1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Ứng dụng mô hình kinh tế lượng trong nghiên cứu về quyết định chi tiêu của du khách nội địa đến tỉnh Bình Dương

15 183 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 761,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đi sâu vào việc ứng dụng lập mô hình kinh tế lượng về quyết định chi tiêu của khách du lịch nội địa đến địa bàn tỉnh Bình Dương. Mô hình xác lập dưới dạng tuyến tính - log, trong đó biến phụ thuộc là mức chi tiêu của du khách gắn với bộ gồm 20 biến độc lập.

Trang 1

Ứng dụng mô hình kinh tế lượng trong nghiên cứu về quyết định chi tiêu của du khách nội địa đến tỉnh Bình Dương

Application of econometric model to research on spending decisions of domestic

tourists travelling to Binh Duong Province

TS Đinh Kiệm, Trường Đại học Lao động xã hội (cơ sở II) Dinh Kiem, Ph.D., University of Labour Social Affairs 2

Đỗ Ngọc Hân, Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM

Do Ngoc Han, Industrial University of Ho Chi minh City

Tóm tắt

Nghiên cứu đi sâu vào việc ứng dụng lập mô hình kinh tế lượng về quyết định chi tiêu của khách du lịch nội địa đến địa bàn tỉnh Bình Dương Mô hình xác lập dưới dạng tuyến tính - log, trong đó biến phụ thuộc là mức chi tiêu của du khách gắn với bộ gồm 20 biến độc lập Kết quả kiểm định mô hình cho thấy các biến thuộc đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm chuyến đi, cảm nhận của du khách về sản phẩm dịch vụ du lịch tại Bình Dương có ảnh hưởng đáng kể đến mức chi tiêu của du khách Trong đó, quyết định chi tiêu của du khách chịu tác động bởi mức thu nhập bình quân, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, thời gian lưu trú, người đi cùng chuyến đi và tổ chức tour kết hợp nhiều điểm đến Bên cạnh đó, các nhân tố mới trong khung phân tích gồm cảm nhận hài lòng của du khách về tính đa dạng của sản phẩm du lịch, và chất lượng dịch vụ du lịch, xuất xứ khu vực của du khách ở TP.HCM có ảnh hưởng quan trọng làm gia tăng chi tiêu bình quân Kết quả nghiên cứu cũng tạo cơ sở để đưa ra những hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp du lịch lữ hành và cấp quản lí chức năng trong định hướng quảng bá và nâng cao mức chi tiêu của du khách

Từ khóa: du khách nội địa, quyết định chi tiêu, đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm chuyển đi, sản phẩm

du lịch tỉnh Bình Dương

Abstract

This research intensively focuses on the application of economic model to spending decisions of domestic tourists travelling to Binh Duong Province It is a log-linear model in which dependent variable represents tourists’ spending amounts in line with a set of 20 independent variables Tests of the model show that variables representing demographic characteristics, tour features and tourists’ feeling on tourist service products in Binh Duong Province have remarkable impacts on their spending amounts Specifically, tourists’ spending decisions are definitely affected by factors including average income, age, marital status, occupation, duration of stay, travel companion and tour destinations In the analytic framework, moreover, such new factors as tourist satisfaction in the diversity and quality of tourist products/services, and whereabouts of tourists in Ho Chi Minh City take significant impacts on increases of the average spending amount The results of this research also recommend managerial implications on strategy orientation to tourist companies and the authorities in charge

Keywords: domestic tourists, spending decisions, demographic characteristics, tour features, tourism

