(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM NGỌC HẢI
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN TRUY
TỐ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM NGỌC HẢI
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN TRUY
TỐ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ luật học Võ Thị Kim Oanh Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 8 1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố 8 1.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố 21 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 24
2.1 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai
đoạn truy tố từ giai đoạn năm 1945 đến trước năm 1988 24
2.2 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai
đoạn truy tố từ năm 1988 đến trước năm 2003 28
2.3 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai
đoạn truy tố theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 32
2.4 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai
đoạn truy tố theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 42 Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU 52
QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ, TẠI
PHỤ LỤC SỐ LIỆU
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội loài người, tội phạm là hiện tượng tiêu cực xã hội và việc đấu tranh phòng, chống tội phạm là tất yếu khách quan của mọi xã hội có giai cấp và ở mỗi giai đoạn lịch sử thì yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có sự khác nhau Đối với Việt Nam, công cuộc đổi mới đất nước đã đem lại nhiều thành tựu trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Thành tựu đạt được trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội đã đưa nước ta lên một vị thế mới trên trường quốc tế Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Việt Nam cũng còn phải đối mặt với nhiều tác động tiêu cực ,trong đó tình hình tội phạm hình sự đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp Trong những năm qua, các cơ quan tiến hành tố tụng đã đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm hình sự Viện kiểm sát nhân dân đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với việc giải quyết các vụ án hình sự, góp phần đảm bảo việc khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự có căn cứ, đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời, góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan có vai trò rất quan trọng; với vị trí, vai trò độc lập và chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân là một bảo đảm quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việc thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trong việc xử lý tội phạm, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên so với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế Thực tiễn vẫn còn xảy ra tình trạng truy tố không chính xác, làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm
Mặt khác thì hiện nay vẫn còn chưa có sự nhận thức toàn diện về hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong các giai đoạn tố tụng
Trang 7hình sự, cũng như chưa có sự phân biệt cụ thể, rõ ràng, đầy đủ hoạt động công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra yêu cầu: “Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định:
“Đẩy mạnh chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Tòa án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”
Việc nghiên cứu và tổng kết thực tiễn về những vấn đề liên quan đến mô hình tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân, trong đó có chức năng thực hành quyền công tố là rất cần thiết, nhằm đáp ứng một cách đầy đủ, kịp thời các yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài trong việc thực hiện chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, góp phần hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phù hợp với nội dung, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân
Là một cán bộ đang công tác trong ngành Kiểm sát, học viên nhận thấy việc
chọn đề tài “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước” để
Trang 8nghiên cứu, xây dựng Luận văn thạc sĩ Luật học là cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, có nhiều nhà khoa học pháp lý và người làm công tác thực tiễn quan tâm nghiên cứu hoặc đề cập đến đề tài quyền công tố và thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát và thực hành quyền công tố trên một số lĩnh vực
Sách chuyên khảo “Cơ sở lý luận, thực trạng của điều tra và truy tố các tội phạm về ma túy” của tác giả Nguyễn Thị Mai Nga, xuất bản năm 2012 Quyển sách
đề cập những kinh nghiệm được rút ra trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết các vụ án liên quan đến tội phạm ma túy Do đó, nghiên cứu này chưa phản ánh thực trạng của hoạt động thực hành quyền công tố đối với các loại tội phạm khác nhau, nên tác giả đưa ra các giải pháp chưa đầy đủ
Sách chuyên khảo “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp” do tác giả Nguyễn Hải Phong chủ biên, xuất bản năm 2013 Đây là cuốn sách
đề cập đến nội dung tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu của công cuộc cải cách các cơ quan tư pháp mà Đảng và Nhà
Trang 9nước đang đề ra Cuốn sách này chủ yếu đề cập đến giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra vụ án hình sự
Luận án Tiến sĩ luật học năm 2002 “Quyền công tố ở Việt Nam” của tác giả
Lê Thị Tuyết Hoa: Luận án đề cập đến cơ sở lý luận về quyền công tố tuy có đề cập nhưng chưa tập trung sâu đến hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát
Ngoài ra, còn nhiều bài viết, bài nghiên cứu của các tác giả và các nhà nghiên cứu pháp luật đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý bàn về quyền công tố
và thực hành quyền công tố Các sách và giáo trình của các Trường đại học đào tạo
về Luật Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu cho thấy các tác giả nghiên cứu về quyền công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp để nói đến chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự hoặc trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Trong khi đó, giai đoạn truy tố thể hiện rõ nét hoạt động của Viện kiểm sát về việc quyết định truy tố bị can thì cho đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu sâu về hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố với nội dung nghiên cứu việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố nhằm nêu lên cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn
truy tố Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố là vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Đề tài góp phần làm rõ những vấn đề lý luận, những nội dung cơ
bản của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; đánh giá khách quan thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước trong giai đoạn truy tố Từ đó xác định những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn để đề xuất những giải pháp tiếp tục hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian tới và nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hành quyền công tố ở nước ta hiện nay
Trang 10- Nhiệm vụ: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý và vai
trò, trách nhiệm, thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công
tố trong giai đoạn truy tố
Khảo sát, đánh giá hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long trong giai đoạn truy tố và chỉ ra những bất cập vướng mắc trong thực tiễn
Đề ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích những vấn
đề lý luận, các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về vấn đề này tại thị xã Bình Long
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu lý luận về quyền công tố; khái
niệm, nội dung, phạm vi của thực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố nói riêng Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố Trên cơ sở số liệu thống kê giải quyết án hình sự trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2018 trên phạm vi thị xã Bình Long, chúng tôi đánh giá kết quả cũng như những hạn chế, bất cập của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố của Viện kiểm sát thị xã Bình Long, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó để đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
- Cơ sở lý luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tăng cường pháp chế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; đặc biệt là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
Trang 1102/01/2002; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị và chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã được nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã thông qua
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu
của triết học Mác – Lê Nin, khoa học pháp lý về tố tụng hình sự và các khoa học chuyên ngành khác Trong đó đặc biệt chú trọng đến phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh kết hợp giữa lý luận và thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn, đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu cho việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện thêm các quy định của pháp luật về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân; đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ làm công tác thực thi pháp luật liên quan đến lĩnh vực này
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn bao gồm 3 chương với kết cấu như sau:
- Chương 1: Nhận thức chung về thực hành quyền công tố trong giai đoạn
truy tố
- Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn truy tố
- Chương 3: Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố và
một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tại thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước
Trang 13Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
1.1.1 Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố
1.1.1.1 Khái niệm quyền công tố
Với quan điểm coi quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước, nhân danh công quyền, thực hiện việc buộc tội đối với những người đã thực hiện hành vi phạm tội, theo quan điểm của giai cấp thống trị xã hội, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, lúc nào Nhà nước xuất hiện thì lúc đó quyền công tố cũng xuất hiện
Trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố Mỗi quan điểm đều có hạt nhân hợp lý riêng của nó Chẳng hạn: có quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát (VKS) truy tố người phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hành quyền công tố) [41] Điều đáng chú ý của quan điểm này là việc nhấn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong việc thực hành quyền công tố và chỉ duy nhất là tố tụng hình sự (TTHS)
và cũng chỉ ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm (tức chỉ
là việc truy tố và buộc tội tại phiên tòa) Chúng tôi nhận thấy, quan điểm này đã quá thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố và chưa phản ánh đầy đủ bản chất của quyền này Trên thực tế, hoạt động truy tố và buộc tội của VKS tại phiên tòa chỉ là một số nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố, hay nói chính xác hơn, đó chỉ là một trong số các quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công
tố
Các luật gia theo truyền thống pháp luật Pháp Quan cho rằng, quyền công tố gồm các quyền khởi tố, điều tra vụ án hình sự, truy tố và buộc tội bị cáo trước Tòa án.Quyền công tố gắn liền với hoạt động buộc tội nhân danh Nhà nước Do vậy, quyền công tố chỉ được thực hiện trong một lĩnh vực duy nhất, đó là lĩnh vực TTHS, chủ thể tham gia vào hoạt động thực hành quyền công tố chỉ bao gồm Cơ quan điều tra (Điều tra viên) và Viện công tố (Công tố viên) Riêng quyền truy tố kẻ
Trang 14phạm tội ra Tòa và thực hành quyền công tố nhân danh Nhà nước tại phiên tòa chỉ thuộc về Viện công tố Quyền công tố được sử dụng không chỉ để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội mà cả lợi ích cá nhân khi bị hành vi phạm tội xâm hại
Quan điểm khác cho rằng, quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội Nói cách khác, quyền công tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các
vụ án hình sự và thi hành án hình sự Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội[42, tr.26]
Theo ý kiến tôi, quan điểm nêu trên đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc TTHS đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới: mọi tội phạm xảy ra đều xâm phạm đến lợi ích chung của toàn xã hội, do đó kẻ phạm tội phải bị truy cứu TNHS và bị trừng trị bằng các chế tài hình sự Việc truy cứu TNHS
và áp dụng chế tài đối với người phạm tội được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước (Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố, Cơ quan xét xử, Cơ quan thi hành án) Hiểu khái niệm quyền công tố theo quan điểm trên đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa các chức năng buộc tội, xét xử và bào chữa trong tố tụng hình sự Mỗi một chức năng cơ bản trên được thực hiện bởi một hoặc một số chủ thể nhất định, tùy thuộc vào từng giai đoạn cụ thể của quá trình tố tụng Theo quan điểm nêu trên thì không chỉ có Cơ quan điều tra và Cơ quan công tố mà cả Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành án đều
là chủ thể thực hành quyền công tố
Có quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan VKS) để phát hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở
Trang 15đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà [42, tr.40]
Và còn nhiều quan điểm khác nhau đề cập đến thế nào là quyền công tố Tuy nhiên, xuất phát từ căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công tố ở các nước khác, chúng tôi cho rằng, để làm rõ khái niệm quyền công tố, cần khẳng định một số vấn đề sau:
Thứ nhất, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước, quyền thuộc về Nhà
nước, Nhà nước giao cho một cơ quan cụ thể thực hiện quyền này (ở nước ta là cơ quan VKS) trong bộ máy cơ quan Nhà nước phân quyền hoặc phân công thực hiện chức năng
Thứ hai, quyền công tố về thực chất là quyền truy cứu TNHS đối với người
phạm tội Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa
Thứ ba, quyền công tố mang tính cụ thể, tức chỉ xuất hiện khi có một tội
phạm cụ thể xảy ra và đối với người phạm tội cụ thể, không tồn tại quyền công tố chung chung
Trong các quan điểm nêu trên, tôi đồng ý với quan điểm thứ tư vì quyền công tố chỉ được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật mà lịch sử của nó gắn liền với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại tội phạm,
đó là lĩnh vực TTHS Điều đó thể hiện rõ nhất trong các nguyên tắc của TTHS Một trong những nguyên tắc đặc thù của hoạt động TTHS là nguyên tắc công tố (nguyên tắc mọi hoạt động tố tụng được tiến hành trước hết và chủ yếu vì lợi ích nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội), nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Lợi ích của Nhà nước và lợi ích của xã hội làm hoạt động TTHS xuất hiện và phát triển từ giai đoạn này đến giai đoạn khác và không lệ thuộc vào ý chí của người tham gia vào hoạt động TTHS (người bị hại, bị can, bị
Trang 16cáo…) Tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật hình sự Người phạm tội xâm phạm đến lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, và lợi ích người bị hại Vì vậy, Nhà nước nhân danh xã hội cho mình quyền trừng phạt người phạm tội Quyền công tố luôn gắn liền với hoạt động buộc tội nhân danh Nhà nước, chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng, cốt lõi của TTHS là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phát hiện, khám phá tội phạm, xác định và xử lý người phạm tội [22, tr.22] Trong hoạt động TTHS, chúng ta thấy luôn luôn tồn tại ba chức năng tố tụng cơ bản: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử Buộc tội với tư cách là một chức năng tố tụng luôn nhằm chống lại một cá nhân cụ thể và thực chất đó chính là hoạt động truy cứu TNHS đối với người phạm tội Người hoặc cơ quan thực hiện chức năng buộc tội quyền và trách nhiệm đưa ra cáo buộc cụ thể đối với người phạm tội (có thể là cá nhân, pháp nhân) cụ thể và phải có nhiệm vụ đưa ra những bằng chứng cụ thể cho sự việc buộc tội đó Khi thực hiện chức năng buộc tội, hình thức buộc tội nhân danh Nhà nước giữ vai trò là động lực của hoạt động tố tụng
Trong nghiên cứu khoa học pháp lý về quyền công tố, để chứng minh cho luận điểm của mình, mỗi nhà khoa học đều có những lý luận riêng để đưa ra những luận điểm
về đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố Theo quan điểm chúng tôi đã chọn thì đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố được hiểu như sau:
+ Đối tượng của quyền công tố được hiểu là cái mà quyền công tố tác động vào nhằm đạt được mục đích cụ thể nào đó, ví dụ như để nhằm buộc được tội của người phạm tội để trừng phạt; để nhằm khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại… Với quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện sự buộc tội (thực hiện việc truy cứu TNHS) đối với người phạm tội, chúng tôi quan
niệm đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội [42, tr.44]
+ Về nội dung của quyền công tố: Có thể nói, có bao nhiêu quan điểm về quyền công tố thì cũng có bấy nhiêu quan niệm về nội dung của quyền công tố Tuy nhiên, trên cơ sở quan điểm của mình về quyền công tố đã được nêu ở trên, chúng
tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi tội phạm [42, tr.44]
Trang 17Ngoài ra, khi bàn về vấn đề nội dung quyền công tố, có những ý kiến cho rằng, nội dung của quyền công tố được hiểu là tổng hợp tất cả các quyền năng pháp
lý do luật định nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử
lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan ngườivô tội Chúng tôi cho rằng, quan niệm này đã nhầm lẫn nội dung quyền công tố sang nội dung hoạt động thực hành quyền công tố
+ Về phạm vi của quyền công tố: Xuất phát từ quan điểm coi quyền công tố
là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người đã thực hiện
hành vi phạm tội, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự [42, tr.46] Theo đó, quyền công tố bắt đầu từ khi tội
phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án kết tội đối với người đã thực hiện hành
vi phạm tội đó có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị
Từ những nội dung đã trình bày ở trên, tôi cho rằng: quyền công tố là quyền thuộc về Nhà nước, Nhà nước giao cho một cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội
1.1.1.2 Khái niệm thực hành quyền công tố
Nội dung quyền công tố là sự buộc tội của Nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội Để bảo đảm thực hiện quyền này trong thực tế thì Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong đó quy định các quyền năng pháp
