một số nội

dung không còn cập nhật mà trở nên lạc

hậu so với xu thế cải cách, đổi mới trong

phát triển kinh tế, không đáp ứng được nhu

cầu hình thành và phát triển thị trường

KH&CN

Bên cạnh đó, thực tiễn phát triển kinh

tế - xã hội trong nước cũng đặt ra yêu cầu

mới trong công tác quản lý công nghệ,

thẩm định công nghệ các dự án đầu tư,

thách thức đối với cơ quan quản lý nhà

nước trong việc bảo đảm môi trường kinh

doanh thuận lợi, thông thoáng, thu hút đầu

tư nước ngoài để gia tăng nguồn lực phát

triển đất nước, đồng thời phải kiểm soát

được thực trạng công nghệ, đặc biệt là

công nghệ trong các dự án đầu tư để gìn

giữ môi trường và phát triển bền vững

1 Phát triển thị trường KH&CN

Tại Việt Nam, thị trường KH&CN

chưa có cơ chế đủ mạnh để thúc đẩy gắn

kết hữu cơ hoạt động nghiên cứu và phát

triển của các viện, các trường đại học với

hoạt động đổi mới công nghệ tạo ra những

dụng trong thực tiễn phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh

Luật Chuyển giao công nghệ được ban

hành năm 2006 vào đúng thời điểm đánh dấu bước tiến quan trọng trong hội nhập khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO Tuy nhiên sau 10 năm triển khai thực hiện, Luật này đã bộc lộ nhiều hạn chế Một số vấn đề mới phát sinh trong

quá trình triển khai thực hiện Luật Chuyển giao công nghệ liên quan đến thị trường

KH&CN chưa được giải quyết, chẳng hạn như việc thành lập các sàn giao dịch công nghệ quốc gia, sàn giao ịch công nghệ trực tuyến liên thông toàn quốc, cổng thông tin quốc gia khởi nghiệp công nghệ, khu làm việc chung cho khởi nghiệp công nghệ,

hỗ trợ hoạt động cho tổ chức, cá nhân khởi nghiệp công nghệ,

Nhằm tạo lập môi trường pháp lý cho hoạt động của thị trường KH&CN, Bộ KH&CN đã trình Thủ tướng Chính phủ phê uyệt Đề án Phát triển thị trường công nghệ tại Quyết định số 214/2005/QĐ-TTg ngày 30/8/2005 Có thể nói, Quyết định số 214/2005/QĐ-TTg đã tạo ra một cơ chế khá thông thoáng cho sự phát triển các yếu

tố và hạ tầng của thị trường công nghệ ở Việt Nam trong nhiều năm qua và thời gian sắp tới trong các khâu như ươm tạo công nghệ, nhập khẩu giải mã, làm chủ công nghệ và chuyển giao công nghệ Các tổ chức trung gian hoạt động trong lĩnh vực ịch vụ KH&CN gồm tư vấn, môi giới và xúc tiến công nghệ, hỗ trợ thiết kế và chế tạo thử nghiệm, chuyển giao, đánh giá, thẩm định và giám định công nghệ, tư vấn, giám định sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và đảm bảo chất lượng đã được quan tâm xây ựng và phát triển,

