1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Rèn luyện kĩ năng nhận dạng và giải bài toán Hóa học nhằm phát triển năng lực dạy học cho sinh viên ngành Sư phạm Hóa học

7 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 493 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đề cập đến một số biện pháp rèn luyện kĩ năng nhận dạng và giải bài toán hóa học cho sinh viên thông qua hệ thống các dấu hiệu đặc trưng, phương pháp giải tương ứng với dấu hiệu đặc trưng đó, đồng thời đề xuất cách xây dựng những bài toán hóa học mới tư duy và sáng tạo.

Trang 1

Rèn luyện kĩ năng nhận dạng và giải bài toán

Hóa học nhằm phát triển năng lực dạy học cho

sinh viên ngành Sư phạm Hóa học

The teaching of Chemical problem solving and recognizing skills to enhance

teaching capacity of students majoring in Chemistry

TS Võ Văn Duyên Em, Trường Đại học Quy Nhơn

Vo Van Duyen Em, Ph.D., Quy Nhon University

Phạm Văn Hà, Trường THPT Pleiku (Gia Lai) Pham Van Ha, Pleiku High School (Gia Lai province)

Tóm tắt

Ở các trường đại học, cao đẳng có đào tạo giáo viên ngành sư phạm hóa học, việc rèn luyện kĩ năng nhận dạng và giải bài toán hóa học nhằm phát triển năng lực dạy học cho sinh viên rất quan trọng vì các

kĩ năng trên là điều kiện tiên quyết để trở thành một giáo viên dạy môn hóa học Bài báo đề cập đến một

số biện pháp rèn luyện kĩ năng nhận dạng và giải bài toán hóa học cho sinh viên thông qua hệ thống các dấu hiệu đặc trưng, phương pháp giải tương ứng với dấu hiệu đặc trưng đó, đồng thời đề xuất cách xây dựng những bài toán hóa học mới tư duy và sáng tạo

Từ khóa: kĩ năng giải bài toán hóa học, năng lực dạy học, môn Hóa học

Abstract

At teacher training colleges or universities with chemistry major, the teaching of chemical problem solving and recognizing skills is very important because it is a priority for every chemistry teacher to be able to teach these skills sufficiently The article refers to some techniques for teaching these skills to students using systems of chemistry problem formats and teaching methods in accordance with those formats, consequently proposing techniques to design new chemical problems with high intellectuality and creativity

Keywords: chemical problem solving skills, teaching capacity, Chemistry

1 Mở đầu

Một người chỉ biết giảng giải lại các tri

thức của bản thân đã biết cho người khác

thì chỉ mới thỏa mãn điều kiện ban đầu để

trở thành người giáo viên Bởi vì, ngoài

việc giảng giải đó, người giáo viên phải là

người đóng vai trò của người hướng dẫn, biết khơi dậy ở học sinh (HS) lòng ham muốn hiểu biết và cách thức tìm ra các tri thức cho chính mình Muốn vậy, người hướng dẫn phải biết nhiều hơn người được hướng dẫn về nội dung kiến thức đó Do

Trang 2

vậy, để trở thành một giáo viên dạy môn

hóa học, điều kiện cần là người đó phải

giỏi về giải bài toán hóa

Đã có một số nghiên cứu về việc phát

triển năng lực dạy học cho sinh viên (SV)

ngành hóa học như tài liệu [2], [3], [4], [5]