products in Binh Duong Province

Trang 2

1 Giới thiệu

Cung cầu du lịch là hai hướng tương

tác chủ yếu có ảnh hưởng trực tiếp đến

hoạt động phát triển du lịch Trong đó để

phát triển du lịch trên một vùng lãnh thổ

thì cầu du lịch được xem là nhân tố chủ

đạo ảnh hưởng đến hoạt động của ngành

du lịch và các ngành nghề cung ứng dịch

vụ liên quan khác (Sinclair & Stabler,

1997) Cầu du lịch thường được đo lường

bằng số lượng khách, số ngày lưu trú hay

mức chi tiêu của một du khách trong

chuyến đi (Zorba & cộng sự, 2003) Để

đánh giá mức độ kinh tế do hoạt động du

lịch mang lại, chỉ tiêu về mức chi tiêu của

du khách được xem là nội dung cốt lõi, vì

nó phản ảnh trực tiếp đến quy mô cũng

như hiệu quả hiệu quả kinh tế của một thị

trường điểm đến du lịch nhất định Các thị

trường du lịch cũng mong muốn thu hút

được nhiều đối tượng du khách có mức chi

tiêu cao cho các sản phẩm dịch vụ du lịch

tại địa phương

Việc nghiên cứu về mức chi tiêu của

du khách và các yếu tố ảnh hưởng đến

quyết định chi tiêu của họ có ý nghĩa quan

trọng cả về mặt định hướng xúc tiến quảng

bá, quản lí nguồn lực và dự báo của doanh

nghiệp du lịch lữ hành cũng như các cấp

quản lý về du lịch ở địa phương Nội dung

nghiên cứu tập trung chủ yếu ở hai cấp độ

vi mô và vĩ mô Ở cấp độ vĩ mô, nghiên

cứu phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến

tổng chi tiêu của du khách từ một thị

trường du lịch điểm đến nhất định, cấp độ

vi mô đi sâu đánh giá các nhân tổ ảnh

hưởng đến quyết định chi tiêu của từng du

khách trong chuyến đi (thuộc đặc điểm

nhân khẩu học, đặc điểm chuyến đi, cảm

nhận của du khách về sản phẩm và chất

lượng dịch vụ du lịch cung ứng tại Bình

Dương…) Mặc dù hai nội dung thuộc các

cấp độ nghiên cứu này có mục tiêu khác nhau nhưng hướng thứ hai có ưu điểm là tiếp cận và đi sâu vào nội tại về sự đa dạng trong hành vi tiêu dùng của khách du lịch nên nhất quán và phù hợp với lí thuyết hành vi tiêu dùng (Alegre & Pou, 2004), sâu xa hơn nó thuộc về phạm trù cảm nhận chất lượng sản phẩm dịch vụ (Parasuraman, 2002) Cũng cùng hướng nghiên cứu này nhưng đa số các nghiên cứu trước đây được thực hiện dựa trên dữ liệu vĩ mô trong khi có khá ít nghiên cứu ở cấp độ cá nhân du khách (Fredman, 2008) Nghiên cứu này sử dụng số liệu sơ cấp qua đợt khảo sát khách du lịch trong nước đến tham quan tỉnh Bình Dương năm 2017, phân tích tập dữ liệu này nhằm kiểm định các nhân tố tác động đến quyết định chi tiêu của du khách nội địa đến địa bàn tỉnh Bình Dương Cũng cần nói rõ về lợi thế địa

lý tự nhiên kinh tế - xã hội của Bình Dương, như nằm ở trung tâm của vùng Đông Nam bộ, cửa ngõ về phía Bắc của TP.HCM đây là một trung tâm kinh tế hàng đầu của cả nước, Bình Dương có hạ tầng giao thông - kỹ thuật khá thuận lợi, là địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế vào nhóm nhanh nhất của các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Bên cạnh đó về tự nhiên, Bình Dương có 3 con sông lớn chảy qua là sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông

Bé với nhiều cảnh quan sông nước hữu tình Môi trường, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, khí hậu ôn hòa, có nhiều hồ suối gắn với nhiều khu sinh cảnh nông nghiệp cùng với danh lam thắng cảnh nổi tiếng Ngoài ra ở đây có quá trình lịch sử gần 300 năm hình thành nên gắn liền với nhiều di tích lịch sử - văn hóa, các sinh hoạt làng nghề truyền thống nổi tiếng trong và ngoài nước Với lợi thế về điều kiện tự nhiên - văn hóa, Bình dương đang tập trung khai

