1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu chế tạo Oligochitosan bằng phương pháp chiếu xạ Gamma Co-60 dung dịch Chitosan/H2O2 và khảo sát hiệu ứng gia tăng số lượng hoa trên cây dâu tây (Fragaria Vesca L.)

8 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 825,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu này, chitosan đã được cắt mạch trong dung dịch chitosan/H2O2 bằng phương pháp chiếu xạ gamma Co-60. Khối lượng phân tử (Mw) và độ đề axetyl (ĐĐA) của chitosan lần lượt được xác định bằng phương pháp sắc ký gel thấm qua (GPC) và phương pháp phổ hồng ngoại (IR).

Trang 1

Nghiên cứu chế tạo Oligochitosan bằng phương pháp

khảo sát hiệu ứng gia tăng số lượng hoa trên cây dâu tây

(Fragaria Vesca L.)

A study on preparation of Oligochitosan by Gamma irradiation onto Chitosan/H2O2 solution and examining effects of increase in the number of flowers on strawberry

(Fragaria Vesca L.)

TS Đặng Xuân Dự, Trường Đại học Sài Gòn

Dang Xuan Du, Ph.D., Saigon University

Tóm tắt

Trong nghiên cứu này, chitosan đã được cắt mạch trong dung dịch chitosan/H 2 O 2 bằng phương pháp chiếu xạ gamma Co-60 Khối lượng phân tử (Mw) và độ đề axetyl (ĐĐA) của chitosan lần lượt được xác định bằng phương pháp sắc ký gel thấm qua (GPC) và phương pháp phổ hồng ngoại (IR) Kết quả cho thấy oligochitosan khối lượng phân tử Mw < 10 kDa đã được chế tạo một cách hiệu quả bằng phương pháp chiếu xạ gamma Co-60 dung dịch chitosan/H 2 O 2 ở liều xạ thấp, khoảng 8 kGy Oligochitosan chế tạo được có hiệu ứng gia tăng số lượng hoa của cây dâu tây Nồng độ phù hợp của oligochitosan để phun lên cây dâu tây là khoảng 50 ppm

Từ khóa: Oligochitosan, bức xạ Gamma, dâu tây

Abstract

In this study, the degradation of chitosan in the presence of H 2 O 2 solution by gamma irradiation was investigated The molecular weight and the degree of deacetylation of chitosan were determined by gel permeation chromatography (GPC) and infrared spectra (IR), respectively Results showed that oligochitosan with molecular weight Mw < 10 kDa were preparared efficiently by gamma irradiation in small doses, ~8 kGy The obtained oligochitosan imposes effects of increase in the size of leaves of fracaria vesca L The appropriate concentration of oligochitosan used to spray onto fracaria vesca L trees was 50 ppm

Keywords: Oligochitosan, Gamma irradiation, fracaria vesca L.

1 Mở đầu

Chitosan là polyme có nguốn gốc tự

nhiên, là sản phẩm biến tính từ chitin bằng

cách loại các nhóm axetyl Oligochitosan là

dẫn xuất của chitosan được chế tạo bằng

phản ứng cắt mạch Oligochitosan tự phân hủy sinh học, là prebiotic có độc tính thấp,

có khả năng kháng khuẩn [8], [7] và kháng nấm [6] Ngoài ra, oligochitosan còn làm tăng sinh tế bào, tăng cường miễn dịch của