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy,

Trang 3

hiệu quả o thiếu hạ tầng kỹ thuật, nhân

lực, thông tin, cơ sở ữ liệu công nghệ, ữ

liệu về chuyên gia công nghệ, nhà đầu tư

tiềm năng, Trong cơ cấu của các tổ chức

trung gian, các sàn giao ịch công nghệ

quốc gia được xem là trụ cột và cũng là

một tổ chức trung gian rất quan trọng của

thị trường, vì đó là nơi cung cấp nguồn

cung, kết nối nguồn cầu và các tổ chức

trung gian khác để hình thành mạng lưới

các tổ chức trung gian, cung cấp các ịch

vụ trung gian chuyên nghiệp với quy mô

quốc gia và quốc tế Mặc ù việc đầu tư

xây ựng các sàn giao ịch công nghệ quốc

gia đã được nêu trong Quyết định số

2075/QĐ-TTg ngày 08/11/2013 của Thủ

tướng Chính phủ phê uyệt Chương trình

phát triển thị trường KH&CN đến năm

2020, nhưng hạn chế về phạm vi hỗ trợ của

Chương trình là một trong những nguyên

nhân đã làm chậm lại việc thiết lập các sàn

giao ịch quốc gia và sự hình thành các

động lực phát triển của thị trường

Cùng với sàn giao dịch công nghệ

quốc gia, sàn giao ịch công nghệ trực

tuyến liên thông toàn quốc, cổng thông tin

quốc gia hệ sinh thái khởi nghiệp công

nghệ, khu làm việc chung cho khởi nghiệp

công nghệ cũng có ý nghĩa quan trọng

trong việc thúc đẩy phát triển thị trường

KH&CN, đó là việc tạo ra các đầu mối và

không gian thông tin, nguồn lực để có thể

hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân

khởi nghiệp công nghệ một cách hiệu quả

nhất, đồng thời tạo ra môi trường trực

tuyến và thực tế để thúc đẩy giao dịch công

nghệ trực tuyến quy mô toàn quốc, để các

thành phần trong hệ thống khởi nghiệp

công nghệ có thể liên kết, hỗ trợ lẫn nhau

và qua đó thúc đẩy phát triển thị trường

KH&CN Tuy nhiên, giống như các sàn

giao dịch công nghệ quốc gia, việc thiết lập

và phát triển các sàn giao dịch công nghệ trực tuyến cũng cần có sự hỗ trợ của Nhà nước ngay từ giai đoạn đầu Điều đó cho

thấy sự cần thiết phải sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ về cơ chế hỗ trợ các tổ

chức trung gian của thị trường KH&CN, để

từ đây tăng cường hỗ trợ đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước dành cho KH&CN và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để xây dựng, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và thực hiện các biện pháp nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động cho các tổ chức này

Cùng với đó, Luật Chuyển giao công nghệ

cũng cần có những quy định cụ thể về những loại hình tổ chức trung gian của thị trường KH&CN nhằm xác định đúng đối tượng được hưởng ưu đãi từ chính sách của Nhà nước

Trong thị trường KH&CN, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ là những doanh nghiệp mới thành lập dựa trên việc

áp dụng các kết quả nghiên cứu, các công nghệ để tạo ra những sản phẩm, dịch vụ mới, có giá trị gia tăng cao trên thị trường Nếu thành công, các doanh nghiệp này sẽ trở thành các doanh nghiệp KH&CN mạnh, mang lại giá trị kinh tế cao với nguồn lực lớn trong việc tạo ra nhiều công ăn việc làm chất lượng cao cho xã hội Ở các nước trên thế giới, các doanh nghiệp khởi nghiệp thành công có thể kể đến Facebook, Google, Apple với giá trị doanh nghiệp lên đến hàng chục tỷ USD So với các giao ịch công nghệ truyền thống với giá trị mỗi giao ịch khoảng một vài tỷ đến một vài chục tỷ đồng (khoảng một vài trăm nghìn USD) thì giao ịch cổ phần tại oanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ có thể lên đến hàng chục, hàng trăm triệu và là hình thức giao ịch công nghệ mới, hiệu