Trong các nghiên cứu đó, kết quả đã trình

bày một số biện pháp nhằm phát triển năng

lực dạy học tích hợp cho SV, quy trình xây

dựng khung năng lực dạy học tích hợp

đồng thời đề xuất một số cách sử dụng

chúng trong quá trình đào tạo tại các

trường đại học và cao đẳng sư phạm Tuy

nhiên, trong đào tạo giáo viên hóa ở trường

trung học phổ thông, một giải pháp quan

trọng để phát triển năng lực dạy học cho

SV là rèn luyện kĩ năng giải bài toán hóa,

bồi dưỡng năng lực giải bài toán hóa cho

họ Đây có thể xem là giải pháp tiên quyết

Có nhiều ý kiến khác nhau về kĩ năng

[1], [7] Theo chúng tôi, một người được

xem là có kĩ năng làm một công việc nào

đó nếu người đó có thể thực hiện thành

thạo, linh hoạt và có kết quả công việc đó,

nhờ việc lựa chọn và vận dụng những tri

thức, những kinh nghiệm đã có để hành

động phù hợp với điều kiện cụ thể Một

người được gọi là có kĩ năng giải bài toán

hóa phổ thông nếu như người đó biết hết

những cách giải phổ biến nhất của bài toán

đó và có thể thực hiện những cách giải đó

một cách hoàn hảo Kĩ năng giải bài toán

hóa có cơ sở là các tri thức hóa học và tri

thức phương pháp giải bài toán hóa

Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất

một số biện pháp cụ thể nhằm rèn kĩ năng

giải bài toán hóa thông qua việc nhận dạng

và đề xuất phương pháp giải đúng, phát

hiện những vấn đề mở rộng từ bài toán để

xây dựng bài toán mới tư duy sáng tạo

nhằm phát triển năng lực dạy học cho SV

sư phạm ngành hóa học

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Biện pháp rèn luyện kĩ năng giải bài toán hóa thông qua việc hệ thống các dấu hiệu nhận dạng bài toán và các phương pháp giải theo từng dấu hiệu tương ứng

2.1.1 Cơ sở của biện pháp

Để có thể trở thành người giáo viên giỏi, cần phải “biết mười dạy một” Phương pháp giải bài toán hóa là những hình thức, cách thức hành động của V nhằm thực hiện những yêu cầu ph hợp với nội dung, điều kiện của bài toán đã cho và phù hợp với trình độ nhận thức của HS Muốn có phương pháp giải nhanh và bản chất của bài toán hóa, cách thức hành động đúng, cần phải sớm định hướng được dấu hiệu nhận dạng phù hợp để tránh sai lầm trong quá trình giải

2.1.2 Mục đích của biện pháp

Biện pháp này, nhằm rèn luyện kĩ năng, bồi dưỡng năng lực giải bài toán hóa cho SV và khả năng phát hiện vấn đề, xây dựng bài toán mới tư duy, sáng tạo

2.1.3 Cách thực hiện biện pháp Bước 1: Giảng viên đưa ra bài toán

hóa có vấn đề, yêu cầu SV phát hiện dấu hiệu nhận dạng và đề xuất các phương pháp giải bản chất bài toán hóa tương ứng với đặc điểm nhận dạng

Bước 2: Giảng viên gợi ý một số nội

dung cụ thể, phân nhóm yêu cầu SV thảo luận làm rõ đặc điểm nhận dạng cho từng phương pháp giải

Bước 3: Tổ chức cho SV báo cáo

seminar, sau đó trao đổi, thảo luận, nhận xét, đánh giá, đóng góp các ý kiến bổ sung

Đề xuất, phát triển bài toán thông qua các câu hỏi mới tư duy, sáng tạo

Bước 4: Giảng viên nhận xét, đánh giá

và kết luận

Trang 3

2.1.4 Ví dụ minh họa

Giảng viên yêu cầu V làm rõ đặc

điểm nhận dạng, đề xuất phương pháp giải

hợp lý, xây dựng bài toán mới sáng tạo từ

bài toán gốc sau:

Bài toán gốc: So sánh thể tích khí NO

(sản phẩm khử duy nhất) thoát ra trong 2

thí nghiệm dưới đây (đo ở c ng điều kiện

nhiệt độ và áp suất, các phản ứng hóa học

xảy ra hoàn toàn)

- Thí nghiệm 1: Cho 3,84g Cu tác

dụng hết với 80ml dung dịch HNO3 1M

- Thí nghiệm 2: Cho 3,84g Cu tác

dụng hết với 80ml dung dịch hỗn hợp chứa

HNO3 1M và HCl 1M

Giải:

- Dấu hiệu nhận dạng: Tất cả các chất

tham gia phản ứng hóa học (PUHH) đều

cho trước số mol, nên phải so sánh, do đó

phương pháp giải tối ưu là phương pháp sử

dụng phản ứng ion thu gọn

- Phương pháp giải: Viết, cân bằng

phản ứng ion thu gọn và ghi lượng chất ban

đầu, tiến hành so sánh để tính lượng chất

phản ứng và lượng chất dư

Ở thí nghiệm 1 :

Cu

3,84

n = = 0,06 mol

64

;

3

HNO

n = 0,08.1 = 0,08 mol

PUHH : 3Cu + 2NO3- + 8H+ 

3Cu2+ + 2NO + 4H2O Ban đầu (mol) : 0,06 0,08 0,08

Phản ứng (mol) : 0,030,02 0,08 (hết)

 0,02 Còn dư (mol) : 0,03 0,06 0 0,02

Ở thí nghiệm 2 :

Cu

3,84

64 ; có thêm nHCl =

0,08.1 = 0,08 mol và tổng +

H

n = 0,16 mol

PUHH : 3Cu + 2NO3- + 8H+ 

3Cu2+ + 2NO + 4H2O

Ban đầu (mol) : 0,06 0,08 0,16 Phản ứng (mol) : 0,060,04 0,16 (hết)

 0,04 Còn dư (mol) : 0 0,04 0 0,04

Vì số mol NO ở thí nghiệm 2 gấp đôi

ở thí nghiệm 1 nên thể tích NO ở thí nghiệm 2 cũng gấp đôi ở thí nghiệm 1

Các hướng xây dựng bài toán mới tư duy, sáng tạo từ bài toán gốc:

Bài toán 1: So sánh thể tích khí NO

(sản phẩm khử duy nhất) thoát ra trong 2 trường hợp sau (thể tích khí đo ở c ng điều kiện nhiệt độ và áp suất, các phản ứng hóa học xảy ra hoàn toàn):

 Cho 6,4g Cu tác dụng với 120ml dung dịch HNO3 1M (loãng)

 Cho 6,4g Cu tác dụng với 120ml dung dịch hỗn hợp gồm HNO3 1M và

H2SO4 0,5M (loãng)

Cô cạn dung dịch ở trường hợp 2 sẽ thu được bao nhiêu mol muối khan? Biết các phản ứng xảy ra hoàn toàn, các thể tích khí đo ở c ng điều kiện nhiệt độ, áp suất

Giải: Việc giải để so sánh thể tích khí

NO giống như bài 1, quá trình giải được lặp lại để hình thành kỹ năng, xây dựng tình huống mới là xác định muối khan thu được sau khi cô cạn dung dịch Ta giải trường hợp thứ hai:

Cu

6,4

n = = 0,1 mol 64

;

3

HNO

n = 0,12.1 = 0,12 mol;

H SO

n = 0,12.0,5 = 0,06 mol

Tổng +

H

n = 0,24 mol

PUHH : 3Cu + 2NO3- + 8H+ 

3Cu2+ + 2NO + 4H2O Ban đầu (mol) : 0,1 0,12 0,24 Phản ứng (mol) : 0,090,06 0,24 (hết) Còn dư (mol) : 0,01 0,06 0

Vậy khi cô cạn, thu được CuSO4 có 0,06 mol và Cu(NO3)2 có 0,03 mol

Trang 4

Bài toán 2: Cho 7,68g Cu vào 120ml

dung dịch hỗn hợp gồm HNO3 1M và

H2SO4 1M Sau khi phản ứng xảy ra hoàn

toàn thu được bao nhiêu lít khí NO ở đktc

(sản phẩm khử duy nhất)? Khi cô cạn dung

dịch thu được bao nhiêu gam muối khan?

