LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Đánh giá năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của Học viện Hành chính quốc gia dưới góc nhìn học viên” là kết quả nghiên cứu của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- -
NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CÁC LỚP CHUYÊN VIÊN CHÍNH
CỦA HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- -
NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CÁC LỚP CHUYÊN VIÊN CHÍNH
CỦA HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Đánh giá năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của Học viện Hành chính quốc gia dưới góc nhìn học viên” là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và chưa được công bố
trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình
Hà Nội, ngày … tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Phƣợng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi trân trọng cảm ơn thầy hướng dẫn – GS.TS Lê Ngọc Hùng đã định hướng khoa học, hướng dẫn tận tình chu đáo trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo của Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, các đồng nghiệp Khoa đào tạo bồi dưỡng, các học viên lớp chuyên viên chính của Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện cho tôi theo học chương trình sau đại học và thực hiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô và đồng nghiệp đã giúp đỡ và đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình nghiên cứu
Do bản thân tác giả còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm trong nghiên cứu nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được góp ý, bổ sung ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo và các bạn học viên
Trân trọng cảm ơn!
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU 10
1.1 Tổng quan nghiên cứu 10
1.2 Cơ sở lý luận của nghiên cứu 12
1.2.1 Các khái niệm cơ bản 12
1.2.2 Những nội dung của năng lực quản lý lớp học 19
CHƯƠNG 2 MÔ TẢ NGHIÊN CỨU 29
2.1 Mô tả nghiên cứu 29
2.1.1 Chủ thể được đánh giá năng lực quản lý 29
2.1.2 Chủ thể đánh giá năng lực quản lý 33
2.1.3 Thiết kế nghiên cứu 34
2.2 Thiết kế công cụ khảo sát (bảng hỏi) 34
2.2.1 Thang do 34
2.2.2 Công cụ khảo sát 35
2.3 Đánh giá thang đo 37
2.3.1 Đánh giá thang đo ở bước thử nghiệm 37
2.3.2 Đánh giá thang đo ở bước nghiên cứu chính thức 44
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53
3.1 Năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của Học viện hành chính quốc gia dưới góc nhìn học viên của các chủ thể liên quan 53
3.1.1 Học viện hành chính quốc gia 53
3.1.2 Phòng đào tạo bồi dưỡng 63
Trang 63.1.4 Giảng viên 79
3.1.5 Học viên 84
3.2 So sánh năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính theo các chủ thể đƣợc đánh giá 87
3.2.1 Năng lực lập kế hoạch 88
3.2.2 Năng lực tổ chức thực hiện 89
3.2.3 Năng lực chỉ đạo điều hành 90
3.2.4 Năng lực kiểm tra giám sát 91
3.2.5 Năng lực thu hút sự tham gia của học viên 92
3.2.6 So sánh các năng lực quản lý của các chủ thể được đánh giá 93
3.3 Sự khác biệt về năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của Học viện hành chính quốc gia theo các đặc điểm học viên 93
3.3.1 Kiểm định sự khác biệt về mức độ đánh giá năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính theo trình độ chuyên môn 94
3.3.2 Kiểm định sự khác biệt về mức độ đánh giá năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính theo giới tính 99
3.4 Đánh giá chung về năm năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 102
3.4.1 Đánh giá về năm năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 103
3.4.2 Đánh giá năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính thông qua đánh giá các chỉ báo chất lượng đào tạo 106
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 115
Trang 75 Học viện Hành chính Quốc gia HVHCQG
6 Phòng Đào tạo Bồi dưỡng PĐTBD
Trang 8Bảng 2.1 Tổng hợp các lớp bồi dưỡng theo ngạch giai đoạn 2011 – 2015 31
Bảng 2.2 Số lớp khai giảng, bế giảng và đang quản lý tính đến ngày 30/5/2016 32
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp các lớp bồi dưỡng Chuyên viên chính do Học viện Hành chính Quốc gia tổ chức năm 2016 33
Bảng 2.4 Thiết kế nghiên cứu 34
Bảng 2.5 Mức độ và ý nghĩa của thang đo 35
Bảng 2.6 Hệ số Cronbach Alpha trong nghiên cứu thực nghiệm 37
Bảng 2.7 Hệ số Cronbach Alpha trong nghiên cứu chính thức 44
Bảng 2.8 Hệ số Cronbach Alpha của từng năng lực tương ứng với nhóm câu hỏi 44
Bảng 2.9 Ma trận nhân tố đã xoay trong kết quả EFA 45
Bảng 2.10 Nhân tố khám phá EFA của nhóm nhân tố thứ nhất 47
Bảng 2.11 Nhân tố khám phá EFA của nhóm nhân tố thứ hai 48
Bảng 2.12 Nhân tố khám phá EFA của nhóm nhân tố thứ ba 48
Bảng 2.13 Nhân tố khám phá của nhóm nhân tố thứ tư 49
Bảng 2.14 Nhân tố khám phá EFA của nhóm nhân tố thứ năm 50
Bảng 2.15 Bảng phân tích hệ số KMO 52
Bảng 3.1 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực lập kế hoạch đào tạo các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 53
Bảng 3.2 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực tổ chức thực hiện các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 55
Bảng 3.3 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực điều hành lãnh đạo các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 57
Bảng 3.4 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực kiểm tra, giám sát các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 59
Trang 9Bảng 3.5 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực thu hút sự tham gia của học viên các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 61 Bảng 3.6 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực lập kế hoạch đào tạo các lớp chuyên viên chính của Phòng Đào tạo bồi dưỡng 64 Bảng 3.7 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực tổ chức thực hiện các lớp chuyên viên chính của Phòng Đào tạo bồi dưỡng 65 Bảng 3.8 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực điều hành lãnh đạo các lớp chuyên viên chính của Phòng Đào tạo bồi dưỡng 66 Bảng 3.9 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực lập kiểm tra giám sát các lớp chuyên viên chính của Phòng Đào tạo bồi dưỡng 68 Bảng 3.10 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực thu hút sự tham gia của sinh viên các lớp chuyên viên chính của Phòng Đào tạo bồi dưỡng 69 Bảng 3.11 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực lập kế hoạch các lớp chuyên viên chính của CNL 72 Bảng 3.12 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực tổ chức thực hiện các lớp chuyên viên chính của CNL 73 Bảng 3.13 Thống kê tỷ lệ mức độ hài lòng đánh giá cao năng lực chỉ đạo điều hành các lớp chuyên viên chính của CNL 74 Bảng 3.14 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực kiểm tra, giám sát các lớp chuyên viên chính của CNL 76 Bảng 3.15 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực thu hút sự tham gia của học viên của CNL 77 Bảng 3.16 Thống kế tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực lập kế hoạch các lớp chuyên viên chính của GV 80 Bảng 3.17 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực tổ chức thực hiện các lớp chuyên viên chính của GV 81
Trang 10Bảng 3.18 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực kiểm tra,
giám sát các lớp chuyên viên chính của GV 82
Bảng 3.19 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực lập kế hoạch đào tạo các lớp chuyên viên chính học viên 84
Bảng 3.20 Thống kê tỷ lệ mức độ đồng ý đánh giá cao năng lực tổ chức thực hiện đào tạo các lớp chuyên viên chính của học viên 85
Bảng 3.21 Bảng phân tích ANOVA của Phòng đào tạo bồi dưỡng 95
Bảng 3.22 Bảng Kết quả phân tích sâu ANOVA của Phòng đào tạo bồi dưỡng 96
Bảng 3.23 Bảng phân tích ANOVA của chủ nhiệm lớp 97
Bảng 3.24 Bảng kết quả phân tích sâu ANOVA của chủ nhiệm lớp 97
Bảng 3.25 Bảng phân tích ANOVA của giảng viên 98
Bảng 3.26 Kết quả phân tích sâu ANOVA của giảng viên 99
Bảng 3.27 Bảng phân tích T - Test theo giới tính của HVHCQG 99
Bảng 3.28 Bảng phân tích T - Test theo giới tính của PĐTBD 100
Bảng 3.29 Bảng phân tích T - Test theo giới tính của CNL 101
Bảng 3.30 Bảng phân tích T - Test theo giới tính của GV 101
Bảng 3.31 Bảng phân tích T - Test theo giới tính của học viên 102
Bảng 3.32 Bảng tổng hợp trung bình đánh giá và trung bình cộng của năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của HVHCQG dưới góc nhìn học viên 103
Bảng 3.33 Trung bình đánh giá các nội dung phản ánh năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 107
Trang 11Hình 2.1 Cấu trúc thứ bậc các tiêu chí năng lực quản lý các lớp CVC của HVHCQG dưới góc nhìn học viên 36 Hình 2.2 Sử dụng phần mềm Quest trong thang thử nghiệm 39 Hình 2.3 Độ phù hợp giữa cấu trúc và nội dung của 78 yếu tố hỏi và phiếu khảo sát 41 Hình 2.4 Độ phù hợp giữa cấu trúc và nội dung của 73 yếu tố hỏi và phiếu khảo sát (sau khi đã loại bỏ câu 18 với các yếu tố 69,70,71,72,73) 43 Hình 3.1 Trung bình đánh giá về năng lực lập kế hoạch đào tạo các lớp
chuyên viên chính của HVHCQG 54 Hình 3.2 Trung bình đánh giá về năng lực tổ chức thực hiện các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 56 Hình 3.3 Trung bình đánh giá về năng lực chỉ đạo điều hành các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 58 Hình 3.4 Trung bình đánh giá về năng lực kiểm tra, giám sát các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 60 Hình 3.5 Trung bình đánh giá về năng lực thu hút sự tham gia của học viên vào hoạt động quản lý các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 62 Hình 3.6 Trung bình đánh giá của học viên về các năng lực quản lý của
HVHCQG 63 Hình 3.7 Trung bình đánh giá về năng lực lập kế hoạch đào tạo các lớp
chuyên viên chính của PĐTBD 65 Hình 3.8 Trung bình đánh giá về năng lực tổ chức thực hiện các lớp chuyên viên chính của PĐTBD 66 Hình 3.9 Trung bình đánh giá về năng lực chỉ đạo điều hành các lớp chuyên viên chính của PĐTBD 67 Hình 3.10 Trung bình đánh giá về năng lực kiểm tra giám sát các lớp chuyên viên chính của PĐTBD 69
Trang 12Hình 3.11 Trung bình đánh giá về năng lực thu hút sự tham gia của học viên các lớp chuyên viên chính của PĐTBD 70 Hình 3.12 Trung bình đánh giá của học viên về các năng lực quản lý của PĐTBD 71 Hình 3.13 Trung bình đánh giá về năng lực lập kế hoạch các lớp chuyên viên chính của CNL 72 Hình 3.14 Trung bình đánh giá về năng lực tổ chức thực hiện các lớp chuyên viên chính của CNL 74 Hình 3.15 Trung bình đánh giá về năng lực chỉ đạo, điều hành các lớp
chuyên viên chính của CNL 75 Hình 3.16 Trung bình đánh giá về năng lực kiểm tra, giám sát các lớp chuyên viên chính của CNL 76 Hình 3.17 Trung bình đánh giá của học viên đối với năng lực thu hút sự tham gia của học viên vào các năng lực quản lý của CNL 78 Hình 3.18 Trung bình đánh giá của học viên về các năng lực quản lý của chủ nhiệm lớp 79 Hình 3.19 Trung bình đánh giá năng lực lập kế hoạch các lớp chuyên viên chính của GV 80 Hình 3.20 Trung bình đánh giá năng lực tổ chức thực hiện các lớp chuyên viên chính của GV 82 Hình 3.21 Trung bình đánh giá năng lực kiểm tra, giám sát của GV 83 Hình 3.22 Trung bình đánh giá của học viên về các năng lực quản lý của giảng viên 83 Hình 3.23 Trung bình đánh giá của học viên về năng lực lập kế hoạch đào tạo các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 85 Hình 3.24 Trung bình đánh giá của học viên về năng lực tổ chức thực hiện các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 86
Trang 13Hình 3.25 Trung bình đánh giá của học viên về các năng lực quản lý của học viên 87 Hình 3.26 Năng lực lập kế hoạch đào tạo các lớp Chuyên viên chính theo các chủ thể 88 Hình 3.27 Năng lực tổ chức thực hiện các lớp chuyên viên chính theo các chủ thể 89 Hình 3.28 Năng lực chỉ đạo điều hành các lớp chuyên viên chính theo các chủ thể 90 Hình 3.29 Năng lực kiểm tra giám sát các lớp Chuyên viên chính theo các chủ thể 91 Hình 3.30 Năng lực thu hút sự tham gia của học viên vào quản lý các lớp chuyên viên chính của các chủ thể 92 Hình 3.31 Trung bình đánh giá của học viên về năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của các chủ thể 93 Hình 3.32 Trung bình đánh giá chung về năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của các chủ thể 104 Hình 3.33 Trung bình cộng năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của các chủ thể 106 Hình 3.34 Sơ đồ đánh giá các nội dung phản ánh năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của HVHCQG 107
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiệu quả của chất lượng giáo dục – đào tạo không chỉ được xem xét bằng đảm bảo mặt nội dung bài giảng, chất lượng sau đào tạo mà còn được xem xét về năng lực quản lý lớp học của các cơ sở đào tạo Là vấn đề mới, còn ít được các cơ sở đào tạo quan tâm bởi những khó khăn trong việc đưa ra những chỉ số và chỉ bảo đánh giá Nhưng đây là vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả chung của cả khóa học và tạo ra sức hút mạnh mẽ cho những
khóa học tiếp theo
Xuất phát từ nhu cầu xã hội hóa giáo dục và quá trình hội nhập và phát triển đã thúc đẩy việc đáp ứng và thỏa mãn được các nhu cầu của người học
và tập trung đào tạo xung quanh lợi ích của học viên hơn là những gì mà cơ
sở tổ chức giáo dục có thể cung cấp Do đó, việc đánh giá năng lực quản lý của học viên (khách hàng) với những sản phẩm mà họ đã cung ứng sẽ là cách
để giúp cho cơ sở đào tạo nhìn nhận những mặt đạt được, những mặt còn hạn chế và đưa ra những giải pháp tạo ra những sản phẩm tốt hơn và phù hợp với nhu cầu khách hàng
Học viện Hành chính Quốc gia là Trung tâm giáo dục quốc gia, thực hiện các chức năng: đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, các chức danh công chức hành chính các cấp, cán bộ, công chức cơ
sở, công chức dự bị, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên các chuyên ngành hành chính và quản lý nhà nước; nghiên cứu khoa học hành chính và tư vấn cho Chính phủ trong lĩnh vực hành chính và quản lý nhà nước Với 60 năm xây dựng và trưởng thành, Học viện Hành chính Quốc gia đã khẳng định vai trò và vị trí của mình không những trong hoạt động đào tạo đại học, sau đại học về quản lý hành chính nhà nước, mà còn ở hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch trong quản lý hành chính nhà nước như các lớp bồi
Trang 15dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên chính Tuy nhiên, hiện nay với sự phân công tổ chức đào tạo – bồi dưỡng theo nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ về Đào tạo, bồi dưỡng công chức thì việc bồi dưỡng nâng ngạch chuyên viên chính sẽ được giao cho các trường chính trị ở địa phương và trường bồi dưỡng cán bộ của các bộ, ngành thực hiện Do đó, Học viện Hành chính Quốc gia mất đi tính “độc quyền” trong việc mở các bồi dưỡng nâng ngạch lên chuyên viên chính Nhưng với uy tín lâu năm về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, Học viện Hành chính Quốc gia vẫn có nhiều hợp đồng ký kết về bồi dưỡng các lớp chuyên viên chính của các đơn vị, tổ chức nhà nước Tuy nhiên, đứng trước xu hướng có nhiều cơ sở đào tạo, bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước như hiện nay Học viện Hành chính Quốc gia muốn giữ được khách hàng – thu hút được nhiều học viên và quảng bá hình ảnh, thương hiệu của mình thì việc đánh giá năng lực tổ chức quản lý các lớp chuyên viên chính là công việc hết sức quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện Nếu làm tốt được hoạt động đánh giá này sẽ góp phần rất lớn nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Học viện, không chỉ đối với các khóa bồi dưỡng chuyên viên chính, mà còn đối với các hệ đào tạo, bồi dưỡng khác của Học viện
Từ những lý do trên và xuất phát từ lý do, bản thân tôi cũng là một giảng viên đang làm việc tại Học viện Hành chính Quốc gia, mong muốn được đóng góp vào sự phát triển chung của Học viện, đặc biệt trong lĩnh vực nâng cao
năng lực quản lý đào tạo, tôi đã lựa chọn đề tài “Đánh giá năng lực quản lý
các lớp chuyên viên chính của Học viện Hành chính Quốc gia dưới góc nhìn học viên” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của Học viện Hành
chính Quốc gia dưới góc nhìn học viên
Trang 163 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
3.1 Giới hạn nội dung
Nghiên cứu về năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của Học viện Hành chính Quốc gia dưới sự nhìn nhận, đánh giá của học viên
3.2 Giới hạn không gian
Nghiên cứu được thực hiện tại lớp chuyên viên chính tại Hà Nội và một
số cơ sở phân viện của Học viện Hành chính Quốc gia tại Huế, Quảng Nam
và Tây Nguyên
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Đánh giá năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của Học viện Hành chính quốc gia dưới góc nhìn học viên được đánh giá bằng tiêu chí nào?
Học viên đánh giá như thế nào về năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của Học viện Hành chính Quốc gia?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Việc đánh giá năng lực quản lý lớp học hiện nay được thực hiện một cách cảm tính, chưa phản ánh đúng thực trạng vì vậy không giúp ích tốt cho việc tổ chức dạy học đáp ứng nhu cầu người học Nếu căn cứ trên nghiên cứu khoa học về các thành tố của năng lực quản lý lớp học, xây dựng tiêu chí và công cụ đo đảm bảo độ tin cậy, độ giá trị thì hoạt động đánh giá sẽ khách quan phản ánh chính xác hơn thực trạng quản lý lớp học chuyên viên chính của Học viện HCQG hiện nay
5 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của các chủ thể trong Học viện Hành chính Quốc gia
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Mẫu nghiên cứu
Trang 17- Mẫu nghiên cứu định lượng: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên nhóm
250 học viên của 04 lớp chuyên viên chính tại 4 cơ sở của Học viện, trong đó
có 99 học viên lớp chuyên viên chính tại Hà Nội và 151 học viên của các cơ
sở Huế, Quảng Nam, Tây Nguyên
Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên tại cơ sở đào tạo lớp nào đang học thì được khảo sát toàn bộ các học viên
- Mẫu cho nghiên cứu định tính: Sử dụng phỏng vấn bán cấu trúc Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản (căn cứ vào gặp gỡ trực tiếp trao đổi tại lớp học trong giờ giải lao)
6.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập thông tin bằng phương pháp định tính:
+ Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các cơ sở lý thuyết, các bài báo, công trình nghiên cứu, các số liệu thống kê có liên quan đến đề tài nghiên cứu, trên
cơ sở đó tiến hành phân tích, tổng hợp và kế thừa để xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn
+ Phỏng vấn sâu: Được sử dụng như là công cụ thu thập thông tin bổ trợ cho phương pháp khảo sát bằng phiếu khảo sát Ngoài ra, phỏng vấn sâu được
sử dụng nhằm mục đích khám phá, điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát trong việc xây dựng phiếu khảo sát
- Thu thập thông tin bằng phương pháp định lượng:
Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát: Đây là phương pháp chính được sử dụng trong luận văn nhằm thu thập thông tin định lượng
về năng lực quản lý các lớp chuyên viên chính của Học viện Hành chính Quốc gia dưới góc nhìn học viên
6.3 Phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng phần mềm thống kê SPSS, phần mềm QUEST, ANOVA, T-TEST để xử lý, tổng hợp và phân tích các số liệu định lượng đã thu thập được
Trang 187 Khung lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu
- Lý thuyết quản lý khoa học và chức năng quản lý
Các lý thuyết quản lý khoa học của Fayol, Taylor và nhiều người khác nhấn mạnh rằng hoàn toàn có thể áp dụng các lý luận và phương pháp khoa học vào nghiên cứu và thực hành quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả các chức năng của quản lý[8] Chức năng quản lý là những chức năng gắn liền với hoạt động quản lý của các chủ thể quản lý Chức năng trong nhiều trường hợp được hiểu là nhiệm vụ, nhưng nhiệm vụ có thể hiểu là sự cụ thể hơn chức
năng hay chức năng là hướng hoạt động cơ bản bao gồm một tập hợp của nhiều nhiệm vụ tương đối giống nhau về mục đích, cách thức tiến hành của các đối tượng (tổ chức, con người, máy móc…)[6,60]
Chức năng của quản lý có nhiều cách phân loại khác nhau, trong đó có thể chia ra một số cách phân loại sau:
- Phân chia chức năng quản lý theo nhóm công việc gắn liền với khái niệm quy trình quản lý, có các chức năng là: (1) Xác định những vấn đề cần phải làm (hoạch định); (2) chức năng tổ chức thực hiện các biện pháp khác nhau để giải quyết vấn đề (tổ chức); (3) chức năng kiểm soát quá trình thực hiện (theo dõi, giám sát, chỉ huy)
- Phân chia thông qua một số nội dung phục vụ cho việc tiến hành các hoạt động quản lý[10,44] gồm các chức năng: (1) chức năng dự đoán; (2) chức năng kế hoạch hóa; (3) chức năng tổ chức; (4) chức năng động viên; (5) chức năng điều chỉnh; (6) chức năng kiểm tra; (6) chức năng đánh giá và hoạch toán
- Phân loại dựa vào những hoạt động liên quan đến giao tiếp, truyền thong, trao đổi, cung cấp và nhận, xử lý thông tin: (1) chức năng hoạch định; (2) chức năng ra quyết định; (3) chức năng tổ chức; (4) chức năng nhân sự; (5) chức năng thông tin; (6) chức năng giáo dục, động viên; (7) chức năng lãnh đạo chỉ huy; (8) chức năng kiểm soát
Trang 19- Phân loại theo Henry Faylor gồm các chức năng sau: (1) chức năng hoạch định; (2) chức năng tổ chức; (3) chức năng lãnh đạo; (4) chức năng phối hợp hoạt động; (5) chức năng kiểm soát Cách phân loại trên dựa trên hoạt động quản lý thực tiễn của ông trong các doanh nghiệp công nghiệp trong thế kỷ XX
- Phân loại theo F.Taylor: ông không đưa ra các chức năng quản lý cụ thể, mà chỉ ra 14 nguyên tắc để xác định các chức năng quản lý, theo ông chức năng của các nhà quản lý là làm những gì để đạt được mục tiêu thì gọi là quản lý
- Phân loại theo mô hình FODSCoB: mô tả cụ thể chức năng của quản lý trên cơ sở phân tích quá trình hoạt động quản lý của nhiều tổ chức khác nhau, đặc biệt là nghiên cứu hoạt động quản lý của các doanh nghiệp công nghiệp, chức năng quản lý phân chia thành 6 nhóm: kế hoạch (P); tổ chức (O); chỉ huy (D); nhân sự (S); kiểm soát (Co) và chức năng tài chính (Budgeting)
- Phân loại chức năng quản lý dựa vào cách thức phân công lao động khoa học quản lý trong tổ chức theo hướng chuyên môn hóa: tùy từng tổ chức
có các nội dung và hoạt động quản lý khác nhau, trên thực tế khó có thể thống nhất một cách cụ thể các chức năng quản lý của một tổ chức, do phụ thuộc vào loại hình tổ chức và mục tiêu hoạt động riêng của tổ chức Tuy nhiên, có cách phân loại chức năng quản lý chung cho mọi tổ chức, mọi hoạt động là: (1) chức năng kế hoạch; (2) chức năng tổ chức); (3) chức năng chỉ đạo, điều hành; (4) chức năng kiểm tra, giám sát
Như vậy, có các cách phân loại chức năng quản lý khác nhau, mỗi cách phân loại phù hợp với một yêu cầu và mục đích nhất định Trong phần nghiên cứu, đề tài sử dụng các phân loại chức năng quản lý dựa vào cách thức phân công lao động khoa học quản lý trong tổ chức theo hướng chuyên môn hóa bởi cách phân loại này mang tính khái quát, phù hợp mới mọi tổ chức và mọi hoạt động trong tổ chức Các phân loại này cũng bao quát được các hoạt động
Trang 20quản lý từ khi lên kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo điều hành cho tới giám sát kiểm tra và điều chỉnh cho phù hợp Các phân loại này không nói đến chức năng nhân sự hay tài chính, nhưng bên trong các chức năng đó đã bao gồm những chức năng này Ví dụ: trong chức năng lập kế hoạch đã ba gồm trong
đó vấn đề nhân sự (con người thực hiện kế hoạch) và tài chính (kinh phí để thực hiện kế hoạch) Do vậy, có thể nói việc lựa chọn cách phân loại chức năng dựa vào cách thức phân loại lao động khoa học quản lý trong tổ chức theo hướng chuyên môn hóa là một cách phân loại bao quát được các hoạt động của quản lý
- Lý thuyết phân tích hệ thống xã hội
Xuất phát từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanfy, các nhà khoa học như Luhmann và Parsons cho rằng hệ thống xã hội là một tập hợp gồm các yếu tố tương tác với nhau tạo thành một chỉnh thể cân bằng tĩnh và cân bằng động với môi trường Theo lý thuyết hệ thống xã hội, nhà trường là một
hệ thống xã hội trong đó quản lý là một tiểu hệ thống có các bộ phận cấu thành tương tác với nhau tạo thành một chỉnh thể tương đối ổn định và cân bằng động trong mối quan hệ thường xuyên, liên tục với các tiểu hệ thống xung quanh[8]
Hệ thống là một tập hợp các phần tử liên hệ với nhau, tác động qua lại với nhau một cách có quy luật để tạo thành một thể thống nhất, có thể thực hiện một số chức năng hay một số mục tiêu nhất định[12,35]
Nhà nghiên cứu Yu.I.Tsernyak đã đưa ra quan niệm khá đầy đủ[12,55]
về Phân tích hệ thống là phương pháp luận nghiên cứu những tính chất và quan hệ khó quan sát và khó nhận thức trong các đối tượng bằng cách quan niệm những đối tượng ấy như là những hệ thống có mục tiêu và nghiên cứu những tính chất của những hệ thống đó và quan hệ qua lại giữa những mục tiêu và phương tiện thực hiện mục tiêu
Trang 21Lý thuyết hệ thống được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học, đặc biệt
là trong quản lý hiện đại để tìm hiểu các hệ con trong một hệ thống quan hệ qua lại với nhau ra sao và tạo cho tổ chưc một chỉnh thể hoàn chỉnh như thế nào Trong phần nghiên cứu, luận văn sử dụng lý thuyết hệ thống để nhìn nhận vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện từ những hoạt động, chức năng bên trong tổ chức cho đến những hoạt động, chức năng bên ngoài của tổ chức
- Lý thuyết về sự tham gia của khách hàng trong mô hình quản lý chất lượng toàn bộ TQM – Total quality management
Trong lý thuyết quản lý truyền thống, quản lý tốt khi thực hiện đầy đủ các chức năng của quản lý trong tổ chức Tuy nhiên, trong lý thuyết quản lý hiện đại, việc quan tâm đến yếu tố khách hàng và thu hút họ trong hoạt động quản lý là điều mà mọi tổ chức hướng tới Hay nói cách khác, khách hàng sẽ xác đinh những gì mình muốn mà không phải do một số chuyên gia xác định Nhu cầu và hy vọng của khách hàng sẽ quyết định “chất lượng” mà không phải là tổ chức cung cấp dịch vụ quyết định chất lượng sản phầm hàng hóa mà mình cung cấp – không có chất lượng mang tính chủ quan của tổ chức Chất lượng chỉ hình thành trên cơ sở nhu cầu và sự hài lòng của khách hàng
Có hai nhóm khách hàng là nhóm khách hàng bên trong và nhóm khách hang bên ngoài tổ chức Khách hàng bên trong tổ chức chính là những bộ phận cấu thành nên tổ chức và có quan hệ mang tính phối hợp đầu ra – đầu vào trong quá trình tạo ra sản phẩm; khách hàng bên ngoài là những người sử dụng sản phẩm hàng hóa Trong phần nghiên cứu đề tài chỉ nghiên cứu đối tượng khách hàng bên ngoài là những người trực tiếp sử dụng hàng hóa, dịch
vụ của tổ chức Trong quản lý hiện đại, ngoài những chức năng mang tính chất nội bộ nhằm thực hiện công việc của tổ chức thì khách hàng được coi là yếu tố sống còn để mọi tổ chức hình thành chiến lượng phát triển, quyết định đến sự thành công hay thất bại của một tổ chức
Trang 22Tóm lại, đề tài sử dụng lý thuyết hệ thống để xem xét vấn đề nghiên cứu;
sử dụng lý thuyết về chức năng quản lý dựa vào cách thức phân công lao động khoa học quản lý trong tổ chức theo hướng chuyên môn hóa và kế thừa, phát triển lý thuyết về sự tham gia của khách hàng trong mô hình quản lý chất lượng toàn bộ TQM làm nền tảng lý thuyết để xây dựng phần lý luận nghiên cứu của luận văn
8 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm các phần nội dung sau:
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Mô tả nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 23PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan nghiên cứu
Có rất nhiều nghiên cứu về hoạt động đào tạo, giảng dạy dưới góc nhìn học viên như xem xét mức độ hài lòng của sinh viên, đánh giá hoạt động đào quản lý đào tạo Sau đây, có thể chỉ ra một số nghiên cứu như vậy:
- Luận văn Tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý đào tạo của trường Đại học Giao thông, vận tải của Bùi Thị Phương Lan (2012) Luận văn tập trung nghiên cứu và đề xuất các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động quản lý đào tạo nhằm nâng cao năng lực quản lý của đại học giao thông vận tại và chất lượng giáo dục ở các trường nói chung Đề tài nghiên cứu lý thuyết và khảo sát ý kiến của lãnh đạo, cán bộ quản lý, chuyên viên chuyên trách đào tạo và giảng viên của trường Đại học Giao thông vận tải về hoạt động quản lý đào tạo Kết quả đạt được là đưa ra bản khảo sát và đánh giá với 51 tiêu chí từ khâu đầu vào đến tổ chức hoạt động Đề tài có tính bao quát cao và giá trị áp dụng trong hoạt động quản lý đào tạo
- Luận văn Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc đánh giá của sinh viên đối với hoạt động giảng dạy của sinh viên (Năm 2013) của Vũ Thị Quỳnh Nga, Viện đảm bảo chất lượng giáo dục, đai học Quốc gia, Đề tài thực hiện với mục đích tìm hiểu những yếu tố tác động đến việc đánh giá chất lượng giảng dạy của sinh viên Để từ đó có những điều chỉnh về nội dung và phương pháp giảng dạy Đề tài tập trung vào các đặc điểm về nhân khẩu học, đặc điểm xã hội, mức sống của sinh viên để đánh giá hoạt động giảng dạy
- Luận văn Đánh giá hoạt động giảng dạy từ phía người học đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên (Nghiên cứ trường hợp Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ Thuật Điện Biên) (năm 2012), Viện Đảm bảo chất lượng Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả tập trung đánh giá
Trang 24mức độ tác động của việc đánh giá hoạt động giảng dạy từ phía người học đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên, chỉ ra phương thức tác động của việc đánh giá hoạt động giảng dạy từ phía người học đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên
- Luận văn Nghiên cứu đánh giá chất lượng hoạt động giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (năm 2008), của Trần Thị Tú Anh, Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn thực hiện nghiên cứu thực trạng hoạt động giảng dạy của Học viện Báo chí tuyên truyền; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy của Giảng viên Học viện; Sử dụng bộ tiêu chí trê để thử nghiệm đánh giá chất lượng giảng dạy tại học viện Báo chí tuyên truyền và đưa ra một số giải pháp đển nâng cao chất lượng giảng dạy tại Học viện Báo chí Tuyên truyền
- Luận văn Đánh giá các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của sinh viên về các dịch vụ hỗ trợ cho sinh viên (Nghiên cứu trường hợp đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh) (năm 2013) của Vũ Thị Thanh Thảo, Viện đảm bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn tập trung vào nghiên cứu các dịch vụ hỗ trợ cho sinh viên trong việc nâng cao khả năng tiếp thu các kiến thức cơ bản Đồng thời đổi mới việc học các kỹ năng
cá nhân và giao tiếp, kỹ năng tạo sản phẩm, quy trình và hệ thống; đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên về dịch vụ hỗ trợ sinh viên và xác định các yếu
tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên với các dịch vụ hỗ trợ đó
Kỷ yếu hội thảo Đảm bảo chất lượng trong đối mới giáo dục đại học, bài viết “Vai trò của sinh viên đối với hoạt động quản trị và đảm bảo chất lượng ở đại học trong bối cảnh hội nhập quốc tế” (năm 2010), của Lê Văn Hảo, tác giả
đã đặt ra vấn đề về mặt thuật ngữ nên gọi sinh viên dưới thuật ngữ “khách hàng” hay “người cộng sự” đối với các trường học Các nhà nghiên cứu tham gia hội thảo thống nhất quan điểm không có một thuật ngữ cố định để nói về vai trò của sinh viên Vì vậy, nhà trường và sinh viên cần ý thức đầy đủ về
Trang 25nghĩa vụ và quyền lợi của mình trong quá trình phát triển chung của mỗi nhà trường Vấn đề mà nhà nghiên cứu đã chỉ ra khi kết thúc bài viết là chính việc làm hài lòng người học là tác nhân nâng cao chất lượng học tập của sinh viên
và nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học
Như vậy, các nghiên cứu trên đã tập trung làm rõ những tác động ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của giảng viên thông qua khảo sát ý kiến, đánh giá của học viên; hoặc thông việc đánh giá những nhà quản lý, nhà lãnh đạo và đội ngũ giảng viên để biết chất lượng quản lý đào tạo của cơ sở đào tạo Tuy nhiên, việc nghiên cứu đánh giá năng lực quản lý của một cơ sở đào tạo thì chưa được đề cập tới trong các nghiên cứu Đặc biệt, nghiên cứu dưới
lý thuyết chức năng quản lý và tính hệ thống của vấn đề nghiên cứu Do đó, việc đánh giá năng lực quản lý của cơ sở đào tạo, thông qua đó biết được thực trạng năng lực quản lý và có những đề xuất giải pháp để nâng cao năng lực quản lý lớp học là điều rất cần thiết Nếu làm tốt được điều này, các cơ sở đào tạo sẽ hình thành được sự cạnh tranh cao trong việc thu hút nhiều học viên và năng cao chất lượng đào tạo
1.2 Cơ sở lý luận của nghiên cứu
1.2.1 Các khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Đánh giá
Đo lường và đánh giá trong giáo dục từ lâu đã trở thành xu hướng chung cho các quốc gia nhằm đưa ra nhận định và giải pháp cho các vấn đề giáo dục đang cần giải quyết Tuy nhiên, thuật ngữ đo lường đánh giá có những cách hiểu khác nhau phụ thuộc vào điều kiện riêng của từng quốc gia, vùng, miền, cũng như trình độ quản lý của mỗi địa phương Trong thực tế sử dụng một vài thuật ngữ như đo lường, đánh giá, kiểm tra thông thường có sự trùng lấp và tương đồng nhau Nhưng khi nghiên cứu ngành khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt cơ bản của các thuật ngữ trên như sau[27]:
Trang 26- Ascessment (đo lường, đánh giá): là quá trình thu thập thông tin và đo lường các thông tin đó Ví dụ như: để đánh giá năng lực quản lý lớp học dưới góc nhìn học viên chúng ta đi thu thập thông tin bằng các phát phiếu hỏi ý kiến của học viên về năng lực quản lý của đơn vị tổ chức lớp học Sau đó dựa vào những thông tin đã có, chúng ta xử lý số liệu về phiếu hỏi: xem xét bao nhiêu phần trăm đánh giá khâu tổ chức lớp học là rất tốt, tốt, khá, trung bình hay yếu kém…
- Measuament (đo lường): thực hiện việc đo lường và thuật ngữ này gần đồng nghĩa với Ascessment
- Testing (kiểm tra, thi): đo lường bằng các câu hỏi hoặc các công cụ khác như phiếu điều tra, bảng hỏi
- Evaluation (đánh giá): đo lường đánh giá và đưa ra nhận định hoặc kết luận về một vấn đề Ví dụ: dựa trên kết quả bài kiểm tra (testing), chúng ta sẽ tiến hành đo lường giá trị đó (Measurement hay Ascessment) Cuối cùng dựa trên việc đo lường hay xử lý số liệu chúng ta thực hiện việc đánh giá Như vậy, việc đánh giá thực chất là trả lời hai câu hỏi: đo lường như thế nào? Và kết luận dựa vào số liệu đã đo lường
Đánh giá đôi khi chỉ dựa trên số liệu khách quan, nhưng thông thường là tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin khác nhau như điểm số, giá trị, ấn tượng của đối tượng được đánh giá
Như vậy, trong nghiên cứu chúng ta tiếp cận đánh giá (evaluation) ở khía cạnh tiến hành đo lường kết quả và đưa ra những nhận định, kết luận về vấn
đề nghiên cứu Trong quá trình đánh giá để có những nhận định đúng đắn, không mang tính phiến diện, một chiều, thì ngoài việc dựa vào số liệu thu thập được còn cần sử dụng nhiều kênh thông tin khác bằng các phương pháp như quan sát, phỏng vấn, sử dụng cả thông tin trái chiều để so sánh đánh giá nghiên cứu
1.2.1.2 Năng lực
Trang 27Khi nói đến năng lực thường được hiểu là khả năng của một con người
cụ thể Tuy nhiên, con người không làm việc biệt lập, mà luôn tồn tạivận động gắn với một môi trường, một tổ chức nhất định Do đó, năng lực của cá nhân luôn nằm trong năng lực tổ chức, chịu ảnh hưởng, tác động của năng lực
tổ chức về các điều kiện nhất định
Theo trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng, 2009: năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tư nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) cho rằng: năng lực là khả năng của cá nhân, tổ chức và xã hội để thực hiện các chức năng, giải quyết vấn đề, thiết lập và đạt được mục tiêu một cách bền vững[29]
Năng lực còn được hiểu là khả năng của các cá nhân, các tổ chức hay các
hệ thống để thực hiện các chức năng của mình một cách kết quả, hiệu quả và bền vững[1]
Có thể nói năng lực gồm hai bộ phận là khả năng và điều kiện để thực hiện một hoạt động nào đó Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, sau đây là cách tiếp cận năng lực theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng:
- Năng lực theo nghĩa hẹp
Khi nói đến khái niệm năng lực trong nhiều khoa học như tâm lý học và giáo dục học, nhìn nhận năng lực theo nghĩa hẹp là năng lực của từng cá thể,
cá nhân riêng biệt, thuật ngũ năng lực đã được tiếp cận như sau:
Theo trường phái di truyền học của A.Binet (1875 – 1911) và T.Sismon cho rằng năng lực phụ thuộc tuyệt đối vào bẩm sinh và di truyền
Theo quan điểm xã hội của E.Durkhiem (1858 – 1917): năng lực và nhân cách con người quyết định bởi xã hội
Theo trường phái tâm lý học hành vị J.B.Watson (1870 – 1958) coi năng lực của con người là sự thích nghi với môi trường sống
Theo B.M Chieplov (trường phái tâm lý học Xô Viết cũ ): năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân có liên quan đến kết quả, hiệu quả thực hiện
Trang 28một công việc nào đó
Nhà nghiên cứu Phạm Minh Hạc cho rằng, năng lực là sức người, cá thể, tập thể, hợ thành bởi các trị thức, kỹ năng, thái độ, giá trị và được phát triển lên trình độ cao, phục vụ xã hội đat được thành tựu xuất sắc, nổi bật Ông cũng nhấn mạnh, năng lực luôn gắn với tài năng của mỗi người
Theo nghĩa hẹp một số tác giả khác cho rằng năng lực là thuộc tính tâm
lý, là khả năng tiềm ẩn của cá nhân, là phẩm chất nhân cách cho phép thực hiện có hiệu quả những hoạt động nhất định[5]
Như vậy, năng lực là một thuộc tính tâm lý tiềm ẩn bên trong cá nhân, được bộc lộ ra thành hành vi, hành động nhất định Có thể đánh giá năng lực thông qua các chỉ bảo về tốc độ hành động, cường độ thực hiện, định mức lao động, hiệu quả công việc, động lực làm việc
- Năng lực theo nghĩa rộng
Nếu chỉ nhìn nhận năng lực là thuộc tính cá nhân thì chưa đầy đủ, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra tài năng chỉ đóng góp 1% còn lao động đóng góp 99% vào
sự thành công của cá nhân Cá nhân không tồn tại độc lập, mà tồn tại trong sự vận động, thực hiện công việc với cá nhân, công đồng khác Do đó năng lực sẽ được bồi đắp thông qua giáo dục, rèn luyện mà trở nên hoàn thiện hơn
Vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, năng lực được xem xét dưới góc
độ đào tạo, bồi dưỡng được hình thành các nhà nghiên cứu đã cho rằng, năng lực được nâng lên trong quá trình học tập với mục tiêu “Học tập và nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ” (Weinbeger, 1998)
Các Mác[23] cho rằng “bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”
Theo văn phòng Giáo dục Hoa Kỳ (U.S Office of Education)- năm 1978,
“Đào tạo người học dựa trên năng lực thực hiện dẫn họ đến việc làm chủ được
Trang 29những kỹ năng cơ bản và kỹ năng sống cần thiết của cá nhân và hòa nhập tốt với hoạt động lao động ngoài xã hội”
Theo cách tiếp cận lý thuyết hệ thống tổng quát và theo nghĩa rộng“năng lực là khả năng của cá nhân, nhóm, tổ chức, cộng đồng và hệ thống xã hội bộc lộ, hình thành, phát triển trong quá trình hoạt động và thực hiện các vai trò, chức năng nhất định một cách hiệu lực, hiệu quả và bền vững[9] Theo
cách tiếp cận này, năng lực bao quát được nhiều cấp độ từ năng lực cá nhân, mang tính vi mô đến năng lực của cả cộng đồng xã hội Các tác giả cũng nhấn mạnh, với tiếp cận rộng về năng lực như vậy, chỉ báo cơ bản của năng lực là tính hiệu lực, hiệu quả và tính bền vững của hoạt động
Tùy thuộc vào mục đích sử dụng mà lựa chọn phạm vi tiếp cận khác nhau Trong luận văn này sẽ tiếp cận thuật ngữ năng lực ở phạm vi rộng theo cách tiếp cận hệ thống vừa nêu làm cơ sở để tiếp cận các nội dung của đề tài
lý được đặc biệt quan tâm Sự ra đời của các học thuyết quản lý cổ điển khác nhau đã làm thay đổi cách thức điều hành ở cả khu vực tư và khu vực công,
một số học thuyết tiêu biểu như: Thuyết quản lý khoa học (F.W.Taylor 1856 – 1915) lý thuyết quản lý của ông dựa trên những nguyên tắc quản lý theo khoa
học, mọi hoạt động trong tổ chức đều đặt ra dự trên nguyên tắc và kế hoạch
Trang 30định trước, không chấp nhận những hoạt động tùy tiện, tự phát; Thuyết quản
lý hành chính (Henry Fayol 1841 – 1925) đề cao vai trò của hành chính trong
quản lý doanh nghiệp với những công việc cụ thể là hoạch định, tổ chức, chỉ huy phối hợp, kiểm soát để làm cho doanh nghiệp hoạt động có trật tự Ông cũng tập trung nghiên cứu đến khía cạnh tâm lý con người vào đào tạo cán bộ
quản lý; Thuyết quản lý thư lại ( Max Weber 1861 – 1920), ông là người của
trường phái quản lý hành chính luôn đề cao quyền hành và biết dùng quyền hành mới được coi là nhà quản lý Ông đưa ra khái niệm “quan liêu bàn giấy”
là hệ thống chức vụ và nhiệm vụ rõ ràng, phân công nhiệm vụ chính xác, hệ thống quyền hành có tôn ti trật tự
Như vậy, các thuyết quản lý cổ điển xem quản lý là sự tác động mang tính một chiều, từ trên xuống dưới, thiên về tính mệnh lệnh, điều hành, mà chưa chú ý nhiều đến động viên người lao động và mong muốn của đối tượng thụ hưởng dịch vụ - “khách hàng” Thuyết quản lý hiện đại đã tập trung thay đổi như thay đổi khi tập trung quản lý hướng tới mong muốn của khách hàng hơn là tư tưởng quản lý mang tính mệnh lệnh, chỉ huy như trước
Các Mác đã khẳng định “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu
vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [29]
* Khái niệm Quản lý có thể được hiểu theo những khía cạnh sau:
- Quản lý là quá trình đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách làm việc với và thông qua con người và nguồn lực tổ chức khác
Quản lý có 3 đặc điểm sau:
+ Quản lý là một quá trình gồm các hoạt động liên tục và có mối quan
Trang 31liên quan với nhau
+ Quản lý liên quan và tập trung nghiên cứu mục tiêu của tổ chức
+ Quản lý đạt được mục tiêu bằng các làm việc thông qua con người và các nguồn lực khác của tổ chức
Chức năng quản lý: 4 chức năng quản lý cơ bản tạo nên quá trình quản lý:
Kế hoạch
Tổ chức Lãnh đạo Kiểm soát [30]
- Quản lý và tổ chức có chức năng điều phối các nỗ lực của người dân để thực hiện các mục tiêu và sử dụng nguồn lực sẵn có một cách hiệu quả Quản
lý bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, biên chế, lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm soát một tổ chức, sáng kiến để hoàn thành mục tiêu Nguồn lực bao gồm việc triển khai và xử lý nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ và tài nguyên thiên nhiên Quản lý cũng là một ngành học, một ngành khoa học xã hội mà đối tượng của nghiên cứu là tổ chức xã hội
- Quản lý là quá trình giải quyết và kiểm soát công việc hoặc con người [31]
- Quản lý là quá trình làm việc với và thông qua những người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động[16]
- Quản lý là đưa những nguồn vốn về con người và của cải vào các đơn
vị tổ chức và năng động để đạt được mục tiêu, một mặt, bằng cách đảm bảo thỏa mãn tối đa người hưởng lợi và mặt khác, đảm bảo tinh thần và tình cảm
về thực hiện những công việc của người cấp dưới [26]
- Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác
- Quản lý là sự tác động của chủ thể quản trị đến đối tượng quản trị nhằm đạt được mục tiêu đã vạch ra một cách có hiệu quả trong những điều kiện biến động của môi trường[11]
Trang 32Như vậy, quản lý là quá trình đạt được mục tiêu thông qua tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng chịu sự quản lý bằng những phương pháp, cách thức khác nhau Chức năng quản lý gồm bốn chức năng cơ bản tạo nên quá trình quản lý: Lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; chỉ đạo, điều hành; kiểm tra, giám sát[30]
Các lớp chuyên viên chính được đề cập đến trong luận văn chỉ các đối tượng là: công chức giữ ngạch chuyên viên và tương đương tham gia các lớp bồi dưỡng để chuẩn bị thi nâng ngạch lên chuyên viên chính làm việc trong hệ thống chính trị Việt Nam theo quy định của pháp luật [2]
Đặc điểm của các lớp học tiêu chuẩn ngạch chuyên viên chính là:
- Tính chất lớp học: là lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý đối với ngạch chuyên viên và tương đương
- Thời gian tổ chức lớp học: ngắn hạn, thường 1 – 3 tháng (tùy thuộc mức độ tập trung của lớp học)
- Đối tượng học viên: người vừa học, vừa làm, có trình độ, kinh nghiệm làm việc, bận rộn trong công việc, nhiều người giữ các vị trí quản lý Do đó, việc hình thành một cơ chế quản lý lớp học hiệu quả đối với đối tượng này là một vấn đề cần đặt ra đối với các nhà quản lý
1.2.2 Những nội dung của năng lực quản lý lớp học
1.2.2.1 Những nội dung của năng lực quản lý
Năng lực quản lý là khả năng tác động của một người hay một nhóm người đến đối tượng để đạt mục đích nhất định Năng lực quản lý hay năng
Trang 33lực tổ chức là xuất phát từ hai khía cạnh : thứ nhất là năng lực bẩm sinh của từng cá nhân có khả năng trong việc thu hút, tổ chức một nhóm cá nhân để thực hiện công việc nhất định; thứ hai là năng lực quản lý được hình thành qua kinh nghiệm, quá trình làm việc và giáo dục bản thân Như vậy, năng lực quản lý là sự kết hợp giữa nghệ thuật quản lý và khoa học quản lý
* Nghệ thuật quản lý: tính cách, cách thức quản lý riêng của từng cá nhân, có người mềm dẻo, có người cứng nhắc
* Khoa học quản lý: áp dụng những tri thức khoa học như toán học, số học, tâm lý học, chính trị học vào hoạt động quản lý
Quản lý là hoạt động cần thiết cho mọi tổ chức, hoạt động nhằm đảm bảo sự kết hợp và phối hợp hoạt động giữa các cá nhân trong tổ chức, giữa con người với tự nhiên để mang lại lợi ích mong muốn cho tổ chức Quản lý
là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể thực hiện một mục tiêu chung Quản lý diễn ra với mọi quy mô, mọi cấp độ của tổ chức
từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống Mục tiêu của quản lý nhằm hướng tới:
+ Tổ chức, điều hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu chung
+ Kết hợp hài hòa lợi ích của từng cá nhân và của tập thể trên cơ sở phát huy nỗ lực cá nhân, tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển của mỗi cá nhân với mục tiêu chung của tổ chức
+ Tạo sự ổn định và thích ứng cao của tổ chức trong môi trường biến động Mục tiêu quản lý là làm cho tổ chức duy trì ổn định để thỏa mãn lợi ích chung và riêng
Năng lực quản lý được thể hiện trong việc thực hiện các chức năng của quản lý là lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; chỉ đạo, điều hành; kiểm tra, kiểm soát, được thể hiện như sau:
- Năng lực lập kế hoạch: là công tác trù liệu cho tương lai của một hoạt
Trang 34động nhất định (có thể là kế hoạch của một tổ chức hoặc kế hoạch của một hoạt động nhất định), tức là hoạch định những vấn đề và cách giải quyết các vấn đề đó nhằm làm cho tổ chức có thể đối phó, thích ứng với những thay đổi
có thể dự đoán trước cũng như những các thay đổi không dự liệu được ở tương lai
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về công tác kế hoạch như: công tác kế hoạch là những hoạt động hay quá trình để đưa ra một một kế hoạch làm một việc gì đó[6,71] Hay theo Stephen Robbin[28] công tác kế hoạch bao gồm việc xác định mục đích hay mục tiêu của các hoạt động của tổ chức; thiết lập một chiến lược tổng thể để đạt được mục tiêu đó; xây dựng một hệ thống các
kế hoạch cụ thể để lồng ghép và phối hợp các hoạt động
Công tác kế hoạch hóa là xác định những gì có thể xảy ra thông qua phân tích, dự báo và dự đoán xu thế vận động và phát triển của một tổ chức hoặc một hoạt động cụ thể Điều này giúp tổ chức lường trước được một cách tối đa nhất những rủi ro trong quá trình thực hiện công việc và thích ứng với những thay đổi bên ngoài
Năng lực lập kế hoạch có thể khái quát thành kế hoạch hóa nhằm thực hiện quá trình phân tích, đánh giá, dự báo xu hướng vận động và phát triển của một hoạt động, một tổ chức theo những phương án khác nhau Sản phẩm của công tác kế hoạch là bản kế hoạch được xây dựng bằng văn bản với mục tiêu, nhiệm vụ, cũng như cách thức biện pháp nguồn lực mà tổ chức có thể sử dụng để đạt được mục tiêu
- Năng lực tổ chức thực hiện: tổ chức ở đây được hiểu theo nghĩa là một
động từ (không phải hiểu theo nghĩa danh từ là một thực thể, một cơ quan) Chức năng tổ chức là thực hiện các công việc nhằm đảm bảo các hoạt động cụ thể được diễn ra theo kế hoạch đặt trước, tức là nghiên cứu sự phân bổ, phân công các thành viên trong tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu chung mà tổ chức cần hướng tới Để thực hiện chức năng này cần xác định một số yếu tố cơ bản
Trang 35như: mục đích; phân công lao động; sự phối hợp; lãnh đạo của cấp trên; mối quan hệ với bên ngoài; một cơ cấu nhân sự chính thức hoặc không chính thức
để thực hiện hoạt động
Công tác tổ chức thực hiện có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý thể hiện ở những mặt sau [6,94]: Công tác tổ chức liên quan đến tất cả các công việc phải làm của tổ chức để đạt được mục tiêu của tổ chức; phân chia công việc trong tổ chức thành các hoạt động cụ thể mà các nhóm công việc đó phải được thực hiện một cách hợp lý, logic của các thành viên trong tổ chức; phối hợp thực hiện công việc một các hợp lý giữa các bộ phận; chỉ ra cơ chế phối hợp các hoạt động của các thành viên tổ chức; giám sát một cách hiệu quả toàn bộ tổ chức như một hệ thống và tiến hành điều chỉnh nếu cần thiết
- Năng lực chỉ đạo điều hành (hay còn gọi là chức năng lãnh đạo): sự
hướng dẫn, điều khiển hay chỉ huy lãnh đạo trong hoạt động quản lý mang ý nghĩa là sự chỉ dẫn cho ai đó làm một việc gì đó của nhà quản lý Theo Harold Knoontz và các cộng sự lãnh đạo là sự chỉ dẫn, điều khiển, ra lệnh và
đi trước, tức là sự tác động đến con người sao cho họ tự nguyện và nhiệt tình
để phấn đấu đạt được mục tiêu tổ chức [25]
Để chức năng này thực hiện hiệu quả, nhà quản lý phải tiến hành các hoạt động như [6,125]: khuyến khích, động viên người khác tham gia; chỉ dẫn, hướng dẫn người khác thực hiện công việc; lãnh đạo nhóm thực hiện nhiệm vụ được phân công; tạo cơ hội để cá nhân có điều kiện vươn lên, tự phát triển
- Năng lực kiểm tra, kiểm soát: được tiếp cận với nhiều cách thức khác
nhau nhưng có thể được hiểu là quá trình giám sát (monitoring) các hoạt động của cá nhân, nhóm hay tổ chức nhằm bảo đảm cho các thành viên đó thực hiện tất cả các nhiệm vụ đã được thong qua trong kế hoạch và trong trường hợp cần thiết đưa ra các điều chỉnh nhằm khắc phục các sai lệch [6,154] Như
Trang 36vậy, kiểm soát gắn liền với quá trình giám sát và đưa ra biện pháp cần thiết khắc phục những sai lệnh của kế hoạch
Quá trình kiểm soát thường bao gồm các hoạt động: đo lường hoạt động;
so sánh hoạt động thực tế với tiêu chuẩn đã được xác định trong kế hoạch; tiến hành các hoạt động điều chỉnh cần thiết nhằm làm cho mục tiêu của tổ chức đạt được
Những năng lực trên sẽ đảm bảo cho hoạt động nội bộ của tổ chức được thực hiện Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của nâng cao năng lực quản lý là hướng tới nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Do đó, để đảm bảo chất lượng hoạt động của tổ chức có sự gắn liền giữa sản phẩm, nhà tổ chức và người sử dụng thì mọi tổ chức luôn quan tâm đến nhu cầu của người sử dụng hay đối tượng khách hàng Ngoài năng lực quản lý nhằm thực hiện các chức năng cơ bản của hoạt động quản lý thì cần quan tâm đến năng lực thu hút sự tham gia của đối tượng khách hàng Theo giáo sư David M.Dilts (thuộc trường đại học Waterloo, Waterloo Ontario, Canada) chất lượng hoạt động của tổ chức dựa trên 5 nhóm tiêu chí: khách hàng, nhà sản xuất, sản phẩm, giá trị và sự tưởng tượng Trong đó, nhu cầu khách hàng hay mong muốn khách hàng về sản phầm hàng hóa hoặc dịch vụ là điều làm lên thương hiệu và chất lượng của tổ chức Quản lý chất lượng toàn bộ TQM đã đưa ra khái niệm chất lượng nhấn mạnh tới sự hài lòng của người sử dụng, chứ không phải của nhà sản xuất Từ cách tiếp cận trên có thể thấy, bên cạnh những năng lực dựa trên chức năng của quản lý, đối với ngành cung cấp dịch vụ đặc biệt như y tế, giáo dục thì việc tham gia của người thụ hưởng dịch vụ hay khách hàng vào dịch
vụ được cung cấp là tư tưởng quản lý hiện đại, có những bước phát triển so với tư tưởng quản lý truyền thống Do đó, năng lực quản lý thứ năm là năng lực thu hút sự tham gia của học viên vào hoạt động quản lý:
- Năng lực thu hút sự tham gia của khách hàng: Thu hút là sự lôi cuốn
một đối tượng vào một hoạt động nhất định, năng lực thu hút sự tham gia của
Trang 37khách hàng vào hoạt động quản lý là việc tổ chức khuyến khích việc tham gia của khách hàng bằng các chính sách, phương thức thực hiện, để khách hàng tham gia trực tiếp và gián tiếp vào hoạt động quản lý, điều hành hoạt động của tổ chức Mục đích của việc thực hiện năng lực này là:
+ Giảm thiểu tối đa những quyết định mang tính mệnh lệnh, quan liêu của chủ thể quản lý
+ Nâng cao tính cạnh tranh giữa các tổ chức
+ Phát huy tinh thần dân chủ, khuyến khích sự tham gia của khách hàng + Tăng cường trao đổi thông tin hai chiều giữa tổ chức và khách hàng
1.2.2.2 Năng lực quản lý lớp học
Từ lý thuyết về năng lực quản lý nói chung ở phần trên là cơ sở để hình thành năng lực quản lý lớp học Năng lực quản lý lớp học là sự tác động của chủ thể quản lý lớp học lên các phương tiện tổ chức lớp học (giáo viên, hệ thống quy chế lớp học, phương pháp quản lý của chủ thể, trang thiết bị, tài liệu, học viên…) để mang lại hiệu quả cao nhất cho lớp học
Đánh giá năng lực quản lý lớp học được thực hiện trên cơ sở thực hiện các chức năng của quản lý nói chung và gắn liền với hoạt động quản lý, tổ chức các lớp học Thể hiện qua năm năng lực sau:
và đảm bảo (có tính chắc chắn, cam kết) về các nguồn lực thực hiện; (c) quyết định những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu
Lập kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực là một quá trình thu thập,
Trang 38phân tích và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu, phân bố các nguồn lực, thời gian và các phương án thực hiện nhằm đạt được mục tiêu cho chương trình, khóa học đào tạo đã được xác định Những hoạt động chủ yếu cần có khi lập kế hoạch đào tạo hay kế hoạch mở lớp bao gồm:
- Xác định mục tiêu đào tạo phát triển nguồn nhân lực
- Xác định đối tượng đào tạo phát triển nguồn nhân lực
- Xác định thời hạn đào tạo phát triển nguồn nhân lực
- Xác định các bước hành động
- Xác định kết quả mong đợi
- Lựa chọn hình thức và phương pháp đào tạo
- Dự tính chi phí đào tạo
- Lựa chọn cơ sở đào tạo
- Phương pháp đào tạo: Đào tạo mới hay tái đào tạo, đào tạo tại chỗ (sự
hỗ trợ về nội bộ) hay qua trường lớp (sự hỗ trợ của các chuyên gia), đào tạo ngắn hạn hay dài hạn
- Nội dung đào tạo: Phải gắn liền với công việc
- Thời gian đào tạo: Ngắn hạn hay dài hạn, tập trung hay bán tập trung
- Các hỗ trợ về nội bộ trong quá trình tham gia đào tạo để duy trì và không làm ảnh hưởng tới hoạt động chung
Từ những hoạt động cụ thể của công tác lập kế hoạch, khi đánh giá có thể khái quát hoá hoạt động đánh giá năng lực quản lý thông qua các khía cạnh sau:
- Thứ nhất, đánh giá chung về năng lực lập kế hoạch (xem xét chung về
các hoạt động nêu trên)
- Thứ hai, đánh giá tính hợp lý của kế hoạch tổ chức lớp học (trong đó
bao gồm tính hợp pháp và phù hợp đối với đối tượng học viên)
- Thứ ba, xem xét tính khả thi của lập kế hoạch tổ chức lớp học ( yếu tố
này giúp đánh giá tính phù hợp với nhu cầu thực tế, tính ứng dụng của kế
Trang 39hoạch tổ chức lớp học được lập ra
* Năng lực tổ chức thực hiện lớp học
Là khâu hiện thực hóa các mục tiêu và hoạt động được đề ra trong quá trình xây dựng kế hoạch; Tạo cơ sở đánh giá được sự đúng đắn của kế hoạch, giúp tổ chức có thêm được những kinh nghiệm để tổ chức thực hiện đào tạo ngày càng tốt hơn
Khi tiến hành tổ chức các khóa học cần chú ý các nội dung sau: các hoạt động hỗ trợ đào tạo và công tác giảng dạy:
- Các hoạt động hỗ trợ đào tạo:
+ Thông tin khóa học và công tác đón tiếp học viên
+ Công tác bố trí, sắp xếp chỗ ăn, ở cho học viên
+ Công tác điểm danh, đảm bảo sĩ số
+ Sắp xếp lớp cho các đối tượng học viên khác nhau
+ Khảo sát ý kiến học viên sau khóa học
- Hoạt động tổ chức giảng dạy
+ Tên giảng viên theo lịch so với thực tế
+ Nội dung bài giảng theo thời khóa biểu
+ Phương pháp giảng dạy
+ Liên hệ thực tế trong bài giảng
+ Hướng dẫn ôn thi cuối khóa
Khái quát hóa đánh giá ở những khía cạnh sau:
- Thứ nhất, đánh giá chung về năng lực tổ chức thực hiện
- Thứ hai, xem xét việc tổ chức thực hiện lớp học có đảm bảo tiến độ đề
ra hay không
- Thứ ba, xem xét hiệu quả tổ chức thực hiện có đáp ứng được nhu cầu
của học viên và có giải quyết được vấn đề không
* Năng lực chỉ đạo điều hành lớp học
Trang 40Chỉ đạo điều hành quản lý đào tạo tại các lớp chuyên viên chính thể hiện
ở việc điều hành, chỉ đạo của lãnh đạo (giám đốc, phó giám đốc Học viện) đối với các hoạt động tổ chức các lớp chuyên viên chính và điều hành, quản lý của bộ phận quản lý lớp đối với học viên
- Năng lực chỉ đạo điều hành của nhà lãnh đạo khi thực hiện các khóa học được thể hiện ở một số nội dung cơ bản như:
+ Phân công nhiệm vụ cho các bộ phận đào tạo
+ Khả năng chọn người để giao việc
+ Năng lực giải quyết vấn đề khi có tình huống phát sinh
+ Động viên giảng viên, học viên khi tổ chức khóa học
+ Thực hiện các cam kết của cơ sở đào tạo
Khái quát hóa thành các hoạt động đánh giá sau:
- Thứ nhất, đánh giá chung về năng lực chỉ đạo, điều hành
- Thứ hai, đánh giá về tính hợp lý trong năng lực chỉ đạo điều hành
- Thứ ba, đánh giá về tính kịp thời xử lý các công việc của lãnh đạo học
viện trong chỉ đạo điều hành khóa học
* Năng lực kiểm tra, giám sát lớp học
Năng lực kiểm soát trong tổ chức lớp học thực chất là thực hiện quá trình giám sát đào tạo, phát hiện những sai phạm, điều chỉnh những yếu tố phát sinh, đồng thời đưa ra những biện pháp cần thiết để khắc phục những sai lệch của kế hoạch
- Hoạt động giám sát đào tạo sẽ gồm những nội dung sau:
+ Giám sát giảng viên trong quá trình giảng dạy
+ Giám sát nội dung, chương trình giảng dạy
+ Giám sát học viên trong quá trình học tập
+ Giám sát cán bộ quản lý lớp khi thực hiện đào tạo
+ Giám sát các hoạt động liên quan đến phục vụ đào tạo
Khái quát hóa thành các hoạt động đánh giá sau: