1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một nghiên cứu về đọc hình vẽ biểu diễn đối tượng hình học trong không gian của học sinh lớp 11

15 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này trình bày vấn đề hình vẽ biểu diễn các đối tượng hình học trong không gian và các kết quả của một thực nghiệm trên việc đọc hình vẽ biểu diễn của B. Parzysz (1989).

Trang 1

Một nghiên cứu về đọc hình vẽ biểu diễn

đối tượng hình học trong không gian của học sinh lớp 11

A research on the reading of drawings of Geometric objects

in space of class 11 students

TS Nguyễn Ái Quốc, Trường Đại học Sài Gòn

Nguyen Ai Quoc, Ph.D., Saigon University

Tóm tắt

Bài báo này trình bày vấn đề hình vẽ biểu diễn các đối tượng hình học trong không gian và các kết quả của một thực nghiệm trên việc đọc hình vẽ biểu diễn của B Parzysz (1989) Từ các kết quả này, chúng tôi rút ra giả thuyết nghiên cứu về các diễn giải có thể mà học sinh có thể thực hiện khi đọc một hình vẽ biểu diễn và hình thành một số phỏng đoán trên các quy tắc diễn giải khác Sau cùng tiến hành một thực nghiệm để hợp thức hóa giả thuyết nghiên cứu và các phỏng đoán này

Từ khóa: hình vẽ biểu diễn, diễn giải, kiểu biểu diễn, quy tắc diễn giải

Abstract

This paper presents the problematics of the drawing of the geometrical objects in space and the results

of an experiment on the reading of the drawing by B Parzysz (1989) Based on these results, we will develop a hypothesis on the possible interpretations that students can use when reading a drawing and

we will speculate on other rules of interpretation Finally, we carry out an experiment to validate this hypothesis and these conjectures

Keywords: drawing, interpretation, type of representation, rules of interpretation

1 Đặt vấn đề

Ngay từ lớp 8 bậc trung học cơ sở, học

sinh bắt đầu tiếp cận hình học không gian

qua việc nghiên cứu một số khối đa diện

như hình lăng trụ đứng và hình chóp đều

Việc nghiên cứu này chỉ thực hiện ở mức

độ mô tả và không nghiên cứu các quan hệ

song song và vuông góc của các đối tượng

cơ bản trong hình học không gian như

điểm, đường thẳng và mặt phẳng

1.1 Hình biểu diễn

Hình học không gian tiếp tục được

nghiên cứu ở Hình học 11 và việc sử dụng

hình vẽ biểu diễn các đối tượng hình học trong không gian được yêu cầu thông qua phép chiếu song song:

“Để nghiên cứu hình học không gian, người ta thường vẽ các hình không gian lên bảng, lên giấy Ta gọi hình vẽ đó là hình biểu diễn của một hình không gian.” [5, tr 45]

Biểu diễn một đối tượng hình học bằng hình vẽ biểu diễn thường dẫn đến mất một

số thông tin bởi vì nhiều tính chất của đối tượng hình học có thể không được diễn dịch bằng một số mối quan hệ không gian

