1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích cấu trúc và chức năng cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực sông mã (thuộc tỉnh thanh hóa)

192 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 14,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ --- VŨ VĂN DUẨN PHÂN TÍCH CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

VŨ VĂN DUẨN

PHÂN TÍCH CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ LÃNH THỔ LƯU VỰC SÔNG MÃ (THUỘC TỈNH THANH HÓA)

LUẬN ÁN TIẾN SỸ ĐỊA LÝ

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

VŨ VĂN DUẨN

PHÂN TÍCH CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ LÃNH THỔ LƯU VỰC SÔNG MÃ (THUỘC TỈNH THANH HÓA)

Chuyên ngành: Địa lý tự nhiên

Mã số: 9.44.02.17

LUẬN ÁN TIẾN SỸ ĐỊA LÝ

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS Phạm Thế Vĩnh

2 PGS.TSKH Nguyễn Văn Cư

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Nghiên cứu sinh xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của mình dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học 1: TS Phạm Thế Vĩnh và Người hướng dẫn khoa học 2: PGS, TSKH Nguyễn Văn Cư Hệ thống các dữ liệu, số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và của nghiên cứu sinh thực hiện, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây Các nội dung tham khảo được trích dẫn, dẫn nguồn đầy

đủ và trung thực

Nghiên cứu sinh

Vũ Văn Duẩn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án được hoàn thành tại Viện Địa lý, Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Thế Vĩnh và PGS,TSKH Nguyễn Văn Cư NCS xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy - những người đã thường xuyên dạy dỗ, chỉ bảo tận tình NCS trong suốt thời gian thực hiện luận án

Trong quá trình nghiên cứu, NCS đã nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô, các nhà khoa học trong Viện Địa lý, Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam, và các cơ sở đào tạo ngoài Viện như: Khoa Địa lý, trường Đại học Sư phạm

Hà Nội; Viện Điều tra Quy hoạch rừng - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở tài nguyên và Môi trường, Sở nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa,

NCS xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Hồng Đức, Ban Chủ nhiệm Khoa khoa học Xã hội, đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất giúp cho tôi có

cơ hội phấn đấu, vươn lên trong công tác cũng như trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng nghiệp trong trường Đại học Hồng Đức, khoa Khoa học Xã hội, bộ môn Địa lý

Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với sự giúp đỡ, động viên của gia đình, người thân và bạn bè trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án

Nghiên cứu sinh

Vũ Văn Duẩn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU……… 1

1 Tính cấp thiết của luận án ……… 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Các luận điểm bảo vệ 3

5 Những điểm mới của luận án 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

7 Cơ sở tài liệu 3

8 Cấu trúc của luận án 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC, CHỨC NĂNG CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ LÃNH THỔ LƯU VỰC SÔNG MÃ TỈNH THANH HÓA

5 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 5

1.1.1 Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý lãnh thổ trên thế giới 5

1.1.2 Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý lãnh thổ ở Việt Nam 9

1.1.3 Các nghiên cứu trên lưu vực sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa có liên quan đến luận án 11

1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ 13

1.2.1 Cảnh quan……… 13

1.2.2 Phân loại cảnh quan……… 14

1.2.3 Bản đồ cảnh quan……… 17

1.2.4 Đa dạng cảnh quan 18

1.2.5 Cấu trúc cảnh quan 19

1.2.6 Chức năng cảnh quan 21

1.2.7 Đánh giá cảnh quan……… 24

1.2.8 Tổ chức lãnh thổ 26

1.2.9 Nguyên tắc phân vùng cảnh quan……… 27

1.3 Sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực sông 28

1.3.1 Trên thế giới 28

1.3.2 Ở Việt Nam 29

1.3.3 Lãnh thổ lưu vực sông 31

1.4 Quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu 33

1.4.1 Quan điểm nghiên cứu 33

1.4.2 Phương pháp nghiên cứu 35

1.4.3 Quy trình nghiên cứu 39

Tiểu kết chương 1: 39

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN LÃNH THỔ LƯU VỰC SÔNG MÃ TỈNH THANH HÓA 42

2.1 Các hợp phần, yếu tố thành tạo cảnh quan 42

2.1.1 Đặc điểm các hợp phần, yếu tố tự nhiên trong thành tạo cảnh quan 42

2.1.2 Đặc điểm các yếu tố kinh tế - xã hội trong thành tạo, sử dụng cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu……… 66

2.2 Đặc điểm cảnh quan lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa……… 69

2.2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 69

Trang 6

2.2.2 Đặc điểm các đơn vị phân loại cảnh quan 69

2.2.3 Bản đồ cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa ……… 72

2.2.4 Các đơn vị phân loại cảnh quan 78

2.2.5 Đặc điểm cấu trúc cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa……… 79

2.2.6 Đặc điểm cấu trúc động lực cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 96

2.2.7 Phân tích chức năng cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa………… 97

2.3 Phân vùng cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa …… 100

Tiểu kết chương 2……… 108

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ LÃNH THỔ LƯU VỰC SÔNG MÃ TỈNH THANH HÓA 109

3.1 Đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng hợp lý ngành nông, lâm nghiệp lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa……… 109

3.1.1 Quy trình các bước đánh giá cảnh quan lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa………… 109

3.1.2 Nguyên tắc và phương pháp đánh giá cảnh quan 110

3.1.3 Lựa chọn đơn vị đánh giá 111

3.2 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển các ngành sản xuất kinh tế lãnh thổ nghiên cứu 112

3.2.1 Nguyên tắc lựa chọn và phân cấp chỉ tiêu đánh giá 112

3.2.2 Đánh giá thích nghi cho các nhóm cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả 112

3.2.3 Đánh giá thích nghi cho rừng phòng hộ và rừng sản xuất 119

3.3 Thực trạng và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 125 3.3.1 Thực trạng khai thác sử dụng tài nguyên nước……… 125

3.3.2 Thực trạng sử dụng đất (theo mục đích sử dụng)……… 127

3.3.3 Thực trạng diện tích và độ che phủ rừng lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa … 128

3.3.4 Thực trạng tài nguyên sinh học 129

3.3.5 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội……… 132

3.3.6 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 133

3.4 Định hướng sử dụng hợp lý cảnh quan cho phát triển nông – lâm nghiệp lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 136

3.4.1 Quan điểm và căn cứ định hướng 136

3.4.2 Định hướng không gian các hoạt động nông lâm nghiệp lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 137

3.5 Định hướng không gian ưu tiên phát triển nông – lâm nghiệp lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 142

Tiểu kết chương 3……… 145

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 146

Danh mục công trình của tác giải 149

Tài liệu tham khảo……… 150

Phụ lục……… 155

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Việt

BĐ: Bản đồ

BTTN: Bảo tồn thiên nhiên

BVMT: Bảo vệ môi trường

CHDCND: Cộng hòa dân chủ nhân dân

CN: Công nghiệp

CQ: Cảnh quan

CQST: Cảnh quan sinh thái

ĐKTN: Điều kiện tự nhiên

ĐGCQ: Đánh giá cảnh quan

HST: Hệ sinh thái

KT - XH: Kinh tế xã hội

KTST: Kinh tế sinh thái

MTST: Môi trường sinh thái

NCS: Nghiên cứu sinh

NCCQ: Nghiên cứu cảnh quan

TNST: Thích nghi sinh thái

TNTN: Tài nguyên thiên nhiên

UBND: Ủy ban nhân dân

Tiếng anh

AHP: Analytic Hierarchy Process - Phương pháp phân tích thứ bậc

FAO: Food and Agriculture Organization - Tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới GIS: Geographic Information System - Hệ thống thông tin địa lý

UNESCO: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 1.1 Mức độ quan trọng của các chức năng cảnh quan 22

2 Bảng 1.2 So sánh cặp đôi các yếu tố tác động các ngành kinh tế hoặc cây trồng 38

3 Bảng 1.3 Chỉ số nhất quán ngẫu nhiên 38

4 Bảng 2.1 Đặc điểm cấu trúc địa mạo lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL155

5 Bảng 2.2 Tổng số giờ nắng trung bình tháng và năm (giờ) thời kỳ 1980 - 2012 PL155

6 Bảng 2.3 Đặc trưng tốc độ gió tháng và năm (m/s) thời kỳ 1980 - 2012 PL156

7 Bảng 2.4 Đặc trưng nhiệt độ không khí tháng và năm ( o

C) thời kỳ 1980 - 2012 51

8 Bảng 2.5 Lượng mưa trung bình tháng và năm (mm) thời kỳ 1980 - 2012 PL156

9 Bảng 2.6 Độ ẩm không khí trung bình tháng và năm (%) thời kỳ 1980 - 2012 PL156

10 Bảng 2.7 Hệ thống chỉ tiêu phân loại SKH lãnh thổ lưu vực sông Mã Thanh Hóa 54

11 Bảng 2.8 Tổng hợp sinh khí hậu lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL157

12 Bảng 2.9 Đặc trưng hình thái sông ngòi tỉnh Thanh Hóa 55

13 Bảng 2.10 Phân loại đất lãnh thổ lưu vực sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa PL158

14 Bảng 2.11 Kết quả phân tích phẫu diện TH - 05 58

15 Bảng 2.12 Kết quả phân tích phẫu diện TH - 20 58

16 Bảng 2.13 Kết quả phân tích phẫu diện TH - 18 PL159

17 Bảng 2.14 Kết quả phân tích phẫu diện TH - 11 PL159

18 Bảng 2.15 Kết quả phân tích phẫu diện TH - 16 PL159

19 Bảng 2.16 Kết quả phân tích phẫu diện TH - 08 61

20 Bảng 2.17 Lớp thảm thực vật lãnh thổ lưu vực sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa PL160

21 Bảng 2.18 Diện tích một số loại cây trồng chính lãnh thổ lưu vực sông Mã năm 2016 65

22 Bảng 2.19 Giá trị sản xuất theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế lãnh thổ

lưu vực sông Mã tỉnh Thanh hóa giai đoạn 2010 - 2016 (Triệu đồng) 67

23 Bảng 2.20 Hệ thống phân loại cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 70

24 Bảng 2.21 Kết quả phân tích nông hóa phẫu diện TH 1 85

25 Bảng 2.22 Kết quả phân tích nông hóa phẫu diện TH 2 86

26 Bảng 2.23 Diện tích, tỷ lệ các đơn vị phân vùng cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông

Mã tỉnh Thanh Hóa 101

27 Bảng 3.1 Phân cấp mức độ thích nghi cho 3 nhóm cây nông nghiệp 115

28 Bảng 3.2 Tổng hợp ý kiến chuyên gia so sánh từng cặp chỉ tiêu đánh giá CQ cho

phát triển các nhóm cây trồng lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL160

29 Bảng 3.3 Ma trận tương quan giữa các chỉ tiêu đánh giá CQ cho phát triển các

nhóm cây trồng lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL161

30 Bảng 3.4 Trọng số các chỉ tiêu đánh giá CQ cho phát triển các nhóm cây lãnh thổ

lưu vực sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa 116

31 Bảng 3.5 Các thông số tính toán nhất quán cho các nhóm cây trồng 116

32 Bảng 3.6 Xác định mức độ thích nghi của 3 nhóm cây trồng 116

33 Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả đánh giá các chỉ tiêu cho phát triển nhóm cây lương

thực, thực phẩm lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL161

34 Bảng 3.8 Kết quả phân cấp mức độ thích nghi của cảnh quan đối với nhóm cây 117

Trang 9

lương thực, thực phẩm

35 Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả đánh giá các chỉ tiêu cho phát triển nhóm cây công

nghiệp ngắn ngày lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL164

36 Bảng 3.10 Kết quả phân cấp mức độ thích nghi của cảnh quan đối với nhóm cây

công nghiệp ngắn ngày 118

37 Bảng 3.11 Tổng hợp kết quả đánh giá các chỉ tiêu cho phát triển nhóm cây ăn quả

lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL165

38 Bảng 3.12 Kết quả phân cấp mức độ thích nghi của cảnh quan đối với nhóm cây ăn quả 119

39 Bảng 3.13 Phân cấp chỉ tiêu thích nghi đối với các loại rừng lãnh thổ lưu vực sông

Mã tỉnh Thanh Hóa 121

40 Bảng 3.14 Tổng hợp ý kiến chuyên gia so sánh từng cặp chỉ tiêu đánh giá CQ cho phát

triển các loại rừng lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL166

41 Bảng 3.15 Ma trận tương quan giữa các chỉ tiêu đánh giá CQ cho phát triển nông

nghiệp lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL166

42 Bảng 3.16 Trọng số các chỉ tiêu đánh giá CQ cho phát triển các loại rừng lãnh thổ

lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 122

43 Bảng 3.17 Các thông số tính toán nhất quán cho rừng sản xuất và rừng phòng hộ 122

44 Bảng 3.18 Khoảng điểm và các cấp thích nghi của hai loại rừng 123

45 Bảng 3.19 Tổng hợp kết quả đánh giá các chỉ tiêu cho phát triển rừng phòng hộ

lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL166

46 Bảng 3.20 Kết quả phân cấp mức độ thích nghi của cảnh quan đối với với rừng

47 Bảng 3.21 Tổng hợp kết quả đánh giá các chỉ tiêu cho phát triển rừng sản xuất lãnh

thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL168

48 Bảng 3.22 Kết quả phân cấp mức độ thích nghi của cảnh quan đối với rừng sản xuất 124

49 Bảng 3.23 Tổng hợp hiện trạng các công trình đập lấy nước mặt phục vụ tưới, sản

xuất nông nghiệp tại các huyện tỉnh Thanh Hoá PL170

50 Bảng 3.24 Hiện trạng sử dụng đất lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hoá năm

2016 (Đơn vị: ha) PL171

51 Bảng 3.25 Hiện trạng diện tích rừng lãnh thổ lưu vực sông Mã, tỉnh Thanh Hóa giai

đoạn 2010 - 2016 PL171

52 Bảng 3.26 Diễn biến diện tích đất có rừng che phủ qua các năm 129

53 Bảng 3.27 Tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa

đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 133

54 Bảng 3.28 Định hướng phát triển các ngành sản xuất nông, lâm, nhóm cây trồng và

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

3 Hình 1.3 Vai trò của phân tích và đánh giá chức năng cảnh quan trong

5 Hình 1.5 Sơ đồ tiến trình các bước nghiên cứu luận án 40

6 Hình 2.1 Bản đồ hành chính lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 41

7 Hình 2.2 Bản đồ địa chất lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 43

8 Hình 2.3 Bản đồ phân tầng độ cao lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 47

9 Hình 2.4 Bản đồ địa mạo lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 49

12 Hình 2.7 Bản đồ sinh khí hậu lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 53

13 Hình 2.8 Sơ đồ mạng lưới thủy văn lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 56

14 Hình 2.9 Bản đồ tài nguyên nước mặt lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL172

15 Hình 2.10 Bản đồ đất lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 60

16 Hình 2.11 Bản đồ thảm thực vật lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 63

17 Hình 2.12

Phẫu đồ tiêu chuẩn số 1 (Xuân Khao/2008), Rừng thứ sinh thường xanh mưa ẩm nhiệt đới bị tác động nặng, vỡ cấu trúc tầng tán, độ che phủ 0,3 (nguồn [47])

PL173

18 Hình 2.13

Phẫu đồ tiêu chuẩn số 4 (Xuân Liên/2009), Rừng rậm thường xanh á nhiệt đới hỗn giao cây lá rộng lá kim ở sườn núi, độ che phủ 0,8 (nguồn [47])

PL174

19 Hình 2.14 Biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất của nền kinh tế phân theo khu

20 Hình 2.15 Bản đồ cảnh quan lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 71

21 Hình 2.16 Lát cắt cảnh quan Mường Lát - Sầm sơn (A - B) 72

22 Hình 2.17 Lát cắt cảnh quan Quan Hóa - Thường Xuân (C - D) 72

23 Hình 2.18 Lát cắt cảnh quan Thạch Thành - Như Xuân (E - F) 72

24 Hình 2.19 Cấu trúc đứng của cảnh quan (N.A Xolev) 79

25 Hình 2.20 Sơ đồ hệ thống phân loại cảnh quan lưu vực sông Mã tỉnh

26 Hình 2.21 Bản đồ phân chia lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL175

27 Hình 2.22 Bản đồ phân vùng cảnh quan lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 103

39 Hình 3.2 Bản đồ đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng phát triển cây

lương thực, thực phẩm lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL176

30 Hình 3.3 Bản đồ đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nhóm PL177

Trang 11

cây công nghiệp ngắn ngày lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa

31 Hình 3.4 Bản đồ đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nhóm

cây ăn quả lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL178

32 Hình 3.5 Bản đồ đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng phát triển rừng

phòng hộ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL179

33 Hình 3.6 Bản đồ đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng phát triển rừng

sản xuất lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa PL180

34 Hình 3.7 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh

35 Hình 3.8 Bản đồ định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh

36 Hình 3.9 Bản đồ phân vùng ưu tiên cho phát triển nông - lâm nghiệp lãnh

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Sử dụng hợp lý lãnh thổ là sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội, phù hợp với tiềm năng vốn có của lãnh thổ, đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường một cách bền vững Đã có nhiều quan điểm và phương pháp tiếp cận để giải quyết vấn đề trên, trong đó có quan điểm và cách tiếp cận của khoa học Địa lý Dưới góc độ địa lý tự nhiên tổng hợp, để xác lập được cơ

sở khoa học giải quyết vấn đề trên trước hết phải nắm bắt được quy luật của sự phân hóa lãnh thổ bằng sự nghiên cứu, phân tích cấu trúc và chức năng cảnh quan của các đơn vị cảnh quan trên lãnh thổ Nghiên cứu cấu trúc cảnh quan bao gồm cấu trúc đứng, cấu trúc ngang và cấu trúc động lực Bằng cách phân tích cấu trúc cho phép xác định được tiềm năng tự nhiên và kinh tế - xã hội qua đó xác định được chức năng của các đơn vị cảnh quan phục vụ cho việc đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý lãnh thổ

Trong hoạt động thực tiễn đã có nhiều công trình nghiên cứu, phân tích cấu trúc

và chức năng cảnh quan trên quy mô lãnh thổ khác nhau Song các công trình nghiên cứu theo hướng này áp dụng trên lưu vực sông còn tương đối ít về số lượng Do đó còn nhiều vấn đề về lý luận và phương pháp cần được giải quyết để rút ra từ các công trình nghiên cứu Chẳng hạn như hệ thống phân loại, phân vùng cảnh quan theo lưu vực có khác biệt

gì so với hệ thống phân loại và phân vùng cảnh quan theo đơn vị hành chính, quan điểm

sử dụng hợp lý lãnh thổ theo lưu vực sông có gì khác biệt, từ đó rút ra và bổ sung vào lý

luận cũng như phương pháp nghiên cứu cảnh quan theo lý thuyết “Địa hệ” khép kín

Lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa là lưu vực xuyên quốc gia, với khoảng 2/3 thuộc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Phần lưu vực sông mã tỉnh Thanh Hóa được giới hạn từ 19o18‟B đến 20o40‟B và 104o22‟Đ đến 106o04‟Đ, có diện tích 1.061.000 ha, chiếm khoảng 1/3 diện tích tự nhiên toàn lưu vực và trên 95% diện tích tự nhiên tỉnh Thanh Hóa, tiếp giáp với Vịnh Bắc Bộ có chiều dài khoảng 102 km Ở vị trí địa lý như vậy, lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa có đặc điểm khí hậu mang tính chuyển tiếp giữa khí hậu miền Bắc và miền Trung Việt Nam, là nơi giao lưu hội tụ các luồng di

cư của thực động vật với thực động vật bản địa Với những điều kiện tự nhiên đặc thù làm cho lãnh thổ nghiên cứu có tiềm năng tự nhiên và tài nguyên phong phú, thuận lợi cho sự phát triển đa dạng các loại hình kinh tế nhất là trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp

Mặc dù có tiềm năng lớn, nhưng thực tế sản xuất còn chưa tương xứng với tiềm năng hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp vẫn tồn tại nhiều vấn đề bất cập Bên cạnh đó

đã nảy sinh các vấn đề bất cập như: lũ lụt, hạn hán, trượt sạt, lở đất, một số tài nguyên có biểu hiện suy thoái, Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng nguyên nhân chính là trải qua thời gian dài do thiếu những dẫn liệu, luận cứ khoa học nên các vấn đề quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên cho phát triển kinh tế nói chung, cho nông nghiệp, lâm nghiệp nói riêng vẫn còn khá nhiều hạn chế chưa tương xứng với tiềm năng Nhất là trong quy hoạch các ngành chỉ chú ý đến lợi ích riêng của từng ngành mà chưa chú ý đến lợi ích tổng thể dẫn đến xung đột trong sử dụng, gây lãng phí tài nguyên Chưa phát huy

Trang 13

hết lợi thế so sánh của lãnh thổ nghiên cứu Do đó, trên quan điểm phân tích cấu trúc và chức năng cảnh quan sẽ dung hòa các mâu thuẫn nội tại của lãnh thổ, đồng thời có được cái nhìn tổng thể về tiềm năng các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, từ đó tìm

ra được tính quy luật tự nhiên và phát huy được những thế mạnh, tiềm năng của lưu vực sông Mã

Xuất phát từ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn, nghiên cứu sinh (NCS) lựa

chọn đề tài “Phân tích cấu trúc và chức năng cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng

hợp lý lãnh thổ lưu vực sông Mã (thuộc tỉnh Thanh Hóa)” làm luận án với hy vọng

đóng góp một phần nhỏ bé về cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo

vệ môi trường lãnh thổ nghiên cứu

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

2.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện được mục tiêu trên luận án tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Tổng quan các tài liệu theo hướng nghiên cứu cấu trúc và chức năng CQ và nghiên cứu cảnh quan theo lưu vực sông Thu thập, phân tích, hệ thống hóa các tài liệu

về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của lãnh thổ nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm các hợp phần thành tạo cảnh quan và mối quan hệ của hợp phần trong sự thành tạo các đơn vị cảnh quan

- Thành lập bản đồ cảnh quan, bản đồ phân vùng cảnh quan, bản đồ định hướng

sử dụng hợp lý lãnh thổ cho phát triển nông lâm nghiệp tỷ lệ 1:100.000 chung cho toàn lưu vực Phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng CQ, từ đó xác lập cơ sở khoa học để phát triển các ngành kinh tế trong lãnh thổ nghiên cứu

- Đề xuất các định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa

- Tiếp cận lý thuyết phân tích cấu trúc và chức năng cảnh quan theo lưu vực sông

- Giới hạn phạm vi sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa cho

sự phát triển ngành kinh tế nông - lâm nghiệp (nhóm cây lương thực, thực phẩm; cây công nghiệp ngắn ngày; cây ăn quả; rừng sản xuất và rừng phòng hộ)

Trang 14

4 Các luận điểm bảo vệ

- Tính đa dạng cấu trúc, chức năng CQ lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa

là kết quả của sự tổng hợp, phân hóa các hợp phần và các yếu tố thành tạo trong thể thống nhất của lưu vực sông Mã

- Kết quả phân tích cảnh quan trong sự thống nhất lưu vực là cơ sở khoa học của việc đề xuất sử dụng hợp lý không gian phát triển nông, lâm nghiệp của lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa

5 Những điểm mới của luận án

- Đã xây dựng được hệ thống phân loại, thành lập bản đồ cảnh quan, bản đồ phân vùng cảnh quan tỷ lệ 1:100.000 và phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa

- Đánh giá cảnh quan và định hướng phát triển ngành nông, lâm nghiệp theo cảnh quan và tiểu vùng cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ quy luật phân hóa đa dạng, phức tạp của các đơn

vị cảnh quan trong điều kiện nhiệt đới gió mùa Việt Nam nói chung, trong điều kiện phân hóa tự nhiên lưu vực sông Mã nói riêng

- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về phân tích cấu trúc và chức năng cảnh quan theo lưu vực sông cho mục tiêu sử dụng hợp lý lãnh thổ

6.2.Ý nghĩa thực tiễn

Đề xuất được định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa

7 Cơ sở tài liệu

Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của luận án, NCS đã sử dụng một số tài liệu sau:

- Cơ sở dữ liệu bản đồ nền và chuyên đề: bản đồ địa hình tỉnh Thanh Hóa tỷ lệ 1:50.000, nguồn Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa, năm 2013; Bản

đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1: 200.000, nguồn Cục địa chất Việt Nam, năm 1995; hiện trạng và quy hoạch rừng tỷ lệ 1:50.000, nguồn Chi cục lâm nghiệp tỉnh Thanh Hóa, năm 2015; Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Thanh Hóa, tỷ lệ 1:50.000, nguồn Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa, năm 2015; Bản đồ địa mạo, nguồn Phòng Địa mạo - Địa động lực - Viện Địa lý; Bản đồ khí hậu tỉnh Thanh Hóa, tỷ lệ 1:50.000, nguồn Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa, năm 2015; Bản đồ tài nguyên nước dưới đất và bản đồ tài nguyên nước mặt tỉnh Thanh Hóa, tỷ lệ 1:50.000, nguồn Sở tài nguyên

và Môi trường tỉnh Thanh Hóa, năm 2015; Bản đồ thảm thực vật, bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thanh Hóa (tỷ lệ 1:100.000 và 1:50.000), nguồn Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa, năm 2015

- Các đề tài, dự án, báo cáo khoa học về điều tra ĐKTN, TN và môi trường Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2010 - 2016

Trang 15

- Hệ thống tài liệu: các tài liệu về phân tích và nghiên cứu cấu trúc cảnh quan Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các đề tài nghiên cứu về tỉnh Thanh Hóa Các số liệu về dân cư, KT - XH tỉnh Thanh Hóa qua các năm, nguồn niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa, năm 2014; 2015; 2016; 2017

- Các tư liệu ghi chép, quan sát, phân tích, các ảnh chụp và phim của tác giả qua các đợt thực địa trong thời gian NCS thực hiện luận án

8 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận

án gồm 3 chương với 143 trang đánh máy A4, 37 hình (gồm biểu đồ, bản đồ, sơ đồ), 54 bảng số liệu, 12 công trình của NCS đã công bố liên quan đến luận án và danh mục 84 tài liệu tham khảo tiếng Việt và tiếng nước ngoài

Chương 1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu cấu trúc, chức năng cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa

Chương 2 Đặc điểm cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa

Chương 3 Định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa

Trang 16

1.1.1 Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý lãnh thổ trên thế giới

Ra đời từ rất sớm, cảnh quan học đã và đang có nhiều đóng góp vào thực tiễn của nhân loại Hiện nay nhu cầu nghiên cứu, làm sáng tỏ điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho việc sử dụng hợp lý lãnh thổ ngày càng lớn Vì vậy nghiên cứu cảnh quan với những tiến bộ mới ngày càng góp phần quan trọng trong việc tối ưu hóa khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX được coi là giai đoạn đặt nền móng cho sự hình thành khoa học cảnh quan, với nhiều công trình nghiên cứu về cảnh quan của các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau từ trường phái Nga và các nước Đông Âu đến trường phái nghiên cứu cảnh quan của Tây Âu và Bắc Mĩ Mỗi trường phái đều có những đặc trưng nghiên cứu riêng, với nhiều công trình khoa học có giá trị, nhưng tất cả đều hướng tới sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và lãnh thổ

Đi đầu trong NCCQ là các nhà cảnh quan học Nga và một số nước thuộc Liên Xô

cũ Học thuyết về CQ được sáng lập bởi nhà bác học người Nga L.S Berg với tiền đề là học thuyết của nhà bác học V.V Docutraiev về địa tổng thể và các đới tự nhiên Năm

1913, L.X Berg đã công bố công trình phân vùng theo đới đầu tiên của toàn lãnh thổ Liên Xô cũ và đưa khái niệm CQ vào trong địa lí học, ông khẳng định chính CQ là đối

tượng nghiên cứu của địa lí học Đến năm 1931, L.X Berg công bố tác phẩm “Các đới

cảnh quan địa lí Liên Xô”, đã góp phần hoàn thiện lí luận cảnh quan Cũng theo hướng

nghiên cứu này năm 1963, G.N.Annhenxkaia và cộng sự đã trình bày rõ cách phân chia

các đơn vị cảnh quan trong tuyển tập “Cảnh quan học” Năm 1967 F.N Milkov đề cập đến các tổng thể thiên nhiên trên Trái Đất với tên gọi là các “Tổng thể cộng sinh” còn A.D Armanđ gọi “Địa hệ” trong công trình “Khoa học về cảnh quan” (1975) [1], [2]

Sau những thành công to lớn của thế hệ các nhà cảnh quan học trước đó, các thế hệ sau vẫn tiếp tục gặt hái được những thành công trong nghiên cứu cảnh quan Trong đó tiêu

biểu là A.G.Ixatsenko với hàng loạt các công trình nổi tiếng như:“Bản đồ cảnh quan Liên

Xô, tỉ lệ 1:4.000.000 và vấn đề phương pháp nghiên cứu cảnh quan” (1961), “Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lí tự nhiên” (1969) [3] Các công trình này đã góp phần bổ

sung phương pháp NCCQ, cơ sở lí thuyết và các nguyên tắc cơ bản trong phân vùng địa lí

tự nhiên Vào năm 1974, cùng với A.A Shliapnikov công bố công trình “Về những nội

dung của bản đồ cảnh quan địa lí” Đến năm 1976, ông cho xuất bản cuốn “Cảnh quan học ứng dụng” [4], đã phân tích những mối quan hệ tác động của con người lên CQ, làm

cho các CQ nguyên thủy đã bị biến đổi sâu sắc thay vào đó các cảnh quan văn hóa - nhân tạo xuất hiện ngày càng phổ biến Nhiệm vụ của cảnh quan học trong giai đoạn mới là phải

Trang 17

tìm cách tối ưu hóa trong khai thác tự nhiên Khu vực Lêningrat trong công trình này được chọn làm điểm chìa khóa cho tiếp cận cảnh quan học ứng dụng trong định hướng tổ chức

sử dụng hợp lý (SDHL) tài nguyên thiên nhiên (TNTN) Công trình thể hiện tầm nhìn và khả năng nắm bắt thực tiễn rất nhạy bén của ông khi đưa quan điểm ứng dụng vào cảnh quan học, khẳng định tiến bộ mới trong lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan, phục vụ thiết thực hơn cho khai thác tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội

Vào năm 1975, G.A.Kuznetxov đã trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về

vai trò của “Địa lý và quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp” Các ĐKTN là cơ sở

ban đầu để khoa học phân vùng nông nghiệp, nhấn mạnh vai trò của thổ nhưỡng và khí hậu, hai nhân tố quan trọng trong phân vùng nông nghiệp [5]

Thời gian sau có nhiều công trình về cảnh quan ứng dụng cũng được công bố như:

“Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho các sơ đồ quy hoạch vùng” (E.M Rakovskaia, I.R

Dorphman (1980)); “Phương pháp đánh giá cảnh quan sinh thái nhằm mục đích phát triển

tối ưu lãnh thổ” (M Ruzichka, M Miklas (1980)) G.T Naranhicheva (1984) đã phân tích

cảnh quan vùng Gomen là cơ sở cho tổ chức sử dụng hợp lý lãnh thổ M.I Lopurev (1995),

và V.A.Nhicolaev, I.V.Kopưn, V.V Xưxuev (2008) đã tổng luận những vấn đề cơ bản của cảnh quan tự nhiên - nhân sinh (cảnh quan nông - lâm nghiệp) trong xu hướng cảnh quan tự nhiên đã biến đổi sâu sắc, cần có những cách tiếp cận theo định hướng SDHL tài nguyên M.M.Geraxki tiến hành tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phân vùng cảnh quan nông nghiệp V.A Sannev và P.A Dizenko (1998) tiếp cận cảnh quan sinh thái để đánh giá thích nghi nông nghiệp Các kết quả NCCQ ứng dụng ở Ucraina phải kể đến công trình

về thiết kế lãnh thổ sản xuất vùng đồng bằng Nam Ukraina của tác giả Sichenko (1980) Ngoài ra, cũng có thể kể đến công trình của tập thể các tác giả thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga về nghiên cứu tổ chức lãnh thổ (TCLT) sản xuất vùng Viễn Đông của Liên Bang Nga Về sau, hướng tiếp cận này tiếp tục được các nhà khoa học khác củng cố về mặt lý luận và thực tiễn trong tổ chức định hướng không gian sản xuất cho các ngành nông, lâm nghiệp và du lịch (A.G.Ixatsenko, 2009) (dẫn theo [6], [7])

Những kết quả nghiên cứu nổi bật của các nhà địa lý theo hướng cảnh quan học ứng dụng trong TCLT được thể hiện trong tuyển tập Hội nghị khoa học cảnh quan quốc

tế lần thứ XI (2006) tại Matxcơva, với 46 báo cáo khoa học (mục Tổ chức lãnh thổ và Quy hoạch cảnh quan) của các nhà khoa học nổi tiếng như: V.N.Xônxev, N.O.Tenova, L.A.Tlephilov, V.E.Menchenko, A.V.Drodov, Yu.V Bonkov,… đã công bố các kết quả nghiên cứu cảnh quan (NCCQ) học ứng dụng trong tổ chức, quy hoạch lãnh thổ ở nhiều nước khác nhau trên thế giới [8]

Hướng ứng dụng cảnh quan trong TCLT còn được thể hiện trong các ngành kinh

tế Trong đó ngành nông nghiệp với kết quả nghiên cứu của L.I.Yegorenkov (1995) NCCQ sinh thái để tổ chức lãnh thổ, sử dụng hợp lý đất đai trong nông nghiệp (dẫn theo [6], [7]); R.A Ziganshin và V.V Sysuev (2006) nghiên cứu những cơ sở khoa học cảnh quan để quản lý rừng tối ưu (dẫn theo [6], [7]); Ro Haines - Yong định lượng hóa cấu

Trang 18

trúc CQ qua các chỉ số cảnh quan để quản lý rừng có hiệu quả [9]; đối với du lịch là các nghiên cứu của I.I.Schastnaya (2007) về tổ chức không gian du lịch trên cơ sở kết quả đánh giá cảnh quan [10]; ngoài ra các kết quả nghiên cứu giá trị chức năng giải trí cảnh quan để phục vụ mục đích quy hoạch, phát triển du lịch của D.A Dirin (2004, 2010, 2011), Y.Kokine (2011), T.M Kracovkaia (2014) về những vấn đề cơ bản đánh giá giá trị chức năng giải trí CQ và phương hướng bảo tồn (dẫn theo [6], [7])

Một hướng nghiên cứu tương đối phổ biến hiện nay là nghiên cứu cấu trúc cảnh quan Hướng nghiên cứu này được thể hiện hầu ở hết tất cả các công trình nghiên cứu về

CQ của bất kỳ lãnh thổ nào Nếu không nghiên cứu cấu trúc cảnh quan, thì không khái quát được quy luật phân hóa tự nhiên đặc thù của lãnh thổ Theo hướng nghiên cứu này

có các nhà khoa học tiêu biểu: L.I Ivansutina và V.A.Nhikolaev (1969) đã có những kết quả ban đầu khi tính toán chỉ số cấu trúc hình thái ở Kazăcxtan S.Rodolphe, H.Philipp

(2003) tiếp cận vấn đề này theo hướng “Định tính và định lượng trong phân tích cấu trúc

cảnh quan”, với khu vực nghiên cứu là Monteverda thuộc Costa Rica [11]

Trong hướng nghiên cứu CQ phục vụ sử dụng hợp lý lãnh thổ trường phái Tây

Âu và Mỹ đã vận dụng các phần mềm tích hợp trong GIS để nghiên cứu cấu trúc hình thái cảnh quan Nổi bật là Stejskalova và cộng sự (2013), Angela Lausch cùng cộng sự (2015) nhấn mạnh vai trò của các chỉ số cấu trúc hình thái cảnh quan trong phân tích cấu trúc cảnh quan [12], [13]; Evelyn Uuemaa và cộng sự (2011) đi tìm các chỉ số cảnh quan để nhận diện sự khác nhau cơ bản giữa các cảnh quan của Estonia [14]; Szilárd SZABÓ và cộng sự (2008) chứng minh các chỉ số cảnh quan và hiện trạng sử dụng đất

là công cụ để quản lý cảnh quan [15]; Martin Balej (2011) nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc hình thái cảnh quan qua các chỉ số chủ yếu như: Nu P, PD, ED, MPS, AWMSI và các chỉ số đa dạng CQ của 2 vùng Petrovice and Tˇrebenice vùng tây bắc Cộng hòa Séc

từ 1948 đến 2005 [16]

Đánh giá vai trò của các nhân tố trong cấu trúc cảnh quan theo hướng đi sâu vào mối quan hệ tác động, trao đổi vật chất giữa các thành phần đó phải kể đến

A.A.Xorokovoi (2008) với kết quả nghiên cứu “Phân tích cấu trúc cảnh quan vùng hồ

Bai Can bằng hệ thông tin địa lý” Trong công trình này ông đã chỉ ra rằng: sự phức tạp

trong cấu trúc CQ vùng này là do các yếu tố như độ dốc và độ cao địa hình, điều kiện hình thành lớp băng vĩnh cửu, độ dày mạng lưới thủy văn, cán cân năng lượng bức xạ Mặt Trời và cuối cùng là sự tác động của con người Những kết quả nghiên cứu là cơ sở

để tổ chức không gian sản xuất các ngành kinh tế A.Valeri (2011), nghiên cứu cấu trúc

CQ bờ trái phần trung lưu sông Vyatka (Nga), đã có những kết quả cụ thể về sự di chuyển vật chất và chức năng của các thành phần tự nhiên trong một cảnh quan theo hướng định lượng (dẫn theo [6], [7])

Phân tích chức năng CQ nhằm làm sáng tỏ giá trị sử dụng của cảnh quan Tiêu biểu trong lĩnh vực này là E.Niemann (1977) và R.de Groot (1992) đã đưa ra cách phân

loại chức năng CQ; R.Forman v M.Godron (1986) trong công trình “Sinh thái cảnh

Trang 19

quan”, nhóm tác giả coi cấu trúc và chức năng là các đặc trưng quan trọng của sinh thái

CQ, các tác giả cho rằng chức năng CQ chính là “Sự tương tác theo không gian giữa các

dòng vật chất và năng lượng với các thành phần của hệ sinh thái” [17]; J.Brandt và

H.Vejre (2004) nghiên cứu về “Đa chức năng cảnh quan” [18]; A.Troy và M.Wilson

(2006), Meyer và R.Grabau (2008) đánh giá những ảnh hưởng của đặc điểm phân hóa cấu trúc tới chức năng CQ R.de Groot (2006) coi phân tích chức năng CQ là cơ sở để

đánh giá vấn đề SDHL đất đai [19] W.Drzewiecki (2008), tại “Hội thảo quốc tế về sử

dụng ảnh máy bay và ảnh vệ tinh” lần thứ 38 diễn ra tại Bắc Kinh (Trung Quốc) đã trình

bày vấn đề “Sử dụng bền vững đất đai trên cơ sở đánh giá chức năng và tiềm năng cảnh

quan bằng công nghệ GIS”, tác giả đã nghiên cứu lưu vực sông Pradnik và Dlubnia

(Nam Ba Lan) Kết quả nghiên cứu cho thấy, đánh giá chức năng và tiềm năng CQ được coi là công cụ hữu hiệu trong vấn đề quyết định loại hình sử dụng đất [20] А.А Garmash (2009) đánh giá chức năng sản xuất CQ trên quan điểm ứng dụng cho nông nghiệp vùng Omuntinxki và Tuymen (dẫn theo [6], [7])

Hướng phân tích chức năng được nhóm nghiên cứu Matthias Röder và Ralf - Uwe

Syrbe với công trình “Mối quan hệ giữa chức năng cảnh quan với sự thay đổi hiện trạng

sử dụng đất và thoái hóa đất” (2000) tại vùng Kreba phía Tây nước Đức, với những dữ

liệu đất đai thu thập từ năm 1938 - 1998 [21], đã chứng minh cảnh quan có quan hệ chặt chẽ với sự thay đổi hiện trạng sử dụng đất và sự thoái hóa đất Nhóm nghiên cứu F.Kienast, J.Bolliger, M.Postchin, R de Groot (2009) tiến hành phân tích chức năng cảnh quan dựa trên cơ sở dữ liệu có quy mô lớn [22] J.Bolliger v F.Kienast (2010) đề

cập đến vấn đề “Chức năng cảnh quan trong sự thay đổi môi trường”, các tác giả cho

rằng đánh giá không gian chức năng cảnh quan là cơ sở nắm bắt thông tin để tham gia điều chỉnh sự phát triển CQ đồng thời là cơ sở đánh giá tiềm năng CQ dựa vào những đặc trưng CQ đã được phân tích công trình tiếp cận nghiên cứu chức năng cho các mục đích thực tiễn khác [23]

Tổng hợp các công trình nghiên cứu về phân tích chức năng CQ, Cơ quan Liên

bang Giáo dục Đại học của Liên Bang Nga (2008) đã tổng luận qua công trình “Phân

tích chức năng cảnh quan” Nội dung chính đề cập đến các vấn đề: khái niệm chức năng

cảnh quan, phân loại chức năng CQ, sự thay đổi chức năng CQ và các giai đoạn phân tích chức năng CQ (dẫn theo [6], [7]) Những kết quả nghiên cứu cấu trúc, chức năng cảnh quan gần đây đã tập hợp được gần 100 báo cáo trong Hội nghị khoa học cảnh quan quốc tế lần thứ XI (2006) tại Matxcơva, mà trước đấy Hội nghị khoa học cảnh quan quốc

tế lần thứ X (1997) tại Matxcơva đã lấy chủ đề của Hội nghị “Cấu trúc, chức năng và sự

phát triển của cảnh quan tự nhiên và nhân sinh” Với các báo cáo của các nhà cảnh quan

nổi tiếng như: A.G.Ixatsenko, Yu.G.Pyzachenko, A.V.Khorosev, A.N.Ivanov, I.I.Mamai,

O Bastian,… với điểm chung nổi bật là xu hướng ứng dụng công nghệ để đánh giá định lượng cấu trúc hình thái CQ

Trang 20

Bản chất của việc phân tích cấu trúc, chức năng là hai mặt của một vấn đề nghiên cứu tổ chức cảnh quan, sự tách biệt cấu trúc, chức năng chỉ để dễ dàng về mặt nhận thức

tư duy Còn giữa cấu trúc và chức năng cảnh quan luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau Cấu trúc quy định chức năng của cảnh quan còn chức năng phản ánh cấu trúc của cảnh quan Phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan nhằm làm nổi bật tính quy luật phân hóa của tự nhiên cũng như tổ chức nội tại cảnh quan phục vụ cho TCLT Đây là mục tiêu quan trọng trong nghiên cứu cảnh quan

1.1.2 Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý lãnh thổ ở Việt Nam

Nghiên cứu cảnh quan ở nước ta thực sự phát triển vào những năm nửa cuối thế

kỷ XX Đi đầu là Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập Các tác giả đã công bố công trình

“Địa lí tự nhiên Việt Nam” (1963) [24], đã đưa ra các nguyên tắc cơ bản của phân vùng

cảnh quan và áp dụng cho lãnh thổ Việt Nam Đến năm 1976, tác giả Vũ Tự Lập tiếp tục

công bố công trình “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam” [25], được xem là một công

trình tổng hợp hết sức công phu có giá trị học thuật lớn đối với cảnh quan học và khoa học địa lí Việt Nam

Trên những thành tựu của các nhà khoa học đi trước, công tác phân vùng còn được tiếp tục tiến hành bởi Tổ phân vùng địa lí tự nhiên thuộc Uỷ ban Khoa học và kĩ

thuật Nhà nước, với công trình “Phân vùng địa lí tự nhiên lãnh thổ Việt Nam” (1970)

[26] Đến năm 1998, Nguyễn Văn Nhưng và Nguyễn Văn Vinh đã công bố công trình

“Phân vùng địa lí tự nhiên đất liền, đảo - biển Việt Nam và lân cận” (dẫn theo [6]) Cho

dù có những quan điểm khác nhau tuy nhiên tài liệu này đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu địa lý tự nhiên tổng hợp

Hướng nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích phát triển bền vững lãnh thổ đã ngày càng được các nhà nghiên cứu quan tâm Trong đó phải kể đến Phạm

Hoàng Hải (1988) với công trình “Vấn đề lý luận và phương pháp đánh giá tổng hợp tự

nhiên cho mục đích sử dụng lãnh thổ - ví dụ vùng Đông Nam Bộ”; “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên dải ven biển Việt Nam cho mục đích phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp và bảo vệ môi trường” [27] Các công trình này đã góp phần

bổ sung thêm lí luận và phương pháp đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng lãnh thổ Đến năm 1997, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng và Nguyễn Ngọc Khánh có

công trình “Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ

môi trường lãnh thổ Việt Nam” [28], đã trình bày một cách khá đầy đủ, sâu sắc những

biến đổi của tự nhiên nói chung và cảnh quan nói riêng dưới tác động của con người, từ

đó đưa ra các giải pháp, các hướng tiếp cận khoa học tin cậy nhằm sử dụng hợp lí tài nguyên, bảo vệ môi trường (BVMT) Mới đây nhất là Nguyễn Cao Huần (2004) với

công trình “Nghiên cứu hoạch định tổ chức không gian phát triển kinh tế và sử dụng hợp

lý tài nguyên, bảo vệ môi trường cấp tỉnh, huyện (nghiên cứu mẫu tỉnh Lào Cai)” [29],

Phạm Thế Vĩnh (2004) với công trình “Nghiên cứu cảnh quan sinh thái dải ven biển

đồng bằng sông Hồng phục vụ cho việc sử dụng hợp lý lãnh thổ” [30], Trương Quang

Trang 21

Hải (2007) với công trình “Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp

lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững vùng núi đá vôi Ninh Bình” [31]

Hướng phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan cũng đã được nhiều nhà Địa lý

nước ta quan tâm Tiêu biểu là Phạm Hoàng Hải (1992) với “Cơ sở phân tích chức năng

và động lực phát triển cảnh quan sinh thái Việt Nam” [32] Các nhà khoa học thuộc

Viện Địa lý do Nguyễn Văn Vinh làm chủ biên đã hoàn thành công trình “Nghiên cứu

chức năng và cấu trúc cảnh quan sinh thái (lấy ví dụ ở tỉnh Quảng Trị)” (2005) [33], đã

phát hiện ra cấu trúc, chức năng làm cơ sở để SDHL cảnh quan vào các mục đích phát

triển KT - XH Tác giả Nguyễn Cao Huần với các công trình “Phân tích, đánh giá cảnh

quan tỉnh Đắk Lắk cho các mục đích thực tiễn” (1992); “Đánh giá cảnh quan (theo hướng tiếp cận kinh tế sinh thái” (2005) và “Phân vùng cảnh quan lãnh thổ Việt Nam - Lào” (2008), đã đề cập nhiều đến những vấn đề lý luận, phương pháp luận NCCQ ứng

dụng, những vấn đề lý luận đánh giá cảnh quan cả định tính và bán định lượng [34] Năm 2006 tác giả Phạm Hoàng Hải đã có những kết quả nghiên cứu bước đầu về

“Nghiên cứu đa dạng cảnh quan Việt Nam - phương pháp luận và một số kết quả thực tiễn nghiên cứu” [35]; Trương Quang Hải, Phạm Quang Tuấn, Nguyễn Quốc Huân

(2006) tiến hành “Phân tích cảnh quan vườn quốc gia Ba Bể và vùng đệm”, chỉ ra các

nhân tố tác động đến sự phân hóa trong cấu trúc cảnh quan [36] Năm 2007 trong luận án

tiến sĩ của Nguyễn An Thịnh với “Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan phục vụ mục

đích phát triển bền vững nông lâm nghiệp và du lịch huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” [37];

Trương Quang Hải, Giang Văn Trọng (2010) “Phân tích cấu trúc, chức năng và đánh

giá cảnh quan khối Karst Tràng An - Bích Động, tỉnh Ninh Bình” [38]; Trần Thị Thúy

Hằng (2012), “Nghiên cứu cấu trúc cảnh quan phục vụ tổ chức không gian sử dụng hợp

lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Ninh Bình với sự trợ giúp của công nghệ viễn thám” [39] Lại Vĩnh Cẩm (2008), “Tiếp cận sinh thái cảnh quan nghiên cứu, đề xuất định hướng sử dụng hợp lí các dải cát ven biển miền Trung Việt Nam” [40]

Bên cạnh đó còn có nhiều công trình khác được các nhà khoa học thực hiện như:

Đoàn Ngọc Nam với “Các thể tổng hợp địa lí tự nhiên trong cấu trúc cảnh quan ngoại

thành thành phố Hồ Chí Minh và hướng cải tạo chúng, phục vụ phát triển nông nghiệp”

(1991); Nguyễn Thế Thôn với “Tổng luận phân tích nghiên cứu và đánh giá cảnh quan

cho việc quy hoạch và phát triển kinh tế” (1993) và “Tổng luận phân tích những vấn đề cảnh quan sinh thái ứng dụng trong quy hoạch và quản lí môi trường” (1995) [41]

Về khía cạnh đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội phục vụ cho tổ chức lãnh thổ là các kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng của GS Lê Bá

Thảo (1994, 1996) trong đề tài cấp nhà nước “Tổ chức lãnh thổ đồng bằng sông Hồng và

các tuyến trọng điểm” và “Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý” [42], [43], tiếp sau là

các công trình nghiên cứu về TCLT ở các cấp vùng miền; các ngành sản xuất theo lãnh thổ và một số luận án về TCLT các ngành kinh tế gắn với lãnh thổ cấp tỉnh cụ thể

Trang 22

Như vậy, quy hoạch lãnh thổ là sự nghiên cứu tổng hợp các ĐKTN và nhân văn nhằm bố trí các không gian phát triển kinh tế cho từng vùng, lãnh thổ phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của vùng đó Cơ sở khoa học của nghiên cứu quy hoạch lãnh thổ cũng chính là nghiên cứu, đánh giá CQ cho từng vùng, từng lãnh thổ cụ thể với các cấp phân vị phù hợp

1.1.3 Các nghiên cứu trên lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa có liên quan đến luận án

Về cơ bản nghiên cứu các hợp phần địa lý tự nhiên của lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa đều đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu địa lý tự nhiên Việt Nam, nhưng với tư cách một bộ phận lãnh thổ quốc gia Trong đó, nổi bật là tác phẩm

“Địa lí tự nhiên Việt Nam”, năm 1963 của Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập [24] Đặng Duy Lợi (2007), “Giáo trình địa lí tự nhiên Việt Nam 2” [44]

Gần đây nhất là Phạm Hoàng Hải và nnk đã thực hiện công trình “Xây dựng bản

đồ cảnh quan sinh thái tỉnh Thanh Hóa tỷ lệ 1:200.000 trên cơ sở sử dụng các tư liệu viễn thám” (1990) [45] Đây được coi là công trình mang tính tổng hợp về điều kiện tự

nhiên, tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, công trình này đã công bố cách đây gần 30 năm, mặc dù giá trị khoa học là không thể phủ nhận, song trong điều kiện thiên nhiên nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều sẽ làm cho thiên nhiên biến đổi sâu sắc dẫn đến các cảnh quan có nhiều thay đổi theo thời gian

Bên cạnh đó là công trình nghiên cứu mang tính chất tổng hợp nhất các điều kiện

tự nhiên, KT - XH như Địa chí Thanh Hóa tập I, năm 2006 Tương tự là cuốn “Địa lý

Thanh Hóa” (2002) của Lê Văn Trưởng [46] Các công trình này đã trình bày một cách

khái quát và mang tính chất tổng hợp các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa mà chưa đánh giá hết được tiềm năng các điều kiện tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên cho mục đích phát triển KT - XH

Theo hướng nghiên cứu địa lý TNTH phục vụ phát triển KT - XH nổi bật là đề tài khoa học cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam của TS Phạm Thế

Vĩnh (2010) „„Đánh giá ảnh hưởng của cấu trúc thảm thực vật đến lũ lụt, hạn hán lưu

vực sông Chu, đề xuất giải pháp giảm thiểu“ [47] Đề tài đã góp phần làm sáng tỏ được

các ĐKTN, TNTN lưu vực sông Chu và đề ra được các giải pháp hữu hiệu nhằm giảm

thiểu lũ lụt và hạn hán tại đây Năm 2010, TS Vũ Thị Thu Lan có công trình „„Nghiên

cứu sử dụng hợp lý tài nguyên và phòng tránh thiên tai trên lưu vực sông Mã” [48]

Công trình này đã góp phần làm sáng tỏ điều kiện tự nhiên, TNTN trên toàn lưu vực sông Mã (Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Việt Nam), đồng thời đề xuất định hướng

sử dụng hợp lý lưu vực sông và phòng tránh thiên tai Cũng theo hướng nghiên cứu địa

lý TNTH công trình “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch sử dụng

đất đai và đề xuất các mô hình nông lâm kết hợp trên đất dốc lưu vực sông Chu (phần lãnh thổ Việt Nam)” [49] của TS Lê Kim Dung, năm 2012, đã đánh giá được các

ĐKTN phục vụ cho việc quy hoạch sử dụng đất và đề xuất được các mô hình sản xuất trên địa hình dốc lãnh thổ nghiên cứu Năm 2014, TS Đào Đình Châm cũng đã công

Trang 23

bố công trình “Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý (GIS) nghiên cứu

thành lập bản đồ phân vùng nguy cơ cháy rừng tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2012 - 2020”

[50] Mặc dù công trình chỉ tập trung nghiên cứu về tài nguyên rừng và thành lập bản

đồ phân vùng nguy cơ cháy rừng tỉnh Thanh Hóa, song đề tài cũng đã có nghiên cứu và làm nổi bật được những đặc điểm cơ bản của ĐKTN tỉnh Thanh Hóa Ngoài ra còn

phải kể đến các đề tài khác như: „„Nghiên cứu đánh giá chất lượng đất sản xuất nông

nghiệp tại vùng gò đồi các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa” Trường ĐH Hồng Đức

(2015); “Nghiên cứu đánh giá chất lượng đất nông nghiệp, xây dựng bản đồ nhu cầu

dinh dưỡng và chế độ bón phân cho các loại cây trồng chính tại các huyện miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa” năm 2015; “Điều tra, nghiên cứu và đánh giá đất sản xuất nông, lâm nghiệp vùng gò đồi tỉnh Thanh Hóa theo phương pháp FAO - UNESCO làm

cơ sở khoa học cho công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nhằm phát triển nông nghiệp bền vững và ổn định kinh tế cho người miền núi Thanh Hóa” của Đoàn quy

hoạch nông, lâm nghiệp Thanh Hóa năm 2015

Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, thống nhất với quy hoạch ngành, lĩnh vực của đất nước Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế

xã hội vùng miền núi của tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 tập trung khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của vùng miền núi; huy động tối đa các nguồn lực để phát triển KT - XH nhanh và bền vững, gắn với tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng Từng bước nâng cao mức sống người dân trong vùng so với bình quân chung cả tỉnh; tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện tốt công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội; ổn định dân cư, khắc phục tình trạng di dân tự do; bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng có hiệu quả tài nguyên và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đảm bảo quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và thương mại tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020, tiếp tục khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế về tài nguyên, lao động, vị trí địa lý của tỉnh để phát triển công nghiệp theo hướng chế biến sâu; ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao có lợi thế cạnh tranh, có thị trường, giảm dần

và loại bỏ các dự án đầu tư công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nhằm tiết kiệm tài nguyên, đảm bảo tăng trưởng bền vững; Quy hoạch Bảo tồn và phát triển rừng đặc

dụng tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020; Thủ tướng Chính phủ, Quyết định phê duyệt điều

chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, định hướng 2030 (số 872/QĐ - TTq, ngày 17/6/2015) [51]; UBND tỉnh Thanh Hóa, Quyết định phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016 - 2025 (số

3230/QĐ - UBND, ngày 29/8/2017) [52]; UBND tỉnh Thanh Hóa, Quyết định phê duyệt

quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025 và định hướng

Trang 24

đến năm 2030 (số 4833/QĐ - UBND, ngày 31/12/2014) [53] Các quy hoạch này là yếu

tố đầu vào cho nội dung ĐGCQ phục vụ các mục đích phát triển bền vững lưu vực sông

Mã tỉnh Thanh Hóa

Như vậy, mỗi công trình xuất phát từ những cách tiếp cận và yêu cầu thực tiễn khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu địa lý tổng hợp mà cụ thể là cảnh quan học đối với lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa nói chung còn chưa có công trình nổi bật, chuyên biệt theo hướng này

1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ

1.2.1 Cảnh quan

Từ những năm 40 thế kỷ XX trở lại đây, với sự phát triển mãnh mẽ trong lĩnh vực nghiên cứu phân chia bề mặt Trái Đất, đã hình thành học thuyết về quy luật phân hóa

lãnh thổ lớp vỏ địa lý, cảnh quan học được xác định như “Đơn vị cơ sở dựa trên sự thống

nhất các quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới” [3]

Song song với quá trính phát triển thì nhận thức về cảnh quan cũng có nhiều thay đổi, đánh dấu sự phát triển mới của khoa học cảnh quan:

N.A Xolsev (1962) đưa ra khái niệm cảnh quan “Cảnh quan là một thể tổng hợp

lãnh thổ tự nhiên đồng nhất về mặt phát sinh, có một nền địa chất đồng nhất, có một kiểu địa hình, có một kiểu khí hậu đồng nhất và bao gồm một tập hợp dạng địa lí, chủ yếu và thứ yếu liên kết với nhau về mặt động lực và lặp lại một cách có quy luật trong không gian; tập hợp này chỉ thuộc riêng cho cảnh quan địa lí đó” Định nghĩa này đã làm sáng

tỏ cấu trúc đứng và cấu trúc ngang của cảnh quan Tuy nhiên, ở khái niệm này chưa làm

rõ được vai trò và tương quan giữa các hợp phần thành tạo cảnh quan

A.G Ixatsenko lại cho rằng “Cảnh quan là một phần riêng biệt về mặt phát sinh

của một phần cảnh quan, một đới cảnh quan hay nói chung của một đơn vị phân vùng lớn bất kỳ, đặc trưng bằng sự đồng nhất cả tương quan địa đới lẫn phi địa đới, có một cấu trúc riêng và một cấu tạo hình thái riêng” [3] Ông còn đưa ra định nghĩa về cảnh

quan miền núi “Là một bộ phận của tầng cảnh quan trong phạm vi một hệ thống đai cao

riêng đồng nhất về phương diện cấu trúc và thạch học” Tuy nhiên lớp vỏ địa lý ở đó

các hợp phần luôn có sự xâm nhập, đan xen và tác động lẫn nhau, tạo thành một quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lí Chính vì vậy, cảnh quan không thể riêng biệt, độc lập mà chúng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau

Trên cơ sở nghiên cứu các công trình cảnh quan trên thế giới kết hợp với các công trình nghiên cứu thực tiễn trên lãnh thổ Việt Nam, Vũ Tự Lập đã đưa ra khái

niệm cảnh quan “Cảnh quan là một địa tổng thể, được phân hóa ra trong phạm vi một

đới ở đồng bằng và một đai ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng chỉnh hợp về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thủy văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại

tổ hợp thực vật và bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lí và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất” [25] Khái niệm trên đã

một lần nữa khẳng định mối quan hệ của các hợp phần thành tạo cảnh quan được thể

Trang 25

hiện qua cấu trúc đứng và cấu trúc ngang của cảnh quan Với những đóng góp to lớn trong lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan ở Việt Nam, Vũ Tự Lập là người tiên phong trong việc xác định cấu trúc không gian và đưa ra định hướng cơ bản nghiên cứu về cảnh quan ở nước ta

1.2.2 Phân loại cảnh quan

Theo tác giả Vũ Tự Lập và nhiều nhà nghiên cứu cảnh quan cho rằng: mỗi hệ thống phân loại CQ đưa ra cần phải đảm bảo những nguyên tắc nhất định sau [25]:

- Hệ thống phân loại phải phản ánh đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa các quy luật phân hóa không gian phổ biến của địa lý quyển, đây là nguyên nhân chính của

sự hình thành nên các cấp

- Hệ thống phân loại phải đầy đủ các cấp để có thể áp dụng cho việc thành lập bản

đồ CQ ở mọi tỉ lệ, cho mọi lãnh thổ lớn nhỏ Hệ thống phân loại phải bao quát đầy đủ các cá thể, không nên để xảy ra trường hợp không biết xếp cá thể vào bậc phân loại nào, cũng như một cá thể có thể xếp vào nhiều bậc

- Hệ thống phân loại phải được thể hiện rõ ràng, bằng một mô hình phản ánh

những mối quan hệ giữa các cấp phân loại Tuỳ thuộc vào mức độ phân hóa của lãnh thổ mà lựa chọn hệ thống phân loại cũng như tập hợp chỉ tiêu phân loại thống nhất Nhưng không nên quá cồng kềnh cũng như không được bỏ qua những bậc và những chỉ tiêu cần thiết

Trên quan điểm này khi nghiên cứu đặc trưng mọi cấp phân vị phải dựa vào tổng thể các dấu hiệu địa đới và phi địa đới Mặt khác, lại phải thấy rằng sự thống nhất giữa hai mặt địa đới và phi địa đới là sự thống nhất biện chứng, sự thống nhất có mâu thuẫn,

có đấu tranh, có lúc có nơi một mặt nào đó sẽ trội lên so với mặt kia

Cho đến nay, cảnh quan học vẫn chưa có một hệ thống phân loại được nhiều người chấp nhận là đầy đủ cơ sở khoa học và chỉ tiêu cụ thể cho từng cấp Vì vậy, xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa, nghiên cứu sinh có tham khảo, chọn lọc và vận dụng một số hệ thống phân loại của các tác giả được thừa nhận tương đối rộng rãi hiện nay

* Về hệ thống phân loại của các tác giả nước ngoài, nghiên cứu sinh tham khảo ba

hệ thống phân loại của các nhà cảnh quan học Xô Viết

+ Hệ thống phân loại cảnh quan của A.G.Ixatsenko (1961)

Gồm 8 bậc: nhóm kiểu  kiểu phụ kiểu  lớp  phụ lớp  loại  phụ loại

 thể loại [3], [4]

+ Hệ thống phân loại cảnh quan của N.A.Gvozdeki (1961) (dẫn theo [36])

Gồm 5 bậc: lớp  kiểu  phụ kiểu  nhóm  loại

+ Hệ thống phân loại của Nhikolaiev (1966) (dẫn theo [36])

Gồm 12 bậc, áp dụng cho nghiên cứu CQ đồng bằng: thống  hệ  phụ hệ lớp  phụ lớp  nhóm  kiểu  phụ kiểu  hạng  phụ hạng  loại  phụ loại

Trang 26

Các hệ thống phân loại cảnh quan đều dựa trên một nguyên tắc chung: lần lượt

sử dụng các dấu hiệu địa đới và phi địa đới để phân chia các đơn vị tiếp theo Theo ý kiến của của nhiều nhà địa lý, sự xen kẽ của các dấu hiệu địa đới và phi địa đới chỉ là một phương pháp quy ước, không phản ánh được tương quan tự nhiên giữa các thể tổng hợp địa lý

Trong các hệ thống phân loại trên có nhiều đơn vị phân loại chung như lớp, kiểu, nhóm loại Đồng thời cũng có nhiều dấu hiệu được dùng chung cho các đơn vị như lớp, kiểu, nhóm bên cạnh các dấu hiệu riêng theo các quan niệm khác nhau của các tác giả Đây là cơ sở quan trọng để khi tiến hành xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan cho các vùng lãnh thổ nghiên cứu sinh có sự so sánh, đối chiếu và phân tích để đưa ra chỉ tiêu thích hợp cho các cấp phân loại phù hợp với lãnh thổ nghiên cứu

* Ở Việt Nam hệ thống phân loại đã được các tác giả nghiên cứu rất chi tiết và đầy

đủ Các hệ thống đơn vị theo hướng phân vùng phân chia CQ Việt Nam thành các vùng địa lý tự nhiên những năm 60, 70 như: hệ thống phân vị thiên nhiên Miền Bắc Việt Nam gồm 5 cấp: lãnh thổ  tỉnh  quận  á quận  vùng, dựa trên quan điểm phân hóa phi địa đới của V.M.Fridlan (1961) Các tác giả Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập (1963) đã phân chia địa lý Việt Nam theo hệ thống phân vị có 6 cấp gồm: đới  xứ  miền  khu

 vùng  cảnh, dựa trên sự phân hóa địa đới và phi địa đới đã phản ánh sự phân hóa tự nhiên một cách khách quan [24] Hệ thống phân vị từ á đại lục đến cấp vùng cho miền Bắc Việt Nam trong phân vùng địa lý tự nhiên Việt Nam của Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước (1970) Đây là công trình có ý nghĩa lớn trong điều tra và sử dụng lãnh thổ

Trong đó hệ thống phân loại cảnh quan của tác giả Vũ Tự Lập “Cảnh quan địa lý

miền Bắc Việt Nam” năm 1976, tác giả đã đưa ra hệ thống các cấp phân vị sử dụng để

phân loại cảnh quan miền Bắc Việt Nam gồm 8 cấp: hệ  lớp  phụ lớp  nhóm kiểu  chủng  loại thứ [25] Đây là hệ thống phân loại cảnh quan đầu tiên ở Việt Nam mà trong đó tác giả đã căn cứ trên cơ sở phân hóa địa đới và phi địa đới để xây dựng các cấp phân vị, mỗi một cấp tương ứng với một chỉ tiêu hoặc một tập hợp các chỉ tiêu và có sự kết hợp giữa các cặp thành phần của cảnh quan từ nền nham, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng và cuối cùng là thảm thực vật Công trình đã có những đóng góp quan trọng trong công tác nghiên cứu CQ phục vụ thực tiễn sản xuất, quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu cảnh quan được các nhà địa lý quan tâm và tiếp tục phát triển

Trong giai đoạn này, một công trình phân vùng có giá trị thực tiễn lớn là “Phân vùng địa

lý tự nhiên Tây Nguyên” của tập thể tác giả Nguyễn Văn Chiển, Trần Quang Ngãi,

Hoàng Đức Triêm công bố năm 1984 với hệ thống phân vị chỉ gồm 3 cấp: xứ  khu vùng, nhưng đã nói lên được giá trị thực tiễn của việc vận dụng nghiên cứu địa lý tự nhiên trong thực tiễn sản xuất

Từ sau năm 1980 đến nay đã có rất nhiều các tác giả đi sâu nghiên cứu cảnh quan của vùng lãnh thổ Việt Nam, đưa ra các hệ thống phân loại khác nhau tùy theo từng lãnh thổ, mục đích nghiên cứu tiêu biểu như: Phạm Quang Anh, Nguyễn Thành Long,

Trang 27

Nguyễn Văn Vinh, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Trọng Tiến, Phạm Thế Vĩnh, Các công trình này chủ yếu tiến hành theo hướng phân loại cảnh quan không dựa vào cá thể địa tổng thể Trong đó nghiên cứu sinh đi sâu tìm hiểu các cấp phân loại và chỉ tiêu cho từng cấp của 2 hệ thống phân loại sau:

+ Hệ thống phân loại cho bản đồ cảnh quan Việt Nam trên các tỷ lệ, được tác giả Nguyễn Thành Long và tập thể phòng Địa lý tự nhiên thuộc Trung tâm Địa lý và tài nguyên thiên nhiên xây dựng năm 1992, trên cơ sở hệ thống phân loại của V.A.Nhicolaev gồm 10 cấp: hệ CQ  phụ hệ CQ  lớp CQ  phụ lớp CQ  kiểu CQ

 phụ kiểu CQ  hạng CQ  loại CQ, ngoài ra còn hai cấp bổ trợ là dạng, nhóm địa lý

và diện, nhóm diện địa lý [54]

+ Năm 1997, khi nghiên cứu CQ nhiệt đới gió mùa Việt Nam cho mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, các tác giả Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng và Nguyễn Ngọc Khánh đã xây dựng hệ thống phân loại 7 cấp: hệ thống cảnh quan  phụ hệ thống cảnh quan  lớp cảnh quan  phụ lớp cảnh quan kiểu cảnh quan  phụ kiểu cảnh quan  loại cảnh quan [28]

Đây là hệ thống phân loại được nhiều tác giả công nhận, vận dụng kết quả làm cơ

sở cho các vấn đề nghiên cứu tiếp theo như phân vùng CQ, đánh giá tổng hợp một phần hay toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

Bên cạnh đó còn có các tác giả khác như: Phạm Thế Vĩnh, năm 2004 khi nghiên cứu về cảnh quan dải ven biển đồng bằng sông Hồng, đã đưa ra hệ thống phân loại gồm

7 cấp: hệ  phụ hệ  dải  lớp  kiểu  hạng  loại [30] Các tác giả của Trường đại học Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội cũng đã có nhiều hệ thống phân loại cảnh quan ứng dụng trong nghiên cứu cho các vùng lãnh thổ: Nguyễn Cao Huần,

Nguyễn An Thịnh nghiên cứu cảnh quan Sa Pa, Lào Cai; Trương Quang Hải “Phân kiểu

cảnh quan miền nam Việt Nam”; Trương Quang Hải nghiên cứu vùng núi đá vôi tỉnh

Ninh Bình; Phạm Quang Anh, Hà Văn Hành, mỗi vùng lãnh thổ đều có một hệ thống phân loại cụ thể phù hợp với mục tiêu, nội dung và tỷ lệ nghiên cứu [37], [55]

Nghiên cứu hệ thống phân vị của các công trình cho thấy các tác giả đều sử dụng các cấp từ hệ, phụ hệ, lớp, phụ lớp, kiểu, phụ kiểu, hạng, loại cảnh quan và một số cấp

bổ trợ khác ở cấp thấp tùy theo lãnh thổ và mục đích Mỗi cấp có một chỉ tiêu cụ thể quy định sự phân hóa có tính hệ thống, logic

Nghiên cứu sinh đã kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây về nguyên tắc và cách xây dựng chỉ tiêu từng cấp phân loại ở một số cấp phân loại bậc cao như: hệ, phụ hệ, theo sự phân hóa địa đới và phi địa đới trong hệ thống phân loại CQ toàn lãnh thổ Việt Nam của Phạm Hoàng Hải và nnk (1997) Ở cấp lớp, phụ lớp, kiểu, hạng, loại, NCS đã nghiên cứu, lựa chọn các chỉ tiêu phân loại trên cơ sở các yếu tố thành tạo cụ thể của lãnh thổ nghiên cứu và căn cứ trên những nguyên tắc trong xây dựng hệ thống phân loại

và thành lập bản đồ CQ không dựa trên các cá thể đơn vị CQ

Trang 28

Thực tiễn nghiên cứu tự nhiên cho thấy trong công tác đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho mục đích sử dụng hợp lý chúng và bảo vệ môi trường đòi hỏi trước hết phải có những nghiên cứu tổng hợp, đặc biệt là xây dựng một bản đồ tổng hợp - bản đồ cảnh quan của lãnh thổ Qua đó thể hiện được mối quan hệ

giữa các CQ, những quy luật hình thành và phát triển, sự phân bố tự nhiên theo lãnh thổ

+ Nguyên tắc thành lập bản đồ cảnh quan

Bản đồ cảnh quan là bản đồ mang tính tổng hợp khá cao, được xây dựng từ các bản đồ hợp phần là: bản đồ địa hình, bản đồ địa mạo, bản đồ đất, bản đồ thực vật, bản đồ sinh khí hậu Chính vì vậy, khi nghiên cứu và xây dựng bản đồ cảnh quan cần phải tuân theo những nguyên tắc sau đây [25]

- Nguyên tắc phát sinh - hình thái

Mỗi đơn vị CQ được hình thành đều trải qua một quá trình phát sinh, phát triển nhất định Những đơn vị CQ có cùng nguồn gốc phát sinh và hình thái tương đối giống nhau sẽ được xếp vào một đơn vị ở cấp lớn hơn, trái lại một đơn vị lãnh thổ có tính hình thái tương đối đồng nhất, nhưng không cùng một nguồn gốc phát sinh sẽ được phân thành những đơn vị CQ khác nhau Vạch ra trên bản đồ các đơn vị CQ theo nguyên tắc phát sinh - hình thái và nắm được quá trình phát triển của chúng là cơ sở khoa học để có những định hướng cụ thể cho việc khai thác và sử dụng hợp lý các cảnh quan

- Nguyên tắc tổng hợp

Mỗi dạng cảnh quan đều là những tổng hợp thể tự nhiên, chịu sự tác động tổng hợp của rất nhiều các nhân tố như: địa hình, khí hậu, đất, thực vật,… nên để vạch ra được ranh giới chính xác của các đơn vị cảnh quan so với thực tế là một công việc hết sức khó khăn và phức tạp Vì vậy, trong quá trình xây dựng bản đồ cảnh quan thường

sử dụng nhân tố trội để xác định ranh giới của các đơn vị, sau đó phải dựa vào tất cả các hợp phần tạo thành cảnh quan để xác định chính xác ranh giới của các đơn vị cảnh quan

- Nguyên tắc đồng nhất tương đối

Các đơn vị cảnh quan đều có tính bất đồng nhất và đồng nhất với nhau nhưng tính đồng nhất đó chỉ mang tính tương đối Những đơn vị ở cấp nhỏ thì tính đồng nhất của các hợp phần càng cao còn những đơn vị ở cấp lớn hơn bao hàm nhiều đơn vị cấp nhỏ và bản thân mỗi đơn vị cấp nhỏ có những đặc trưng tương đồng phải tổ hợp thành các đơn

Trang 29

vị cấp lớn hơn Như vậy, tính đồng nhất ở mỗi cấp chỉ là những nét đặc trưng chung nhất cho cấp đó

Theo nguyên tắc này, những đơn vị cảnh quan có các hợp phần cùng nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và hình thái tương đối đồng nhất đều có thể xếp vào cùng cấp, mặc dù chúng có thể được phân bố xa nhau

+ Phương pháp thành lập bản đồ cảnh quan

Để thành lập bản đồ cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa luận án

đã sử dụng và kết hợp nhiều phương pháp

Các phương pháp truyền thống: trong đó phương pháp yếu tố trội, phương pháp

so sánh theo đặc điểm riêng biệt của các chỉ tiêu phân loại từng cấp cảnh quan, phương pháp phân tích tổng hợp để xác định các đơn vị cảnh quan các cấp cũng như thể hiện các khoanh vi trên bản đồ cụ thể đang được sử dụng có hiệu quả

Ngoài phương pháp truyền thống chúng tôi còn sử dụng nhiều phương pháp bổ trợ khác như phương pháp phân tích, giải đoán ảnh vệ tinh để chính xác hóa ranh giới các đơn vị phân chia, đặc biệt đối với các khu vực chưa khảo sát kỹ hay các khu vực chưa có được sự chính xác về ranh giới khi chồng ghép bản đồ thành phần, phương pháp bản đồ để thể hiện trực quan các đặc trưng của các yếu tố thành phần cho các mục đích nghiên cứu, đánh giá ở phần sau

Cuối cùng là phương pháp khảo sát thực địa theo tuyến, hoặc theo các điểm chìa khóa để kiểm tra, đối chứng những kết quả đã thực hiện trong phòng Trong quá trình đi thực địa, chúng ta đã tiến hành khảo sát khu vực nghiên cứu

1.2.4 Đa dạng cảnh quan

Thuật ngữ “Đa dạng cảnh quan” ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nghiên

cứu cảnh quan, tuy nhiên vẫn chưa có một khái niệm đồng nhất Theo А.I Bacca và

V.О.Mokiev (1997): Đa dạng cảnh quan là sự biểu hiện vô số những thông tin của một

cá thể hay một nhóm trên những khoanh vi địa hình, mà sự biểu hiện bên ngoài của nó là

sự tác động giữa tự nhiên với con người và sự tác động của chính các thành phần tự nhiên đó (dẫn theo [6], [37])

Còn theo nhà cảnh quan học W.H.Romme và D.H.Knight (1982) khái niệm đa

dạng cảnh quan: Biểu thị độ đa dạng của các quần xã thực vật thành tạo các thể khảm

thảm thực vật của một đơn vị đất đai,… đa dạng cảnh quan là kết quả của hai cấu trúc thảm thực vật đặc thù,… và cấu trúc của các yếu tố nhiễu động và yếu tố phục hồi trong các quần xã (dẫn theo [7])

Hiện nay, trong cảnh quan học tồn tại hai hướng tiếp cận Hướng thứ nhất là phân tích định tính và định lượng cấu trúc CQ của khu vực dựa trên bản đồ CQ và toán thống

kê xác định các hệ số Hướng này xác định tần số xuất hiện các CQ trong một không gian nhất định trong những tổng thể tự nhiên phức tạp, có cấu trúc địa chất không đồng nhất Hướng thứ hai nghiên cứu đa dạng cảnh quan dựa trên dữ liệu viễn thám, theo đó

sự đa dạng cảnh quan được hiểu là sự kết hợp về hình dạng và kích thước của những hệ sinh thái khác nhau trên một diện tích lớn Còn theo Phạm Hoàng Hải (2006), nghiên

Trang 30

cứu đa dạng cảnh quan phải làm rõ các đặc trưng mang tính đa dạng về cấu trúc, chức năng và động lực của cảnh quan [35]

Nghiên cứu đa dạng cảnh quan phải dựa trên quan điểm tiếp cận hệ thống, coi một lãnh thổ có diện tích bất kỳ là một hệ thống có cấu trúc rõ ràng, phụ thuộc vào các thể tổng hợp địa lý tự nhiên Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu đa dạng cảnh quan cho phép chúng ta xem xét sự đa dạng CQ như một chỉ báo của tổ chức có thứ bậc cảnh quan khu vực và cấu trúc CQ của vùng lãnh thổ nào đó Sự đa dạng của cảnh quan thiên nhiên

và nhân tạo phải được cân nhắc với việc thực hiện chức năng KT - XH (V.V.Bratkov, R.I.Drisova, A.A.Ansabecova, 2009 (dẫn theo [6], [37]))

Trong luận án khi nghiên cứu sự đa dạng cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa, nghiên cứu sinh vận dụng quan điểm của Phạm Hoàng Hải Đó là khi nghiên cứu đa dạng cảnh quan phải làm rõ các đặc trưng mang tính đa dạng về cấu trúc, chức năng và động lực của cảnh quan [35]

1.2.5 Cấu trúc cảnh quan

“Cấu trúc” là một trong những khái niệm có vai trò quan trọng trong khoa học cảnh quan Trong sinh thái cảnh quan, cấu trúc cảnh quan được xác định là đối tượng nghiên cứu chính (Isaak S Zonneveld)

X.V Kalexnik (1978) định nghĩa: “Cấu trúc cảnh quan là tính tổ chức của các bộ

phận cấu thành trong không gian và tính điều chỉnh trạng thái theo thời gian (được xem như là cấu trúc không gian và thời gian của địa hệ)” [56]

Khái niệm cấu trúc cảnh quan hàm chứa ý nghĩa về cấu trúc không gian (bao gồm

cấu trúc đứng và cấu trúc ngang) và cấu trúc thời gian

Phân tích cấu trúc của CQ bao gồm việc xác định vị trí của các khối vật chất trong một tập hợp tác động tương hỗ, vì vậy đòi hỏi nghiên cứu các thông số, chuẩn hóa các tác động của các khối cấu thành của hệ thống CQ (Phạm Hoàng Hải, 1997) [28]

Cấu trúc của CQ được xem xét ở 3 khía cạnh gồm: cấu trúc đứng, cấu trúc ngang

và cấu trúc thời gian Trong một phạm vi lãnh thổ nhất định thì cấu trúc đứng và cấu trúc ngang bị chi phối bởi cấu trúc thời gian, điều đó có nghĩa là thời gian chi phối sự thay đổi của các hợp phần trong cấu trúc và sự phát triển của CQ [3]

- Cấu trúc đứng: cấu trúc đứng của CQ được hiểu là sự phân bố và mối quan hệ của các thành phần thống nhất phức tạp theo tầng tạo thành lớp vỏ địa lý Các thành phần

tự nhiên cấu tạo nên cảnh quan được sắp xếp theo quy luật: dưới cùng là nền địa chất, trên là kiểu địa hình, lớp phủ thổ nhưỡng, địa chất thủy văn, thảm thực vật và trên cùng tầng đối lưu khí quyển Đây cũng chính là phạm vi giới hạn của lớp vỏ địa lý Trái Đất

mà CQ chỉ là đơn vị cấp thấp và cảnh diện có cấu trúc thẳng đứng đơn giản hơn và rõ ràng hơn [1], [3]

Đơn vị CQ tồn tại càng lâu thì cấu trúc của các thành phần cấu tạo sẽ càng đầy đủ

và độ dày theo chiều thẳng đứng sẽ càng lớn Độ dày của cấu trúc đứng trong các cảnh quan khác nhau do: hình thành trong đới tích tụ hay rửa trôi, do sườn thoải hay dốc, do điều kiện khí hậu nóng và ẩm hay khô và lạnh,… Ví dụ: các cảnh quan ở đồng bằng tích

Trang 31

tụ với khí hậu ẩm và nóng hay ôn hòa thì có độ dày lớn Cấu trúc đứng của đồng bằng luôn dày hơn ở miền núi, do độ dốc của sườn và cường độ của các quá trình bóc mòn, đặc biệt là quá trình trọng lực

Nghiên cứu cấu trúc đứng của CQ cần phải được xét cụ thể trong điều kiện thời gian và không gian xác định, tùy thuộc vào từng cấp phân vị và từng cá thể trong mỗi cấp Hợp phần trội có thể chỉ là một yếu tố của một hợp phần, có khi là cả một hợp phần,

mà cũng có khi là sự kết hợp hữu cơ giữa hai hợp phần Vì thế, vai trò của các hợp phần phải được phát hiện một cách khách quan trong quá trình phân tích mối liên hệ giữa các hợp phần Khi phân tích thì phải biết sắp xếp các hợp phần thành từng cặp quan hệ với hai yếu tố, một yếu tố được coi như là nguyên nhân, còn yếu tố kia là kết quả Sau khi phân tích, phải rút ra được một cặp quan hệ là chủ yếu, có tác dụng quyết định, còn những cặp quan hệ khác đều ở vị trí thứ yếu, phụ thuộc Từ cặp quan hệ chủ yếu ấy sẽ rút ra được mâu thuẫn chủ đạo, nắm được mâu thuẫn này nhằm đưa ra các hướng giải quyết cụ thể và chính xác

- Cấu trúc ngang: là những thể tổng hợp địa lý được phân chia ra vô số những thể tổng hợp địa lý tự nhiên ở những cấp khác nhau với đại lượng và độ phức tạp khác nhau trên lãnh thổ Xác định hệ thống phân vị cảnh quan trong nghiên cứu cảnh quan được coi

là nội dung quan trọng nhất [1], [3]

Cấu trúc ngang gồm các đơn vị cảnh quan cùng cấp hay khác cấp cấu tạo nên cùng những mối quan hệ phức tạp giữa các đơn vị cảnh quan đó với nhau Bản thân mỗi một đơn vị cảnh quan là một hệ thống hoàn chỉnh, nên cấu trúc ngang thường được mô hình hóa đa hệ thống Cũng như cấu trúc thẳng đứng, mỗi một cấp phân vị có một cấu trúc ngang riêng, đồng thời cấu trúc ngang của mỗi cá thể thuộc cùng một cấp phân vị cũng có những nét riêng Tính phức tạp của cấu trúc ngang có thể được tính dựa vào công thức tính hệ số phân cắt [1], [3]:

%100

Trong cấu trúc ngang, các đơn vị cảnh quan đồng cấp và các đơn vị khác cấp cũng

là những hệ thống độc lập, có mối quan hệ bên trong riêng, và cũng trao đổi vật chất và năng lượng với nhau theo những mối quan hệ bên ngoài

Khi đánh giá vai trò của các đơn vị CQ, Vũ Tự Lập cho rằng cần phải phân biệt đơn vị chủ yếu và thứ yếu Đơn vị chủ yếu là đơn vị chiếm diện tích lớn nhất làm nền

Trang 32

tảng cho cảnh quan, hoặc là đơn vị được gặp nhiều ngoài thực địa nhưng tỉ lệ diện tích không lớn Đơn vị thứ yếu là đơn vị ít gặp, chiếm tỉ lệ diện tích nhỏ, giữ vai trò không đáng kể trong quá trình trao đổi vật chất và năng lượng Tuy nhiên, các đơn vị thứ yếu có thể nói lên tính chất đặc thù của cảnh quan, hoặc chúng là những đơn vị tàn dư của cảnh quan cổ, hoặc những dấu hiệu của cảnh quan tương lai Vì vậy, muốn có kết luận về cấu trúc ngang của các CQ nhất thiết phải tìm hiểu các cá thể cảnh quan [25]

- Cấu trúc động lực: được biểu hiện thông qua sự biến đổi trạng thái của cảnh quan theo thời gian Phân tích cấu trúc thời gian thực chất là phân tích những biến đổi cảnh quan Ngoài ra, có thể hiểu cấu trúc thời gian còn là sự biến đổi theo mùa của CQ (tính nhịp điệu của CQ) Kết quả nghiên cứu động lực cảnh quan nhằm đưa ra được các nhận định và hiểu biết về động lực và kiểu biến đổi của CQ, hỗ trợ định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ [1], [3]

Sự diễn biến đều đặn của mọi quá trình trong năm là đặc điểm của các cảnh quan rừng xích đạo, còn tính chất mùa thể hiện rất rõ ở cảnh quan vành đai ôn đới

Các cảnh quan gió mùa có sự tương phản rõ rệt trong động lực mùa: mùa hè độ

ẩm dư thừa, nhiệt độ cao tạo điều kiện cho thế giới hữu cơ phát triển mạnh và đẩy nhanh cường độ của các quá trình địa hóa Còn mùa đông các quá trình này diễn ra chậm lại

1.2.6 Chức năng cảnh quan

Chức năng cảnh quan (Landscape function) được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Theo hướng nhìn nhận chức năng CQ là các quá trình nội tại liên quan đến các dòng vật chất, năng lượng và sinh địa hóa trong CQ thì chức năng cảnh quan được hiểu

“là tổng hợp các quá trình trao đổi, biến đổi vật chất và năng lượng trong cảnh quan” (A.G.Ixatsenko) [3], [4]; “là dòng năng lượng, dinh dưỡng khoáng và sinh vật giữa các

yếu tố cảnh quan,…hoặc quá trình tương tác mảnh rời rạc - thể nền” (Forman.R.T,

Godron.M 1986 [17]) Theo hướng giá trị, chức năng CQ được xác định như là“năng lực

của các quá trình, thành phần tự nhiên để cung cấp hàng hóa đáp ứng nhu cầu trực tiếp hoặc gián tiếp của con người” (De Groot, 1992) [19] Quan điểm này nhấn mạnh đến

tiềm năng tự nhiên mà cảnh quan có thể đáp ứng được cho các hoạt động KT - XH Theo quan điểm này, chức năng của CQ được xác định cho các mục đích sử dụng thực tế hoặc tiềm năng của nó trong bối cảnh KT - XH và điều kiện sinh thái cụ thể, và để cho cảnh quan bộc lộ được những tiềm năng đó nhất thiết phải đánh giá cảnh quan theo những

nguyên tắc và phương pháp trên những quy luật của tự nhiên

Đa số các nhà nghiên cứu cảnh quan đều nhất trí cảnh quan có hai nhóm chức năng cơ bản: chức năng tự nhiên và chức năng KT - XH Nhóm chức năng tự nhiên có nhiệm vụ điều khiển cấu trúc cảnh quan để tiếp nhận các dòng năng lượng, vật chất đầu vào sao cho sự tồn tại và phát triển của cảnh quan được diễn ra một cách tốt nhất và thải

ra những gì thừa, bất lợi hoặc có hại, đồng thời là dấu hiệu để điều tiết đầu vào của cảnh quan Nhóm chức năng kinh tế - xã hội chính là khả năng sử dụng cảnh quan vào mục đích phát triển KT - XH, là thuộc tính thể hiện bên ngoài của chức năng tự nhiên và chỉ xuất hiện khi có con người Nếu sự tác động của con người phù hợp với chức năng kinh

Trang 33

tế và tuân thủ theo những quy luật của tự nhiên thì sẽ dẫn đến bền vững về mối quan hệ giữa tự nhiên và con người, đảm bảo môi trường

Bên cạnh đó cũng có một số tác giả cho rằng chức năng của cảnh quan không chỉ

có hai chức năng Trong số đó theo quan điểm của R.de Groot (1992, 2006) [19], [57], O.Bastian (2010) và M.Roder (2000) có thể chia chức năng CQ ra 3 nhóm chính là: chức năng sinh thái (chức năng tự nhiên), chức năng sản xuất (kinh tế) và chức năng xã hội [21], [58] Rudolf de Groot (1992) dựa theo cách phân chia của Costanzaeta (1997) đã phân loại chức năng cảnh quan thành 5 nhóm: (1) chức năng tự điều chỉnh; (2) chức năng môi trường sống; (3) chức năng sản xuất; (4) chức năng thông tin và (5) chức năng vận chuyển

Cụ thể hóa các nhóm chức năng này thành 30 chức năng của cảnh quan [19]

Vấn đề đánh giá, xếp hạng mức độ quan trọng của các chức năng này cũng đựợc quan tâm, nhưng cách xếp hạng có phần khác nhau giữa các nhà cảnh quan

Bảng 1.1 Mức độ quan trọng của các chức năng cảnh quan Tác giả

Mức độ

Bouma (1972)

Maarel và Dauvelier

(1978)

Rudolf de Groot (1992)

1 Chức năng sản xuất Chức năng sản xuất Chức năng điều chỉnh

2 Chức năng phúc lợi Chức năng chứa đựng

-vận chuyển

Chức năng chứa đựng

3 Chức năng khoa học Chức năng thông tin Chức năng sản xuất

4 Chức năng sinh thái Chức năng tự điều chỉnh Chức năng thông tin

5 Chức năng dự trữ và

chức năng bảo tồn

Mức độ quan trọng giảm dần từ 1 đến 5 [19], [21], [57], [58]

Theo Bouma (1972) xếp thứ tự quan trọng của chức năng theo mức độ ưu tiên nhất

là chức năng sản xuất, chức năng phúc lợi, chức năng khoa học, chức năng sinh thái, chức năng dự trữ và chức năng bảo tồn Maarel và Dauvelier (1978) lại xếp mức độ ưu tiên giảm dần từ chức năng sản xuất, chức năng chứa đựng - vận chuyển, chức năng thông tin

và chức năng tự điều chỉnh Rudolf de Groot (1992) cho rằng mức độ ưu tiên chức năng

CQ theo thứ bậc: chức năng điều chỉnh, chức năng chứa đựng, chức năng sản xuất và cuối cùng là chức năng thông tin Chức năng tự điều chỉnh quan trọng nhất vì nó điều chỉnh tự nhiên, tạo ra các hệ sinh thái và các quá trình sinh thái thông qua các chu trình vật chất -

năng lượng, hình thành nên sinh quyển “khỏe mạnh” duy trì sự sống trên Trái Đất

Nhìn chung về cơ bản các công trình nghiên cứu trên đều nhấn mạnh đến 4 chức năng cơ bản của cảnh quan đó là (hình: 1.1):

- Chức năng tự điều chỉnh: là sự phản ứng của các đơn vị cảnh quan với những biến động môi trường nhằm duy trì trạng thái cân bằng đã được xác lập trước đó mang lại sự ổn định cho cảnh quan Chức năng này được thực hiện thông qua các chu trình trao

Hình: 1.1 Các chức năng cơ bản của cảnh quan [19], [21], [57]

Tự điều chỉnh

Sản xuất

Thông tin

Chứa đựng

Trang 34

đổi vật chất và năng lượng tạo thành một chỉnh thể thống nhất và hoàn chỉnh, do vậy nó luôn có xu hướng bảo tồn cấu

cung cấp tài nguyên, năng lượng,

vật liệu cho con người

- Chức năng thông tin: là

sự hình thành các tín hiệu để

khai báo quá trình phát sinh,

phát triển của CQ trong đó bao

hàm các thông tin tự nhiên, KT

- XH Các thông tin này phản

ánh trạng thái cảnh quan, xu

thế biến đổi CQ và các ngưỡng

phát triển

- Chức năng chứa đựng:

hầu hết các hoạt động của con

người (canh tác, cư trú, giao

thông,…) đều cần có không gian và mặt bằng để diễn ra các hoạt động sinh tồn của con người Vấn đề sử dụng chức năng này gắn liền với việc chuyển đổi vĩnh viễn chức năng

tự nhiên ban đầu CQ

Cấu trúc quy định chức năng cảnh quan, ngược lại chức năng thể hiện ra bên ngoài của cấu trúc cảnh quan Do vậy, phân tích chức năng bắt đầu từ nghiên cứu cấu trúc và các quá trình để đánh giá được các giá trị tiềm năng của cảnh quan Các giá trị này trong quá trình khai thác con người có thể tác động vượt ngưỡng chịu đựng của nó,

Giới hạn áp lực CQ thông qua các cơ chế chính sách

Cấu trúc

và quá trình

CQ Chức năng

CQ (Khả năng) Giá trị dịch

vụ của hệ sinh thái Lợi ích

(Giá trị)

Những áp lực lên khả năng chịu đựng

tại cảnh quan

Tự nhiên, xã hội và vốn văn hóa

Hình 1.2 Khung phân tích chức năng cảnh quan [9], [22]

Cấu trúc và quá trình của

hệ sinh thái

Các giá trị hàng hóa

và dịch vụ

Phân tích chi phí lợi ích Các chức năng hệ

sinh thái -Tự điều chỉnh -Môi trường sống -Sản xuất -Thông tin -Chức đựng

Giá trị sinh thái

Sự tham gia của các bên liên quan

Quá trình

ra quyết định Quy hoạch

Giá trị văn hóa xã hội

Giá trị kinh tế

Hình 1.3 Vai trò của phân tích và đánh giá chức năng cảnh quan trong

quy hoạch và quản lý môi trường [19]

Trang 35

phân tích hiện trạng chức năng cảnh quan cần nhận ra được điều này để có các cơ chế điều chỉnh từ bên ngoài để cảnh quan duy trì được chức năng của nó Quá trình trên được thể hiện qua sơ đồ hình 1.2

Các chức năng trên của CQ không tồn tại một cách tách biệt nhau mà giữa các chức năng có sự đan xen và tác động tương tác với nhau Mối quan hệ này được biểu hiện ở sự thống nhất giữa các chức năng này trong các đơn vị CQ Có nghĩa là mỗi một cảnh quan đều có các chức năng trên, khai thác các chức năng trên chúng ta cần có những nghiên cứu và nắm vững các quy luật vận động của cảnh quan

Trên cơ sở xác định được các chức năng chính của CQ theo sơ đồ hình 1.2 sẽ tiến hành phân tích và đánh giá chức năng CQ cho mục đích quy hoạch và bảo vệ môi trường theo sơ đồ hình 1.3

Vận dụng quan điểm chức năng cảnh quan được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau của các nhà khoa học vào thực tiễn lãnh thổ nghiên cứu với những đặc điểm cụ thể

về cấu trúc cảnh quan Nghiên cứu sinh đã xác định được cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu gồm 3 nhóm chức năng: nhóm chức năng sản xuất, nhóm chức năng xã hội và nhóm chức năng sinh thái

Các giá trị chức năng cảnh quan được phân tích, đánh giá với sự tham gia của các bên liên quan, là cơ sở khoa học để đưa ra các quyết định quy hoạch và quản lý, tác động một cách hợp lý vào cấu trúc và các quá trình CQ để điểu chỉnh và giữ ổn định các giá trị chức năng cảnh quan một cách bền vững

1.2.7 Đánh giá cảnh quan

Mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa con người và TN, đặc biệt mối liên quan của đặc trưng các tổng thể TN và các hoạt động sản xuất thể hiện dưới nhiều dạng, nhiều hình thức khác nhau Kết quả phân tích, đánh giá cho thấy các CQ tự nhiên luôn có đủ những điều kiện thuận lợi về chức năng cho đời sống con người, phát triển của ngành sản xuất, kinh tế, cũng như các mức độ đa dạng trong sử dụng hợp lý TNTN, Một trong những nội dung thiết thực nghiên cứu, ĐGCQ với các mức độ khác nhau của công tác sử dụng tài nguyên lãnh thổ mỗi vùng cần phải đề cập đến là việc phân định các loại hình sản xuất chính như nông nghiệp, công nghiệp, du lịch và nghỉ dưỡng, theo lãnh thổ

Phương pháp tiếp cận tổng hợp trong nghiên cứu vùng để giải quyết các vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và phát triển môi trường bền vững về thực chất

là bao gồm việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống đặc điểm của các tổng hợp thể tự nhiên ở các cấp bậc khác nhau; việc phân tích tổng hợp cảnh quan và cùng với nó là

sự sắp xếp, kiến nghị và xây dựng các định hướng về các dạng sử dụng tài nguyên, phát triển sản xuất, kinh tế vùng Vì vậy, những cơ sở và nội dung quan trọng trước hết phải là

việc nghiên cứu các đặc điểm của cảnh quan, phân định rõ mức độ “phù hợp” hay “thích

hợp” của các vùng cảnh quan hay từng tổng hợp thể tự nhiên cho phát triển một hay một

vài ngành sản xuất, kinh tế, cho đời sống con người, cho các nhu cầu xã hội và những vấn

đề liên quan khác như bảo vệ, tái tạo và phát triển tài nguyên, môi trường

Trang 36

Trong nghiên cứu tổng hợp vùng cho mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên thì một trong những phương pháp quan trọng thường được áp dụng là phương pháp đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho các mục đích thực tiễn Với phương pháp này có thể dễ dàng xác định mối quan hệ và tác động tương hỗ của các yếu

tố và các thành phần tự nhiên, cũng như giữa các tổng hợp thể tự nhiên với nhau, đồng thời làm sáng tỏ mối quan hệ trong tổ chức không gian, cấu trúc, động lực của cảnh quan, với đặc trưng phân hóa của các dạng sử dụng tài nguyên một cách có quy luật và hiệu quả trên lãnh thổ Với phương pháp này một mặt sự xác định rõ bản chất các đơn vị cảnh quan trong một hệ thống tự nhiên chung và đồng thời đưa ra được những kết luận chính xác về việc bố trí các ngành sản xuất, kinh tế phù hợp theo từng vùng, Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng phương pháp này cần có thêm những lý giải, cũng như xem xét kỹ những vấn đề lý thuyết đánh giá, phương pháp luận, các thủ pháp tiến hành đối với mỗi đối tượng cũng như ở mỗi một đơn vị lãnh thổ riêng biệt khác nhau

Cụ thể đối với lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi tiến hành phân tích, ĐGCQ phục vụ cho định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ ngành nông, lâm nghiệp Do vậy, đề tài sẽ không đề cập đến những vấn đề đánh giá cảnh quan chung mà chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về đánh giá cảnh quan cho loại hình phát triển đó và đồng thời là các quan điểm lý luận, phương pháp luận tương ứng

Khái niệm chung về đánh giá thích nghi sinh thái của cảnh quan: Đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan được hiểu là việc thực hiện các thủ pháp, các bước thực hiện nội dung nghiên cứu phân loại các địa tổng thể theo mức độ thích hợp của chúng đối với một hay nhiều dạng sử dụng lãnh thổ

Vì cảnh quan theo quan niệm chung là các tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ mà ở đó

có sự đồng nhất tương đối về nền địa chất, đặc điểm địa hình, điều kiện khí hậu và chế

độ thủy văn tương ứng, cũng như sự đồng nhất tương đối về các loại đất và các quần xã thực vật nên CQ được coi là đối tượng cơ sở của việc nghiên cứu lãnh thổ TN và TNTN,

là đối tượng nghiên cứu tốt nhất cho mục tiêu phát triển kinh tế theo hướng khai thác bền vững Do đó, chúng được dùng khá phù hợp và hiệu quả nhất cho công tác đánh giá thích nghi sinh thái các đối tượng lựa chọn Mức độ thích hợp của các dạng cảnh quan thường được thể hiện ở dạng điểm hoặc dạng cấp

Tính thích nghi được đánh giá theo điểm dựa vào nhu cầu sinh thái của của loại hình sử dụng đất và đặc điểm tự nhiên của các dạng cảnh quan Điểm đánh giá được tính theo một trong các phương pháp sau [34]:

- Phương pháp tính tổng hoặc trung bình cộng các điểm thành phần

- Phương pháp tính tích hoặc trung bình nhân các điểm thành phần

- Phương pháp phân tích nhân tố

- Phương pháp tích hợp đánh giá đất đai tự động và hệ thông tin địa lý (gọi tắt là phương pháp tích hợp ALES - GIS)

Trang 37

Các nhiệm vụ được đặt ra để giải quyết trong quá trình đánh giá có thể khác nhau Công thức đánh giá thích nghi sinh thái chung có dạng:

Trong đó: (A) là địa tổng thể/cảnh quan

(X) là dạng sử dụng, khai thác tài nguyên (Y) là điều kiện

Các nhóm nhiệm vụ đánh giá cảnh quan có các dạng sau:

+ “X” đã xác định, tìm “A”

+ “A” đã xác định, tìm “X”

+ Tìm “A” và “X”

+ “A” và “X” đã biết, tìm điều kiện “Y” tối ưu

Những vấn đề lý luận, phương pháp luận đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan cho một số đối tượng cây trồng, vật nuôi, các loại hình sản xuất, kinh tế đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập khá kỹ, cũng như đã có những kinh nghiệm nghiên cứu và thực tiễn

1.2.8 Tổ chức lãnh thổ

Khái niệm tổ chức lãnh thổ (territorial organization) hay tổ chức không gian bắt nguồn từ cơ sở lí thuyết kinh tế kinh điển của Adam Smith và David Ricardo, từ các công trình nghiên cứu của G.Thunen (1826), Weber (1909),… và một số công trình khác, sau đó được phát triển về mặt lí luận và ứng dụng vào thực tiễn từ những năm 1950 tại các nước châu Âu Tại Liên Xô ngay từ năm 1965, để thúc đẩy việc quản lí và phát triển kinh tế có hiệu quả đã xác định: cần thiết phải kết hợp tối ưu việc kế hoạch hoá theo ngành và theo lãnh thổ nhằm đảm bảo kế hoạch hoá tổng hợp và giải quyết những vấn đề kinh tế quốc dân to lớn Như vậy, vấn đề kế hoạch hoá lãnh thổ đã được đặt ra và đó chính là vấn đề tổ chức lãnh thổ (TCLT)

Jean Paul De Gaodemar (1992) cho rằng TCLT là “Nghệ thuật sử dụng lãnh thổ

một cách đúng đắn và có hiệu quả” (dẫn theo [6], [37]) “Nghệ thuật sử dụng” này chính

là sự tìm kiếm một tỷ lệ và quan hệ hợp lý về phát triển KT - XH giữa các ngành trong một vùng, trong một quốc gia và trên một mức độ nhất định có xét đến mối liên kết giữa các quốc gia với nhau Nhằm tạo ra một giá trị mới nhờ sự sắp xếp có trật tự và hài hoà giữa các đơn vị lãnh thổ khác nhau trong cùng một tỉnh, một vùng hay cả nước Trong những điều kiện kinh tế thị trường và hệ thống kinh tế mở để SDHL các nguồn lực và lợi thế so sánh trong xu thế hội nhập và cạnh tranh nhằm đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững

Sau này, khái niệm TCLT được nhiều nước tiếp nhận và sử dụng, đặc biệt là ở

Mỹ vào đầu những năm 1970 Cho đến nay, khái niệm này được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và sử dụng rộng rãi với tư cách là công cụ tư duy tổng hợp, công cụ tổ chức thực tiễn các hoạt động xã hội Tuy nhiên, trên thực tế lĩnh vực này

Cảnh quan (A) thuận lợi đối với dạng sử dụng (X) trong điều kiện (Y)

Trang 38

cũng có rất nhiều những quan niệm khác nhau Từ góc độ địa lí học, tổ chức lãnh thổ được xem như một hành động có chủ đích, hướng tới sự công bằng về mặt không gian giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực và các không gian ảnh hưởng, nhằm giải quyết ổn định công ăn việc, cân đối giữa quần cư nông thôn và quần cư thành thị, bảo

vệ môi trường

Nghiên cứu TCLT của một vùng nhất định, phải nghiên cứu các cấu trúc không gian thành phần Với cách tiếp cận TCLT như vậy thì cấu trúc của một vùng (lãnh thổ)

còn bao gồm các “điểm”, “cực”, “nút”, “dải”, “tuyến động lực” và một “không gian bề

mặt” Các yếu tố đó có quan hệ, sức hút lan tỏa và ảnh hưởng lẫn nhau

Như vậy “Tổ chức lãnh thổ là sự sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối

liên hệ đa ngành, đa lĩnh vực và đa lãnh thổ trong một vùng cụ thể nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí và cơ sở vật chất kĩ thuật để đem lại hiệu quả cao và nâng cao mức sống dân cư của vùng đó” (dẫn theo [6], [37])

Tổ chức lãnh thổ nhằm sử dụng hợp lý lãnh thổ nghiên cứu cần đảm bảo các nguyên tắc: thoả mãn nhu cầu về khả năng tự nhiên và nhu cầu xã hội, đảm bảo lợi ích cho cộng đồng và đạt hiệu quả cao; đảm bảo tính phù hợp với trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ; kiến thiết các khu nhân để tạo nên sức hút kinh tế

Với hướng tiếp cận trên có thể thấy rằng, TCLT hay tổ chức không gian bằng tiếp cận cảnh quan học là một hướng tiếp cận đáp ứng được những yêu cầu của TCLT Bản chất tiếp cận tổ chức lãnh thổ thông qua cảnh quan là một cách tiếp cận để xem xét lãnh thổ như là một sự kết hợp của các hệ thống tự nhiên hoàn chỉnh

1.2.9 Nguyên tắc phân vùng cảnh quan

- Nguyên tắc phát sinh hình thái

Mỗi đơn vị cảnh quan được hình thành đều trải qua một quá trình phát sinh, phát triển nhất định Những đơn vị cảnh quan có cùng nguồn gốc phát sinh và hình thái tương đối giống nhau sẽ được xếp vào một đơn vị ở cấp lớn hơn Trái lại một đơn vị lãnh thổ

có tính hình thái tương đối đồng nhất, nhưng không cùng một nguồn gốc phát sinh sẽ được phân thành những đơn vị cảnh quan khác nhau Vì vậy, khi phân vùng cảnh quan cần phân tích và nắm quy luật phân hóa lãnh thổ tạo thành các đơn vị cảnh quan, đồng thời xác định được quá trình phát sinh, phát triển các đơn vị cảnh quan cũng như so sánh với quá trình phát triển hiện tại [59], [60]

- Nguyên tắc đồng nhất tương đối

Các đơn vị cảnh quan đều có tính bất đồng nhất và đồng nhất với nhau nhưng tính đồng nhất đó chỉ mang tính tương đối Những đơn vị ở cấp nhỏ thì tính đồng nhất của các hợp phần càng cao còn những đơn vị ở cấp lớn hơn bao hàm nhiều đơn vị cấp nhỏ và bản thân mỗi đơn vị cấp nhỏ có những đặc trưng tương đồng phải tổ hợp thành các đơn

vị cấp lớn hơn Như vậy, tính đồng nhất ở mỗi cấp chỉ là những nét đặc trưng chung nhất cho cấp đó Theo nguyên tắc này, những đơn vị cảnh quan có các hợp phần cùng nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và hình thái tương đối đồng nhất đều có thể xếp vào cùng cấp, mặc dù chúng có thể được phân bố xa nhau [59], [60]

Trang 39

- Nguyên tắc tổng hợp

Mỗi đơn vị cảnh quan đều là những tổng hợp thể tự nhiên, chịu sự tác động tổng hợp của rất nhiều các nhân tố như: địa hình, khí hậu, đất, thực vật,… nên để vạch ra được ranh giới chính xác của các đơn vị cảnh quan so với thực tế là một công việc hết sức khó khăn và phức tạp Vì vậy, trong phân vùng cảnh quan NCS đã sử dụng nhân tố trội để xác định ranh giới các vùng cảnh quan, sau đó phải dựa vào tất cả các hợp phần tạo thành cảnh quan để xác định chính xác ranh giới của vùng cảnh quan [59], [60]

- Nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ

Các vùng cảnh quan đều có tính toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất một cách tương đối được tạo nên bởi khái quát chung về vị trí địa lý và lịch sử hình thành, phát triển Tính toàn vẹn này là nhờ sự thống nhất của các quá trình địa lý cũng như tập hợp các nhân tố thành tạo cảnh quan của lãnh thổ

- Nguyên tắc liên kết các đơn vị kiểu cảnh quan theo các đơn vị hình thái phát sinh địa hình Trên cơ sở nguyên tác thì những đơn vị cảnh quan có cùng kiểu hình thái địa hình phát sình thì có thể nhóm thành một vùng cảnh quan

1.3 Sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực sông

1.3.1 Trên thế giới

Hướng nghiên cứu sử dụng hợp lý lãnh thổ theo lưu vực sông đã phát triển mạnh

mẽ trong nửa cuối thế kỷ XX, đặc biệt là trong vài thập kỷ gần đây nhằm đối phó với những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường của lưu vực

Các nước phát triển vấn đề khai thác sử dụng hợp lý lãnh thổ theo lưu vực sông và quản lý tổng hợp lưu sông đã được đặt ra từ giữa thế kỷ XX Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ

và sử dụng hợp lý tài nguyên nước Nhiệm vụ của quản lý tổng hợp lưu vực đã được mở rộng cho các dạng tài nguyên như: tài nguyên đất, rừng, đa dạng sinh học

Tại Mỹ có luật về “Bảo vệ lưu vực sông và phòng chống lũ” ban hành năm 1954,

nhiệm vụ quản lý các lưu vực nhỏ được giao cho các cơ quan Bảo vệ đất, còn các lưu vực lớn được giao cho cơ quan Quản lý lưu vực Lưu vực sông Tennessee là một thành công tiêu biểu, cùng với phát triển tài nguyên đất, rừng, đa dạng sinh học Sau nhiều năm hoạt động, cơ quan quản lý lưu vực Tennessee đã biến lưu vực này từ một vùng khô hạn thành một vùng kinh tế trù phú (dẫn theo [61])

Ở Anh, từ những năm 40 của thế kỷ XX vấn đề sử dụng và quản lý tổng hợp tài nguyên nước đã đặt ra cho một số lưu vực sông, điển hình như lưu vực sông Thames Cơ quan quản lý lưu vực sông Thames đã cấp nước ổn định cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp trên toàn lưu vực với trên 13 triệu dân và 85% các chất ô nhiễm thải vào nguồn nước được xử lý Tạo nên cảnh quan đẹp thu hút khách tham quan du lịch hàng năm (dẫn theo [61])

Ở Pháp, vấn đề khai thác sử dụng hợp lý lãnh thổ theo lưu vực sông và tổ chức quản lý lưu vực sông được nâng cao và hoàn thiện từ sau khi ban hành luật Tài nguyên nước lần thứ nhất vào năm 1964 Nhiệm vụ quản lý tổng hợp lưu vực sông đã được mở

Trang 40

rộng cho các dạng tài nguyên liên quan như: tài nguyên khoáng sản, tài nguyên đất, rừng

và đa dạng sinh học (dẫn theo [61])

Ở Australia vấn đề khai thác sử dụng hợp lý lãnh thổ theo lưu vực sông và quản lý lưu vực được tiến hành từ rất sớm Tiêu biểu là việc quản lý lưu vực sông Muray - Darling mang lại sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên nước, đất và môi trường của lưu vực Mô hình quản lý lưu vực sông Muray - Darling hiện vẫn đang còn hoạt động khá hiệu quả và được nhiều nước coi như là một trong những mô hình tiêu biểu cần học tập về giải quyết các mâu thuẫn giữa các hộ dùng nước khác nhau (dẫn theo [61])

Ở Nhật Bản cùng với Luật sông ngòi (River Law), Hội đồng sông ngòi (River Coucil) cũng đã đưa ra những chính sách quan trọng về quản lý tổng hợp lưu vực sông,

về những biện pháp giảm thiểu tác hại do lũ, về các biện pháp chống hạn và về sự phát triển các nguồn nước trong tương lai (dẫn theo [61])

Ở Trung Quốc đã xây dựng Ủy ban Bảo tồn lưu vực để quản lý lưu vực sông Hoàng Hà và một số lưu vực sông khác (dẫn theo [61])

Đối với các nước đang phát triển, vấn đề khai thác sử dụng hợp lý lãnh thổ theo lưu vực sông mới được quan tâm từ vài chục năm trở lại đây Nguyên nhân là do những hậu quả của vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên lưu vực sông trước kia đã và đang để lại những hậu quả nghiêm trọng

Trên lưu vực sông đa quốc gia như sông Mê Kông chủ trương quản lý tổng hợp tài nguyên nước cùng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và bảo vệ môi trường cũng đang được quan tâm Từ những năm 1960 và định hướng mục tiêu phát triển chung của

lưu vực là “Hướng tới một lưu vực thịnh vượng về kinh tế, công bằng xã hội và lành

mạnh về môi trường” (Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam, 1997) (dẫn theo [61])

Trong hai thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ XX, trước thực tế về những thiệt hại nghiêm trọng về tài nguyên và môi trường trên các lưu vực sông, nhiều tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ đã lên tiếng đòi hỏi cải tiến quản lý lưu vực sông với việc cân nhắc một cách tổng hợp, đầy đủ hơn các vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo

vệ môi trường

Hướng nghiên cứu sử dụng hợp lý lãnh thổ theo lưu vực sông đã được các nước trên thế giới tiến hành từ khá sớm và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn Song đối với nước ta với điều kiện tự nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa, với những đặc điểm về tự nhiên, KT - XH, dân cư khá đặc thù, việc vận dụng những thành tựu lý luận và thực tiễn của thế giới vào thực tế của nước ta cần có sự nghiên cứu chọn lọc phù hợp với thực tế của đất nước

1.3.2 Ở Việt Nam

Ngay từ năm 1950, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm tới việc sử dụng các tài nguyên trên lưu vực sông Năm 1959, Chính phủ thành lập Ủy ban trị thủy và khai thác sông Hồng với nhiệm vụ chính là quy hoạch việc sử dụng tổng hợp tài nguyên nước và các tài nguyên khác có liên quan Từ những năm 1978 nước ta tham gia Ủy ban lâm thời sông Mê Kông và năm 1995 tham gia Ủy hội Mê Kông Quốc tế Vào năm 1992 Việt

Ngày đăng: 12/02/2020, 15:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.Đ. Armanđ, Khoa học về cảnh quan, Dịch giả Nguyễn Ngọc Sinh-Nguyễn Xuân Mậu, NXB Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội, (1983) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học về cảnh quan
Nhà XB: NXB Khoa học và Kĩ thuật
3. Ixatsenko, A.G. (1969), Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên, NXB Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội (1978) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên
Tác giả: Ixatsenko, A.G
Nhà XB: NXB Khoa học và Kĩ thuật
Năm: 1969
4. Ixatsenko, A.G, Cảnh quan học ứng dụng, NXB Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội (1985) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh quan học ứng dụng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kĩ thuật
5. Kuznetsov, G.A, Địa lý và quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp, NXB Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội (1975) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý và quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp
Nhà XB: NXB Khoa học và Kĩ thuật
6. Nguyễn Ánh Hoàng, Phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức sản xuất nông, lâm nghiệp và du lịch tỉnh Yên Bái, Luận án tiến sĩ trường ĐHSP Hà Nội (2015) 7. Nguyễn An Thịnh, Sinh thái cảnh quan lý luận và ứng dụng thực tiễn trong môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức sản xuất nông, lâm nghiệp và du lịch tỉnh Yên Bái", Luận án tiến sĩ trường ĐHSP Hà Nội (2015) 7. Nguyễn An Thịnh
8. Kirill N. D, Nikolay S. K, Alexander V. K, Andrey V. K, Landscape Analysis for Sustainable Development: Theory and Applications of Landscape Science in Russia, Moscow: Alex Publisher, 2007, 320 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Landscape Analysis for Sustainable Development: Theory and Applications of Landscape Science in Russia
9. Roy Haines-Young., Mark Chopping, Quantifying landscape structure: a review of landscape indices and their application to forested landscapes, Progress in Physical Geography 20,4, 1996, pp.418-445 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quantifying landscape structure: a review of landscape indices and their application to forested landscapes
10. Schastnaya I.I., The assessment of landscape diversity for the purposes of spatial organisation of tourism: the case study of Brest region, Proceedings of the 7 th IALE World Congressp, 2007, p.578-580 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The assessment of landscape diversity for the purposes of spatial organisation of tourism: the case study of Brest region
11. Rodolphe Schlaeper, Philipp Heeb, A Qualitative and Quantitative Structure Landscape Analysis, EPFL, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Qualitative and Quantitative Structure Landscape Analysis
12. Angela Lausch, Thomas Blaschke, Dagmar Haase, Felix Herzog, Ralf-Uwe Syrbem, Lutz Tischendorf, Ulrich Walz, Understanding and quantifying landscape structure-A review on relevant process characteristics, data models and landscape metrics, Ecological Modelling 295, (2015) pp.31-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Understanding and quantifying landscape structure-A review on relevant process characteristics, data models and landscape metrics
13. Stejskalova D, Karasek P, Tlapakova L, Podhrazska J, Landscape metrics as a tool for evaluation of landscape structure, a case study ofHubenov region, Czech Republic, Acta Universitatis Agriculturae et Silviculturae Mendelianae Brunensis, No 1, (2013), pp.193-202 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Landscape metrics as a tool for evaluation of landscape structure, a case study ofHubenov region, Czech Republic
Tác giả: Stejskalova D, Karasek P, Tlapakova L, Podhrazska J, Landscape metrics as a tool for evaluation of landscape structure, a case study ofHubenov region, Czech Republic, Acta Universitatis Agriculturae et Silviculturae Mendelianae Brunensis, No 1
Năm: 2013
14. Evelyn Uuemaa, Juri Roosaare, Tınu Oja, Ulo Mander, Analysing the spatial structure of the Estonian landscapes: which landscape metrics are the most suitable for comparing different landscapes?, Estonian Journal of Ecology No 60, 2011, pp.70-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analysing the spatial structure of the Estonian landscapes: which landscape metrics are the most suitable for comparing different landscapes
15. Szilárd SZABÓ, Péter CSORBA., Katalin VARGA, Landscape indices and landuse - tools for landscape management, Methods of landscape research, Dissertations Commission of Cultural Landscape No.8, Poland, 2008, pp.7-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Landscape indices and landuse - tools for landscape management
16. Martin Balej, Landscape metrics as indicators of thestructural landscape changes -two case studies from the Czech Republic after 1948, Journal of Land Use Science, DOI:10.1080/1747423X.2011.597443, 2011, pp.443-458 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Landscape metrics as indicators of thestructural landscape changes -two case studies from the Czech Republic after 1948
17. Forman.R.T., Godron.M, Landscape Ecology, John Wiley & Sons, New York - Singapore, 1986, 619 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Landscape Ecology
18. Brandt J, Vejre. H, Multifuntional landscapes: Theory, values and history. WIT press, Southjampton, Boston (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multifuntional landscapes: Theory, values and history
19. De Groot RS, Function-analysis and valuation as a tool to assess land use conflicts in planning for sustainable, multifunctional landscapes, Landscape and Urban Planning 75, 1992, pp.175-186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Function-analysis and valuation as a tool to assess land use conflicts in planning for sustainable, multifunctional landscapes
20. Drzewiecki.W, Sustainable land-use planning support by Gis-base evaluation of landscape funtions and potentials, The International Archives of the Photogrammetry, Remote Sensing and Spatial Information Sciences, Vol. XXXVII. Part B7, Beijing, 2008, pp.1497-1502 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable land-use planning support by Gis-base evaluation of landscape funtions and potentials
21. Matthias Rửder., Ralf-Uwe Syrbe, Relationship between land use changes, soil degradation and landscape functions: a case study within the "Upper Lusatian Health and Pond Landscape" biosphere reserve, In A. RICHLING, J. LECHNIO, E. MALINOWSKA (Eds Sách, tạp chí
Tiêu đề: Upper Lusatian Health and Pond Landscape
22. Kienast F, Bolliger J, Postchin M, de Groot. RS, Assessing Landscape Funtions with Broad- Scale Environment Data, Insights Gained from a Prototype Development for Europe, Environmental Management 44, 2009, pp.1099-1120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing Landscape Funtions with Broad-Scale Environment Data

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w