Trang 3

thác với các loại hình du lịch lợi thế như:

du lịch miệt vườn, du lịch sinh thái, tham

quan làng nghề, vui chơi giải trí cuối tuần,

du lịch thể thao cao cấp, di tích lịch sử -

văn hóa đã tạo lợi thế cho Bình Dương

đang dần trở thành một trong những điểm

đến hấp dẫn với du khách trong và ngoài

nước Năm 2016, tỉnh đã đón khoảng

4.390.000 lượt khách (gồm 4,185 triệu lượt

khách nội địa và hơn 205 ngàn lượt khách

quốc tế), tăng gần 10% so với năm 2015

Thị trường khách nội địa chiếm tỉ trọng

trên 95% nhưng mức chi tiêu bình quân

vẫn còn khá thấp Nghiên cứu này đóng

góp về mặt lí thuyết định lượng trong ứng

dụng mô hình Kinh tế lượng để lập mô

hình quyết định hành vi chi tiêu của du

khách Quan trọng hơn, kết quả nghiên cứu

này sẽ làm cơ sở để đề xuất một số hàm ý

quản trị nhằm nâng cao mức chi tiêu của

du khách nội địa và gia tăng tỉ trọng đóng

góp kinh tế từ phân khúc kinh tế du lịch

trong tương lai

2 Nghiên cứu hành vi chi tiêu của

khách du lịch đối với điểm đến

2.1 Cơ sở lí thuyết

Theo các chuyên gia kinh tế, khi

nghiên cứu về hành vi chi tiêu của khách

du lịch đều nhìn nhận yếu tố chi tiêu du

khách đóng vai trò quan trọng trong việc

đo lường tác động kinh tế của ngành du

lịch đối với một điểm đến vì du lịch là một

hoạt động kinh tế xuất phát từ sự tiêu dùng

sản phẩm của du khách Thông thường để

tìm hiểu về hành vi chi tiêu của du khách

khi đi du lịch nước ngoài (outbound), hầu

hết các nghiên cứu trước đây sử dụng dữ

liệu chuỗi thời gian vĩ mô (Lee & cộng sự,

1996), các phân tích chỉ ra những yếu tố

tác động được thiết lập bởi mô hình hồi

quy trong đó các biến độc lập như thu nhập

bình quân đầu người, mức giá cả tương đối

và tỉ giá hối đoái giữa hai quốc gia, thu nhập bình quân đầu người,… có ảnh hưởng cùng chiều và quan trọng nhất đến biến phụ thuộc là quyết định mức chi tiêu; trong khi mức giá tương đổi và tỉ giá hối đoái thì

có những tác động không đồng nhất đến mức chi tiêu

Với mô hình nghiên cứu nêu trên, trên góc độ nghiên cứu vĩ mô, người ta đã loại

bỏ tác động của đặc điểm cá nhân đến quyết định chi tiêu Điều này nó chỉ đúng với một số thị trường điểm đến đặc thù riêng biệt Trong khi đó nghiên cứu rộng hơn, trên thực tế và về lí thuyết hành vi tiêu dùng của khách du lịch thì quyết định chi tiêu có thể chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân

tố như đặc điểm nhân khẩu học của khách

du lịch (thu nhập, độ tuổi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp, v.v.) hay đặc điếm chuyến đi (hình thức tổ chức, số lượng người trong đoàn, số lần tham quan, v.v ) Ngoài ra theo Downward & Lumsdon (2003) khi nghiên cứu tại Anh ở hai điểm đến cụ thể, lại cho thấy đối với các nhân tố này, kết quả chỉ ra rằng mức chi tiêu của

du khách có tương quan dương và có ý nghĩa với thời gian lưu trú và số lượng khách tham gia trong đoàn; ngược lại thu nhập bình quân chỉ có ý nghĩa thống kê khi

du khách lưu trú dài ngày Một nghiên cứu tương tự khác của Jang & cộng sự (2004), cho thấy rằng trong hầu hết các nghiên cứu thì thu nhập của du khách có tác động cùng chiều đến mức chi tiêu của khách

Cũng theo Jang & cộng sự (2004) và Mak & cộng sự (1977) thực hiện nghiên cứu rộng hơn cho thấy nhóm du khách lớn tuổi chi tiêu cao hơn nhóm du khách trẻ Một nghiên cứu khác của Wang & cộng sự (2006) lại cho thấy kết quả khác: xảy ra quan hệ ngược chiều giữa tổng chi tiêu của

du khách và độ tuổi Hầu hết các nghiên

Trang 4

cứu về mức chi tiêu của du khách đề có kết

luận chung là yếu tố giới tính dường như

không có nhiều ảnh hưởng đến sự khác biệt

về mức chi tiêu của khách du lịch (Agarwal

& Yochum, 2000; Jang & cộng sự, 2004)

Theo Mak & cộng sự (1977) thì du khách

độc thân có mức chi tiêu cao hơn du khách

đã lập gia đình nhưng Wang & cộng sự

(2006) thì không tìm thấy mối liên hệ giữa

tình trạng hôn nhân và mức chi tiêu của

khách du lịch

Một nghiên cứu tại Việt Nam, tại điểm

đến tỉnh Khánh Hòa – Nha Trang, tác giả

Nguyễn Thị Hồng Đào, (2013) lại cho thấy

ngược với kết quả của Mak và cộng sự, ở

đây các du khách đã kết hôn có mức chi

tiêu bình quân thấp hơn với khách độc thân

(thấp hơn 15,7%) Jang & cộng sự (2004)

cho rằng việc du khách du lịch một mình

hay đi cùng người khác có ảnh hưởng đến

mức chi tiêu Agarwal & Yochum (1999)

cho thấy số lượng du khách trong đoàn

càng đông thì làm tăng tổng chi tiêu song

nếu là trẻ em thì làm giảm tổng chi tiêu

Tuy vậy, theo Wang & cộng sự (2006) thì

số lượng trẻ em trong đoàn không quan

trọng trong quyết định chi tiêu Kết quả

trên có cùng kết luận với nghiên cứu của

Nguyễn thị Hồng Đào, đối với du khách

đến Nha Trang, du khách đi một mình chi

tiêu ít hơn khách đi với cùng nhiều người

Thời gian lưu trú tại điểm đến có thể ảnh

hưởng đáng kể đến mức chi tiêu, số ngày

lưu trú có quan hệ cùng chiều với tổng chi

tiêu (Agarwal & Yochum, 1999) và quan

hệ ngược chiều với chi tiêu bình quân ngày

(Taylor & cộng sự, 1993) Wang & cộng

sự (2006) và Mak & cộng sự (1977) cho

rằng không có sự khác biệt về mức chi tiêu

giữa du khách tham quan lần đầu và du

khách lặp lại hành trình Ngược lại, Jang &

cộng sự (2004) nhận xét du khách đến du

lịch lần đầu chi tiêu cho mua sắm cao hơn Laesser & Crouch (2006) chỉ ra du khách

đi theo tour có chi tiêu thấp hơn 10% so với mức chi trung bình của khách du lịch đến Úc

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đều kiểm định ảnh hưởng của hai nhóm nhân tố nhân khẩu học và đặc điểm chuyến đi Kết quả ước lượng cho thấy sự không đồng nhất về ảnh hưởng của các nhân tố này mà chúng tùy thuộc vào từng đối tượng khách

và điểm đến cụ thể Nghiên cứu điển hình của Peter Fredman (2008) được đánh giá cao về việc đề xuất hai dạng mô hình hồi quy tuyến tính-log nhưng do nghiên cứu du lịch miền núi (Determinants of visistor expenditures in mountain tourism) nhưng không thấy tác giả đưa yếu tố về cảm nhận của du khách hay yếu tố về phía cung không được đưa vào mô hình, về lí thuyết lẫn thực tiễn thì sự cảm nhận hay mức độ hài lòng của du khách đối với chất lượng dịch vụ du lịch và đặc điểm các sản phẩm

du lịch tại điểm đến có thể đóng vai trò quan trọng trong hành vi chi tiêu của họ Theo Hill & Alexander (2006) thì khách hàng sẽ sẵn lòng chi trả cao hơn cho sản phẩm hay dịch vụ thoả mãn nhu cầu của

họ Thực tiễn nghiên cứu hành vi về chi tiêu của du khách nội địa tại Việt Nam, qua nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Đào tại điểm đến Khánh Hòa – Nha Trang cho thấy yếu tố cảm nhận về sự phong phú đa dạng sản phẩm cung ứng, cảm nhận chất lượng dịch vụ của du khách là những yếu

tố hết sức quan trọng cần thiết đưa vào mô hình (các biến đều đạt mức ý nghĩa thống kê) Tuy nhiên đối với địa bàn khách du lịch phía Nam, nhóm tác giả trong nghiên cứu này còn phát hiện được yếu tố xuất xứ của khách đến từ TP.HCM có mức chi tiêu cao hơn so với các tỉnh phía Nam khác Do

