1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sự vận động của tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX

5 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 423,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở Việt Nam gắn liền với quá trình hiện đại hóa văn học những thập niên đầu thế kỷ XX. So với một số thể loại khác, thể tiểu thuyết này xuất hiện hơi muộn và chiếm vị trí khá khiêm tốn trong sự lớn mạnh của tiểu thuyết.

Trang 1

Sự vận động của tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong

văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX

Locomotion of autobiographical novels in Vietnamese literature in the first half of

the 20th century

ThS.NCS Nguyễn Văn Tổng, Trường THPT Nguyễn Trường Tộ, Phú Yên Nguyen Van Tong, M.A Ph.D student, Nguyen Truong To High School, Phu Yen Province

Tóm tắt

Sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở Việt Nam gắn liền với quá trình hiện đại hóa văn học những thập niên đầu thế kỷ XX So với một số thể loại khác, thể tiểu thuyết này xuất hiện hơi muộn và chiếm vị trí khá khiêm tốn trong sự lớn mạnh của tiểu thuyết Tuy nhiên sự ra đời của

nó đã cắm một cột mốc quan trọng, đánh dấu bước trưởng thành của thể loại tiểu thuyết trên con đường hội nhập vào nền văn học hiện đại

Từ khóa: tiểu thuyết, sự vận động của tiểu thuyết, tính chất tự truyện

Abstract

The formation and development of the autobiographical novels in Vietnam is associated with the process of literary modernization in decades of the first half of the twentieth century Compared to a number of other literary genres, this novel genre has appeared in Vietnam slightly later and has occupied a relatively humble position in the novel’s growth However, the birth of autobiographical novels has planted a milestone, marking the maturity of the novel genre on the road of integration into the modern literature

Keywords: novel, locomotion of novels, autobiographical nature

Quá trình hiện đại hóa văn học Việt

Nam những thập niên đầu thế kỷ XX đã tạo

điều kiện cho nhiều thể loại văn học phát

triển và đạt được những thành tựu đáng kể

Trong thành tựu chung ấy, mặc dù thể tiểu

thuyết mang tính chất tự truyện xuất hiện

hơi muộn và chỉ chiếm một vị trí khá

khiêm tốn so với sự lớn mạnh của thể tiểu

thuyết nhưng sự hiện diện thể tiểu thuyết

này đã đánh dấu bước tiến mới trong tư

duy nghệ thuật tiểu thuyết, góp phần đưa

thể loại tiểu thuyết tiến nhanh trên con

đường hiện đại

1 Trước khi có khái niệm về hệ thống thể loại nghệ thuật tự sự có nguồn gốc từ phương Tây như: tiểu thuyết, tự truyện, tiểu thuyết tự truyện, truyện ngắn…ra đời, văn học Việt Nam cũng đã có cả một hệ thống thể loại tự sự được định hình trong suốt chiều dài của nền văn học trung đại Trong khoảng thời gian ấy, các loại hình thơ gần như chiếm thế đứng thượng phong với danh xưng thể loại trung tâm, còn các thể loại văn tự sự ít có điều kiện để phát triển Chưa bao giờ thể tự sự được xếp đứng ở vị trí ngang hàng với thơ, thậm chí

Trang 2

đôi khi nó tồn tại trong tình trạng “nguyên

hợp đặc thù”, mang tính “hỗn dung” lẫn

xen giữa tự sự và thơ, giữa tự sự và kí hay

lịch sử… Có lẽ vì mang thân phận kẻ đứng

vùng ngoại biên nên thể tự sự, đặc biệt là

tự sự nghệ thuật trong văn học trung đại đã

nhanh chóng tách mình ra khỏi sự chi phối

của dòng văn học chính thống, khuôn trong

hệ thống thi pháp trung đại Cho nên, trong

bối cảnh chung, khi mà thể văn tự sự vẫn

còn mang đậm tính ”ghi việc”, “chép sử”,

hình bóng tác giả chỉ tồn tại như một kiểu

vô nhân xưng, với vai trò thấu suốt tất cả

Nhưng vẫn có một số tác phẩm được viết

ra dựa ngay vào chính kinh nghiệm sống

của bản thân tác giả, hoặc lấy từ chính bản

thân tác giả làm chủ đề như: Nam ông

mộng lục, Thánh Tông di thảo, Trần Khiêm

đường niên phả lục và Thượng kinh kí sự

Tuy nhiên, cái tôi tác giả trong các tác

phẩm này vẫn chỉ là “một thực thể ẩn”,

mang tiếng nói của người ghi việc, chép

sự Sự tự biểu hiện của tác giả vẫn còn bị

giới hạn bởi những đặc tính khách quan

của thể loại ký lục, ghi chép, chưa thể vượt

thoát nổi để trở thành một cái tôi cá nhân

Đây cũng là điều hoàn toàn dễ hiểu, vì

trong bầu không khí chung của thời đại,

phần lớn con người cá nhân gần như bị mờ

nhòe trước con người chức năng, phận vị

Thế nên, để thực hiện được chức năng “tải

đạo”, tác giả chỉ còn có thể khẳng định

mình qua việc “đồ chiếu” vào các chuẩn

mực luân lý xã hội để phát ngôn Nhưng kể

từ khi xã hội Việt Nam bắt đầu xuất hiện

những yếu tố của một nền kinh tế đô thị

cùng với sự hình thành mẫu hình nhà nho

tài tử (TK XVII – XVIII) thì thực tế ấy đã

bắt đầu có những thay đổi đáng kể Cái tôi

cá nhân đã bắt đầu hiện diện ngày một rõ

nét qua các tác phẩm của Nguyễn Du, Hồ

Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ… Đặc

biệt là khi Sơ kính tân trang của Phạm Thái

ra đời mang theo bóng dáng cái tôi tự thuật

đã đánh dấu bước tiến đáng kể cho thể loại

tự sự trung đại Kể từ đây thể văn tự sự bước sang một trang mới khi có một người như Phạm Thái dám lấy chính câu chuyện đời tư của mình để kết thành tác phẩm Những dấu vết tự truyện trong tác phẩm hiện rõ ngay trong cách đặt tên nhân vật (Phạm Kim - Quỳnh Như) và cả những vần thơ đối đáp giữa tác giả cùng nàng Trương Quỳnh Như cũng được đưa hẳn vào tác phẩm mà không cần bất cứ lớp màn tinh lọc nào của hư cấu Tuy nhiên, nếu xét trên

phương diện tự truyện thì Sơ kính tân trang

vẫn chỉ là một tác phẩm mang tính tự truyện buổi sơ kỳ, nhưng sự hiện diện của

Sơ kính tân trang cũng đủ để minh chứng

cho “con đường phát triển của nhãn quan

cá nhân và tinh thần tự ý thức” trong đời sống văn học thời trung đại [3, tr.28] Bởi

lẽ, giữa thời buổi mà gần như những tác phẩm tự sự vẫn còn ngổn ngang những vay mượn từ tích xưa, từ chuyện lưu truyền trong dân gian (Truyện Từ Thức, Truyền

kỳ mạn lục, truyện Trương Chi - Mỵ Nương, Phạm Công - Cúc Hoa…), hoặc từ những biến cố lịch sử đương thời (Hoàng

Lê nhất thống chí, Thượng kinh ký sự…) hay những chuyện có nguồn gốc từ Trung Hoa (Truyện Kiều, Truyện Phan Trần, Truyện Hoa Tiên, Nhị Độ Mai…) thì Phạm Thái lại lấy chính hiện thực đời mình làm chất liệu cho truyện Và đích hướng đến của tác phẩm không phải là “tải đạo” mà là nhằm phác thảo lại chuyện tình duyên đầy trắc trở giữa tác giả và nàng Trương Quỳnh

Như Với Sơ kính tân trang, lần đầu tiên

lịch sử tự sự nghệ thuật Việt Nam một cái tôi tự thuật thực sự hiện diện đĩnh đạc trong đời sống văn học Và có thể nói, nếu

xét trên phương diện cái tôi tự thuật, Sơ

kính tân trang đã vượt qua cả Lục vân tiên

của Nguyễn Đình Chiểu để tiến gần đến với những tự truyện ra đời trong những năm nửa đầu thế kỉ XX

Trang 3

2 Bước vào những thập niên đầu thế

kỉ XX, cơ cấu xã hội Việt Nam có những

thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc Sự du nhập của

văn hóa cùng với ý thức dân chủ từ phương

Tây ngày một lan rộng trong đời sống thị

thành đã tác động đến đời sống tinh thần

con người Việt Nam, làm nảy sinh khát

vọng đi tìm tư tưởng thẩm mỹ mới để thay

thế cho những chuẩn mực gần như bị

“đông cứng” trong văn học cổ điển Nhờ

thế mà cái tôi cá nhân mới có điều kiện nảy

nở và nhanh chóng trở thành yếu tố trung

tâm, làm thay đổi diện mạo nền văn học

Việt Nam trong chặng đường nửa đầu thế

kỷ XX Hiện thực này cũng đã tạo đà cho

tiểu thuyết có tính chất tự truyện ra đời

Nhìn lại những ngày đầu buổi giao

thời, khi văn học Việt Nam trở mình,

chuẩn bị làm cuộc cách tân để đưa văn học

phát triển theo hướng hiện đại đã có một

Phan Bội Châu niên biểu (1928) của Phan

Bội Châu rất giàu chất tự thuật Và khi mà

tiểu thuyết đang sửa soạn những bước cuối

cùng để định hình thể loại, đó cũng là

quãng thời gian Tản Đà cho ra đời Giấc

mộng lớn (1929) cùng với cái tôi hữu thể,

con người thực của mình in bóng vào trang

văn tự sự Có thể nói, vào thời điểm ra đời

Giấc mộng lớn, việc một nhà văn đem

chuyện riêng tư chính cuộc đời mình phơi

bày ra trang văn như Tản Đà vẫn còn là

điều quá lạ lẫm Vì dễ chừng mấy ai có thể

chấp nhận được lối viết “thành thật” đến

từng chân tơ kẽ tóc này, hơn nữa người

viết ấy là là một nhà Nho! Trong khi đời

sống văn học Việt Nam hàng bao thế kỷ

qua vẫn quen với quan niệm “thi ngôn chí”

- “văn dĩ tải đạo” Bởi vậy, tác phẩm cũng

có một số phận khá thăng trầm: “từ khi nó

ra đời, người ta đã bắt đầu mạt sát nó…”

Và thậm chí người ta phải “bán rao” nó

trên xe lửa Ngay cả Lê Thanh, nhà nghiên

cứu có rất nhiều đóng góp trong việc nhận

diện thể loại văn học đầu thế kỉ XX khi

đánh giá về tác phẩm này vẫn không mấy

có thiện cảm: “Nên trách ông Hiếu đã tự đem ông ra làm vai chính trong tiểu thuyết của ông Khi viết tiểu thuyết, ông lại quên rằng ông viết cho đồng bào xem, ông cứ tự tiện tán tụng ông, khen ông, đặt ông lên trên mọi người” Tuy nhiên, từ góc nhìn thể loại Lê Thanh là người đã nhìn thấy trước giá trị của nó: “Đọc Giấc mộng lớn không có gì là mộng cả Nó không khác gì những tập ký ức, những pho tự thuật của các văn sĩ Âu Tây” và: “Nó có thể gọi là tập ký ức viết bằng quốc văn thứ nhất của

ta ( ) sau này sẽ rất có giá trị cho ai muốn khảo cứu về thân thế văn chương của ông” [6, tr.25]

Tuy Phan Bội Châu và Tản Đà không phải là những người “mở đường tinh anh” cho cái tôi trong văn tự sự nhưng sự ra đời

của Phan Bội Châu Niên Biểu và Giấc

mộng lớn giữa lúc nền văn xuôi quốc ngữ

còn đang trong thời kì giao thoa giữa cũ - mới, hai nhà nho Phan Bội Châu và Tản Đà

- Nguyễn Khắc Hiếu đã bắc hộ “nhịp cầu nối hai thế kỉ”( chữ dùng của Hoài Thanh)

để “cái tôi” cá nhân không còn “ẩn tàng”, khuất lấp nữa mà nó hiển hiện rõ rệt tạo thành “thời đại chữ tôi” trong cả quãng thời gian từ 1930-1945 Đó là cái tôi ngập tràn cảm xúc trong Thơ mới, hay đó là cái tôi tự nghiệm trong một số tác phẩm văn học hiện thực và một phần nào đó là cái tôi

tự thú đầy thành thật trong những tiểu

thuyết có tính chất tự truyện như: Những

ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Dã tràng

của Thiết Can, Bốc đồng của Đỗ Đức Thu,

Mực mài nước mắt của Lan Khai, Sống nhờ của Mạnh Phú Tư, Sống mòn của Nam

Cao Và cùng với những tác phẩm ấy là những cái tôi - tác giả tự do bộc lộ tất cả cảm xúc, những chiêm nghiệm của mình với tư cách là đối tượng của nghệ thuật: một cái tôi Nguyên Hồng thấm đẫm niềm

đau và trĩu nặng nỗi yêu thương (Những

Trang 4

ngày thơ ấu); một cái tôi Đỗ Đức Thu đầy

phóng túng (Bốc đồng); một cái tôi Mạnh

Phú Tư đắng cay, thua thiệt trong kiếp

sống mồ côi, ăn nhờ ở đậu (Sống nhờ); một

cái tôi Lan Khai nếm trải, vật vã trong cuộc

mưu sinh (Mực mài nước mắt); hay đó là

một cái tôi đầy dằn vặt, mòn mõi, bế tắc

của Nam Cao khi đối diện cảnh “đời tàn

trong ngõ hẹp” (Sống mòn)…

Có thể nói, sự bùng nổ về ý thức cá

nhân này được thai nghén trong suốt chiều

dài của văn học trung đại và đến đầu thế kỷ

XX, nhờ sự du nhập của văn hóa phương

Tây đã tiếp sức cho nó để thoát thai trở

thành cái tôi tự thuật đầy tươi trẻ Nếu như

trước đây, những tác giả trong văn học

trung đại thường khẳng định cái tôi của

mình trong mối quan hệ với chứa năng,

phận vị, hay đó là cái tôi thị tài, bất đắc

chí, đầy ngông nghênh, muốn phá bỏ

những định chế của xã hội phong kiến thì

các tác giả của tiểu thuyết có tính chất tự

truyện giai đoạn 1930-1945 khẳng định cái

tôi “với cái nghĩa tuyệt đối của nó” dưới

ánh sáng sự thật từ chính cuộc đời tác giả

Trong văn học trung đại người đọc khó có

thể tìm thấy khát vọng tự khẳng định mình

một cách đầy mạnh mẽ như thế này: “ta

phải tạo ra tương lai, chính thế! Bằng cách

nào? Bằng cách phá hoại cho bằng hết

những ảnh hưởng còn sót lại ở ta Của cái

thế giới cũ và tự biến đổi ta thành con

người mới, khả dĩ ứng dụng cho sự xây

dựng một tân văn hóa” [2, tr.125] Và càng

không thể bắt gặp được những dòng văn tự

thú về lai lịch cuộc đời của chính tác giả

như: “Thầy tôi làm cai ngục, mẹ tôi con

nhà buôn bán…Hai thân tôi lấy nhau

không phải vì quen biết nhau lâu và thương

yêu nhau…” [1, tr.5]; “Tôi sinh vào giờ

Dần Bà tôi lấy ngay cái giờ đó để đặt tên

cho tôi…Vừa mới lọt lòng mẹ, tôi đã là

đứa trẻ mồ côi… Khi cha tôi đã qua đời,

mẹ tôi để tôi ở lại với bà đi lấy chồng lần

thứ hai nữa” [8, tr.7-11] Sự nhận thức có ý thức này nhìn ở góc độ nào đó nó chính là sản phẩm của văn hóa phương Tây nhưng nếu như không có sự tiếp nối dòng chảy của con người cá nhân trong văn học truyền thống có lẽ nó cũng sẽ chẳng bao giờ hình thành nên được một cái tôi tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam chặng đường nửa đầu thế kỷ XX

3 Theo Quy ước tự truyện của Philippe Lejeune, tự truyện là một dạng

văn xuôi tự sự do một người thật ngược dòng thời gian kể lại đời mình, nhấn mạnh tới cuộc sống cá nhân, đặc biệt là lịch sử hình thành nhân cách [4] Thế nên, miền

ký ức vẫn luôn là niềm trăn trở và nó đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với một tự truyện Vì khi người cầm bút có nhu cầu đào bới chiều sâu bản thể, lẽ đương nhiên

họ sẽ ngược dòng thời gian, hồi tưởng lại quá khứ để nhìn nhận lại quá trình hình thành nhân cách Vì vậy cho nên trong tự truyện, người kể chuyện thường đứng ở một thời điểm hiện tại để nhìn lại quá khứ của mình tựa như một lối tìm về để hiểu rõ mình hơn Văn học thế giới cũng đã có rất nhiều tự truyện mà ở đó quãng đời trong quá khứ của mình được nhà văn lưu tâm

khám phá như: Đi tìm thời gian đã mất của

M Proust, Tuổi thơ của N Sarraute, Sống

để kể lại của G Market, Thời thơ ấu, thời

niên thiếu của L Tônxtôi, David

Compperfield của Charles Dickens, hay Thời thơ ấu và Những trường đại học của tôi của M Gorki… Ở Việt Nam cũng thế,

phần lớn những tác phẩm tiểu thuyết mang tính tự truyện ra đời trong chặng đường nửa đầu thế kỉ XX đều tái hiện lại quãng đời hằn in trong miền ký ức của các tác giả Điều này một phần nảy sinh từ đặc trưng của thể tự truyện nhưng một phần cũng nảy sinh từ hiện thực cuộc sống xã hội Việt Nam buổi giao thời Vì khi con người mang nặng niềm hoài nghi, bi quan trước

Trang 5

thực tại thì quá khứ là một trong những nẻo

đường tìm về để thoát ly, chạy trốn hiện

tại Hơn nữa, suốt cả hàng mười thế kỷ thời

trung đại, gần như con người với tư cách là

một cá nhân, một thực thể đơn nhất tồn tại

độc lập lại bị xem nhẹ trong bối cảnh xã

hội luôn để cao “chí” “tâm” “đạo” Và giờ

đây, con người cá nhân, cá thể ấy đã được

thức tỉnh mạnh mẽ nên nó có nhu cầu tự

tìm lại mình để được “sống lại lần nữa” với

chính mình cho thỏa nỗi khát khao khẳng

định nhân vị Thế nên, những tiểu thuyết

mang bóng dáng tự truyện nửa đầu thế kỷ

XX thường có khuynh hướng lội ngược

dòng, tìm về miền ký ức: Một ký ức tuổi

thơ của cậu bé Hồng hằn in dấu vết của

những tháng ngày cơ cực trong Những

ngày thơ ấu, một tuổi thơ đầy những thua

thiệt, sống trong nỗi dày vò cả thể xác lẫn

tinh thần của cậu bé Dần trong Sống nhờ

của Mạnh Phú Tư, hay đó là một miền ký

ức đè nặng nỗi đời áo cơm của người trí

thức nghèo tiểu tư sản trong Mực mài nước

mắt của Lan Khai và Sống mòn của Nam

Cao… Chính nhờ sự lội ngược dòng này

mà khi đến với những trang tiểu thuyết

giàu chất tự thuật người đọc mới có dịp

sống trong miền hiện thực vốn từ lâu đã

phong kín trong thẳm sâu tâm hồn từng

nhà văn Và cũng nhờ thế mà góc khuất về

lai lịch cuộc đời tác giả cũng được hé mở

dưới lớp ngôn từ của tiểu thuyết

Mặc dù hầu hết các tác phẩm này đều

lấy chất liệu từ hiện thực cuộc đời và vốn

sống, sự trải nghiệm của chính tác giả

nhưng nó không phải là con số cộng của

những sự kiện từng xảy ra trong đời tác giả

mà đó là cả quá trình nhà văn “rũ bỏ hết tất

cả lòng tự ái” để một lần được thành thật

với chính mình và với tha nhân Thế nên,

đọc những tiểu thuyết có tính chất tự

truyện không phải chỉ là đọc cuộc đời tác giả mà là đi tìm trong cuộc đời ấy cả những tầng ý nghĩa thấm đẫm nỗi nhân sinh toát lên từ chính những mảnh đời riêng lẻ Hơn hai phần ba thế kỷ trôi qua, kể từ ngày văn học Việt Nam đón nhận sự ra đời của tiểu thuyết có tính chất tự truyện Cho đến hôm nay, trong bầu không khí thời đại mới, khi mà nhịp chuyển của tiểu thuyết vẫn không ngừng vận động, từng thế hệ nhà văn luôn nối tiếp nhau, góp sức sáng tạo để “làm mới” thể loại tiểu thuyết Tuy nhiên, những trang tiểu thuyết có tính chất

tự truyện ra đời trong chặng đường nửa đầu thế kỷ XX vẫn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng đối với nền văn học hiện đại Việt Nam Sự hiện diện của thể loại tiểu thuyết này không chỉ góp phần làm phong phú thêm cho thể tiểu thuyết mà nó còn là bước tạo đà để tiểu thuyết ngày một tiến xa hơn trên con đường hội nhập

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyên Hồng (1940), Những ngày thơ ấu,

Nxb Đời nay, Hà Nội

2 Lan Khai (1998), Mực mài nước mắt,

Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh

3 Phạm Ngọc Lan (2006), Tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại, Luận văn Thạc sĩ, Đại

học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

4 Philippe Lejeune (1975), Le Pacte autobiographique, Seuil, Pais

5 Phong Lê (2000), Nam Cao những tác phẩm tiêu biểu trước 1945, Nxb Giáo dục, TP Hồ

Chí Minh

6 Lê Thanh (2002), Nghiên cứu và phê bình văn học (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn),

Nxb Hội Nhà văn – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội

7 Đỗ Đức Thu (1942), Bốc đồng, Nxb Nguyễn

Du, Hà Nội

8 Mạnh Phú Tư (1983), Sống nhờ, Nxb Văn

học, Hà Nội.

Ngày nhận bài: 18/4/2017 Biên tập xong: 15/8/2017 Duyệt đăng: 20/8/2017

Ngày đăng: 14/02/2020, 19:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w