Giáo trình Khí cụ điện gồm 3 chương. Phần 1 gồm nội dung 2 chương đầu, trình bày những vấn đề cơ bản về khí cụ điện hạ áp, khí cụ điện đóng cắt. Giáo trình được biên soạn dành cho sinh viên cao đẳng nghề Điện, đồng thời đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến khí cụ điện.
Trang 1CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHÍ CỤ ĐIỆN HẠ ÁP
Bài 1-1 KHÁI NIỆM VỀ KHÍ CỤ ĐIỆN
1 Định nghĩa
Khí cụ điện là những thiết bị điện dùng để đóng , cắt, điều khiển, điều chỉnh và bảo vệ các lưới điện, mạch điện, máy điện và các máy móc sản xuất Ngoài ra nó còn được dùng để kiểm tra và điều chỉnh các quá trình không điện khác
Khí cụ điện được dùng rộng rãi ở các nhà máy phát điện , các trạm biến
áp, trong các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp , lâm nghiệp , thuỷ lợi, giao thông vận tải và quốc phòng
ở nước ta khí cụ điện hầu hết được nhập từ nhiều nước khác nhau nên quy cách không thống nhất, việc bảo quản và sử dụng có nhiều thiếu sót nên hư hỏng khá nhiều, dẫn đến gây thiệt hại về kinh tế Do đó nâng cao chất lượng sử dụng ,
kỹ thuật bảo dưỡng , bảo quản và kỹ thuật sửa chữa khí cụ điện là nhiệm vụ quan trọng hiện nay
2 Phân loại
a- Phân loại theo công dụng của khí cụ điện
- Khí cụ điện dùng để đóng cắt lưới điện, mạch điện để đổi nối kết dây của
hệ thống điện Nhóm này gồm : áp tô mát, cầu dao, máy ngắt
- Khí cụ điện dùng để mở máy, điều chỉnh tốc độ, điều chỉnh điện áp và dòng điện Ví dụ : công tắc tơ, khởi động từ, bộ khống chế, biến trở, điện trở
- Khí cụ điện dùng để duy trì các tham số điện ở giá trị không đổi Ví dụ : thiết bị tự động điều chỉnh điện áp, dòng điện, tần số, tốc độ, nhiệt độ
- Khí cụ điện dùng để bảo vệ lưới điện, máy điện Ví dụ : rơ le, áp tô mát, cầu chì
- Khí cụ điện đo lường Ví dụ : máy biến dòng, máy biến điện áp đo lường
b- Phân theo điện áp
- Khí cụ điện cao áp : Được chế tạo dùng ở điện áp 1000V trở lên
- Khí cụ điện hạ áp : Được chế tạo dùng ở điện áp dưới 1000V
c- Phân theo dòng điện: Khí cụ điện dùng trong mạch điện một chiều và xoay
chiều
d-Phân theo nguyên lý làm việc: có các loại điện từ, cảm ứng, nhiệt, có tiếp
điểm và không có tiếp điểm
e- Phân theo điều kiện làm việc và dạng bảo vệ, gồm có : khí cụ điện làm việc
ở vùng nhiệt đới, ở vùng có nhiều rung động, vùng mỏ có khí nổ, ở môi trường
có hoá chất ăn mòn hoá học, loại để hở, loại bọc kín
3 Các yêu cầu với khí cụ điện
Khí cụ điện phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
Trang 2+ Khí cụ điện phải đảm bảo sử dụng lâu dài với các thông số kỹ thuật ở định mức Nói cách khác dòng điện qua vật dẫn không được vượt quá trị số cho phép vì nếu không sẽ làm nóng khí cụ điện và chóng hỏng
+ Khí cụ điện ổn định nhiệt và ổn định điện động Vật liệu phải chịu nóng tốt và có cường độ cơ khí cao vì khi quá tải hay ngắn mạch, dòng điện lớn có thể làm khí cụ điện hư hỏng hoặc biến dạng
+ Vật liệu cách điện phải tốt để khi xẩy ra quá điện áp trong phạm vi cho phép khí cụ điện không bị chọc thủng
+ Khí cụ điện phải đảm bảo làm việc được chính xác, an toàn song phải gọn nhẹ, rẻ tiền, dễ gia công, dễ lắp ráp, kiểm tra và sữa chữa
+ Ngoài ra khí cụ điện phải làm việc ổn định ở các điều kiện và môi trường yêu cầu
Bài 1-2 TIẾP XÚC ĐIỆN
I- Khái niệm chung :
1 Định nghĩa:
Theo cách hiểu thông thường , chỗ tiếp xúc điện là nơi gặp gỡ chung của hai hay nhiều vật dẫn để dòng điẹn đi từ vật dẫn này sang vật dẫn khác Bề mặt tiếp xúc giữa các vật dẫn gọi là bề mặt tiếp xúc điện
Tiếp xúc điện là một phần rất quan trọng của khí cụ điện Trong thời gian hoạt động đóng mở, chỗ tiếp xúc sẽ phát nóng cao, mài mòn lớn do va đập và
ma sát, đặc biệt sự hoạt động có tính chất huỷ hoại của hồ quang
Tiếp xúc điện phải thoả mãn các yêu cầu sau:
- Thực hiện tiếp xúc chắc chắn , đảm bảo
- Sức bền cơ khí cao
- Không phát nóng quá nhiệt độ cho phép đối với dòng điện định mức
- Ổn định nhiệt và ổn định lực điện động khi có dòng ngắn mạch cực đại
- Tiếp xúc đóng mở: Tiếp điểm của các khí cụ đóng cắt mạch điện
- Tiếp xúc trượt: Chổi than trượt trên cổ góp, vành trượt của máy điện Lực ép lên mặt tiếp xúc có thể là bulông hay lò xo
Trang 3Theo bề mặt tiếp xúc có ba dạng:
- Tiếp xúc điểm ( giữa hai mặt cầu, mặt cầu với mặt phẳng, hình nón với mặt phẳng)
- Tiếp xúc đường ( giữa hình trụ với mặt phẳng )
- Tiếp xúc mặt ( giữa mặt phẳng với mặt phẳng )
II Các hình thức tiếp xúc điện:
Do đó diện tích tiếp xúc thực nhỏ hơn nhiều so với diện tích biểu kiến Sbk = a.l Diện tích tiếp xúc còn phụ thuộc vào lực ép lên tiếp điểm và vật liệu làm tiếp điểm, lực càng lớn thì diện tích tiếp xúc càng lớn
Diện tích tiếp xúc S ở một điểm (cầu với mặt phẳng) xác định bởi:
d
F S
(3.1) Trong đó
F: Lực ép lên tiếp điểm (Kg)
d: ứng suất chống dập nát của vật liệu làm tiếp điểm (kg/cm2) Bảng ứng suất chống dập nát của một số kim loại thông dụng
Kim loại ứ ng suất d
ứ ng suất d (N/cm2)
Điện trở tiếp xúc của tiếp điểm kiểu bất kỳ tính theo công thức:
m tx F
K
R (3.2) Trong đó:
K: hệ số phụ thuộc vật liệu và tình trạng bề mặt tiếp điểm (theo bảng tra) m: hệ số phụ thuộc vào số điểm tiếp xúc và kiểu tiếp xúc với:
Trang 4Tiếp xúc đường : m= 0,7
Bảng tra trị số K trong công thức (3.2)
Kim loại tiếp
xúc Trị số K(.N) Kim loại tiếp xúc Trị số K(.N) Đòng - đồng (0,08 đến 0,14).102 Sắt - đồng 3,1.102
d
tx
n F
a- Tiếp xúc cố định ( hình 1-7 ): Ở đây ta chú ý tới tiếp xúc cố định dùng các bu lông thép để ghép, những bu lông này thực tế không dẫn điện khi ngắn mạch Lúc đó vật dẫn không phải là thép sẽ phát nóng và dãn nở nhiều hơn vật liệu bu lông thép nên những bu lông này chịu ứng suất khá lớn Nhưng đến khi phát nóng giảm hay bị nguội lạnh thì mối tiếp xúc sẽ yếu Để tránh hiện tượng này nên đệm thêm vòng đệm lò so dưới đai ốc
Trang 5Hình 1-7 : Hình dạng của một số tiếp xúc cố định
2- Tiếp xúc đóng mở:
Hình 1- 4 : Hình dạng bề mặt tiếp xúc giữa hai mặt dẫn điện
Bề mặt tiếp xúc thường có dạng lồi lõm ly ty mà mắt thường không thể thấy được Tiếp xúc giữa hai vật dẫn không thực hiện được trên toàn bộ bề mặt
mà chỉ có một vài điểm tiếp xúc mà thôi Đó chính là các đỉnh có bề mặt cực bé
để dẫn dòng điện đi qua Khi vật liệu rắn , dưới tác dụng của lực ép F thì vật tiếp xúc nhiều nhất ở 3 điểm và các đỉnh sẽ biến dạng đàn hồi Nếu lực F lớn các đỉnh sẽ biến dạng dẻo và những điểm tiếp xúc trở thành những bề mặt tiếp xúc đồng thời tạo nên những điểm tiếp xúc mới
Trang 6F S
Cũng từ tính toán trên nếu dùng thanh đồng cứng thì kết quả là 0,86%, tức
là thực hiện tiếp xúc tốt hơn
Muốn tiếp xúc tốt phải làm sạch mối tiếp xúc Sau một thời gian nhất định, bất kỳ một bề mặt tiếp xúc nào đã được làm sạch trong không khí cũng đều
bị bọc một lớp ôxyt ở những mối tiếp xúc bằng vàng hay bạc , lớp này tạo thành chậm Thông thường bề mặt tiếp xúc được đánh bóng bằng giấy ráo mịn, sau đó lau bằng vải, bông hay dạ, ma sát mạnh cho đến khi toàn bộ bề mặt được độ thấm nước ( bề mặt khô biểu hiện không hoàn toàn sạch ) Mỡ và dầu phải được rửa sạch bằng axêtôn hay têtra clorua cacbon
Trong thực tế nếu nói diện tích tiếp xúc S ta hiểu là diện tích tiếp xúc biểu kiến Sbk
- Đối với rơ le thường dùng bạc, Platin tán hoặc hàn vào giá tiếp điểm Tiếp điểm rơle thường dung hình thức tiếp xúc điểm
- Tiếp điểm của các khí cụ có dòng điện trung bình và lớn như : bộ khống chế, công tắc tơ, khí cụ điện cao áp….Thường tiếp điểm làm việc mắc song songvới tiếp điểm hồ quang Khi tiếp điểm đang ở vị trí đóng, dòng điện sẽ đi qua tiếp điểm làm việc Khi mở hoặc đóng , hồ quang phát sing sẽ cháy trên tiếp
Trang 7điểm hồ quang Tiếp điểm hồ quang được chế tạo bằng kim loại tốt Như vậy tiếp điểm làm việc luôn được bảo vệ tốt không bị hồ quang phá hoại bề mặt tiếp xúc
Tiếp điểm thường có nhiều dạng khác nhau: Hình ngón, bắc cầu,chổi, cắm
+ Tiếp điểm hình ngón : Dùng nhiều ở công tắc tơ, khi đóng tiếp điểm động vừa lăn và trượt trên tiếp điểm tĩnh và tự làm tróc lớp oxyt trên bề mặt tiếp điểm
+ Tiếp điểm bắc cầu : Dùng như ở rơ le
+ Tiếp điểm chổi : Có dạng hình chổi gồm những lá đồng mỏng từ 0,1 – 0,2 mm xếp lại trượt trên tiếp điểm tĩnh
+ Tiếp điểm kẹp ( cắm ): Dùng ở cầu dao, cầu chì, dao cách ly
+ Tiếp điểm đối diện ( còn gọi là tiếp điểm đầu ) : Dùng ở máy cắt diện cao áp
Hình dạng của một số tiếp xúc đóng mở vẽ trên hình 1- 8
Hình 1-8 : Dạng của một số tiếp xúc đóng mở:
a) Tiếp điểm ngón; b) Tiếp điểm bắc cầu; c) Tiếp điểm cắm ( kẹp )
Trang 8d) Tiếp điểm đối diện; e) Tiếp điểm lưỡi; h) Tiếp điểm thuỷ ngân
3- Tiếp xúc mặt và tiếp xúc đường:
Có hai vật dẫn tiếp xúc nhau, diện tích tiếp xúc S, điện trở suất , có chiều dài là l ( hình 1- 5 )
Hình 1- 5 : Cách tính điện trở tiếp xúc
a- Hình dạng và kích thước b- Đường đặc tính quan hệ điện trở tiếp xúc với lực ép lên tiếp điểm:
1- khi lực ép tăng 2- khi lực ép giảm
Lúc đó điện trở hai vật dẫn ( hình 1- 5a ) tính theo công thức:
m tx
F
k R R
R 1
Trong đó :
- k là hệ số phụ thuộc vào và , đồng thời vào trạng thái mặt tiếp xúc
- m là hệ số phụ thuộc vào dạng tiếp điểm và số lượng điểm tiếp xúc
- F là lực ép lên tiếp điểm
Trị số m và k tham khảo theo bảng 1- 3 và 1- 4
Bảng 1- 3
Trang 10Tiếp xúc đỉnh nhọn – mắt phẳng 0,5
4-Một số yêu cầu đối với vật liệu làm tiếp điểm:
a- Vật liệu làm tiếp điểm:
Nếu vật liệu mềm thì dù áp suất có bé điện trở tiếp xúc cũng bé Nói cách khác, nếu khả năng chống dập nát được đặc trưng bằng bé thì Rtx cũng bé Do
đó thường dùng vật liệu mềm để làm tiếp điểm hoặc dùng kim loại cứng mạ ngoài bằng kim loại mềm như : đồng thau mạ thiếc, thép mạ thiếc hay mạ
cadimi Từ đó cũng phát triển tiếp điểm lưỡng kim loại : tiếp điểm kim loại cứng tiếp xúc với kim loại lỏng như thuỷ ngân
b- Lực ép tiếp điểm F càng lớn thì điện trở tiếp điểm càng bé, có thể thấy rõ trên hình 1- 5 b
c- Hình dạng tiếp điểm có ảnh hưởng đến điện trở tiếp xúc, vì hệ số m khác nhau nên
m tx F
k
R
cũng khác nhau ( bảng 1- 4)
d- Nhiệt độ tiếp điểm:
Theo kết quả thí nghiệm : ở nhiệt độ không quá cao ( thường 2000C ), khi nhiệt độ tiếp điểm tăng, thì điện trở tiếp xúc cũng tăng
e- Diện tích tiếp xúc có ảnh hưởng đến điện trở tiếp xúc
f- Mật độ dòng điện :
Diện tích tiếp xúc được xác dịnh tuỳ theo mật độ dòng điện cho phép Mật
độ dòng điện cho phép được xác định theo công thức :
Như vậy , muốn giảm điện trở tiếp xúc có thể tăng lực èp, tăng số tiếp điểm tiếp xúc, chọn vật dẫn có điện trở suất bé và hệ số truyền nhiệt lớn, tăng diện tích truyền nhiệt và chọn tiếp điểm có dạng toả nhiệt dễ nhất
Trang 11* Một số yêu cầu đối với vật liệu làm tiếp điểm
Những vật liệu làm tiếp điểm phải thoả mãn các điều kiện sau :
- Có độ bền cơ khí cao
- Dẫn diện và truyền nhiệt tốt
- Chống ăn mòn và mài mòn tốt
- Nhiệt độ bốc hơi và nóng chảy cao
- Rẻ và dễ gia công cơ khí
Đồng và thép được dùng rộng rãi để làn các tiếp điểm cố định Đồng có điện trở suất bé và có đủ sức bền cơ khí, được dùng trong mạch có dòng điện lớn Thép chỉ dùng ở điện áp cao và công suất bé, về sức bền cơ khí thì lớn hơn đồng, song điện trở suất lại lớn và đặc biệt phát sinh tổn thất lớn đối với dòng điện xoay chiều
Đối với tiếp xúc đóng mở mạch điện có dòng điện bé, tiếp điểm thường làm bằng bạc, đồng, platin, vonfram, molipđen, niken và hạn hữu mới dùng vàng bạc có tính dẫn điện và truyền nhiệt tốt và lớp oxyt của nó dẫn điện Platin ( bạch kim ) không có lớp oxyt, điện trở tiếp xúc bé Vonfram có nhiệt độ nóng chảy cao và chống mài mòn tốt đồng thời có độ cứng lớn
Trường hợp dòng điện vừa và lớn thường dùng đồng, đồng thauvà những kim loại có nhiệt độ nóng chảy cao
Khi dòng điện lớn, dùng hợp kim gốm, có độ mài mòn bé, độ cứng lớn song có nhược điểm là tính dẫn điện giảm, do đó để tăng khả năng dẫn điện , người ta chế tạo thành những tấm mỏng dán hoặc hàn vào bề mặt tiếp xúc Hợp kim gốm thường dùng : bạc- vonfram, bạc – molipđen, bạc – niken, đồng – vonfram, đồng molipđen
5- Các nguyên nhân gây hư hỏng tiếp điểm và các biện pháp khắc phục
Xung quanh điểm tiếp xúc có nhiều hốc nhỏ ly ti , hơi nước đọng lại các chất có hoạt tính hoá học lớn thấm vào gây phản ứng hoá học tạo nên màng mỏng giòn, dễ bị bóc khi va chạm , do vậy mặt tiếp xúc bị mòn dần Đó là hiện tượng ăn mòn kim loại
Điện trở suất của màng mỏng rất lớn so với điện trở suất của kim loại làm vật dẫn, do đó điện trở tiếp xúc tăng khi hình thành màng mỏng
Sự oxy hoá làm cho điện trở tiếp xúc tăng lên đặc biệt ở nhiệt độ lớn hơn
700C Đồng bị oxy hoá mạnh, thí nghiệm thấy ở nhiệt độ 1000Csau 1 giờ điện trở tiếp xúc tăng khoảng 50 lần
Nếu đốt nóng và làm nguội liên tục cũng làm tăng tốc độ oxy hoá
Ngoài ra , mỗi kim loại có một điện thế hoá học nhất định, do đó nếu hai kim loại tiếp xúc nhau sẽ có hiệu điện thế giữa chúngvà tạo điều kiện thuận lợi cho oxy hoá Hơn nữa nếu hơi nước đọng trên bề mặt tiếp xúc có chất điện phân
Trang 12thì do có hiệu điện thế nên sé có dòng điện chạy qua giữa chúng, kim loại có độ hoà tan lớn sé bị ăn mòn trước Kim loại nào có điện thế hoá học càng âm ( Mn,Al,Mg ) thì độ hoà tan càng lớn nên càng chóng hỏng
Sau đây là một số vật liệu kim loại có điẹn thế hoá học (V ) với trị âm tăng dần:
- Tiếp điểm đồng thau, đồng mạ thiếc hay mạ bạc Mạ thiếc không tốt bằng
mạ bạc vì khi có dòng điện cao đi qua ( lúc ngắn mạch ) thiếc chảy và bắn ra xung quanh
- Nhôm mạ kẽm
- Sắt mạ cadimi, kẽm Mạ niken ít bị oxy hoá , không chảy băn ra ngoài Đồng thời để bảo vệ tốt bề mặt kim loại, kim loại mạ phải có điện thế hoá học gần bằng điện thế hoá học của kim loại làm tiếp điểm, tăng lực ép F và giảm bớt khe hở, giảm bớt độ ăn mòn
* Sự làm việc của tiếp điểm khi ngắn mạch
Khi quá tải và đặc biệt khi ngắn mạch nhiệt độ chỗ tiếp xúc của tiếp điểm rất cao làm giảm tính đàn hồi và cường độ cơ khí của tiếp điểm Nhiệt độ cho phép khi ngắn mạch đối với đồng , đồng thau là 200 – 3000C , còn đối với nhôm
là 150 – 2000C
Trang 13Hình 1-6 : Hình dạng dòng điện ( a ) và lực điện động ( b ) ở điểm tiếp xúc
của tiếp điểm khi ngắn mạch
Ta phân biệt ba trường hợp sau:
- Tiếp điểm đang ở vị trí đóng bị ngắn mạch : Tiếp điểm sẽ bị hàn dính và nóng chảy Kinh nghiệm cho thấy lực ép lên tiếp diểm ( F ) càng lớn thì dòng điện đẻ làm tiếp điẻm nóng chảy và hàn dính càng lớn Thường F = 200 – 500N
Do đó , tiếp điểm cần phải có lực giữ tốt
- Tiếp điểm đang trong quá trình đóng bị ngắn mạch : lúc đó sẽ sinh ra lực điện động kéo rời tiếp điểm ra xa, song do chấn động nên dễ sinh hiện tượng hàn dính
Thật vậy, giả thiết hai tiếp điểm trong quá trình đóng vừa mới có một điểm tiếp xúc đã bị ngắn mạch nên dòng điện đi qua điểm này rất lớn Như vậy dòng điện có giá trị rất lớn đi từ một tiết diện lớn ( tiết diện của vật tiếp xúc ) đến tiết diện bé ( tiết diện của điểm tiếp xúc ) biểu diễn trên hình 1- 6
Kết quả là giữa các tiếp điểm sẽ phát sinh lực điện động f đẩy tiếp điểm ra
xa Lực này do sự tác động tương hỗ giữa dòng điện I và từ trường riêng sinh ra bởi dòng điện đó Lực điện động có tác dụng ngược lại với lực ép các tiếp điểm vào nhau của lò xo mên tạo thành chấn động dễ sinh hiện tượng hàn dính Lực điện động f được tính như sau :
N d
D I
f 10 7 2 ln( ),
Trong đó : D - đường kính vật tiếp xúc
D - đường kính điểm tiếp xúc, ( xem như tiết diện tròn bé)
Rõ ràng nếu dòng điện I càng lớn thì f( tăng tỷ lệ với I2) sẽ càng lớn
- Tiếp điểm trong quá trình mở bị ngắn mạch : Trường hợp này sẽ phát sinh
hồ quang làm nóng chảy tiếp điểm và mài mòn mặt tiếp xúc
Bài 1-3 SỰ PHÁT NÓNG CỦA KHÍ CỤ ĐIỆN, CÁC TRẠNG THÁI LÀM
VIỆC CỦA KHÍ CỤ ĐIỆN
I Sự phát nóng của khí cụ điện
Trang 141 Khái niệm:
Dòng điện chạy trong vật dẫn làm khí cụ điện nóng lên Nừu nhiệt độ vượt quá giá trị cho phép, khí cụ điện sẽ chóng hỏng, vật liệu cách điện chóng già hoá và cường độ cơ khí của kim loại giảm đi nhanh chóng
Để đảm bảo cho các khí cụ điện làm việc bình thường thì nhiệt độ lớn nhất của khí cụ điện không được vượt quá nhiẹt độ lớn nhất cho phép
Nhiệt độ lớn nhất cho phép của các bộ phận trong khí cụ điện tham khảo theo bảng 1-1
Bảng 1-1
Các bộ phận của khí cụ điện Nhiệt độ cho phép, 0C Vật liệu không bọc cách điện hay để xa vật cách điện 110
Vật liệu dẫn điện có bọc cách điện :
- Cách điện cấp Y ( gồm vải sợi, giấy, tơ, lụa,
- Cách điện cấp B ( vật liệu trên cơ sở mi ca,
amian,sợi thuỷ tinh có thấm tẩm để chịu nhiệt độ
tương ứng )
- Cách điện cấp F ( vật liệu trên cơ sở mi ca,
amian,sợi thuỷ tinh có thấm tẩm tốt hơn để chịu
nhiệt độ cao hơn cấp B )
- Cách điện cấp H ( vật liệu trên cơ sở mi ca,
Trang 15amian,sợi thuỷ tinh và tổng hợp silíc )
- Cách điện cấp C ( vật liệu trên cơ sở mi ca, silíc,
sứ )
Trên 180
Tuỳ theo chế độ làm việc mà khí cụ điện phát nóng khác nhau Có 3 chế
độ làm việc : Làm việc dài hạn, làm việc ngắn hạn và làm việc ngắn hạn lặp lại
Sự phát nóng do tổn hao nhiệt quyết định Đối với khí cụ điện một chiều
đó là tổn hao đồng, đối với khí cụ điện xoay chiều là tổn hao đồng và sắt Ngoài
ra còn tổn hao phụ Nguồn phát nóng chính ở khí cụ điện là : dây dẫn có dòng điện chạy qua, lõi thép có từ thông biến thiên theo thời gian cầu chì, chống sét
và một số khí cụ khác có thể phát nóng do hồ quang Ngoài ra còn có thể phát nóng do tổn thất dòng điện xoáy
Các loại tổn hao này đều biến thành nhiệt làm khí cụ điện nóng lên ta nói khí cụ điện bị phát nóng Khi nhiệt độ của khí cụ điện cao hơn nhiệt đọ môi trường nó bắt đầu toả nhiệt ra ngoài môi trường theo ba hình thức : Truyền nhiệt, bức xạ và đối lưu Chênh lệch nhiệt càng lớn thì nhiệt lượng truyền ra môi trường càng nhiều Khi nhiệt lượng do năng lượng tổn hao trong khí cụ điện sinh ra trong một đơn vị thời gian bằng nhiệt lượng toả ra môi trường trong cùng thời gian đó thì nhiệt độ của khí cụ điện không tăng lên nữa mà đạt tới giá trị nhiệt độ ổn định Kết thúc quá trình phát nóng của khí cụ điện ( đoạn OA )
Hình 1-1 : Đường đặc tính phát nóng và nguội lạnh của khí cụ điện
Thời gian t nóng gọi là thời gian đốt nóng thường từ vài chục phút đến vài giờ
Khi cắt thiết bị ra khỏi nguồn điện , nguồn phát nhiệt mất đi nó bắt đầu giảm nhiệt độ cho đến khi bằng nhiệt độ 0của môi trường Đó là quá trình nguội
Trang 16lạnh của khí cụ điện ( đoạn BC ) Thời gian t nguội là thời gian nguội lạnh của khí
cụ điện
2 Các chế độ làm việc của khí cụ điện
Khoảng các giữa hai lần đóng điện và cắt điện của khí cụ điện gọi là thời gian làm việc tđ Tuỳ theo tương quan giữa thời gian làm việc , thời gian phát nóng và nguội lạnh , người ta chia ra 3 chế độ làm việc:
a- Chế độ làm việc dài hạn: Là chế độ làm việc có thời gian đóng điện tđ lớn hơn thời gian phát nóng t nóng Như vậy trong mỗi chu kỳ làm việc khí cụ điện đều bị gia nhiệt đến nhiệt độ ổn định ( Hình 1- 2 )
Hình 1-2 : Đường đặc tính phát nóng và nguội lạnh của khí cụ điện ở chế độ làm
việc dài hạn
b- Chế độ làm việc ngắn hạn :
Là chế độ làm việc có thời gian làm việc ( tđ ) nhỏ hơn thời gian phát nóng ( t nóng ), tđ < t nóng Nhưng thời gian cắt điện lại dài hơn thời gian nguội lạnh ( tc > t nguội ) Như vậy trong mỗi chu kỳ làm việc khí cụ điện không bao giờ đạt tới nhiệt độ ổn định và sau đó lại nguội lạnh đến nhiệt độ môi trường ( Hình 1- 3a )rồi mới bắt đầu chu kỳ làm việc mới Ví dụ các khí cụ điện trong mạch khởi động , mở máy các động cơ điện, cuận dây đóng và cắt máy ngắt
cp