Trang 5

vậy, nghiên cứu này sẽ bổ sung vào mô

hình yếu tố cảm nhận của du khách về sản

phẩm dịch vụ du lịch bên cạnh các đặc

điểm cá nhân, đặc điểm chuyến đi, xuất xứ

nguồn khách trong quyết định chi tiêu của

du khách nội địa

2.2 Mô hình nghiên cứu

Mô hình được thiết lập chủ yếu dự trên

dạng mô hình tuyến tính – log trong đó

biến phụ thuộc về mức chi tiêu được log

hóa, các biến độc lập ngoài biến định lượng

là thu nhập bình quân của khách (log hóa)

có lại các biến được đưa vào dưới dạng

biến giả (Dummy Variables)

Tham khảo từ các nghiên cứu nước ngoài (Downward & Lumsdon, 2003; Jang

& cộng sự, 2004; Agarwal & Yochum, 2000; Wang & cộng sự, 2006; Fredman, 2008), nhóm tác giả cũng sử dụng biến nhân khẩu học và biến đặc điểm chuyến đi

Và từ nghiên cứu trong nước của Nguyễn Thị Hồng Đào (2013) mô hình được mở rộng bằng cách thêm vào các biến cảm nhận của du khách về đặc điểm sản phẩm

du lịch và chất lượng dịch vụ du lịch, được

bổ sung thêm biến xuất xứ nguồn khách để phân tích các yếu tố tác động đến quyết định chi tiêu của du khách

Hình 1: Sơ đồ nghiên cứu tổng quát

Mô hình kinh tế lượng từ khung phân

tích trên được biếu diễn dưới dạng hàm hồi

quy như sau:

Ln(Chitieu i ) = β 0 + β 1 Ln(Thunhap i )+

β 2 Tuoi1 i + β 3 Tuoi2 i + β 4 Gioi i +

β 5 Honnhan i + β 6 Hocvan1 i + β 7 Hocvan2 i +

β 8 Congviec1 i + β 9 Congviec2 i + β 10 Luutru1 i

+ β 11 Luutru2 i + β 12 Landen i + β 13 Dicungi, +

β 14 Kethop 1 + β 15 Tour i + β16Sanpham1 i +

β17Sanpham2i + β 18 Dichvu1 i + β 19 Dichvu2 i

+ β 20 Xuatxu i + εi (1)

Trong đó, biến mục tiêu Ln(Chitieu i ) là

logarit tự nhiên của mức chi tiêu bình quân

ngày của du khách tại Bình Dương, εi là

sai số ngẫu nhiên εi ~ N(0,δ 2 )

Các biến độc lập được định nghĩa như sau:

- Biến nhân khẩu học: Ln(Thunhap i )

ĐẶC * Thu nhập * Độ tuổi

ĐIỂM * Nghề nghiệp * Giới tính

NHÂN * Học vấn * Hôn nhân

KHẨU * Xuất xứ

HỌC

* Cảm nhận của du khách vềsự

đa dạng của sản phẩm du lịch

* Cảm nhận của du khách về chất lượng dịch vụ du lịch

ĐẶC * Số ngày lưu trú

ĐIỂM * Số lần đến du lịch

CHUYỂN * Kết hợp các điểm đến

ĐI * Người đi cùng

* Hình thức tổ chức

Quyết định chi tiêu của du khách nội địa

CẢM

NHẬN

CỦA

DU

KHÁCH

Trang 6

là logarit tự nhiên của thu nhập bình

quân/tháng của du khách; Tuoil i / là độ tuổi

(=1 nếu ≤ 35 tuổi, 0 nếu khác); Tuoi2 i (=1

nếu từ 36 - 55 tuổi, 0 nếu khác); Gioi i

giới tính (=1 nếu là nam, 0 nếu là nữ);

Honnhan i là tình trạng hôn nhân (=1 nếu

kết hôn, 0 nếu khác), Hocvanl i là trình độ

học vấn (=1 nếu tốt nghiệp đại học, 0 nếu

khác); Hocvan2 i (=1 nếu tốt nghiệp sau đại

học, 0 nếu khác); Congviec1 i là nghề

nghiệp (=1 nếu là công chức, viên chức

nhà nước, 0 nếu khác); Congviec2 i (=1 nếu

là kinh doanh, 0 nếu khác)

- Biến đặc điểm chuyến đi: Luutrul i

là thời gian lưu trú (=1 nếu chỉ 1 – 2 ngày,

0 nếu khác); Luutru2 i , (=1 nếu từ 3 - 5

ngày, 0 nếu khác); Landen i là số lần đến du

lịch Bình Dương (=1 nếu là lần đầu, 0 nếu

từ 2 lần trở lên); Dicung i là người đi cùng

du khách (=1 nếu đi một mình, 0 nếu đi

cùng ngưòi thân/bạn bè/đồng nghiệp);

Kethop i là việc kết hợp du lịch các điểm

khác ngoài Bình Dương (=1 nếu có, 0 nếu

không); Tour i là hình thức tổ chức chuyến

đi (=1 nếu tổ chức theo tour, 0 nếu khác)

- Biến cảm nhận của du khách:

Sanphaml i là cảm nhận của du khách về

mức độ phong phú đa dạng của các sản

phẩm du lịch (=1 nếu bình thường, 0 nếu

khác); Sanpham2 i , (=1 nếu hài lòng, 0 nếu

khác); Dichvu l i là cảm nhận của du khách

về chất lượng dịch vụ du lịch (=1 nếu bình

thường, 0 nếu khác); Dichvu2i (=1 nếu hài

lòng, 0 nếu khác); Xuatxui làxuất xứ của

du khách =1 nếu từ TP Hồ Chí Minh đến,

0 nếu từ các tỉnh khác phía Nam)

3 Phuơng pháp nghiên cứu và dữ liệu

3.1 Phương pháp và bảng hỏi khảo sát

Phương pháp nghiên cứu của đề tài

gồm định tính và định lượng, Nghiên cứu

được thực hiện theo hai giai đoạn Nghiên

cứu ban đầu chủ yếu tham khảo các mô

hình đã có trong và ngoài nước, tiến hành tổng hợp và phân tích lí thuyết nền và nghiên cứu lý thuyết quy định về hành vi chi tiêu của du khách để từ đó xác định các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến mức chi tiêu của khách du lịch nội địa Từ cơ sở lý thuyết nền, các mô hình tham khảo, nhóm tác giả lập bảng hỏi sơ bộ, trao đổi tham khảo chuyên gia Sau khi bảng câu hỏi khảo sát du khách được thiết kế dựa trên yêu cầu cung cấp thông tin dữ liệu cho thực hiện công đoạn chạy hồi quy và và thực hiện khảo sát ý kiến du khách về một

số chỉ tiêu phân tích định tính Tiến hành phỏng vấn thử 20 du khách nội địa tham quan tại một số điểm du lịch ở Bình Dương (chọn ở Khu Đại Nam và Dìn Ký - Lái Thiêu) Tiếp đến, bảng câu hỏi được xem xét và điều chỉnh để đảm bảo tính thuận tiện và logic, bổ sung những thông tin phản hồi trong quá trình khảo sát

Bảng câu hỏi chính thức bao gồm các thông tin về về ba nhóm biến như sơ đồ nêu trên Tổng hợp thông tin từ các bảng hỏi, các câu trả lời được giới hạn và phân nhóm mã hóa để tạo biến giả,biến về về mức chi tiêu và thu nhập bình quân của du khách là biến định lượng được log hóa