Trang 2

trên trang giấy tập trừ khi sử dụng các mã

vẽ hình và các quy ước biểu diễn

Tương tự, các tính chất không gian của

hình vẽ biểu diễn không thể luôn luôn thể

hiện đầy đủ các tính chất hình học cần thiết

cho bài toán và thậm chí trong một số

trường hợp có thể không thỏa đáng bởi vì

hình vẽ biểu diễn chỉ là sự thuyết minh vật

chất của một đối tượng hình học

1.2 Miền hoạt động – miền diễn giải

Hình vẽ biểu diễn có thể được xem

như mô hình của một đối tượng hình học

Chúng ta có thể gắn liền với mô hình này

một miền hoạt động là tập hợp các tính

chất hình học được biểu diễn bởi một số

tính chất không gian của hình vẽ biểu diễn

và một miền diễn giải là tập hợp các tính

chất không gian của hình vẽ biểu diễn

không thể diễn giải được liên quan đến các

tính chất của đối tượng

Sự biểu diễn các đối tượng hình học

không gian, của không gian 3 chiều, bởi

các hình vẽ biểu diễn trên một trang giấy

tập, không gian 2 chiều, được thực hiện bởi

một hay nhiều phép chiếu Thực tế, trong

trường hợp chỉ có một phép chiếu duy

nhất, chắc chắn có sự mất thông tin Do đó

cần phải sử dụng một số mã cho việc đọc

và viết các biểu diễn này, như Bkouche

[1, tr.16] đã nhấn mạnh:

“Do đó một tình huống không gian

xuất hiện thông qua một biểu diễn biến đổi

nó thành một hình phẳng, điều này đòi hỏi

giải thích của một mã, mã viết và mã

đọc… Trong các điều kiện này, sự hiểu

biết tình huống không gian thông qua trung

gian của biểu diễn mặt phẳng không còn

phụ thuộc vào tính rõ ràng như trường hợp

của hình học phẳng, người ta không còn có

thể suy luận trên một hình khác với thực tế

mà nó được cho là đại diện, do đó đòi hỏi

sự phát triển các phương pháp suy luận

phức tạp hơn…”

1.3 Phép chiếu song song

Do đó, trong dạy học hình học không gian, vấn đề hình vẽ biểu diễn được gắn liền với sự lựa chọn kiểu biểu diễn các đối tượng của hình học không gian:

“Thông thường muốn biểu diễn một hình không gian nào đó, người ta chiếu hình đó lên một mặt phẳng chiếu bằng phép chiếu xuyên tâm hay phép chiếu song song Đặc biệt cũng có khi người ta dùng phép chiếu vuông góc (là phép chiếu song song đặc biệt)…Ở trường THPT, chương trình chỉ hạn chế dùng hình biểu diễn qua phép chiếu song song.” [5, tr 76]

Như vậy, trong Hình học 11 ở Việt Nam, kiểu biểu diễn được lựa chọn là phép chiếu song song Trong các phép biểu diễn phẳng khác nhau của một đối tượng hình học trong không gian, phép chiếu song song là phép chiếu cho phép bảo toàn nhiều nhất các tính chất hình học như song song, trung điểm, tỉ số độ dài của các đoạn thẳng song song, mang lại cho đối tượng biểu diễn hình ảnh gần nhất với đối tượng được biểu diễn Hơn nữa, khi sử dụng kiểu biểu diễn phép chiếu song song, đòi hỏi một số quy tắc, quy ước và kiểu biểu diễn các đối tượng hình học không gian trên trang giấy tập mà gọi chung là các mã để giúp cho việc viết và đọc các hình biểu diễn Vấn đề đặt ra là các quy ước biểu diễn này sẽ tác động như thế nào trên việc đọc một hình vẽ biểu diễn các đối tượng hình học trong không gian của học sinh?

2 Quy ước, quy tắc và kiểu biểu diễn các đối tượng hình học trong Sách Giáo Khoa Hình học lớp 11

2.1 Quy ước

2.1.1 Biểu diễn một mặt phẳng Quy ước P: một mặt phẳng (P) được

biểu diễn bằng một hình bình hành hay một

Trang 3

Hình 1 Hình 2 Hình 3

miền góc và ghi tên của mặt phẳng vào một

góc của hình biểu diễn (H.1 và H2)

2.1.2 Biểu diễn điểm thuộc mặt phẳng

Quy ước ĐP: biểu diễn một điểm

thuộc mặt phẳng bằng một điểm nằm bên trong một hình bình hành và biểu diễn một điểm không thuộc một mặt phẳng bằng một điểm nằm bên ngoài hình bình hành (H 3)