lý thuộc nội dung của quyền công tố Nếu quyền công tố là quyền năng thì quyền năng đó phải được tổ chức thực hiện
Theo Từ điển tiếng Việt thì “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn”, “thực hành” cũng đồng nghĩa với “thực hiện” [47, tr.973] do
đó việc tổ chức thực hiện quyền công tố trong thực tế gọi là thực hành quyền công
tố
Tùy thuộc vào đặc điểm xã hội, chính trị mà việc tổ chức thực hành quyền công tố, vị trí, phạm vi hoạt động của cơ quan thực hành quyền công tố ở mỗi nước khác nhau có những điểm khác biệt Ở nước ta, quyền công tố này đã được Nhà nước giao cho Viện công tố nằm trong hệ thống Tòa án thực hiện từ năm 1946, sau
Trang 18đó trực thuộc Bộ Tư pháp từ năm 1958 Ngày 26/7/1960, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được thành lập riêng biệt từ tiền thân là Viện công tố và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố đến nay Các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992
và 2013; các Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988, 2003, 2015; các Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, 1981, 1992, 2002 và 2014 đều quy định Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao nhiệm
vụ thực hành quyền công tố
Như vậy, thực hành quyền công tố là hoạt động của cơ quan thực hành quyền công tố (ở nước ta là VKS) thực hiện việc buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội Để thực hiện quyền công tố thì VKS phải sử dụng các quyền năng thuộc nội dung của quyền công tố trong suốt quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ
án
Khi giải quyết vụ án hình sự, bên cạnh hoạt động thực hành quyền công tố của VKSND thì còn đòi hỏi nhiều chủ thể tố tụng thực hiện các hoạt động tố tụng với các chức năng cơ bản khác nhau Do đó, để làm rõ vai trò thực hành quyền công
tố cần xem xét mối quan hệ giữa hoạt động này với việc thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS, bao gồm: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét
xử Trong đó, chức năng buộc tội là một dạng hoạt động tố tụng nhằm phát hiện,
chứng minh lỗi và cáo buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội phải chịu hình phạt Khi một người bị buộc tội thực hiện hành vi phạm tội nào đó thì được luật thừa nhận khả năng bào chữa, không chỉ chống lại sự buộc tội đó bằng cách đưa ra các chứng cứ, lập luận nhằm làm giảm nhẹ, bác bỏ trách nhiệm hình sự mà còn làm
rõ những gì có lợi cho mình Chức năng bào chữa thuộc về người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo và người bào chữa của họ Tòa án thực hiện chức năng xét xử nhằm giải quyết vụ án theo thẩm quyền để xem xét, quyết định người bị buộc tội có tội hay không và TNHS đối với người có tội
Trong ba chức năng cơ bản nêu trên, chức năng buộc tội là chức năng tiền
đề, động lực cho cả quá trình TTHS vì nếu không phát hiện tội phạm, chứng minh lỗi người thực hiện hành vi bị coi là tội phạm và yêu cầu phán xử, áp dụng hình
Trang 19phạt thì sẽ không thể có chức năng bào chữa, xét xử; hay nói cách khác, TTHS không tiến hành được do không có đối tượng và mục đích Những chủ thể thực hiện chức năng buộc tội gồm: Cơ quan điều tra (CQĐT), VKS, người bị hại và đại diện hợp pháp của họ Đối với người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ thực hiện việc buộc tội nhân danh quyền lợi cá nhân hoặc theo sự ủy quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị tội phạm xâm hại Đối với CQĐT, VKS thực hiện chức năng buộc tội nhân danh Nhà nước Tuy nhiên, CQĐT chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho VKS đưa vụ án ra Tòa án; Tòa án chỉ xét xử những tội phạm và người phạm tội mà VKS đã truy tố Việc sử dụng một số biện pháp để cáo buộc bị can do CQĐT thực hiện như khởi tố bị can, truy tìm, thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, ra kết luận điều tra vụ án và đề nghị truy tố hành vi phạm tội của bị can … hoàn toàn không đồng nghĩa với thẩm quyền công tố theo nghĩa đầy đủ của nó là quyền buộc tội và đưa người thực hiện hành vi bị coi là tội phạm ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó, yêu cầu trừng trị thích đáng người phạm tội Chỉ có cơ quan nào sử dụng được các quyền năng pháp lý cần thiết để buộc tội đối với người phạm tội trong cả giai đoạn điều tra đến giai đoạn xét xử tại Tòa án thì đó là cơ quan thực hành quyền công tố BLTTHS nước ta đã quy định thẩm quyền công tố của VKS trong TTHS rất lớn, được quyền áp dụng tất cả các biện pháp do BLTTHS quy định
để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội
Như vậy, trong mối quan hệ với các chức năng cơ bản của TTHS, thực hành quyền công tố là một trong những hình thức thực hiện chức năng buộc tội – nhân danh quyền lực Nhà nước và chỉ do VKS thực hiện Đây là “đòn bẩy” đưa bộ máy
tố tụng vào hoạt động và thu hút hoạt động của các chủ thể tham gia quá trình tố tụng
Với những phân tích trên, có thể nhận thấy, chức năng thực hành quyền công
tố của VKS thể hiện ở 3 khía cạnh:
Thứ nhất, nội dung thực hành quyền công tố là hoạt động của VKS sử dụng
tổng hợp các quyền năng tố tụng để buộc tội đối với người phạm tội Những quyền năng mà VKS sử dụng trong việc cáo buộc bị can, bị cáo từ điều tra đến xét xử và
Trang 20đưa ra những chứng cứ cho sự cáo buộc đó là những quyền năng pháp lý thuộc nội dung thực hành quyền công tố
Thứ hai, đối tượng thực hành quyền công tố hướng đến luôn mang tính cụ
thể, đó là tội phạm và người phạm tội
Thứ ba, về phạm vi thực hành quyền công tố: Từ ngày 01/6/2015, Luật Tổ
chức VKSND năm 2014 của nước ta có hiệu lực thi hành và lần đầu tiên, khái niệm
và phạm vi thực hành quyền công tố được quy định trong Luật Theo khoản 1 Điều
3 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 xác định “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân… được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử vụ án hình sự” Như vậy, VKS thực hành quyền công tố ngay từ khi
CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và thời điểm kết thúc của thực hành quyền công tố là khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc
vụ án bị đình chỉ theo quy định của pháp luật
Có thể nói, hoạt động thực hành quyền công tố của VKS là việc sử dụng tất
cả những quyền năng tố tụng nhằm đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện xuyên suốt ở nhiều giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó có giai đoạn truy tố vụ án hình sự
1.1.2 Khái niệm giai đoạn truy tố
TTHS là trình tự, quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm xác định sự thật khách quan vụ án BLTTHS quy định các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự phải tuân theo trình tự tố tụng nhất định và được phân chia thành các giai đoạn TTHS khác nhau Theo giáo trình của trường Đại học luật
Hà Nội ghi nhận “Giai đoạn tố tụng hình sự là những bước trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ riêng mang đặc thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng” [41, tr.10] Chúng tôi đồng ý với quan điểm trên về những đặc trưng cơ bản
Trang 21của giai đoạn TTHS: nhiệm vụ, chủ thể, hành vi, quyết định tố tụng đặc thù và khẳng định giai đoạn TTHS là các bước nối tiếp nhau trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự Tuy nhiên, phân tích như thế chưa đủ, theo chúng tôi ngoài các nội dung trên, giai đoạn TTHS phải có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc bằng văn bản hoặc quyết định tố tụng, bởi vì thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc xác định ranh giới giữa các giai đoạn TTHS, trong đó kết thúc giai đoạn tố tụng phải có văn bản hoặc quyết định tố tụng chính là cột mốc để xác định ranh giới đó Sự tồn tại của mỗi giai đoạn TTHS không tách rời khỏi sự tồn tại của TTHS, các giai đoạn TTHS được xác lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự kể từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và được thực hiện liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian, kết thúc giai đoạn tố tụng này mới chuyển sang giai đoạn tố tụng khác, giai đoạn tố tụng trước làm nền tảng cho giai đoạn tố tụng sau, giai đoạn
tố tụng sau kiểm nghiệm lại kết quả đạt được của giai đoạn trước Sự phân chia các giai đoạn không chỉ đơn thuần là xác định nhiệm vụ của từng giai đoạn mà còn làm
rõ chủ thể trong giai đoạn có quyền và nghĩa vụ nhất định, có đặc trưng riêng về hành vi và quyết định tố tụng, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc giai đoạn
tố tụng được xác định bằng văn bản hoặc quyết định tố tụng để đánh dấu bước ngoặt chuyển sang giai đoạn tố tụng khác Theo Tập bài giảng Luật tố tụng hình sự
của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận “Truy tố là giai đoạn của TTHS do VKS có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết nhằm buộc tội bị can trước Tòa án thẩm quyền thể hiện qua bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố” [50, tr.279].Chính vì vậy, chúng tôi định nghĩa giai đoạn truy tố như sau: “Truy tố là một giai đoạn của hoạt động TTHS, mà trong đó VKS căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm đánh giá một cách toàn diện, khách quan các tài liệu của vụ án hình sự, thời điểm bắt đầu khi VKS nhận hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố do CQĐT chuyển đến và kết thúc khi VKS ra một trong ba loại quyết định: 1)Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng); 2)Trả lại hồ sơ để điều tra
bổ sung hoặc là 3)Đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự.”