Giải:

Cu

7,68

n = = 0,12 mol

64

;

3

HNO

n = 0,12.1 = 0,12 mol;

2 4

H SO

n = 0,12.1 = 0,12 mol; Tổng +

H

PUHH : 3Cu + 2NO3- + 8H+

3Cu2+ + 2NO + 4H2O Ban đầu (mol) : 0,12 0,12 0,36

Phản ứng (mol) : 0,12(hết)0,08  0,32

 0,08 Còn dư (mol) : 0 0,04 0,04

VNO = 22,4.0,08 = 1,792 lít

Trong dung dịch sau phản ứng có mặt

ion H+ thì HS phải lưu ý rằng ion H+ có thể

có trong công thức muối hay là không Với

anion gốc axit là NO3- thì khẳng định ion

H+ không thể có trong công thức muối Do

vậy, khi cô cạn dung dịch thì 0,04 mol

HNO3 bay hơi và phân hủy hết theo phản

ứng:

4HNO3 t0 4NO2 + O2 + 2H2O

Nên muối thu được chỉ là CuSO4

Khối lượng CuSO4 là: 160.0,12 = 19,2g

Bài toán 3: Cho 1,92g Cu vào 100ml

dung dịch chứa KNO3 0,16M và H2SO4

0,4M thấy sinh ra một chất khí có tỉ khối so

với H2 là 15 (sản phẩm khử duy nhất) và

dung dịch A

 Tính thể tích khí sinh ra ở đktc

 Tính thể tích dung dịch NaOH

0,5M tối thiểu cần d ng để kết tủa toàn bộ

ion Cu2+ trong dung dịch A

Biết các phản ứng hóa học xảy ra hoàn

toàn

Giải:

Cu

1,92

3

KNO

n = 0,1.0,16 = 0,016 mol

H SO

n = 0,1.0,4 = 0,04 mol; Tổng +

H

n = 0,08 mol

Khí là sản phẩm của phản ứng khử

NO3- có phân tử khối là 30 thì chỉ là NO PUHH : 3Cu + 2NO3- +

8H+  3Cu2+ + 2NO + 4H2O Ban đầu (mol) : 0,03 0,016 0,08 Phản ứng (mol) : 0,024 0,016 (hết)

 0,064  0,016 Còn dư (mol) : 0,006 0 0,016

VNO = 22,4.0,016 = 0,3584 lít

Do có H+ dư nên khi dung dịch NaOH vào có các phản ứng:

H+dư + OH- H2O 0,016  0,016

Cu2+ + 2OH- Cu(OH)2 0,024  0,048

Vdung dịch NaOH = 0,016 + 0,048 = 0,128 lít

0,5

Thực tế cho thấy H thường quên phản ứng trung hòa H+ dư nên kết quả sai Qua 4 bài toán trên, ta thấy chất tác dụng hết cho thay đổi, HS cần phát hiện chất tác dụng hết để từ đó tính ra lượng chất khác đã tác dụng Mức độ khó được tăng dần ở cách tính khối lượng muối trong dung dịch (dung dịch chỉ có cation kim loại

và anion gốc axit; vừa có cation kim loại, ion H+ và anion gốc axit)

2.2 Biện pháp rèn luyện những yếu

tố của tư duy sáng tạo

2.2.1 Cơ sở của biện pháp

Những yếu tố của tư duy sáng tạo bao

Trang 5

gồm: tính linh hoạt, nhuần nhuyễn, độc đáo,

hoàn thiện, nhạy cảm vấn đề [6], [8], [9]