2.2 Kiểu biểu diễn

Kiểu biễu diễn là một hình vẽ bằng tay

nhằm mục đích minh họa một hay các mối

quan hệ hình học giữa các đối tượng hình

học trong không gian Nó không phải là đối

tượng của một quy ước, nhưng là một phần

của truyền thống dạy học

2.2.1 Vị trí tương đối của đường

thẳng và mặt phẳng

Kiểu biểu diễn TP: biểu diễn một

đường thẳng nằm trong một mặt phẳng

bằng một đoạn thẳng nằm bên trong một

hình bình hành [4, tr 60] (H 4)

Kiểu biểu diễn TPs: biểu diễn một

đường thẳng song song một mặt phẳng bằng một đoạn thẳng biểu diễn cho một

đường thẳng d’ của mặt phẳng (P), nằm

bên trong một hình bình hành, và một

đoạn thẳng biểu diễn cho đường thẳng d song song với d’, nằm bên ngoài hình bình

hành [4, tr 61] (H 5), hay bằng một đoạn

thẳng biểu diễn cho đường thẳng d song

song với một cạnh của hình bình hành [4, tr.60] (H 6)

Kiểu biểu diễn TPc: để biểu diễn một

đường thẳng cắt một mặt phẳng, người ta

cho thấy giao điểm nằm bên trong hình bình

hành hay bên trong miền góc và biểu diễn phần đường thẳng được giả thiết bị che khuất bằng nét đứt đoạn [4, tr 60] (H 7 và H 8)

Trang 4

2.2.2 Vị trí tương đối của hai đường

thẳng

Kiểu biểu diễn TTc: hai đường thẳng

cắt nhau được biểu diễn bởi hai đoạn thẳng

cắt nhau nằm bên trong một hình bình

hành [4, tr 55] (H 9)

Kiểu biểu diễn TTs: hai đường thẳng

song song được biểu diễn bởi hai đoạn thẳng song song cùng nằm trong một hình bình hành [4, tr 55] (H 10)

Kiểu biểu diễn TTt: hai đường thẳng

trùng nhau được biểu diễn bởi một đoạn

thẳng nằm trong một hình bình hành

[4, tr 55] (H 11)

Kiểu biểu diễn TTch: hai đường thẳng

chéo nhau được biểu diễn bởi hai đoạn

thẳng, trong đó đoạn thẳng thứ nhất biểu

diễn cho đường thẳng d nằm trong một

hình bình hành và đoạn thẳng thứ hai biểu

diễn cho đường thẳng d’ cắt mặt phẳng tại

một điểm không thuộc đường thẳng thứ nhất [4, tr 56] (H 12)

2.2.3 Vị trí tương đối của hai mặt phẳng

Kiểu biểu diễn PPc: để biểu diễn hai

mặt phẳng cắt nhau, người ta cho thấy giao

tuyến của chúng nằm trong hai hình bình

hành Hơn nữa, giao tuyến này song song

với một số cạnh của hai hình bình hành

[4, tr 48] (H 13)

Kiểu biểu diễn PPs: hai mặt phẳng

song song được biểu diễn bằng hai hình bình hành có các cạnh song song từng đôi một [4, tr 64] (H 14)

Trang 5

2.3 Quy tắc

Để vẽ hình biểu diễn của một đối

tượng hình học trong không gian, người ta

dựa vào các quy tắc sau:

- Hình biểu diễn của đường thẳng là

đường thẳng, của đoạn thẳng là đoạn thẳng

- Hình biểu diễn của hai đường thẳng

song song là hai đường thẳng song song,

của hai đường thẳng cắt nhau là hai đường

thẳng cắt nhau

- Hình biểu diễn phải giữ nguyên

quan hệ thuộc giữa điểm và đường thẳng

- Dùng nét vẽ liền để biểu diễn cho

đường nhìn thấy và nét đứt đoạn biểu diễn

cho đường bị che khuất [4, tr 45]