Trang 4

quả trên thị trường công nghệ thế giới

Tuy nhiên, trước khi đến với những

thành công, oanh nghiệp khởi nghiệp

công nghệ cũng gặp khá nhiều rủi ro, từ rủi

ro về công nghệ, thị trường đến rủi ro về

vốn, o sản phẩm mà các oanh nghiệp này

đưa đến thị trường là các sản phẩm hay

ịch vụ mới, nhu cầu nguồn vốn lớn vì

phát triển nhanh, chiếm lĩnh thị trường

mới, nếu đang phát triển giữa chừng mà

thiếu vốn, oanh nghiệp đó sẽ không thể

tồn tại được Vậy, để phát triển được loại

hình oanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ,

rất cần có những hỗ trợ ban đầu cho các

oanh nghiệp này, nói cách khác, cần một

môi trường, một hệ thống các thành phần

của oanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ

ổn định

Ở Việt Nam cũng có những doanh

nghiệp khởi nghiệp công nghệ thành công

như VinaGames, Vatgia với giá trị doanh

nghiệp lên đến hàng triệu USD Tuy nhiên,

số doanh nghiệp này không nhiều và hơn

nữa họ còn gặp không ít khó khăn về môi

trường pháp lý, về hệ thống thông tin cùng

với sự thiếu vắng các định chế trung gian

hỗ trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp công

nghệ phát triển, như các cơ sở ươm tạo

doanh nghiệp KH&CN, khu không gian

làm việc chung, tổ chức thúc đẩy kinh

doanh, các chuyên gia, huấn luyện viên

khởi nghiệp Đặc biệt, trong hệ thống pháp

lý chưa có các định nghĩa và các ưu đãi

dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp công

nghệ Vốn đầu tư mạo hiểm, một trong

những yếu tố quan trọng nhất để tạo nên

thành công của các doanh nghiệp khởi

nghiệp lại đang khan hiếm Hiện tại mới

chỉ có 3-4 quỹ đầu tư tư nhân của nước

ngoài có hoạt động đầu tư cho khởi nghiệp

công nghệ ở Việt Nam nhưng hầu hết ưới

quỹ đầu tư khởi nghiệp được thành lập ở Việt Nam Các nhà đầu tư cũng mới chỉ tham gia vào các lĩnh vực quay vòng vốn nhanh như thương mại điện tử, games và chưa thực sự quan tâm đến các lĩnh vực công nghệ quan trọng khác như công nghệ sinh học, vật liệu mới Trong các văn bản pháp luật, chính sách, các hình thức đầu tư mạo hiểm từ xã hội như quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư cá nhân (đầu tư thiên thần), hình thức gọi vốn cộng đồng, tập đoàn, công ty đầu tư khởi nghiệp vẫn chưa được công nhận và khuyến khích phát triển Hoạt động khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước như quy định tại Điều 34 của

Luật Chuyển giao công nghệ chưa giải

quyết được những khó khăn, vướng mắc của tổ chức trung gian, cũng như chưa bao hàm được loại hình trung gian mới là các

tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ, chưa

hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ Để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp khởi nghiệp

công nghệ, cần nghiên cứu sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ theo hướng: Thứ nhất, hỗ trợ doanh nghiệp hoàn

thiện, thử nghiệm, thương mại hóa công nghệ; ành ưu đãi cho tổ chức, cá nhân khởi nghiệp công nghệ tương tự như ành cho doanh nghiệp KH&CN; cho phép các quỹ phát triển KH&CN, quỹ đổi mới công nghệ, tổ chức tín dụng nhận bảo đảm bằng quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản phát sinh từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đối tượng sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm trong giao dịch vay vốn đầu tư cho các ự án KH&CN, khởi nghiệp công nghệ, phát triển sản xuất kinh doanh

Thứ hai, Nhà nước khuyến khích tổ

chức, cá nhân đầu tư cho khởi nghiệp công

Trang 5

thu nhập, hỗ trợ vốn ban đầu của quỹ đầu

tư khởi nghiệp công nghệ quốc gia và huy

động vốn đầu tư tiếp theo từ doanh nghiệp,

tổ chức tài chính, tín dụng và xã hội cho

khởi nghiệp công nghệ

2 Quản lý hợp đồng chuyển giao

công nghệ

Hoạt động chuyển giao công nghệ

được điều chỉnh lần đầu tiên tại Pháp lệnh

về chuyển giao công nghệ nước ngoài vào

Việt Nam năm 1988 Việc quản lý hợp

đồng chuyển giao công nghệ được Pháp

lệnh quy định khá chặt chẽ tại Điều 13:

“Hợp đồng chuyển giao công nghệ chỉ có

hiệu lực sau khi được chuẩn y.”

Năm 2006, Luật Chuyển giao công

nghệ được ban hành thay thế Pháp lệnh về

chuyển giao công nghệ nước ngoài vào

Việt Nam với tư tưởng mở cửa để phù hợp

với xu thế hội nhập quốc tế của đất nước

Việc quản lý hợp đồng chuyển giao công

nghệ được điều chỉnh thông thoáng hơn

theo hướng tự nguyện của các bên giao kết,

như Khoản 1 Điều 25 Luật Chuyển giao

công nghệ năm 2006 có ghi: “Các bên

tham gia giao kết hợp đồng chuyển giao

công nghệ có quyền đăng ký hợp đồng

chuyển giao công nghệ tại cơ quan quản lý

nhà nước về khoa học và công nghệ có

thẩm quyền làm cơ sở để được hưởng các

ưu đãi theo quy định”

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai, thi

hành thời gian qua cũng làm bộc lộ một số

hạn chế của Luật Chuyển giao công nghệ

năm 2006 Với cách thức quản lý như hiện

nay, cơ quan quản lý nhà nước vẫn không

nắm được thực trạng, đối tượng công nghệ

được chuyển giao, giá trị công nghệ nhập

khẩu, chuyển giao Điều này làm ảnh

hưởng đến việc đánh giá thực trạng công

nghệ, chuyển giao công nghệ trong các

ngành, các lĩnh vực cũng như cung cấp những số liệu phục vụ hoạch định chính sách Việc chuyển giao công nghệ không bắt buộc phải đăng ký với Nhà nước, khiến cho cơ quan chức năng của nhà nước trở nên thiếu cơ sở thực tiễn để đề xuất chính sách phù hợp nhằm tạo môi trường bình đẳng trong hoạt động chuyển giao công nghệ, góp phần tập trung thu hút công nghệ tiên tiến chuyển giao vào Việt Nam, ngăn chặn hành vi chuyển lợi nhuận qua hoạt động chuyển giao công nghệ Ngoài ra, mặc dù với quy định phương thức đăng ký hợp đồng tự nguyện, tạo mọi điều kiện trong hoạt động chuyển giao công nghệ, nhưng kết quả chuyển giao công nghệ thời gian qua còn hạn chế nếu không muốn nói

là không đạt được các mục tiêu đề ra Trong số các hợp đồng chuyển giao công nghệ thuộc các dự án F I được cấp đăng ký, phần lớn là hợp đồng sửa đổi, bổ sung của các Công ty 100% vốn nước ngoài Những hợp đồng chuyển giao công nghệ này không phải là những hợp đồng mới, do vậy số công nghệ chuyển giao trong giai đoạn này thực chất không nhiều Nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu là nâng mức phí chuyển giao công nghệ lên và gia hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ Tuy nhiên, số liệu này cũng chỉ dựa trên những hợp đồng chuyển giao công nghệ đã đăng

ký với cơ quan quản lý nhà nước, còn thực

tế việc chuyển giao giữa các tổ chức, cá nhân như thế nào, cơ quan quản lý không thể nắm được chính xác do không có số liệu báo cáo, thống kê đầy đủ Do vậy, chủ trương quản lý thông thoáng để thu hút chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam cũng cần được soát xét lại

Luật Chuyển giao công nghệ 2006 cũng

khuyến khích việc doanh nghiệp đăng ký

Trang 6

hợp đồng chuyển giao công nghệ để được

hưởng ưu đãi, tuy nhiên, chính sách ưu đãi

này không có trong thực tiễn do chưa được

quy định cụ thể Vì vậy, các doanh nghiệp

cũng không chủ động để tiến hành đăng ký

hợp đồng chuyển giao công nghệ

Cũng chính từ cơ chế quá mở trong

quản lý hợp đồng chuyển giao công nghệ

thời gian qua, đã xuất hiện hiện tượng

chuyển giá qua chuyển giao công nghệ

Điều này cho thấy đã có những lỗ hổng

trong chính sách quản lý đối với hoạt động

chuyển giao công nghệ

Từ những lý o nêu trên, cần phải

nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về

nghĩa vụ đăng ký hợp đồng chuyển giao

công nghệ để tạo môi trường bình đẳng

trong hoạt động chuyển giao công nghệ,

góp phần tập trung thu hút công nghệ tiên

tiến chuyển giao vào Việt Nam, đồng thời

giúp cơ quan quản lý nhà nước nắm được

thực trạng chuyển giao công nghệ của từng

luồng (chuyển giao công nghệ trong nước,

từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt

Nam ra nước ngoài) Trên cơ sở đó giúp

cung cấp những luận cứ khoa học và thực

tiễn để đưa ra các quy định, chính sách phù

hợp về chuyển giao công nghệ tại Việt

Nam, đặc biệt là chuyển giao công nghệ từ

nước ngoài để bảo đảm công nghệ nhập

khẩu đúng định hướng, tránh nhập khẩu

công nghệ lạc hậu, gây tác động tiêu cực

đến môi trường và bên cạnh đó, làm giảm

đi sức ép cạnh tranh của oanh nghiệp Việt

Nam trong giai đoạn hội nhập sâu và rộng

như hiện nay

Việc sửa đổi quy định về quản lý hợp

đồng chuyển giao công nghệ sẽ góp phần

hình thành nên hệ thống cơ sở ữ liệu

thông tin về công nghệ, kết nối với cổng

thông tin quốc gia để chia sẻ thông tin Qua

hoạt động chuyển giao công nghệ trong từng giai đoạn, cung cấp luận cứ để điều chỉnh chính sách nhập khẩu, chuyển giao

công nghệ phù hợp với thực tiễn

3 Quản lý công nghệ trong các dự án đầu tư

Theo thực tế quản lý công nghệ và chuyển giao công nghệ hiện nay, cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN chỉ quản lý phần ngọn vì khi chủ đầu tư hoặc đối tác nước ngoài liên doanh hoặc đầu tư 100% vốn tại Việt Nam nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thì phần công nghệ, thiết bị, máy móc của dự án thường bị xem nhẹ, và các cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN rất ít khi được hỏi ý kiến Chính vì vậy, cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN không nắm được luồng công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam ngay từ khâu đầu vào, trừ những dự án đầu

tư có điều kiện và những dự án đầu tư o Thủ tướng chấp thuận chủ trương đầu tư, còn lại chỉ đến khi dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, các bên lập hợp đồng chuyển giao công nghệ để đăng

ký thì cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN mới biết và đến thời điểm này thì

dù là công nghệ hiện đại hay lạc hậu thì nhà đầu tư cũng đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư rồi

Để góp phần hạn chế việc nhập khẩu,

sử dụng công nghệ, thiết bị lạc hậu, Luật KH&CN (Khoản 2 Điều 46) đã quy định:

“Dự án đầu tư, chương trình phát triển kinh

tế - xã hội phải được thẩm định về cơ sở khoa học, trình độ công nghệ đáp ứng yêu cầu theo quy định của pháp luật trước khi phê duyệt” Như vậy, theo Luật KH&CN,

mọi dự án đầu tư đều phải được thẩm định

về cơ sở KH&CN Tuy nhiên Luật Đầu tư

ban hành sau Luật KH&CN chỉ quy định

Trang 7

đầu tư có sử dụng công nghệ thuộc danh

mục hạn chế chuyển giao Theo nguyên tắc

quy định tại Khoản 3 Điều 156 Luật Ban

hành văn bản quy phạm pháp luật: “Trong

trường hợp các văn bản quy phạm pháp

luật do cùng một cơ quan ban hành có quy

định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp

dụng quy định của văn bản quy phạm pháp

luật ban hành sau” Trong trường hợp này,

Luật Đầu tư được ưu tiên áp ụng, tuy

nhiên lại không quy định chặt chẽ như Luật

KH&CN dẫn đến việc kiểm soát công nghệ

trong các dự án đầu tư gặp khó khăn Vì

vậy, để góp phần hạn chế việc nhập khẩu,

sử dụng công nghệ, thiết bị lạc hậu, cần

nghiên cứu để quy định nội dung về bắt

buộc thẩm định công nghệ đối với các dự án

đầu tư, đặc biệt đối với các dự án đầu tư sử

dụng công nghệ thuộc danh mục hạn chế

chuyển giao và các dự án đầu tư có nguy cơ

tác động xấu đến môi trường

Quy định về thời hạn có ý kiến về

công nghệ theo quy định của Luật Đầu tư

cũng chưa thật sự hợp lý (15 ngày kể ngày

nhận được hồ sơ lấy ý kiến) Trên thực tế,

đối với những dự án có nội dung công nghệ

phức tạp đòi hỏi phải lấy ý kiến chuyên gia

nước ngoài hoặc tổ chức hội đồng thẩm

định thì thời hạn 15 ngày để có ý kiến về

công nghệ dự án đầu tư là không khả thi

4 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Quy định hiện hành về việc chuyển

giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn còn

mang tính nguyên tắc, chưa thực sự đủ

mạnh và đáp ứng được yêu cầu thực tiễn

phục vụ cho mục tiêu đẩy mạnh thương

mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và

phát triển công nghệ sử dụng ngân sách

nhà nước, o đó phần nào hạn chế việc đa

dạng hóa nguồn cung công nghệ, phát triển

nguồn cầu công nghệ cho thị trường

KH&CN

Theo quy định pháp luật hiện hành, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN

có sử dụng ngân sách nhà nước được ưu tiên đứng tên chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ đó Tuy nhiên, thực tế nhiều tổ chức chủ trì sau khi được nghiệm thu kết quả, vì nhiều lý do đã không tiến hành các biện pháp cần thiết để thương mại hóa kết quả đó Quy định về chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước tại Điều 40 Luật Chuyển giao công nghệ chỉ mang tính nguyên tắc, vì vậy thực tế thi hành bộc lộ nhiều hạn chế Đây cũng là một phần nguyên nhân nhiều kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước ở trong tình trạng không được khai thác, trong khi nhiều doanh nghiệp mong muốn nhận chuyển giao để đưa vào ứng dụng, sản xuất, thành lập doanh nghiệp KH&CN, Cần nghiên cứu để đưa ra quy định buộc tổ chức chủ trì trong thời hạn nhất định nếu không báo cáo việc ứng ụng hoặc không triển khai thương mại hóa kết quả nghiên cứu, Nhà nước sẽ giao quyền

sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu cho tổ chức khác để thương mại hóa Điều này cũng ành ưu tiên giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tạo ra từ ngân sách nhà nước cho tổ chức, cá nhân thực hiện dự án khởi nghiệp công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, vốn là những chủ thể có nhu cầu và năng lực thương mại hóa công nghệ

Việc sửa đổi, tháo gỡ những vướng mắc nhằm hoàn thiện Luật Chuyển giao công nghệ sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi thúc đẩy hoạt động chuyển giao công

Trang 8

nghệ, đổi mới công nghệ, thương mại hóa

và ứng dụng các thành tựu KH&CN hiện

đại, thúc đấy hình thành và phát triển thị

trường KH&CN ở Việt Nam./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Khoa học và Công nghệ (2016), Báo cáo

tổng kết thi hành Luật chuyển giao công nghệ

và đánh giá thực trạng hoạt động chuyển giao

công nghệ

2 Bộ Khoa học và Công nghệ (2016), Báo cáo đánh

giá tác động của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật chuyển giao công nghệ

3 Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều

của Luật Chuyển giao công nghệ

(2016):http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao /Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.asp x?ItemID=1226&LanID=1280&TabIndex=1

4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

(2015), số 80/2015/QH13 ngày 22 tháng 6 năm 2015

5 Luật Chuyển giao công nghệ (2006), số

80/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006

6 Luật Đầu tư (2014), số 67/2014/QH1 ngày 26

tháng 11 năm 2014

7 Luật Khoa học và công nghệ (2013), số

29/2013/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2013

8 Pháp lệnh về Chuyển giao công nghệ nước

ngoài vào Việt Nam (1988), số 10 –

LCT/HDDNN8 ngày 05 tháng 12 năm 1988

Ngày nhận bài: 07/02/2017 Biên tập xong: 15/3/2017 Duyệt đăng: 20/3/2017

Ngày đăng: 14/02/2020, 20:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w