- Tính linh hoạt (Flexibility): Là khả

năng thay đổi dễ dàng, nhanh chóng trật tự

của hệ thống tri thức, chuyển từ góc độ

quan niệm này sang góc độ quan niệm

khác, định nghĩa lại sự vật hiện tượng, xây

dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự

vật mới trong mối quan hệ mới hoặc

chuyển đổi quan hệ, nhận ra bản chất của

sự vật và nhiều phán đoán

- Tính nhuần nhuyễn (Fluency): Là

khả năng tạo ra một cách nhanh chóng sự

tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của tình

huống hoàn cảnh, đưa ra giả thuyết mới và

ý tưởng mới Là khả năng tìm được nhiều

giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống

khác nhau Tính nhuần nhuyễn được đặc

trưng bởi khả năng sáng tạo ra một số ý

tưởng nhất định ố ý tưởng càng nhiều thì

càng có nhiều khả năng xuất hiện ý tưởng

độc đáo Trong trường hợp này có thể nói

số lượng làm nảy sinh chất lượng

- Tính độc đáo (Originality): Là khả

năng tìm kiếm và giải quyết bằng phương

thức lạ hoặc duy nhất

- Tính hoàn thiện (Elaboration): Là

khả năng lập kế hoạch, phối hợp các ý nghĩ

và hành động, phát triển ý tưởng, kiểm tra

và chứng minh ý tưởng Nó làm cho tư duy

trở thành một quá trình, từ chỗ xác định

được vấn đề cần giải quyết, huy động vốn

kiến thức kinh nghiệm có thể sử dụng để

giải quyết đến cách giải quyết, kiểm tra kết

quả Nghĩa là những ý tưởng sáng tạo phải

thoát ra biến thành sản phẩm có thể quan

sát được

- Tính nhạy cảm vấn đề

(Problemsensibility): Là khả năng nhanh

chóng phát hiện ra vấn đề, mâu thuẫn, sai

lầm, thiếu logic, chưa tối ưu,… do đó nảy

sinh ý muốn cấu trúc hợp lí, hài hòa, tạo ra

cái mới

Các yếu tố cơ bản trên có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau Khả năng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác (tính mềm dẻo) tạo điều kiện cho việc tìm nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau (tính nhuần nhuyễn) và nhờ đề xuất được nhiều phương án khác nhau mà có thể tìm được phương án lạ, đặc sắc (tính độc đáo) Các yếu tố cơ bản này lại có mối quan hệ khăng khít với các yếu tố khác như: tính chính xác, tính hoàn thiện, tính nhạy cảm vấn đề,… Tất cả các yếu tố đặc trưng nói trên cùng góp phần tạo nên tư duy sáng tạo, đỉnh cao nhất trong các hoạt động trí tuệ của con người

2.2.2 Mục đích của biện pháp

Biện pháp này giúp cho các thầy cô giáo trong tương lai có trình độ chuyên môn vững vàng, xứng đáng là “bậc thầy” của HS Biện pháp này góp phần bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho SV

2.2.3 Cách thực hiện biện pháp

Bồi dưỡng các yếu tố của tư duy sáng tạo cho SV thông qua những ví dụ cụ thể

SV giải bài toán, phân tích theo nhiều góc

độ và phương diện khác nhau

2.2.4 Ví dụ minh họa

Khi giải một số bài toán về kim loại tác dụng với axit nitric, hoặc kim loại tác dụng với muối nitrat trong môi trường axit, hoặc kim loại tác dụng với hỗn hợp nhiều axit trong đó có axit nitric Giảng viên đưa

ra bài toán sau và yêu cầu SV dự đoán một

số sai lầm có thể mắc phải của HS trong quá trình giải bài toán:

Nội dung bài toán: Hòa tan hoàn toàn hỗn hợp gồm 9,75 gam Zn và 2,7 gam Al vào 200 ml dung dịch chứa đồng thời HNO3 2M và H2SO4 1,5M thu được khí

NO (sản phẩm khử duy nhất) và dung dịch

Trang 6

X Cô cạn dung dịch X thu được bao nhiêu

gam muối khan? Biết các phản ứng hóa

học xảy ra hoàn toàn

SV có thể dự đoán một số sai lầm cụ

thể của HS là:

Sai lầm 1: HS nhận xét đây là bài toán

hệ phản ứng oxi hóa – khử, mặc dù kim

loại tác dụng với hai axit HNO3 và H2SO4

nhưng chỉ có sinh ra một sản phẩm khử

duy nhất là NO, nên sự có mặt của H2SO4

trong hỗn hợp sẽ không ảnh hưởng gì đến

kết quả tính toán Do đó, H giải bài toán

bằng phương pháp bảo toàn electron hoặc

phương pháp bảo toàn nguyên tố Zn, Al (vì

giả thiết bài toán cho hòa tan hoàn toàn)

Zn

9,75

n = = 0,15 mol

2,7

27

Trong dung dịch X có hai muối là:

Zn(NO3)2, Al (NO3)3

Khối lượng muối: m = 0,15.189 +

0,1.213 = 49,65 gam

Nếu HS nhận xét được bài toán trên là

hệ phản ứng oxi hóa – khử và có sự tham

gia của môi trường là axit H2SO4, do đó

phải giải bài toán bằng phương pháp sử

dụng phương trình ion thu gọn:

3

HNO

n = 0,2.2 = 0,4 mol;

2 4

H SO

n = 0,2.1,5 = 0,3 mol; Tổng +

H

n = 1 mol

PUHH : 3Zn + 2NO3- + 8H+

3Zn2+ + 2NO + 4H2O (1)

Ban đầu (mol) : 0,15 0,4 1

Phản ứng (mol): 0,15 (hết)  0,1 

0,4  0,15 Còn dư (mol) : 0 0,3 0,6 0,15

Vì sau phản ứng (1) số mol của NO3

-và H+ vẫn còn nên xảy ra tiếp phản ứng:

PUHH : Al + NO3- + 4H+ 

Al3+ + NO + 2H2O (2)

Ban đầu (mol) : 0,1 0,3 0,6 Phản ứng (mol): 0,1(hết)  0,1  0,4

 0,1 Còn dư (mol) : 0 0,2 0,2 0,1

Sai lầm 2: H không xác định đầy đủ

thành phần các ion có trong dung dịch X (thiếu ion SO42-) Như vậy, sau PTHH (1)

và (2) thành phần các ion có trong dung dịch X gồm các ion Zn2+: 0,15 mol; Al3+: 0,1 mol; NO3- dư: 0,2 mol; H+ dư: 0,2 mol Khối lượng muối bằng tổng khối lượng các ion có trong dung dịch X:

m = 0,15.65 + 0,1.27 + 0,2.62 + 0,2.1

= 25,05 gam

Sai lầm 3: H xác định được đầy đủ

thành phần các ion có trong dung dịch X (bổ sung thêm ion SO42- với các ion sau PUHH (1) và (2)) Khi đó, thành phần các ion có trong dung dịch X gồm Zn2+: 0,15 mol; Al3+: 0,1 mol; NO3- dư: 0,2 mol; H+ dư: 0,2 mol và SO42-: 0,3 mol Nếu HS tính khối lượng muối bằng tổng khối lượng các ion có trong dung dịch X thì kết quả vẫn sai vì trong dung dịch X còn có số mol ion

H+ sẽ không tạo muối được:

m = 0,15.65 + 0,1.27 + 0,2.62 + 0,2.1 + 0,3.96 = 53,85 gam

Sai lầm 4: Nếu HS không tính phần

H+ thì kết quả vẫn sai vì khi đó còn dư ra phần anion gốc axit (vi phạm định luật bảo toàn điện tích)

m = 0,15.65 + 0,1.27 + 0,2.62 + 0,3.96

= 53,65 gam

Kết quả đúng: Khi cô cạn dung dịch X thì 0,2 mol NO3- dư và 0,2 mol H+ sẽ bay hơi và phân hủy hết theo PUHH:

4HNO3 t0 4NO2 + O2 + 2H2O

Do vậy, muối trong dung dịch X sau khi cô cạn gồm Zn2+: 0,15 mol; Al3+: 0,1 mol và SO42-: 0,3 mol

m = 0,15.65 + 0,1.27 + 0,3.96 = 41,25 gam

Trang 7

3 Kết luận

Trong các trường Đại học, Cao đẳng

có đào tạo giáo viên ngành sư phạm hóa

học, việc rèn luyện kĩ năng giải bài toán

hóa để phát triển năng lực dạy học cho SV

là rất quan trọng, vì có kĩ năng giải bài toán

hóa là điều kiện cần và là điều kiện tiên

quyết của người giáo viên hóa Điểm mới

của kết quả nghiên cứu về phát triển năng

lực dạy học cho SV ngành hóa học là rèn

luyện kĩ năng giải bài toán hóa cho SV

thông qua việc hệ thống các dấu hiệu nhận

dạng bài toán và các phương pháp giải theo

từng dấu hiệu tương ứng SV thấy được

mỗi bài toán thường có nhiều cách giải

quyết, vấn đề đặt ra là phải tìm được

phương án giải quyết, xem xét, đánh giá

các phương án Từ đó, lựa chọn cách tối ưu

nhất dựa vào các dấu hiệu đặc trưng của

bài toán Đồng thời, rèn luyện thêm những

yếu tố của tư duy sáng tạo, chú trọng tới

việc đề xuất bài toán tổng quát, các bài

toán tương tự và sáng tạo các bài toán mới

Các biện pháp được thực hiện và sự

phân tích nhiều ví dụ minh họa trong

nghiên cứu đã chỉ ra rằng: nếu hoạt động

giải bài toán hóa học được tổ chức tốt thì

nó sẽ là đòn bẩy, tạo ra được môi trường

giao tiếp hiệu quả, môi trường học tập tích

cực, từ đó phát triển tư duy sáng tạo cho

V Đồng thời, giảng viên có thể đánh giá

kết quả hoạt động học của V, đổi mới về

phương pháp dạy học phù hợp với học chế

tín chỉ đang được thực hiện tại các trường

Đại học, Cao đẳng hiện nay

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Như An (1999), “Về quy trình rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên sư

phạm”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, (2)

2 Đặng Thị Thuận An, Trần Trung Ninh (2016),

“Xây dựng khung năng lực dạy học tích hợp

cho sinh viên sư phạm hóa học”, Tạp chí

Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội, (6), tr

79-86

3 Phạm Thị Bình, Đỗ Thị Quỳnh Mai, Hà Thị Thoan (2016), “Xây dựng bài tập hóa học nhằm phát triển năng lực thực hành hóa học

cho học sinh ở trường phổ thông”, Tạp chí

Khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,

61(6A), tr 72-78

4 Nguyễn Thị Chuyển (2016), “Một số biện pháp phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên cao đẳng sư phạm sinh hóa trường Cao đẳng sư phạm Lào Cai qua học phần

phương pháp dạy học hoá học 2”, Tạp chí

Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội, 61(6A),

tr 186-197

5 Nguyễn Mậu Đức, Đặng Thị Thuận An (2015), “Thiết kế và sử dụng giáo trình điện

tử góp phần rèn luyện kiến thức và năng lực dạy học cho sinh viên ngành sư phạm Hóa

học”, Tạp chí Khoa học và Giáo dục Trường

Đại học Sư phạm Huế, 35(3), tr 33-42

6 Guilford J P (1979), “Creativity: Retrospect

and prospect”, Journal of Creative Behavior,

(11), pp 30-36

7 B i Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu

Quỳnh và Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển Giáo

dục học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội

8 Lowenfeld V (1962), Creativity: Education’s

Stepchild, In A Source Book from Creative Thinking, Scribners, New York

9 Nguyễn Huy Tú (2006), Tài năng quan niệm,

nhận dạng và đào tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội

Ngày nhận bài: 10/02/2017 Biên tập xong: 15/4/2017 Duyệt đăng: 20/4/2017

Ngày đăng: 14/02/2020, 19:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w