Phân tích Sách giáo khoa Hình học 11

cho thấy có một sự nhập nhằng giữa các

quy ước và các quy tắc của phép chiếu

song song Hơn nữa, chỉ có một số quy tắc

và quy ước được phát biểu tường minh và

hầu hết sử dụng các quy ước và các kiểu

biểu diễn để minh họa các tính chất tương

giao trong không gian và cụ thể hơn mở

rộng miền hoạt động của hình vẽ biểu diễn

như là mô hình của một đối tượng hình học

không gian

4 Giả thuyết nghiên cứu

Xuất phát từ lợi ích của các quy ước

và kiểu biểu diễn được sử dụng trong dạy

học hình học không gian là cho phép mở

rộng miền hoạt động của hình vẽ biểu diễn

mà việc sử dụng chúng có thể bị ảnh

hưởng Chúng tôi hình thành giả thuyết

nghiên cứu về sự tồn tại một số hệ quả trên

quan niệm của học sinh có thể dẫn đến phát

triển một số diễn giải bất hợp lý khi đọc

các hình vẽ biểu diễn:

Các quy ước biểu diễn của phép chiếu

song song trở thành các quy tắc diễn giải

một hình vẽ biểu diễn các đối tượng hình

học trong không gian của học sinh

Thực nghiệm nhằm hợp thức hóa giả

thuyết nghiên cứu trên được kế thừa và phát triển từ một thực nghiệm trình bày trong luận án của Parzysz (1989) trên việc đọc hình vẽ biểu diễn các đối tượng hình học không gian của học sinh lớp Đệ Tam

và Đệ Nhị ở Pháp, tương đương lớp 10 và

11 ở Việt Nam

Sự kế thừa thực nghiệm của Parzysz đối với học sinh lớp 11 Việt Nam là hợp lý

vì phân tích Sách giáo khoa Pháp và Việt Nam cho thấy có một sự tương tự về cách tiếp cận các đối tượng hình học không gian

và các quan hệ song song ở cấp Trung học phổ thông Hơn nữa, các quy ước và các kiểu biểu diễn trong hai hệ thống dạy học cũng tương tự nhau và trong chương trình Pháp phép biểu diễn phẳng các đối tượng hình học không gian cũng được thực hiện bởi phép chiếu song song

5 Thực nghiệm của Parzysz và các phỏng đoán

5.1 Mục đích

Trong luận án của mình, Parzysz đã

mô tả một thực nghiệm trên việc đọc hình

vẽ biểu diễn các đối tượng trong không gian của học sinh trung học phổ thông để biết học sinh diễn giải như thế nào về vị trí tương đối của các đối tượng hình học gồm mặt phẳng, đường thẳng và điểm trong không gian trên một số hình vẽ biểu diễn liên quan một số tình huống thông thường của hình học không gian Vì thế, chúng tôi

đã rút ra các quy tắc diễn giải và hình thành các phỏng đoán liên quan các quy tắc diễn giải khác mà chúng tôi muốn kiểm chứng Mặt khác, thực nghiệm của Parzysz chỉ làm rõ ảnh hưởng của các quy ước và hình vẽ nguyên mẫu trên việc đọc hình vẽ biểu diễn của học sinh mà không tính đến biến dạy học “khối đa diện”, cụ thể hơn là các hình vẽ biểu diễn các khối đa diện thông thường Chúng tôi nghĩ rằng đây là

Trang 6

một biến dạy học quan trọng đối với việc

đọc hình vẽ biểu diễn trong không gian vì

học sinh trung học phổ thông tại Việt Nam

bắt đầu nghiên cứu các khối đa diện ở lớp

11 mà trong đó hình hộp là một đối tượng

thường xuất hiện trong các bài toán liên

quan khảo sát vị trí tương đối và quan hệ

song song giữa các đối tượng hình học như

điểm, đường thẳng và mặt phẳng

5.2 Kết quả

5.2.1 Sự phân hoạch không gian

Cho một hình bình hành biểu diễn một

mặt phẳng (P), một đoạn thẳng biểu diễn

một đường thẳng

Diễn giải “bên trong – mặt phẳng”

Một điểm được biểu diễn nằm bên trong hình bình hành được diễn giải là một

điểm thuộc mặt phẳng (P)

Diễn giải “bên ngoài – mặt phẳng”

Một điểm được biểu diễn bên ngoài hình bình hành được diễn giải như một

điểm không thuộc mặt phẳng (P)

Hơn nữa, học sinh có xu hướng mở rộng mặt phẳng, trong suy nghĩ của mình, theo phương nằm ngang nhiều hơn so với phương thẳng đứng (H 15) Do đó, các miền 1 và 2 có thể được xem là phần mặt phẳng hơn là hai miền 3 và 4

Từ đó, chúng tôi dự đoán có một sự

phân hoạch liên quan đến hai miền 3 và 4

mà chúng tôi hình thành phỏng đoán 1: “ở

trên / ở dưới” như sau:

Một điểm thuộc miền 3 có thể được

diễn giải nằm ở trên mặt phẳng và một

điểm thuộc miền 4 có thể được diễn giải

nằm ở dưới mặt phẳng

5.2.2 Vị trí tương đối của đường

thẳng và mặt phẳng

Diễn giải “đường thẳng - trong - mặt

phẳng”

Một đoạn thẳng nằm bên trong hình

bình hành sẽ được diễn giải như một đường

thẳng nằm trong mặt phẳng (P) (H 16)

Trong phần này, chúng tôi không rút

ra được các quy tắc diễn giải mà chỉ xây dựng một số phỏng đoán như sau:

Phỏng đoán 2: “đường thẳng – song song – mặt phẳng”

- Một đoạn thẳng song song với một đoạn thẳng được biểu diễn bên trong hình bình hành sẽ được diễn giải là đường thẳng

song song mặt phẳng (P) (H 17)

- Một đoạn thẳng song song với một cạnh của hình bình hành được diễn giải là

đường thẳng song song mặt phẳng (P)

(H 18) Hình 15

Trang 7

Phỏng đoán 3: “đường thẳng – bên

ngoài – mặt phẳng”

Sự thiếu vắng của nét đứt đoạn trong

biểu diễn của một đường thẳng nằm ngoài

hình bình hành có thể dẫn đến đường thẳng

không cắt mặt phẳng (P) (H 19)

Phỏng đoán 4: “đường thẳng – cắt –

mặt phẳng”

Nếu một đoạn thẳng biểu diễn cho một đường thẳng có một đầu mút nằm bên trong hình bình hành và đầu mút kia nằm bên ngoài hình bình hành thì đường thẳng này được xem cắt mặt phẳng

(P) (H 20)

5.2.3 Vị trí tương đối của hai đường

thẳng

Diễn giải “đường thẳng – song song –

đường thẳng”

Nếu hai đường thẳng, biểu diễn cho

hai đường thẳng, song song với nhau thì

hai đường thẳng đó song song nhau

(H 21)

Các kết quả thực nghiệm của Parzysz

chứng tỏ rằng học sinh xem hai đường

thẳng có các biểu diễn là các đoạn thẳng

cắt nhau, mà trong đó không chỉ ra giao

điểm, là hai đường thẳng không song song

và không cắt nhau (H 22) Trong sách giáo khoa Hình học 11 của

VN, hai đường thẳng cắt nhau được biểu diễn bởi hai đoạn thẳng cắt nhau cùng nằm trong mặt phẳng với một giao điểm Từ đó,

chúng tôi hình thành phỏng đoán 5: “đường

thẳng - cắt - đường thẳng” như sau:

Nếu hai đoạn thẳng, biểu diễn cho hai đường thẳng, nằm trong cùng một mặt phẳng cắt nhau tại một điểm thì hai đường thẳng này cắt nhau

Trang 8

6 Thực nghiệm

6.1 Mục đích

Thực nghiệm nhằm kiểm chứng giả

thuyết nghiên cứu trong đó chỉ ra các diễn

giải của học sinh khi đọc hình vẽ biểu diễn

các đối tượng hình học trong không gian có

nguồn gốc từ các quy ước và các kiểu biểu

diễn được sử dụng trong dạy học

Giả thuyết đầu tiên của chúng tôi là các

quy ước biểu diễn các mối quan hệ tương

giao được trình bày tường minh trong sách

giáo khoa hay bởi giáo viên sẽ được sử

dụng trong việc đọc hình vẽ biểu diễn

6.2 Hình thức

Chúng tôi đặt ra cho học sinh một bộ

câu hỏi trong đó các em phải trả lời các câu

hỏi về các mối quan hệ tương giao của các

thành phần như điểm, đường thẳng và mặt

phẳng xuất phát từ một hình vẽ biểu diễn

Học sinh phải chọn một trong các câu trả

lời: “có”, “không” và “em không biết gì

cả” Mỗi câu trả lời phải được chứng minh

để cho phép diễn giải tốt nhất các câu trả

lời của học sinh

Thực nghiệm được tiến hành ở các em

học sinh lớp 11 của 6 lớp thuộc ba trường

THPT Trần Khai Nguyên, THPT Trần Hữu

Trang và THPT Hùng Vương của Thành

phố Hồ Chí Minh, ngay sau khi các em học xong chương II “Đường thẳng và mặt phẳng trong không gian Quan hệ song song” của môn Hình học Thời gian làm bài của các em là 90 phút Số học sinh tham gia là 206 Thực nghiệm được tiến hành vào tháng 12 năm 2016

Chúng tôi chọn thực nghiệm với lớp

11 vì hai lý do sau:

- Vị trí tương đối giữa các đối tượng hình học trong không gian như điểm, đường thẳng, mặt phẳng đã được học

- Phép chiếu song song và hình vẽ biểu diễn của các đối tượng hình học trong không gian như hình chóp, lăng trụ, hình hộp, hình lập phương đã được học

Bộ câu hỏi thực nghiệm bao gồm 11 bài tập: hai bài tập 1 và 2 liên quan đến khảo sát vị trí tương đối của ba điểm; bảy bài tập 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 liên quan đến nghiên cứu vị trí tương đối của đường thẳng và mặt phẳng, trong đó nhóm bài tập

số 6, 7, 8, 9 có đối tượng nghiên cứu là một hình hộp; hai bài tập liên quan đến nghiên cứu vị trí tương đối của hai đường thẳng

6.3 Phân tích tiên nghiệm

Bài toán nghiên cứu vị trí tương đối của ba điểm

Bài toán 1 Các điểm I, J, K có nằm trong

cùng một mặt phẳng không? Chứng minh

Bài toán 2 Các điểm A, B, C có nằm trong

cùng một mặt phẳng không? Chứng minh

Trang 9

Trong hai bài toán này, chúng tôi trình

bày ba điểm không thẳng hàng Câu hỏi đặt

ra là liệu chúng có thuộc cùng một mặt phẳng

hay không Hai biến dạy học được chọn:

- Tính chất của đối tượng được nghiên

cứu: có khối đa diện hay không

- Có hay không nằm bên trong một đa

giác

Câu trả lời đúng là “có” Trong trường

hợp này, việc chứng minh mong đợi là học

sinh sử dụng tính chất hình học cho sự xác

định một mặt phẳng bởi ba điểm không

thẳng hàng Chúng tôi ký hiệu tập hợp các

trả lời dạng này là « P »

Một số câu trả lời có thể biểu đạt rằng

mặt phẳng được thu gọn thành một đa giác

biểu diễn cho nó Các câu trả lời này thể hiện sự diễn giải phân hoạch không gian

« bên trong – mặt phẳng » Chúng tôi ký

hiệu nhóm các câu trả lời này là « Pg »

Biến dạy học « khối đa diện» sẽ củng

cố các diễn giải thuận lợi cho câu trả lời thuộc nhóm « Pg » Do đó, sẽ có nhiều câu trả lời dạng « Pg » cho bài toán 1 hơn là bài toán 2

Bài toán nghiên cứu vị trí tương đối của đường thẳng và mặt phẳng

Ở đây chúng tôi phân biệt hai biến dạy học cho việc chọn các bài tập: tính chất của đối tượng nghiên cứu và các diễn giải có thể vị trí tương đối của đường thẳng và mặt phẳng

Bài toán 3 Đường thẳng d

có cắt mặt phẳng (P) không?

Chứng minh

Bài toán 4 Đường thẳng

(AB) có cắt mặt phẳng (P)

không? Chứng minh

Bài toán 5 Đường thẳng d

có song song với mặt phẳng

(P) không? Chứng minh

Trong bài toán 3, chúng tôi biểu diễn

đường thẳng d bởi một đoạn thẳng có một

điểm mút nằm bên ngoài hình bình hành

biểu diễn cho mặt phẳng (P), và đầu mút

thứ hai nằm bên trong hình bình hành

Chúng tôi giả thuyết rằng câu trả lời: “Có,

bởi vì một điểm của đường thẳng thuộc

mặt phẳng” sẽ chiếm đa số Câu trả lời này

biểu lộ việc sử dụng quy tắc diễn giải

“đường thẳng - cắt - mặt phẳng”

Trong bài toán 4, đường thẳng không

được biểu diễn bằng một đoạn thẳng nhưng

được xác định bởi hai điểm A và B được

biểu diễn trên hình vẽ sao cho A “nằm phía

trên” hình bình hành và B “nằm phía dưới”

hình bình hành Chúng tôi giả thuyết rằng

sẽ không có câu trả lời “không”

Trong bài toán 5, đoạn thẳng biểu diễn đường thẳng song song với một cạnh của hình bình hành Việc lựa chọn cạnh theo phương nằm ngang để củng cố câu trả lời

“có”

Thông qua các câu trả lời của học sinh, chúng tôi kiểm tra phỏng đoán 2 liên quan

đến quy tắc diễn giải “đường thẳng - song

song - mặt phẳng”

Chúng tôi thiết kế 4 bài tập số 6, 7, 8

và 9 với việc biểu diễn một hình hộp và một đoạn thẳng biểu diễn cho một đường thẳng Chúng tôi lựa chọn hình hộp vì học

Trang 10

sinh tiếp cận hình hộp từ cấp trung học cơ

sở và tiếp tục nghiên cứu hình hộp ở lớp 11

và 12 Việc lựa chọn hình hộp để nghiên

cứu các bài toán tương giao với sự hiện

diện của các mặt song song và các cạnh song song Điều này cho phép chúng tôi xem học sinh có ưu tiên cho các mặt phẳng thẳng đứng hay nằm ngang hay không

Bài toán 6 Đường thẳng d có song song với

mặt phẳng (ABB’A’) không? Chứng minh

Bài toán 7 Đường thẳng d có nằm trong mặt phẳng (BCC’B’) không? Chứng minh

Bài toán 8 Đường thẳng d có nằm trong

mặt phẳng (BCC’B’) không? Chứng minh

Bài 9 Đường thẳng d có nằm trong mặt phẳng (BCC’B’) không? Chứng minh

Trong phần này, chúng tôi chọn hai

biến dạy học: dạng câu hỏi và sự phân

hoạch miền không gian của một khối hộp

Câu hỏi gồm hai dạng: nằm trong mặt

phẳng hay song song với một mặt phẳng

Các mặt phẳng này được xác định bằng

một mặt của hình hộp

Sự phân hoạch miền không gian bởi một hình hộp: mang khía cạnh văn hóa Chẳng hạn, trong hình 23, tùy theo mỗi

người, đường thẳng d có thể được xem nằm trong mặt phẳng (A’B’C’D’), hay nằm

“phía trên” hình hộp

Hình 23

Ngày đăng: 14/02/2020, 19:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w