Trang 2

cơ thể động vật bằng cách kích thích sản

sinh bạch cầu, giảm cholesterol trong máu

và có tác dụng làm lành các vết thương, vết

bỏng [11] Hoạt tính của oligochitosan

thường được quyết định bởi khối lượng

phân tử (KLPT, Mw) và độ đề axetyl

(ĐĐA) Do có nhiều hoạt tính sinh học độc

đáo, oligochitosan được ứng dụng khá đa

dạng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như

làm chất điều hòa sinh trưởng, phòng trị

nấm bệnh thực vật và gia tăng khả năng

miễn dịch trên động vật

Các phương pháp cắt mạch chitosan để

chế tạo oligochitosan đã được phổ biến bao

gồm: phương pháp hóa học, phương pháp

enzym và phương pháp chiếu xạ Ưu điểm

của phương pháp hóa học là dễ dàng tiến

hành với quy mô lớn do điều kiện phản

ứng đơn giản Tuy nhiên, hạn chế của

phương pháp này là cho hiệu suất thấp và

có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường

Phương pháp enzym cho hiệu suất cao

nhưng chi phí đắt Trong khi đó, phương

pháp chiếu xạ có lợi thế là có thể tiến hành

dễ dàng với quy mô lớn nhưng để chế tạo

được oligochitosan đòi hỏi phải sử dụng

liều xạ cao [2] Điều này dẫn đến khả năng

sản phẩm tạo thành dễ bị cắt mạch nhóm

amin và phá vỡ vòng glucopyranose [5],

làm giảm hoạt tính của oligochitosan

Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình

bày kết quả chế tạo oligochitosan dựa trên

sự kết hợp đồng thời giữa bức xạ gamma

Co-60 và H2O2 Ưu điểm của phương pháp

là có thể tiến hành ở nhiệt độ phòng, giảm

thời gian và liều xạ, có thể chế tạo được

sản phẩm với quy mô lớn ở dạng lỏng hay

dạng rắn đáp ứng yêu cầu sử dụng Ngoài

ra, tác nhân cắt mạch là H2O2 và bức xạ

gamma Co-60 là những tác nhân được cho

là khá thân thiện với môi trường Sản phẩm

cắt mạch được nghiên cứu ứng dụng làm

chất gia tăng số lượng hoa của cây dâu tây

(Fragaria vesca L), loại cây cho hiệu quả

kinh tế cao, được trồng phổ biến ở cao nguyên Lâm Đồng Kết quả nghiên cứu hướng đến cung cấp các chất kích thích tăng trưởng trong nông nghiệp có nguồn gốc tự nhiên góp phần phát triển nền nông nghiệp sinh thái bền vững

2 Thực nghiệm

2.1 Nguyên vật liệu, hóa chất

α - chitosan được chế tạo từ vỏ tôm có ĐĐA khoảng 90%, Mw khoảng 50 kDa

Dâu tây Labiang (Fragaria vesca L.) được

mua ở tại vườn giống Dâu tây xã An Phú, thành phố Pleiku, Gia Lai Hydro peroxit (H2O2) là sản phẩm tinh khiết của Merck, Đức Các hóa chất axit lactic, etanol, amoniac… được dùng ở dạng tinh khiết phân tích Nước cất một lần được sử dụng cho toàn bộ thí nghiệm

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp chế tạo oligochitosan

Trong nghiên cứu này, oligochitosan được chế tạo bằng cách hòa tan 5 g chitosan trong dung dịch axit lactic 3%, thêm một lượng H2O2 30% và định mức đến 100 mL để thu được dung dịch chiếu

xạ chứa 5% chitosan và 1% H2O2 Tiến hành chiếu xạ trên nguồn SVST Co-60/B tại trung tâm Nghiên cứu và Triển khai Công nghệ Bức xạ VINAGAMMA, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam với suất liều 1,33 kGy/h, khoảng liều đến 15 kGy [5] Dung dịch sau khi chiếu xạ được trung hòa bằng NH4OH 5%, thêm một lượng cồn bằng 6 lần thể tích dung dịch mẫu, khuấy đều, sau đó lọc kết tủa và rửa sạch bằng cồn [1] Mẫu sau khi rửa sạch, để khô tự nhiên rồi sấy ở nhiệt độ 60°C trong 2 giờ

2.2.2 Xác định khối lượng phân tử và

độ đề axetyl của chitosan

Khối lượng phân tử của các mẫu chitosan được xác định bằng phương pháp sắc kí gel (GPC), trên máy LC-20AB