Mô hình hồi quy dùng cho nghiên cứu

có quy định khá nghiêm ngặt, Theo N Gujarati (2003), đối với những chuỗi dữ liệu có thang đo biến thiên lớn (như số liệu doanh thu, chi phí quảng cáo, thu nhập, ) nên sử dụng mô hình log-log, semi-log hoặc xử lý các biến bằng sai phân Theo Fredman (2008), đối với mô hình về chi tiêu của khách du lịch nên chọn dạng hàm tuyến tính log vì nó liên quan đến bản chất của mối quan hệ giữa các biến cũng như tính chính xác của các ước lượng Theo đó,

so với các dạng hàm khác như hàm tuyến tính và hàm bán logarit thì dạng hàm hồi

Trang 7

quy tuyến tính log có thể kiểm soát được

vấn đề dữ liệu không phân phối chuẩn và

phương sai có hiện tượng thay đổi Nghiên

Cứu này sử dụng mô hình tuyến tính log

Đặc điểm của mô hình tuyến tính log là hệ

số góc β biểu thị hệ số co giãn của biến phụ

thuộc đối với biến độc lập và hệ số co giãn

này không thay đổi Ngoài ra, do mô hình

gồm nhiều biến độc lập nên vấn đề đa cộng

tuyến cũng được kiểm định Nghiên cứu sử

dụng phân mềm Eview 9.0 cho phân tích

định lượng

3.2 Mẫu, kích thước và đặc điểm mẫu

Phương pháp lấy mẫu thuân tiện, đối

tượng là khách du lịch nội địa đã đến du

lịch tỉnh Bình Dương (chủ yếu từ các tỉnh

thành khác phía Nam) Địa bàn khảo sát được chọn các điểm có lượng khách tập trung lớn nhưng đảm bảo phân bố rộng trên địa bàn Bình Dương (khu Lái Thiêu, Chợ

và thành phố Thủ Dầu Một, Khu DL Đại Nam, Khu DL Hồ Dầu Tiếng,…) Sau khi xem xét quy định của mẫu đối với mô hình hồi quy bội: Kích thước mẫu tối thiểu n= 8p+50, trong đó p là số biến độc lập tham gia mô hình, (Fidell& Tabachnic, 2003) Vậy số lượng mẫu phù hợp yêu cầu đưa vào nghiên cứu là 210 (với p =20) Để nâng cao độ tin cậy của mô hình kích thước mẫu được chọn là 293 mẫu

Mô tả mẫu nghiên cứu được trình bày trong bảng dưới đây:

Bảng 1 Mô tả mẫu nghiên cứu

Biến quan sát Tần số

(người)

Tần suất (%) Biến quan sát

Tần số (người)

Tần suất (%)

Từ 1 - 2 triệu 101 34.5 Từ 3 - 5 ngày 113 38.7

Tù 2 - 3 triệu 98 33.4 Từ 5 ngày trở lên 41 13.7 Trên 3 triệu 54 18.4 Số lần đến Bình Dương

Từ 5-10 triệu VND 150 51.2 Từ 3 lần trở lên 34 11.6 Trên 10 triệu VND 93 31.7 Đi với ai (Người đi cùng)

Từ 36-55 tuổi 99 33.8 Bạn bè, đồng nghiệp 108 36.9

Giới tính Kết hợp thăm viếng khác ngoài Bình Dương

Trang 8

Biến quan sát Tần số

(người)

Tần suất (%) Biến quan sát

Tần số (người)

Tần suất (%)

Tình trạng hôn nhân Hình thức tổ chức chuyến đi

Đã lập gia đình 138 47.1 Đặt theo tour 77 26.3

Trình độ văn hóa Sự đa dạng của sản phẩm du lịch

THCS

Phổ thông

6

19

2.0

Trung cấp/Cao đẳng 21 7.2 Bình thường 122 41.6

Sau đại học 37 12.6 Chất lượng dịch vụ du lịch

Học sinh sinh viên 12 4.1 Bình thường 111 38.2 Công chức, viên chức 94 32.1 Không hài lòng 38 12.6 Kinh doanh 148 50.5 Xuất xứ của du khách

Tây Nam bộ 43 14.7 Đông nam bộ 51 17.4 Khác 43 14.7

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra của tác giả (2017)

Thống kê cho thấy đa phần du khách

có mức chi tiêu bình quân từ 1-3 triệu đồng

(chiếm 67,9%) Thu nhập bình quân du

khách khá cao với 51,2% có thu nhập từ

5-10 triệu đồng/tháng Phần lớn du khách có

độ tuổi dưới 55 (gần 68%); nữ chiếm tỷ lệ

cao hơn với gần 51%; gần 53% du khách

còn độc thân; phần lớn du khách có trình

độ đại học và sau đại học (84,3%) và làm

việc trong lĩnh vực kinh doanh (50,5%) Về

đặc điểm chuyến đi, số ngày du khách lưu

lại Bình Dương phần lớn là 1 – 2 ngày

chiếm 47,60%; có trên 88,4% du khách là

lần đầu hoặc lần thứ 2 đến với Bình

Dương; khách chủ yếu đi du lịch cùng người thân và bạn bè, đồng nghiệp (gần 66%); đa phần khách nội địa chỉ đi Bình Dương du lịch (62,30%); và phần lớn số du khách tự tổ chức chuyến đi (73,70%) Về

sự cảm nhận của du khách, trên 50% du khách được hỏi hài lòng về sự đa dạng phong phú của các sản phẩm du lịch (51,20%) và hài lòng về chất lượng dịch vụ

du lịch thì thấp hơn (49,20%) tại Bình Dương Về xuất xứ nguồn khách phần lớn

du khách nội địa đến từ khu vực TP.HCM (53,20%) có lẽ do cự ly gần và đường sá thuận lợi

Trang 9

4 Kiểm định và phân tích mô hình

nghiên cứu

4.1 Kiểm định mô hình

Các nghiên cứu trước đây của

Fredman (2008) cho thấy hệ số xác định

này thường không quá cao, thường chỉ đạt

mức trên dưới 50% Tiến hành kiểm định

tổng quát mô hình hồi quy về sự phù hợp

của mô hình (kiểm định ANOVA) cho thấy

hệ số R2

có giá trị khá cao, khi đưa thêm

biến xuất xứ nguồn khách HCMCi đạt 70,66% (nếu không đưa biến này vào chỉ khoảng hơn 60%) Hệ số R2

điều chỉnh cho thấy các biến độc lập tham gia có khả năng giải thích được 68,49% sự biến thiên về mức chi tiêu của du khách Giá trị P-value tương ứng với F rất nhỏ (P =0.000<0.05)

nên mô hình hồi quy xác lập là phù hợp

Kiểm định sai số (phần dư) của mô hình theo phân phối chuẩn:

Nguồn: Tác giả xử lý trên phần mềm Eviews 9.0

Với giá trị P-value (Jarque-Bera) = 0.0146 > 0.01 cho thấy ở mức ý nghĩa 1% sai số thỏa mãn điền kiện tuân theo phân phối chuẩn

Kiểm định White về tính chất phương sai của sai số thay đổi (Heteroskedasticity):

Nguồn: Tác giả xử lý trên phần mềm Eviews 9.0

P-value của đại lương kiểm định = 0.0296 cho thấy ở mức ý nghĩa 1% mô hình không xãy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi

Kiểm định tự tương quan của sai số mô hình (kiểm định Breusch-Godfrey)

Nguồn: Tác giả xử lý trên phần mềm Eviews 9.0

Trang 10

P-value của đại lượng kiểm định =

0.0132 cho thấy ở mức ý nghĩa 1% mô

hình không xảy ra hiện tượng tự tương

quan của sai số trong mô hình

Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến

thông qua hệ số phóng đại phương sai

VIF Theo Neter & cộng sự (1990) thì

mức độ đa cộng tuyến trở nên nghiêm trọng khi hệ số VIF lớn hơn 10 Vì vậy, kết quả Bảng 2 cho thấy các hệ số Phương sai phóng đại VIF đều nhỏ hơn

10 nên có thể kết luận hiện tượng đa cộng tuyến không có ảnh hưởng đáng kể đến

mô hình

Bảng 2 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính log

chuẩn

Thống kê

t

Giá trị

P

Hệ số VIF

)

Hằng số ( _cons)

0,181370***

-0,571407

0,050559 0,146970

3,587311 -3,887902

0,0004 0,0001

1,652

Ghi chú: ***, ** và * lần lượt kí hiệu các mức ý nghĩa thống kê 1%, 5% và 10%

Nguồn: Ước lượng từ dữ liệu điều tra của tác giả với Eviews 9.0 (2017).

Ngày đăng: 14/02/2020, 19:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w