Trang 22Với tính chất là một giai đoạn độc lập của hoạt động TTHS, giai đoạn truy tố
có đầy đủ đặc trưng của giai đoạn TTHS:
- Nhiệm vụ của giai đoạn truy tố
Giai đoạn truy tố có nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá kết quả điều tra và quyết định truy tố bị can ra Tòa Nhiệm vụ này được thể hiện qua nội dung:
Nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố là kiểm tra, đánh giá kết quả điều tra có được tuân thủ đúng quy định của pháp luật hay không VKS nghiên cứu hồ sơ vụ án đã kết thúc điều tra, kiểm tra lại kết quả điều tra trên cơ sở đánh giá một cách toàn diện, khách quan các chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, kiểm tra trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng xem có được tuân thủ đúng quy định của luật tố tụng hình sự hay còn thiếu sót để quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung yêu cầu CQĐT khắc phục vi phạm để chắc chắn rằng VKS chỉ ra quyết định truy tố khi kết quả điều tra được tiến hành đầy đủ, toàn diện
Nhiệm vụ thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Thực hành quyền công tố có nghĩa là sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp
lý thuộc nội dung quyền công tố nhằm truy cứu TNHS đối với người phạm tội Sau khi kiểm sát kết quả điều tra vụ án, xét thấy hồ sơ đã đủ chứng cứ buộc tội và được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng, VKS quyết định truy tố bị can ra Tòa
án để xét xử Nếu xét thấy có căn cứ không được truy tố bị can theo luật định thì quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án Nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố có nội dung khác nhau nhưng có mối liên hệ mật thiết, bổ sung cho nhau, trong đó nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố là tiền đề đảm bảo quyết định truy tố của VKS có căn cứ, đúng pháp luật
- Chủ thể trong giai đoạn truy tố
Nhiệm vụ của giai đoạn truy tố là kiểm tra, đánh giá kết quả điều tra của CQĐT và quyết định truy tố bị can ra Tòa cho nên cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn truy tố phải là VKS Chỉ có VKS mới có nhiệm vụ thực hành quyền công
Trang 23tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố để quyết định truy tố nhằm buộc tội bị can VKS có quyền truy tố người bị tình nghi thực hiện tội phạm
đã được khởi tố, điều tra Do vậy người tham gia tố tụng bắt buộc trong giai đoạn này phải là bị can và có sự tham gia của những người tham gia tố tụng khác liên quan đến vụ án Giai đoạn truy tố có hai loại chủ thể đó là cơ quan tiến hành tố tụng (VKS), người tiến hành tố tụng (Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên) và những người tham gia tố tụng (bị can, bị hại…)
- Giai đoạn truy tố có đặc trưng riêng về quyết định và hành vi tố tụng
Do nhiệm vụ của giai đoạn truy tố là kiểm tra, đánh giá chứng cứ của CQĐT
và quyết định truy tố bị can ra Tòa cho nên đòi hỏi giai đoạn truy tố phải có hành vi
và quyết định tố tụng đặc trưng để thực hiện nhiệm vụ đó, bao gồm các hành vi như xem xét, đánh giá chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội, định tội danh, khung hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự, trình tự tiến hành tố tụng theo quy định của BLTTHS Các hoạt động tố tụng này nhằm thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn truy
tố là quyết định truy tố bị can cho nên quyết định truy tố chính là quyết định tố tụng đặc thù trong giai đoạn truy tố
- Giai đoạn truy tố có đặc trưng riêng về các quan hệ pháp luật TTHS
Quan hệ pháp luật TTHS là mối quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Giai đoạn truy tố có nhiệm vụ truy tố bị can ra Tòa cho nên quan hệ pháp luật TTHS trong giai đoạn truy tố là mối quan hệ giữa một bên là cơ quan tiến hành
tố tụng (VKS), người tiến hành tố tụng (Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên) và một bên chủ thể là người tham gia tố tụng (bị can ) Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS trong giai đoạn truy tố, có quyền và nghĩa vụ pháp
lý gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ giai đoạn truy tố Đối với người tiến hành tố tụng nhân danh cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng, cho nên quyền và nghĩa vụ của họ gắn liền với quyền và nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng, đối với bị can có quyền được biết mình phạm tội gì,
Trang 24được nhận quyết định truy tố của VKS và phải có nghĩa vụ chấp hành quyết định tố tụng của VKS
- Thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của giai đoạn truy tố
Bản kết luận điều tra của CQĐT làm kết thúc giai đoạn điều tra và phát sinh giai đoạn truy tố, thời điểm bắt đầu giai đoạn truy tố từ khi VKS nhận được hồ sơ
vụ án đã kết thúc điều tra của CQĐT Trong giai đoạn truy tố, VKS tiến hành các hoạt động tố tụng theo luật định nhằm thực hiện nhiệm vụ giai đoạn truy tố là kiểm tra, đánh giá kết quả điều tra và quyết định truy tố bị can ra Tòa xét xử vụ án Do
đó, VKS quyết định truy tố có nghĩa là thực hiện xong nhiệm vụ giai đoạn truy tố,
vì vậy quyết định truy tố chính là quyết định tố tụng kết thúc giai đoạn truy tố, thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn truy tố cũng nhằm thực hiện nhiệm vụ của TTHS là xử
lý người phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Cho nên, khi
có căn cứ cho rằng nếu truy tố sẽ dẫn đến oan sai hoặc có căn cứ đình chỉ theo quy định luật TTHS thì VKS phải quyết định đình chỉ vụ án, chấm dứt tiến hành tố tụng đối với vụ án Vì vậy, quyết định đình chỉ vụ án cũng là quyết định tố tụng kết thúc giai đoạn truy tố Hoặc trong trường hợp nếu thấy hồ sơ chưa đầy đủ còn lọt người, lọt tội hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra thì VKS quyết định trả hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra bổ sung cũng là quyết định chấm dứt giai đoạn truy tố
Như vậy, trong các giai đoạn TTHS thì truy tố là hoạt động chính thức cáo buộc hành vi phạm tội, người phạm tội nhân danh Nhà nước của VKS trên cơ sở đánh giá kết quả điều tra của CQĐT Hoạt động này do chủ thể duy nhất thực hiện
là VKS, với hành vi tố tụng là kiểm tra và đánh giá lại những chứng cứ mà CQĐT thu thập được có đảm bảo tính có căn cứ và hợp pháp hay không để xem xét việc truy tố Với những đặc thù riêng về nhiệm vụ, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng áp dụng nên truy tố thực sự là một giai đoạn TTHS độc lập trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự
1.1.3 Khái niệm, nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Trang 25Khi nghiên cứu về khái niệm thực hành quyền công tố, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng: Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung của quyền công tố để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử [42, tr.57]
Để nghiên cứu về khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố, chúng tôi dựa trên quan điểm trên; đồng thời, giai đoạn truy tố được xác định là từ khi VKS nhận được hồ sơ vụ án và Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của CQĐT đến khi VKS ban hành cáo trạng quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử hoặc quyết định trả hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật TTHS Từ đó chúng tôi cho
rằng: trong giai đoạn truy tố, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi VKS nhận được hồ sơ vụ án và Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của CQĐT và kết thúc khi VKS ban hành cáo trạng quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét
xử hoặc quyết định trả hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật TTHS
Nội dung của thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố chính là việc: VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng tố tụng độc lập do pháp luật quy định nhằm truy cứu TNHS đối với người phạm tội, bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt người, lọt tội, được thực hiện từ khi VKS nhận được
hồ sơ vụ án và Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của CQĐT và kéo dài trong suốt giai đoạn truy tố
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố có nghĩa là VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Sau khi kiểm sát kết quả điều tra vụ án, xét thấy hồ sơ đã đủ chứng cứ buộc tội và được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng, VKS quyết định truy tố bị can ra Tòa án để xét xử Nếu xét thấy có căn cứ không được truy tố bị can theo luật định thì quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ
vụ án VKS có rất nhiều quyền năng pháp lý để thực hành quyền công tố nhưng trong đó quyền quyết định việc truy tố bị can ra Tòa án để xét xử là quyền duy nhất
Trang 26chỉ có ở VKS, các quyền khác thì CQĐT, Tòa án và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng được thực hiện nhưng không mang tính chủ động hoàn toàn như VKS Trên thực tế, vẫn có sự nhầm lẫn giữa quyền năng tố tụng với quyền của cơ quan công tố Về nguyên tắc, chỉ có cơ quan nào sử dụng tất cả các quyền năng pháp lý cần thiết để truy cứu TNHS đối với người phạm tội mới là cơ quan thực hành quyền công tố Ở Việt Nam, pháp luật quy định chỉ có VKS là cơ quan duy nhất thực hành quyền công tố, CQĐT chỉ thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ VKS đưa vụ án ra Tòa, Tòa án chỉ xét xử những tội phạm và người phạm tội mà VKS đã truy tố
Từ những phân tích nêu trên, chúng ta có thể đi đến khái niệm như sau: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu TNHS đối với người phạm tội, được thực hiện từ khi VKS nhận được hồ sơ vụ án và Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của CQĐT và kết thúc khi VKS ban hành cáo trạng quyết định truy tố
bị can ra trước Tòa án để xét xử hoặc quyết định trả hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật TTHS
1.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố là một hoạt động áp dụng pháp luật vào thực tế nhằm truy cứu TNHS đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội Hoạt động này chỉ do VKS tiến hành bởi VKS là cơ quan duy nhất đại diện Nhà nước thực hiện chức năng thực hành quyền công tố Để thực hiện chức năng công tố, BLTTHS và Luật tổ chức VKSND quy định cho VKS một hệ thống các quyền năng pháp lý rộng lớn, trong đó có những quyền chỉ VKS mới được thực hiện (điển hình là quyền quyết định truy tố bị can ra Tòa án để xét xử) Khi thực hành quyền công tố, VKS phải bảo đảm rằng mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, điều tra, xử lý kịp thời, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, Nhà nước giao cho VKS thay mặt nhà nước thực hành quyền công tố, theo đó VKS được sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố
Trang 27để thực hiện việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử Đây là đặc điểm
cơ bản nhất của thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Thực hành quyền công tố ở giai đoạn truy tố của VKS bao gồm các hành vi
và các quyết định tố tụng mang tính công khai theo một trình tự, thủ tục, thẩm quyền được pháp luật TTHS quy định Mục đích của hoạt động thực hành quyền công tố của VKS là nhằm truy cứu TNHS đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do các chế tài pháp luật hình sự đặt ra Quá trình này phải đảm bảo tính chặt chẽ, có căn cứ pháp luật và đồng thời mang tính công khai
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố là VKS kiểm tra, xem xét một cách toàn diện việc thu thập, đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác có liên quan đến vụ án đã được thu thập trong giai đoạn khởi tố, điều tra Ngoài ra, VKS có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ làm rõ nội dung vụ án
để quyết định truy tố có căn cứ và đúng pháp luật Quyết định truy tố của VKS là sự đánh giá tổng hợp các chứng cứ chứng minh tội phạm của CQĐT trong giai đoạn khởi tố, điều tra và chứng cứ do VKS thu thập trong giai đoạn truy tố bao gồm chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân người phạm tội…để quyết định truy cứu TNHS đối với người phạm tội dựa trên chứng cứ có thật, liên quan đến vụ án chứ không dựa trên suy luận chủ quan
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố chính là việc VKS thực hiện các hoạt động công tố nhằm thực thi quyền truy cứu TNHS, quyết định việc buộc tội, việc gỡ tội; quyết định hạn chế các quyền công dân như bắt, tạm giữ, tạm giam
và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định việc truy tố hay đình chỉ, tạm đình chỉ
vụ án thuộc thẩm quyền
Thực hành quyền công tố có đặc điểm khác với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Tuy cùng một chủ thể là VKS tiến hành nhưng thực hành quyền công tố nhằm vào việc buộc tội, gỡ tội, áp dụng biện pháp ngăn chặn và các biện pháp cưỡng chế khác đối với người phạm tội Còn hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật hướng đến sự tuân thủ pháp luật của CQĐT và những người tham gia
Trang 28tố tụng Nếu phát hiện có hành vi phạm pháp luật, VKS có quyền kiến nghị, yêu cầu các chủ thể chấm dứt vi phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật đã bị vi phạm
Kết luận Chương 1
Quyền công tố xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước Quyền Công
tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho cơ quan VKS để phát hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội Để làm được điều này, VKS phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà
Giai đoạn truy tố là giai đoạn TTHS độc lập Nhiệm vụ của giai đoạn truy tố
là kiểm tra, đánh giá kết quả điều tra và quyết định truy tố, trong đó có hoạt động tố tụng là việc xem xét, đánh giá chứng cứ để quyết định truy tố Chủ thể trong giai đoạn truy tố là cơ quan tiến hành tố tụng (VKS), người tiến hành tố tụng (Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên) và người tham gia tố tụng (bị can,…) VKS có thẩm quyền quyết định việc truy tố theo chức năng do pháp luật TTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho hoạt động xét xử của Tòa án Theo đó, thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung của quyền công
tố để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội, được thực hiện từ khi CQĐT kết thúc điều tra đề nghị truy tố và kết thúc khi VKS ban hành cáo trạng quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử hoặc quyết định trả hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra bổ sung,quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật TTHS
Trang 29Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 2.1 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tốtrong giai đoạn truy tố từ giai đoạn năm 1945 đến trước năm 1988
Luật TTHS Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam, trước khi có BLTTHS năm 1988, việc giải quyết vụ
án hình sự chỉ căn cứ vào các văn bản pháp luật TTHS như Chỉ thị ngày 16/4/1945 của Tổng bộ Việt Minh quy định lề lối làm việc của tiểu ban tư pháp và thẩm quyền xét xử của tiểu ban này Sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, mặc
dù chưa có BLTTHS, không có tên gọi VKS, tuy nhiên, Nhà nước ban hành Sắc lệnh ngày 13/9/1945 về việc thành lập Tòa án quân sự quy định đứng buộc tội là một ủy viên Quân sự hay một ủy viên của ban Trinh sát, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 33B ngày 13/9/1945 quy định mỗi khi bắt người phải thông báo ngay cho ông Biện lý biết (tức là Thẩm phán làm nhiệm vụ công tố) Tiếp theo, trong Sắc lệnh số 07/SL ngày 15/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định đứng buộc tội tùy quyết nghị của Bộ trưởng Bộ tư pháp sẽ là một nhân viên của Công tố viện do ông Chưởng lý Tòa Thượng thẩm chỉ định Như vậy, Công tố viện đã được hình thành dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ
tư pháp, Sắc lệnh quy định đầy đủ về tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp là Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa án quy định ngồi ghế Công tố viên
là các Thẩm phán buộc tội do ông Chưởng lý đứng đầu, ở Tòa thượng thẩm có Thẩm phán buộc tội gồm Chưởng lý, Phó chưởng lý, Tham lý; ở Tòa đệ nhị cấp có Biện lý, Phó Biện lý; các Thẩm phán buộc tội hợp thành một đoàn thể độc lập với Thẩm phán xử án và duy nhất, đặt dưới quyền ông Chưởng lý có nhiệm vụ truy tố bằng cáo trạng, thay mặt Nhà nước buộc tội tại phiên tòa Ông Chưởng lý hoàn toàn giữ quyền truy tố và hành động; các Thẩm phán trong Công tố viên coi như được uỷ quyền hành động của ông Chưởng lý Một Thẩm phán buộc tội sau khi đệ bản kết luận viết theo lệnh trên có thể kết luận miệng theo ý riêng của mình
Trang 30Như vậy tại Sắc lệnh số 13 chưa quy định cụ thể các quyết định của các Thẩm phán buộc tội nhưng tại Điều 31 của Sắc lệnh thể hiện Thẩm phán buộc tội bằng cáo trạng, tại Điều 31 quy định:
Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định người làm nhiệm vụ Công tố viện có nhiệm vụ tư pháp cảnh sát, giám sát hành động ban tư pháp cảnh sát; thực hiện nhiệm vụ công tố, có quyền hỏi cung bị can, hạ trát tống giam, tạm đình cứu hoặc miễn tố vô thẩm quyền, khởi tố trạng, quyết tố trạng ra mệnh lệnh đưa việc kiện ra xét xử tại phiên tòa hoặc phải có mặt tại phiên tòa để buộc tội bị can, giám sát hoạt động xét xử, có quyền kháng cáo
án đã tuyên; có nhiệm vụ thi hành những án đã có tư pháp hiệu lực, đốc thúc chấp hành án văn liên quan đến trật tự chung; trông nom và đệ lên Bộ trưởng Bộ tư pháp những hồ sơ xin ân xá hay xin phóng thích; trông nom việc thi hành các đạo luật, sắc lệnh, quy tắc hiện hành Như vậy nhiệm vụ công tố đã được thể hiện bằng tên gọi “Biện lý” và đối với những việc đơn giản thì đưa ngay bị can ra một phiên tòa gần nhất để xét xử mà không cần ban hành khởi tố trạng, được quy định tại Điều 23
khoản 2 của Sắc lệnh: “Nếu là một việc tiểu hình, mà lại là một việc phạm pháp quả tang, ông biện lý phải hỏi cung ngay bị can, và có thể hạ trát tống giam rồi đưa bị can ra xét xử tại một phiên toà tiểu hình gần nhất” [13, Khoản 2 Điều 23] Trong
trường hợp sau đây thì Biện lý lập khởi tố trạng (Điều 23 khoản 3):
- Nếu là một việc đại hình,
- Nếu bị can là người vị thành niên,
- Nếu bị can, vì các tiền án, có thể bị phát vãng,
- Nếu xét ra cần phải mở một cuộc thẩm cứu kỹ lưỡng hơn
Khi cuộc thẩm cứu đã kết liễu, và khi tiếp nhận được hồ sơ do ông dự thẩm chuyển sang thì trong hạn 3 ngày, ông biện lý sẽ làm quyết tố trạng ra mệnh lệnh hoặc tạm đình cứu, hoặc miễn tố vô thẩm quyền, hoặc đưa việc kiện ra xét xử tại một phiên toà vi cảnh, tiểu hình, hay đại hình [13, Khoản 3 Điều 23]
Như vậy, khi nhận hồ sơ do ông dự thẩm chuyển sang, Biện lý có thể làm quyết tố trạng; tạm đình cứu, miễn tố hoặc đưa ra xét xử, qua đó cho thấy từ Sắc
Trang 31lệnh số 51 ngày 17/4/1946 đã cơ bản hình thành các hoạt động thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn truy tố
Ngày 29 tháng 4 năm 1958, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quyết định việc thành lập Viện Công tố và hệ thống cơ quan công tố tách khỏi Bộ tư pháp, đặt Viện Công tố trung ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ và có trách nhiệm, quyền hạn như một Bộ Nhiệm vụ và tổ chức của Viện Công tố được quy định tại Nghị định 256-TTg ngày 01/7/1959 của Thủ tướng Chính phủ, Viện Công
tố có nhiệm vụ “giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật Nhà nước, truy tố theo luật hình những kẻ phạm pháp” Nhiệm vụ cụ thể và đầu tiên của Viện Công tố lúc đó là “điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự” Để thực hiện nhiệm vụ được giao, “Viện Công tố có trách nhiệm áp dụng những biện pháp thích đáng theo pháp luật để xử lý mọi hành vi phạm pháp, mọi phần tử phạm pháp” [45, Điều 1 và Điều 2]
Như vậy, ngay từ khi được tách thành một cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ, Viện Công tố đã được xác định là cơ quan chịu trách nhiệm điều tra và truy tố trước Tòa án những người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự Và khi thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, Viện Công tố có quyền áp dụng những biện pháp thích đáng theo pháp luật để xử lý mọi hành vi vi phạm pháp luật hình sự, tức
là Viện Công tố được thực hiện những quyền năng thuộc phạm vi công tố mà pháp luật cho phép để truy cứu TNHS đối với người có hành vi phạm tội
Năm 1959 Hiến pháp được ban hành, Luật tổ chức VKSND năm 1960 được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua ngày 15/7/1960 và được Chủ tịch nước công bố vào ngày 26/7/1960 Luật tổ chức VKSND ra đời đánh dấu sự hình thành VKSND, đó là một hệ thống cơ quan độc lập tách ra khỏi hành pháp và trực thuộc Quốc hội (Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất) Thời kỳ này, VKSND thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo quy định tại Thông tư liên tịch
số 427/TTLT ngày 28/6/1963 của Bộ Công an - VKSND tối cao quy định tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ công tác giữa VKSND tối cao và Bộ Công an,đó là:
về mặt trình tự tố tụng hình sự, cơ quan công an vừa có trách nhiệm khởi tố vụ án,
Trang 32bước đầu thu thập chứng cớ và khởi tố đối với bị can trong các vụ án phản cách mạng và các vụ phạm pháp về hình sự khác đã được phát hiện, vừa có trách nhiệm tiếp tục hoàn thành việc điều tra lập hồ sơ Sau khi kết thúc điều tra, nếu thấy cần truy tố bị can ra trước pháp luật thì cơ quan công an làm bản cáo trạng gửi đến VKS kèm theo hồ sơ, VKS thẩm tra và ra một trong các quyết định: Phê chuẩn bản cáo trạng và truy tố bị can ra trước tòa; miễn tố bị can hoặc đình cứu vụ án theo quy định của pháp luật; hoàn lại hồ sơ để cơ quan công an điều tra bổ sung nếu thấy hồ
sơ thiếu những chứng cớ chủ yếu và nêu yêu cầu cụ thể Trường hợp thấy thiếu sót
ít thì đề ra yêu cầu bổ sung những tài liệu cần thiết; hoàn lại hồ sơ và bản cáo trạng
để cơ quan công an thẩm tra và làm lại bản cáo trạng nếu xét thấy cần thay đổi về căn bản nội dung bản cáo trạng Trường hợp chỉ cần sửa lại bản cáo trạng về chi tiết, mà việc sửa đó không làm thay đổi tính chất và nội dung vụ án về căn bản thì VKS góp ý kiến để cơ quan công an sửa lại bản cáo trạng hoặc tự mình làm bản cáo trạng khác để Tòa án xét xử
Như vậy, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố ngoài một số quyền củaVKS đã phần nào được hình thành từ những năm 1946 thì quyền quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung mới được hình thành từ năm 1963 theo Thông tư liên tịch số 427/TTLTngày 28/6/1963
Sau khi đất nước Việt Nam thống nhất, Hiến pháp năm 1980 ra đời,năm
1981 Luật tổ chức VKSND được ban hành đã bổ sung nội dung thực hành quyền công tố, mặc dù chưa coi nội dung thực hành quyền công tố là một chức năng của VKS nhưng đây là bổ sung quan trọng nhằm nhấn mạnh quyền năng cơ bản của VKS là truy tố, buộc tội
Trang 332.2 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố từ năm 1988 đến trước năm 2003
Ngày 28/6/1988 Quốc hội ban hành BLTTHS quy định tương đối đầy đủ trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự, quyền và nghĩa vụ của cơ quan tiến hành
tố tụng Những quy định ban đầu của Bộ luật này chủ yếu đề cập đến chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra của VKS Chỉ đến khi được sửa đổi bổ sung vào những năm 1990, 1992 và 2000 thì trong Bộ luật này mới có những quy định thể hiện rõ hơn hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố của VKS, bản thân các quy định về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của VKS trong Bộ luật này cũng chưa tách bạch được đâu là hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đâu là hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố, do khi xây dựng Bộ luật này, các nhà làm luật vẫn mang nặng tư duy cho rằng thực hành quyền công tố là một quyền năng của VKS khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy
tố nên đã đặt tên Chương XIV của Bộ luật này là: Kiểm sát điều tra, quyết định truy
tố Trong đó, nhiệm vụ thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố được quy định tại Điều 142 BLTTHS, đó là, sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra của CQĐT chuyển đến, VKS có quyền quyết định truy tố bị can ra trước Toà án bằng bản cáo trạng; trả lại hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Đồng thời quy định trong trường hợp bị can đang
bị tạm giam mà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam
để hoàn thành bản cáo trạng thì VKS có thể ra lệnh tạm giam, nhưng không được quá thời hạn truy tố là ba mươi ngày [26, Điều 142] Khi VKS quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng thì BLTTHS năm 1988 đã quy định cụ thể hình thức, nội dung của bản cáo trạng như nêu rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; tội danh và điều khoản Bộ luật hình sự được áp dụng [26, Điều 143] Tuy nhiên Bộ luật vẫn
Trang 34chưa quy định cụ thể các căn cứ VKS trả hồ sơ để điều tra bổ sung; các căn cứ để VKS đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
Ngày 30/6/1990 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS năm 1988 được ban hành, bổ sung quy định khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy
tố VKS có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Tức là sau khi kết thúc điều tra nhận được hồ sơ vụ án, đối với bị can đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, nếu xét thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn nữa thì VKS sẽ thay đổi hoặc hủy bỏ; hoặc nếu xét thấy cần thiết thì VKS sẽ quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can chưa bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra Đồng thời bổ sung quy định đối với biện pháp tạm giam thì trong trường hợp cần thiết, VKS có thể gia hạn thêm ba mươi ngày
Ngày 22/12/1992 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi bổ sung BLTTHS năm
1988 lần thứ hai, đã bổ sung thêm Điều 143a quy định các căn cứ VKS trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thực quyền công tố trong giai đoạn truy tố, đó là qua nghiên cứu hồ sơ vụ án kết thúc điều tra của CQĐT mà phát hiện thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà VKS không thể tự mình bổ sung được; có căn cứ để khởi tố bị can về một tội khác hoặc có người đồng phạm khác; hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Luật sửa đổi bổ sung BLTTHS năm 1988 còn
bổ sung thêm Điều 143b quy định các căn cứ VKS đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án khi thực quyền công tố trong giai đoạn truy tố, đó là:
- Đối với việc đình chỉ vụ án thì sau khi hồ sơ vụ án đã kết thúc điều tra chuyển sang VKS, VKS ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 89 của BLTTHS hoặc tại Điều 16, khoản 1 Điều 48 và khoản 3 Điều 59 của Bộ luật hình sự
Căn cứ theo các điều luật tương ứng quy định trong Điều 143b nêu trên thì các trường hợp VKS đình chỉ vụ án cụ thể như sau:
Khi có những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 89 BLTTHS: Không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm;
Trang 35người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu TNHS; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết đình đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu TNHS; tội phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác
Khi người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, tức là họ không thực hiện tội phạm đến cùng mặc dù không có gì ngăn cản Theo quy định tại Điều
16 Bộ luật hình sự thì trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì
họ được miễn TNHS về tội mà họ định phạm, nhưng nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác thì người đó phải chịu TNHS về tội này
Khi có căn cứ miễn TNHS trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
48 Bộ luật hình sự: Do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; và nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, cho nên có thể được đình chỉ vụ án
Và trong trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 59 Bộ luật hình sự, khi người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và nếu được gia đình và tổ chức xã hội nhận trách nhiệm giám sát, giáo dục thì VKS đình chỉ miễn truy cứu TNHS người chưa thành niên phạm tội để đảm bảo những nguyên tắc cơ bản về xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên là mục đích chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội
- Đối với việc tạm đình chỉ vụ án, thì sau khi nhận hồ sơ vụ án kết thúc điều tra do CQĐT chuyển sang, nếu bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác
mà có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y; hoặc nếu bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can ở đâu, VKS ra quyết định tạm đình chỉ vụ án Như vậy thì khi
hồ sơ đã được chuyển sang VKS, VKS sẽ xác định các căn cứ để tạm đình chỉ điều
Trang 36tra vụ án Nếu bị can mắc bệnh tâm thần, thì VKS quyết định việc trưng cầu giám định pháp y nhằm làm rõ tình trạng bệnh của bị can, làm rõ tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của bị can (nếu bị can chưa được CQĐT tiến hành giám định) Khi có kết luận của giám định y khoa chứng thực là bị can mắc bệnh tâm thần, thì VKS ra quyết định tạm đình chỉ vụ án Còn trong trường hợp bị can bỏ trốn và không rõ bị can đang ở đâu, thì VKS ra quyết định tạm đình chỉ vụ
án và yêu cầu CQĐT ra quyết định truy nã bị can
Trong những trường hợp đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án nêu trên nếu vụ án
có nhiều bị can mà các căn cứ đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất
cả bị can thì VKS chỉ có thể ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đối với từng
bị can mà thôi
Ngày 09/6/2000 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật TTHS năm
1988 lần thứ ba thì các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố không có gì thay đổi, bổ sung so với lần sửa đổi năm 1992; chỉ bổ sung mới quy định cụ thể về thời hạn truy tố, gia hạn thời hạn truy tố đối với từng loại tội phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng)
Mặc dù BLTTHS năm 1988 được xây dựng trên cơ sở kết thừa những giá trị tốt đẹp của pháp luật TTHS truyền thống, quán triệt và thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước lúc bấy giờ, nhưng trong quá trình thi hành đã thể hiện những hạn chế và bất cập nên đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990, 1992 và
2000 Tuy nhiên, những lần sửa đổi, bổ sung đó mới chỉ tập trung vào những vấn đề cấp bách để đáp ứng kịp thời những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, chưa có điều kiện để sửa đổi một cách cơ bản và toàn diện Thực tiễn đòi hỏi những tư tưởng, đường lối về cải cách tư pháp trong các Nghị quyết của Đảng đã được pháp luật hóa thành các quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2002), Luật tổ chức VKSND năm 2002, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm
2002 phải trở thành những quy định của BLTTHS Trước những đòi hỏi nêu trên, BLTTHS mới (BLTTHS năm 2003) đã được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ
Trang 37họp thứ tư vào ngày 26 tháng 11 năm 2003 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 Khi BLTTHS năm 2003 được ban hành, nội dung thực hành quyền công tố trong TTHS đã được quy định cụ thể, rõ ràng hơn, tạo điều kiện cho VKS các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
2.3 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, khi có đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố Như vậy, khi hồ sơ vụ án được Cơ quan điều tra chuyển đến VKSND
để xem xét, quyết định việc truy tố thì giai đoạn điều tra vụ án coi như đã kết thúc VKS thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố có nghĩa là áp dụng các biện pháp trực tiếp quyết định đến việc truy cứu TNHS, buộc tội bị can Thế nhưng, cả BLTTHS năm 2003 cũng như Luật tổ chức VKSND năm 2002 chỉ quy định việc truy tố bị can là một trong những nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra Trong thời gian xem xét, quyết định việc truy tố, hoạt động thực hành quyền công tố của VKS như thế nào thì Luật chưa quy định cụ thể Tuy nhiên căn cứ vào Điều 112 và Chương XV BLTTHS năm
2003 thì khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố, VKS có những nhiệm
vụ và quyền hạn sau đây:
2.3.1 Quyền trước khi quyết định truy tố
- Quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn
Những biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm (Điều 79 BLTTHS) Ngay sau khi nhận hồ sơ vụ án kết thúc điều tra, hoạt động đầu tiên của VKS là kiểm tra biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng trong giai đoạn điều tra để quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (Khoản 2 Điều 166 BLTTHS) VKS được quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đã nêu trên Biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nghiêm khắc để kịp thời ngăn chặn hành
vi phạm tội, ngăn ngừa bị can tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành
Trang 38vi gây khó khăn cho việc truy tố, bảo đảm cho hoạt động tố tụng được thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm VKS áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong trường hợp có căn cứ cho thấy bị can có thể trốn, gây khó khăn cho việc truy tố, sẽ tiếp tục phạm tội chẳng hạn như bị can có hộ khẩu thường trú ở địa phương khác, không chấp hành theo giấy triệu tập của VKS; đối với bị can có nơi cư trú rõ ràng và để đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng,VKS áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; hoặccăn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của người phạm tội, VKS quyết định cho họ được bảo lĩnh hayđặt tiền hoặc tài sản có giá trịđể thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giambảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tậpcủa cơ quan tiến hành tố tụng Tóm lại sau khi nhận được hồ sơ kết thúc điều tra của CQĐT thìviệcquyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặnchínhlà hoạt động thực hành quyền công tố đầu tiên trong giai đoạn truy tố của VKS
- Quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra
Sau khi quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, VKS nghiên cứu nội dung hồ sơ vụ án, nếu thấy hồ sơ còn thiếu, yếu về chứng cứ thì có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ chứng cứ buộc tội, chứng cứ
gỡ tội và các tình tiết có liên quan đến vụ án nhằm đánh giá khách quan, toàn diện
vụ án trước khi có quyết định truy tố cũng như các quyết định khác để đảm bảo quyết định của VKS được ban hành có căn cứ và đúng pháp luật Hoạt động điều tra trong giai đoạn truy tố tuy không phải là cơ sở pháp lý để đánh dấu thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc giai đoạn truy tố nhưng các hoạt động này có ý nghĩa tích cực tạo tiền đề quan trọng cho VKS có quyết định đúng đắn trong giai đoạn truy tố; đảm bảo việc xử lý vụ án đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan người vô tội
Trong giai đoạn truy tố, VKS trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm làm rõ thêm các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và những vấn đề mới phát sinh
mà không cần phải trả hồ sơ yêu cầu CQĐT điều tra bổ sung, đó là các biện pháp
Trang 39điều tra như: Trực tiếp hỏi cung bị can (Điều 131 BLTTHS) trong những trường hợp cần thiết như cần kiểm tra chứng cứ do CQĐT thu thập, cần làm rõ một số tình tiết của vụ án mà chưa được CQĐT làm rõ trong quá trình điều tra; trường hợp bị can kêu oan hoặc lời khai có lúc nhận tội, có lúc phản cung chối tội hoặc có dấu hiệu dụ cung, mớm cung, nhục hình hoặc tội danh có mức hình phạt cao nhất là tử hình Mục đích của hỏi cung bị can là nhằm thu thập lời khai trung thực, đúng sự thật về vụ án; thu thập, kiểm tra và củng cố chứng cứ làm rõ nội dung vụ án, tội danh, điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng đối với bị can; mức độ phạm tội, thủ đoạn gây án; động cơ, mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, những vấn đề bồi thường thiệt hại cho nạn nhân; đồng thời qua việc hỏi cung bị can giúp Kiểm sát viên nắm chắc tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của bị can để có dự kiến các tình huống đối đáp tranh luận tại phiên tòa Trực tiếp lấy lời khai người làm chứng (Điều 135 BLTTHS) để kiểm tra các lời khai của
họ, làm rõ mâu thuẫn trong những lời khai của người làm chứng, mâu thuẫn giữa lời khai của những người làm chứng với nhau hoặc mâu thuẫn với các chứng cứ khác
để làm rõ tình tiết của vụ án, xác định sự thật khách quan của vụ án Trực tiếp lấy lời khai người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án (Điều 136 BLTTHS) để xác định diễn biến hành vi phạm tội của bị can, đối chiếu với lời khai của bị can và những người làm chứng khác để xác định tình tiết phù hợp, tình tiết mâu thuẫn để đấu tranh làm rõ, đồng thời làm rõ yêu cầu của những người này về vấn đề bồi thường thiệt hại để xem xét việc bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Ngoài ra trong những trường hợp khi có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người tham gia tố tụng thì Kiểm sát viên tiến hành đối chất (Điều 138 BLTTHS) giữa các bị can, người bị hại, người làm chứng… để làm sáng tỏ những mâu thuẫn trong lời khai trước đó của họ, làm sáng
tỏ sự thật khách quan của vụ án, vạch trần lời khai gian dối VKS tiến hành thực nghiệm điều tra (Điều 153 BLTTHS) để kiểm tra lại các hành vi, tình huống hoặc các hành động khác được người thực nghiệm thực hiện để đánh giá hành vi đó có phù hợp với lời khai của họ và có phù hợp với hiện trường do CQĐT đã thu thập có
Trang 40trong hồ sơ vụ án hay không để giải quyết vụ án được chính xác, phù hợp với thực tiễn khách quan
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố thời gian qua cho thấy, trong nhiều vụ án VKS các cấp đã thực hiện khá hiệu quả thẩm quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; điều này đã kịp thời khắc phục những thiếu sót, vi phạm của CQĐT trong quá trình điều tra, đồng thời
đã làm rõ những tình tiết sự thật khách quan của vụ án, những chứng cứ mà VKS thấy cần thiết; tìm hiểu được tâm tư, nguyện vọng của bị can, góp phần củng cố tài liệu, chứng cứ hiện có trong hồ sơ vụ án, tạo cơ sở cho việc quyết định truy tố cũng như việc buộc tội tại phiên ṭa sau này
- Quyền quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Trong giai đoạn truy tố, VKS thực hành quyền công tố của mình thông qua quyền truy tố bị can, quyết định truy tố thực chất là truy cứu TNHS đối với người phạm tội ra Tòa án xét xử tuyên buộc họ phải chịu hình phạt theo luật định, vì vậy quyết định truy tố phải chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.VKS phải chịu trách nhiệm về mặt chứng cứ trong hồ sơ vụ án Vì vậy, hồ sơ vụ án thể hiện chứng cứ yếu, thiếu, không đầy đủ dẫn đến Tòa án phải đình chỉ vụ án hoặc tuyên bị cáo không phạm tội đều thuộc trách nhiệm của VKS, điều đó có nghĩa là VKS truy
tố oan, sai Do đó, sau khi đã trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS xét thấy hồ sơ vụ án còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà VKS không thể tự mình bổ sung được; có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, VKS có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Điều 168 BLTTHS) để CQĐT tiếp tục điều tra làm rõ nhằm củng cố chứng cứ buộc tội, chứng minh hành vi phạm tội của bị can,khắc phục những thiếu sót và vi phạm trong quá trình tố tụng nhằm để đảm bảo việc truy cứu TNHS đối với bị can có căn cứ, đúng pháp luật và giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, triệt để, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội
Chứng cứ quan trọng đối với vụ án là chứng cứ chứng minh tội phạm mà thiếu chứng cứ này thì không thể giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đúng