Trang 3

Shimadzu, Nhật, sử dụng detector RID -

10A và cột Ultrahydrogel 250 của hãng

Water, Mỹ, nhiệt độ vận hành cột là 40°C,

pha động là đệm axetat CH3COOH

0,25M/CH3COONa 0,25M, tốc độ dòng là

1mL/phút Chất chuẩn được sử dụng là

polysacarit Pullulan có khối lượng phân tử

khác nhau từ 738 đến 380 000 Da [1] Mẫu

chitosan được chuẩn bị bằng cách hòa tan

trong axit axetic 0,25M với nồng độ 0,3%

đến khi tan hoàn toàn, thêm muối

CH3COONa 0,25M sau đó lọc dung dịch

qua màng 0,45μm (Millipore filters) Mẫu

chitosan được tiêm vào cột sắc kí với thể

tích khoảng 50 μl Dựa vào thời gian lưu và

so sánh với đường chuẩn xác định được

KLPT chitosan

Độ đề axetyl của chitosan được xác

định bằng phương pháp hồng ngoại trên

máy FT – IR 8400S, Shimadzu, Nhật

ĐĐA được tính dựa theo phương trình [3]:

ĐĐA,% = 100 – ([31,92 ×

(A1320/A1420)] -12,00) Trong đó, A1320 và

A1420 lần lượt là mật độ quang tương ứng

tại các đỉnh 1320 và 1420 cm-1

2.2.3 Khảo sát hiệu ứng gia tăng số

lượng hoa của oligochitosan đối với dâu tây

Chuẩn bị 4 lô thí nghiệm được đánh số

từ 1 đến 4 mỗi lô gồm có 40 cây Tiến hành

phun oligochitosan có KLPT khoảng 7,5

kDa với các nồng độ 50 ppm, 100 ppm, 150

ppm từ lô 2 đến lô 4 Lô 1 không phun

oligochitosan để làm đối chứng Thời điểm bắt đầu phun oligochitosan là sau khi cây giống được trồng khoảng 1 tuần Sau đó, oligochitosan được phun bổ sung vào ngày thứ 30 và 60 kể từ lần phun đầu tiên Cây được chăm sóc theo quy trình thông thường được canh tác tại địa phương, xã An Phú, thành phố Pleiku, Gia Lai Số hoa dâu tây được đếm vào các ngày thứ 120, 130 và

140 kể từ khi trồng Kết quả được tính trung bình cho một cây trên mỗi lô Sau

140 ngày tuổi, mỗi lô thí nghiệm được chia làm 5 nhóm, mỗi nhóm 8 cây được đếm số hoa lặp lại để phân tích thống kê, đánh giá

sự khác biệt giữa các lô nghiên cứu

3 Kết quả và thảo luận

Sự thay đổi KLPT của chitosan theo liều xạ được thể hiện trên hình 1 Kết quả cho thấy KLPT giảm nhanh trong khoảng thời gian đầu chiếu xạ, khoảng liều từ 0 đến 5 kGy Sau khoảng liều trên, KLPT của chitosan suy giảm khá chậm theo liều

xạ Điều này là do nồng độ H2O2 trong khoảng thời gian đầu chiếu xạ còn ở mức cao Ngoài ra, quá trình chiếu xạ hình thành nên gốc tự do hydroxyl đã làm phân hủy nhanh H2O2 [4] Do đó, gần như quá trình cắt mạch chủ yếu xảy ra ở giai đoạn đầu của quá trình chiếu xạ Khi liều xạ lớn hơn 5 kGy, phần lớn H2O2 đã bị phân hủy, nồng độ giảm mạnh nên hiệu quả cắt mạch cũng giảm theo

Hình 1 Sự thay đổi KLPT của chitosan theo liều xạ

Trang 4

Cơ chế cắt mạch khi có mặt đồng thời

H2O2 và tia γ đã được Ulanski và các cộng

sự đề nghị [12] Theo đó, gốc tự do

hydroxyl (•OH) được hình thành nhờ quá

trình phân ly bức xạ nước và H2O2 đã đóng

vai trò như là tác nhân oxy hóa mạnh cắt

mạch chitosan:

γ ray - • • +

γ ray •

2 2

H O e , H , OH, H O , H , H O (1)

H O 2 OH (2)

Hơn nữa, sản phẩm của quá trình phân ly

bức xạ là e-aq và H• có thể phản ứng với

H2O2 để gia tăng gốc hydroxyl •OH [9]:

 Theo Ulanski và cộng sự [12], gốc

OH bắt hydro, làm đứt liên kết C – H hình

thành gốc cacbohydrat R•, dẫn đến quá

trình chuyển vị và cuối cùng liên kết

glycoside bị cắt, tạo thành phân tử CTS có

KLPT thấp hơn Hằng số tốc độ của phản

ứng (3) và (4) lần lượt là k3 = 1,1×1010

l.mol-1.s-1 và k4 = 9×107 l.mol-1.s-1 [4]

Điều này giải thích tại sao nồng độ H2O2

giảm nhanh và quá trình cắt mạch chitosan

xảy ra có hiệu quả trong khoảng thời gian

đầu chiếu xạ Hình 1 cũng cho thấy

oligochitosan, KLPT < 10 kDa, có thể chế

tạo được ở liều xạ khá thấp, khoảng 8

kGy, tương ứng với độ suy giảm KLPT

khoảng 80% Giá trị này được nội suy từ bảng 1 Nguyễn Quốc Hiến và cộng sự đã chế tạo oligochitosan bằng kỹ thuật chiếu

xạ Kết quả cho thấy để chế tạo được oligochitosan có KLPT < 10 kDa phải sử dụng liều xạ cao hơn 100 kGy [2] Điều này cho thấy sự có mặt H2O2 chỉ ở nồng

độ thấp khoảng 1% trong nghiên cứu của chúng tôi cũng làm giảm đáng kể liều xạ cần thiết để chế tạo oligochitosan Nguyên nhân của hiện tượng này được giải thích bằng hiệu ứng đồng vận (synergistic effect) của các tác nhân cắt mạch Hiệu ứng đồng vận được định nghĩa là sự tương tác đồng thời của hai tác nhân phản ứng lớn hơn tổng tương tác của các thành phần riêng lẻ [5] Duy và cộng sự đã nghiên cứu hiệu ứng đồng vận của tia γ và H2O2

để chế tạo oligochitsan trong dung dịch Kết quả cho thấy để chế tạo oligochitosan

có KLPT < 10 kDa thì liều xạ cần thiết cũng chỉ khoảng 10 kGy [5] Tuy nhiên, nghiên cứu của Duy và cộng sự được thực hiện trên β – chitosan, loại chitosan dễ cắt mạch hơn α – chitosan, nồng độ áp dụng

là 3%, thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi Như vậy, việc áp dụng hiệu ứng đồng vận của bức xạ γ và H2O2 cho phép giảm đáng kể năng lượng chiếu xạ, tăng hiệu quả chế tạo oligochitosan

Bảng 1: Sự thay đổi KLPT và ĐĐA của chitosan theo liều xạ

(*)

Suất liều 1,33 kGy/h

(3) (4)

Trang 5

Hình 2 Phổ FT - IR của chitosan ban đầu (a) và chitosan được chiếu xạ ở liều 6,7

kGy (b); 11 kGy (c); 15 kGy (d)

Phổ FT- IR của mẫu chitosan ban đầu

và các mẫu chitosan sau khi chiếu xạ ở các

liều khác nhau được thể hiện trên hình 2

Kết quả cho thấy cấu trúc chính của

oligochitosan thu được (hình 2b, c, d) hầu

như không thay đổi so với chitosan ban đầu

(hình 2a) Các đỉnh đặc trưng tiêu biểu cho

các nhóm liên kết trong chitosan đều xuất

hiện trong các mẫu oligochitosan Đỉnh

phổ nằm trong vùng 3200 – 3500 cm-1 đặc

trưng cho dao động kéo giãn của liên kết

N–H trong nhóm amine và liên kết O–H

Đỉnh ở 1655 và 1595 cm-1

đặc trưng cho dao động kéo giãn của liên kết C=O trong

nhóm –CONH– (amide I) và dao động uốn

của –NH trong nhóm –CONH– (amide II)

Các đỉnh ở 1072, 1028, 1153 và 893 cm-1

lần lượt đặc trưng cho dao động kéo giãn

của liên kết C–O, dao động kéo giãn của

C–O–C trong vòng glucopyranose và các

dao động của liên kết β – 1,4 glycoside

[10] Các đỉnh ở 1320 và 1420 cm-1

tương ứng đặc trưng cho dao động kéo giãn của liên kết C–N trong nhóm CH3CONH– (amide III) và dao động biến dạng của liên kết C–H, đây là hai đỉnh đặc trưng được sử dụng để tính toán sự thay đổi ĐĐA của chitosan [3] Kết quả xác định cho thấy oligochitosan KLPT khoảng 5,5 kDa, thu được tại liều xạ 15 kGy, có ĐĐA giảm khoảng 8% so với chitosan ban đầu (bảng 1) Kết quả này khá phù hợp với nghiên cứu của Duy và cộng sự khi cắt mạch chitosan trong dung dịch chứa 3% chitosan bằng tia γ và H2O2 với độ giảm ĐĐA khoảng 10% [5] Như vậy, sử dụng H2O2 ở nồng độ thấp khoảng 1% kết hợp đồng thời với tia γ cho phép chế tạo hiệu quả oligochitosan ở liều xạ khá thấp khoảng 8 kGy Oligochitosan thu được có cấu trúc hầu như không thay đổi so với chitosan ban đầu

Trang 6

Hình 3 Cây dâu tây 140 ngày tuổi ở lô đối chứng 1 (a) và lô 2, được phun

oligochitosan nồng độ 50 ppm (b)

Hình 3 cho thấy sự khác nhau về số

lượng cuống hoa và quả của dâu tây sau

140 ngày tuổi Ở lô đối chứng (hình 3a) số

lượng cuống hoa thu được tương đối ít hơn

so với lô có phun oligochitosan ở nồng độ

50 ppm (hình 3b) Trong quá trình theo

dõi, chúng tôi nhận thấy dâu tây bắt đầu ra

hoa ở 120 ngày tuổi trên các lô 1, 2, 3,

riêng lô 4 thì vẫn chưa quan sát thấy hoa

sau thời gian trên Nguyên nhân của vấn đề

này vẫn chưa rõ cần được nghiên cứu

thêm Tuy nhiên, theo nhận định của chúng tôi có thể do oligochitosan là kháng sinh thực vật [9] khi được sử dụng ở liều cao (150 ppm) có thể gây ngộ độc cho cây dẫn đến ức chế khả năng ra hoa Ảnh hưởng của oligochitosan đến khả năng cho hoa của cây dâu tây theo ngày tuổi được thể hiện trên hình 4 Kết quả cho thấy số lượng hoa thu được sau 120, 130 và 140 ngày trên các lô 2 và 3 có phun oligochitosan tương đối lớn hơn so với lô đối chứng 1

Hình 4 Ảnh hưởng của oligochitosan đến khả năng cho hoa của dâu tây

Trang 7

Bảng 2 Số lượng hoa trung bình của cây dâu tây sau 140 ngày tuổi ở các lô khác nhau

Nhóm (8 cây/nhóm)

Lô đối chứng 1

(0 ppm)

Lô 2 (50 ppm)

Lô 3 (100 ppm)

Trung bình

42,8 ± 0,1 43,7

± 0,2

43,6

± 0,1

Kết quả phân tích ANOVA một chiều

và kiểm định LSD bằng chương trình SPSS

16.0 đối với 5 nhóm lặp lại trên các lô thí

nghiệm ở 140 ngày tuổi (Bảng 2) cho thấy

nồng độ 50 và 100 ppm của oligochitosan

phun lên dâu tây đều cho hiệu quả gia tăng

số lượng hoa cao hơn so với lô đối chứng

(p = 0,00) Ngoài ra, số lượng hoa trên các lô

2 và 3 tương ứng với nồng độ của

oligochitosan được phun là 50 và 100 ppm

cũng khác nhau có ý nghĩa thống kê

(p = 0,002) Điều này chứng tỏ oligochitosan

ở nồng độ thấp khoảng 50 ppm có khả năng

kích thích gia tăng số lượng hoa tốt hơn so

với ở nồng độ 100 ppm Đối với lô 4, nồng

độ oligochitosan 150 ppm, cây chỉ cho hoa

sau 133 ngày tuổi, những quan sát ban đầu

cho thấy số lượng hoa ít hơn và không đồng

đều so với các lô 1, 2 và 3 Cơ chế kích thích

và ức chế khả năng cho hoa của

oligochitosan lên dâu tây vẫn cần được

nghiên cứu thêm Tuy nhiên, việc sử dụng

oligochitosan phun cho dâu tây theo chúng

tôi nên tiến hành ở liều thấp, với nồng độ

nhỏ hơn 100 ppm

4 Kết luận

Oligochitosan có KLPT < 10 kDa đã

được chế tạo hiệu quả bằng phương pháp

chiếu xạ dung dịch chitosan 5%, H2O2 1%

ở liều xạ khá thấp, khoảng 8 kGy Cấu trúc chính của oligochitosan thu được hầu như không khác biệt so với chitosan ban đầu ĐĐA của oligochitosan KLPT 5,5 kDa giảm khoảng 8% Oligochitosan KLPT khoảng 7,5 kDa có hiệu ứng gia tăng số lượng hoa đối với dâu tây Nồng độ phù hợp của oligochitosan để phun lên cây dâu tây là khoảng 50 ppm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đặng Xuân Dự, Đinh Quang Khiếu, Diệp Khanh, Nguyễn Quốc Hiến “Nghiên cứu hiệu ứng đồng vận dung Co – 60 và H 2 O 2 cắt mạch

chitosan chế tạo oligochitosan”, Tạp chí Hóa

Học, 51(2C), 627-631 (2003)

2 Nguyễn Quốc Hiến, Lê Hải, Lê Quang Luân, Trương Thị Hạnh, Phạm Thị Lệ Hà “Nghiên cứu chế tạo oligochitosan bằng kỹ thuật bức

xạ”, Tạp chí Hóa học, 38(2), 22-44 (2000)

3 J Brugnerotto, J Lizardi, F M Goycoolea,

W Arguelles – Monal, J Desbrieres, M Rinaudo “An infrared investigation in relation with chitin and chitosan

characterization”, Polymer, 42, 3569-3580

(2001)

4 G V Buxton, C L Greenstock, W P Helman, A B Ross “Critical review of rate constants for hydrated electron, hydrogen atoms and hydroxyl radical (OH/O-) in

aqueous”, Journal of Physical and Chemical

Reference Data, 17(2), 513-886 (1988)

Trang 8

5 N N Duy, D V Phu, N T Anh, N Q Hien

“Synergistic degradation to prepare

oligochitosan by - irradiation of chitosan

solution in the presence of hydrogen

peroxide”, Radiation Physical Chemistry, 80,

848-853 (2011)

6 S Hirano, N Nagao “Effects of chitosan,

pectic acid, lysozyme and chitinase on the

growth of several phytopathogens”

Agricultural and Biological Chemistry, 53,

3065-3066 (1989)

7 Y J Jeon, S K Kim “Effect of antimicrobial

activity by chitosan oligosaccharides

N-conjugated with asparagines”, Journal of

Microbiology and Biotechnology, 11, 281-286

(2001)

8 Y J Jeon, P J Park, S K Kim

“Antimicrobial effect of chitooligosaccharides

produced by bioreactor”, Carbohydrate

Polymers, 44, 71-76 (2001)

9 S K Kim, N Rajapakse “Enzymatic production and biological activities of chitosan oligosaccharides (COS): A review”,

Carbohydrate Polymers, 62, 357-368 (2005)

10 10.J Kumirstra, M Czerwicka, Z Kaczynski, A Bychowska, K Brozowski, J Thoming, P Stepnowski “Application of spectroscopic methods for structural

analysis of chitin and chitosan”, Marine

Drugs, 8, 1567-1636 (2010)

11 J Shao, Y Yang, Q Zhong “Study on preparation of oligoglucosamine by oxidative degradation under microwave”,

Polymer Degradation and Stability, 82,

395-398 (2003)

12 P Ulanski, C von Sontag “OH – radical induced chain scission of chitosan in the

absence and present of dioxygen”, Journal

of the Chemical Society, Perkin Transactions,

2, 2022-2028 (2000)

Ngày nhận bài: 28/7/2017 Biên tập xong: 15/9/2017 Duyệt đăng: 20/9/2017

Ngày đăng: 14/02/2020, 19:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm