Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nêu trên, luận án cần hoàn thành các nhiệm vụsau đây: Một là, đánh giá tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu trong và ngoài nước liên quan
Trang 1HOÀNG THỊ THU THỦY
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ TRỰC TIẾP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨCHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
HÀ NỘI - 2020
Trang 2HOÀNG THỊ THU THỦY
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ TRỰC TIẾP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨCHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 62 38 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS VŨ CÔNG GIAO
HÀ NỘI - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả
Hoàng Thị Thu Thủy
Trang 4Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn
1.4 Giả thuyết khoa học, câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về dân chủ trực tiếp 36 2.2 Nội dung pháp luật về dân chủ trực tiếp 43 2.3 Tiêu chí hoàn thiện pháp luật về dân chủ trực tiếp 63 2.4 Pháp luật về dân chủ trực tiếp của một số nước trên thế giới và giá trị tham
Chương 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ
3.1 Quá trình phát triển pháp luật về dân chủ trực tiếp ở Việt Nam 81 3.2 Thực trạng pháp luật về dân chủ trực tiếp ở Việt Nam từ năm 2013 đến nay 96 3.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của pháp luật về dân chủ
Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN
4.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về dân chủ trực tiếp ở Việt Nam hiện nay 122 4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về dân chủ trực tiếp ở Việt Nam hiện nay 127
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
Trang 5: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc: Ủy ban Nhân dân
: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi thành lập (năm 1930) đến nay, trong suốt tiến trình lãnh đạocách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững quan điểm dân chủ, lấydân làm gốc, bảo vệ, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân Điều 2 Hiến phápnăm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) ViệtNam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhândân” [92] và “Nước cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cảquyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấpcông nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [92]
Trong lịch sử hiện đại, ở các quốc gia trên thế giới, người dân thực hiệnquyền lực của mình bằng hai phương thức cơ bản là dân chủ đại diện (hay dânchủ gián tiếp) thông qua các cơ quan đại diện như Quốc hội, Hội đồng nhândân (HĐND) và dân chủ trực tiếp Dân chủ trực tiếp (DCTT) là việc Nhân dântrực tiếp thực hiện quyền lực, thể hiện trực tiếp ý chí của mình với tư cách làchủ thể quyền lực nhà nước về một vấn đề nào đó mà không cần thông qua cánhân hay tổ chức thay mặt mình Đối với nước ta, DCTT đã được ghi nhậnngay từ Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam, thể hiện quaquy định về quyền phúc quyết của Nhân dân với Hiến pháp Kể từ đó, các bảnHiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và Hiến pháp hiện hành năm 2013đều có quy định về trưng cầu ý dân Không chỉ vậy, Hiến pháp năm 2013 lầnđầu tiên khẳng định tại Điều 6: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằngDCTT, bằng dân chủ đại diện (DCĐD) thông qua Quốc hội, HĐND và thôngqua các cơ quan khác của Nhà nước”
Quy định mới nêu trên của Hiến pháp năm 2013 cho thấy, Đảng Cộng sản
và Nhà nước Việt Nam đã nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt và quyết tâm thúcđẩy các hình thức thực thi DCTT của Nhân dân trong thời gian tới Điều nàynhằm đáp ứng những yêu cầu phát sinh trong quá trình xây dựng nhà nước
Trang 7pháp quyền XHCN mà trong đó các hình thức thực thi DCTT cần được củng
cố và áp dụng đồng thời với DCĐD, bổ sung cho DCĐD
Thực tế kể từ khi Đổi mới (năm 1986) ở nước ta, môi trường và các hoạtđộng mang tính chất DCTT ngày càng được mở rộng dưới nhiều hình thức đadạng Cụ thể, các hoạt động phản biện, tư vấn, giám sát xã hội, lấy ý kiến Nhândân về những chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, hoạt độngbầu cử, ứng cử, bãi nhiệm các đại biểu cơ quan dân cử, việc thực hiện các quyềnkhiếu nại, tố cáo ngày càng được thực hiện rộng rãi; các hoạt động tiếp xúc cửtri, chất vấn đại biểu cơ quan dân cử, đối thoại trực tiếp giữa người dân với các
cơ quan nhà nước ngày càng được tổ chức thường xuyên Điều đó cho thấynhững hình thức DCTT đã bắt đầu thâm nhập sâu rộng vào các tầng lớp Nhândân Sự phát triển của các hình thức DCTT đã tạo điều kiện để người dân thamgia ngày càng tích cực và hiệu quả hơn vào hoạt động quản lý nhà nước, gópphần củng cố quyền lực của Nhân dân, kiểm soát quyền lực Nhà nước, hạn chếtình trạng quan liêu, lạm quyền, tham nhũng trong bộ máy nhà nước, giữ gìn,củng cố uy tín, sự ổn định của chế độ chính trị
Tuy nhiên, những kết quả nêu trên vẫn còn hạn chế so với yêu cầu cấp thiết
về mở rộng dân chủ nói chung, DCTT nói riêng trong tình hình mới ở nước ta Trong thực tế, hầu hết các hoạt động DCTT ở nước ta vẫn còn mang tính hình thức Một số hình thức DCTT đã phổ biến trên thế giới nhưng vẫn chưa được áp dụng đầy
đủ ở nước ta Hậu quả là vai trò và quyền tham gia quản lý xã hội của Nhân dân vẫn chưa được tôn trọng một cách thích đáng Tình trạng quan liêu, lạm quyền, tham nhũng trong bộ máy nhà nước vẫn còn phổ biến, ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
Những tồn tại, bất cập về DCTT nêu trên xuất phát từ nhiều nguyênnhân, trong đó có một nguyên nhân quan trọng là do quan điểm lý luận vàkhuôn khổ pháp luật về vấn đề này ở nước ta còn lạc hậu, chưa theo kịp vớinhận thức chung của cộng đồng quốc tế Ngoài ra, một số yếu tố khác như sựhạn chế về trình độ dân trí và các điều kiện thực thi, bảo đảm cũng là những
Trang 8trở ngại cho việc thực thi và mở rộng DCTT ở nước ta Tất cả những vấn đềnày cần được nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện, thấu đáo để tìm ranhững giải pháp khắc phục Tuy nhiên, hiện tại ở nước ta vẫn chưa có nhiềunghiên cứu mang tính chất chuyên sâu về pháp luật DCTT.
Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với dân chủhóa trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và đời sống xã hội Mởrộng DCTT là hướng tiếp cận rất quan trọng để đạt được mục tiêu đó ở nước
ta hiện nay Để mở rộng DCTT, việc hoàn thiện cơ chế pháp lý về vấn đề này
là việc làm đầu tiên và quan trọng nhất Vì thế, nghiên cứu hoàn thiện phápluật về DCTT hiện là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận
và thực tiễn ở nước ta
Trong bối cảnh trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về dân chủ trực tiếp ở Việt Nam hiện nay” để thực hiện luận
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án cần hoàn thành các nhiệm vụsau đây:
Một là, đánh giá tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu trong và
ngoài nước liên quan đến DCTT và pháp luật về DCTT, từ đó xác định nhữngnội dung luận án có thể kế thừa và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Hai là, hệ thống hoá và phân tích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về
hoàn thiện pháp luật về DCTT ở Việt Nam, xác định phương pháp luận,
Trang 9phương pháp nghiên cứu, giả thuyết khoa học và các câu hỏi nghiên cứu cầngiải quyết trong luận án.
Ba là, phân tích, đánh giá quá trình phát triển và thực trạng pháp luật
Việt Nam về DCTT, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và xác định nguyên nhân
để làm cơ sở cho việc đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật
về vấn đề này
Bốn là, đề xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về
DCTT có tính toàn diện, khoa học và khả thi với hoàn cảnh, điều kiện thựctiễn của nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề xoay quanh việc hoànthiện khuôn khổ pháp lý về DCTT ở Việt Nam bao gồm: Cơ sở lý luận, thựctiễn, những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân cùng những quan điểm, giảipháp nhằm hoàn thiện pháp luật về DCTT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung: luận án tập trung nghiên cứu khuôn khổ pháp lý về DCTT dưới gốc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, do
DCTT là một phạm trù chính trị - pháp lý, ở Chương 2, luận án còn đề cậpđến những vấn đề lý luận về DCTT, trong đó sử dụng những kiến thức vàphương pháp của một số ngành khoa học xã hội khác ngoài luật học như triếthọc và chính trị học
-Về mặt không gian: luận án chỉ tập trung nghiên cứu khuôn khổ pháp lý
về DCTT của Việt Nam Quy định về DCTT trong pháp luật quốc tế và pháp luật
của ở một số quốc gia khác cũng được đề cập nhưng chỉ ở mức độ khái quát, làm
cơ sở tham chiếu đánh giá khuôn khổ pháp lý về DCTT của Việt Nam
- Về mặt thời gian: Trọng tâm nghiên cứu của luận án là pháp luật về
DCTT ở Việt Nam từ năm 2013 đến nay Điều này nhằm bảo đảm yêu cầu vềtính chuyên sâu và nâng cao ý nghĩa thực tiễn của luận án, và xuất phát từ thực
Trang 10tiễn là Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định mới có ý nghĩa quan trọng vớiviệc thúc đẩy dân chủ trực tiếp ở nước ta Tuy nhiên, để bảo đảm yêu cầu về tính
hệ thống, luận án cũng dành một dung lượng nhất định để khảo sát, khái quát hoákhuôn khổ pháp luật Việt Nam về DCTT từ năm 1946 đến năm 2013
4 Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận của luận án
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộngsản Việt Nam về dân chủ nói chung, về nhà nước và pháp luật nói riêng, cũngnhư các chuẩn mực quốc tế về dân chủ và quyền con người
4.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Về phương pháp luận, luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biệnchứng của triết học Mác Lênin làm cơ sở định hướng đánh giá một cách tổngthể sự phát sinh, phát triển cũng như tính chất, đặc điểm của hệ thống phápluật về DCTT, đồng thời xác định các quan điểm hoàn thiện hệ thống phápluật về vấn đề này ở Việt Nam
Ngoài phương pháp luận duy vật biện chứng, luận án còn sử dụng một
số lý thuyết sau đây để phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp khắc phụcnhững tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật về DCTT ở Việt Nam gồm:
- Lý thuyết chủ quyền Nhân dân do John Locke và Rousseau đề xướng và
cổ vũ trong các thế kỷ XVII - XVIII Theo lý thuyết này, trong một xã hội (quốcgia), nhân dân là chủ thể nắm giữ mọi quyền lực chính trị Chủ quyền nhân dân
là nguồn gốc hợp pháp của mọi quyền lực chính trị và pháp lý, được xác địnhdựa trên bản khế ước xã hội (social contract) thể hiện sự “đồng thuận” của ngườidân về việc thiết lập và uỷ thác quyền lực của mình cho chính quyền Chủ quyềnnhân dân được bảo vệ qua các định chế của dân chủ trực tiếp như bầu cử định kỳ
tự do và phổ thông đầu phiếu, trưng cầu ý dân về hiến pháp và về các vấn đềquan trọng của đất nước và kiểm soát quyền lực nhà nước Lý
Trang 11thuyết này chủ yếu được sử dụng để đánh giá nền tảng lý luận và tính hợp lý của hệ thống pháp luật về DCTT ở Việt Nam.
- Lý thuyết về dân chủ có sự tham gia (participatory democracy): Đây
là lý thuyết do Pateman nêu ra trong cuốn Participation and DemocraticTheory (Sự tham gia và Lý thuyết dân chủ) xuất bản bởi Đại học Cambridge(Cambridge University Press) vào năm 1970 [153], trong đó xem dân chủ trựctiếp như là một hình thức mở rộng sự tham gia của công chúng vào các hoạtđộng chính trị Điều này đòi hỏi pháp luật phải thiết lập được các cấu trúc thểchế thích hợp để người dân có thể thực thi các hình thức dân chủ trực tiếp, đặcbiệt là trưng cầu dân ý Lý thuyết này chủ yếu được sử dụng để đánh giá tínhtoàn diện của hệ thống pháp luật về DCTT ở Việt Nam
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng khung phân tích của
chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, tác giả
kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học xã hội đểgiải quyết những câu hỏi nghiên cứu đặt ra, bao gồm: Phương pháp hệ thống,phương pháp lôgic, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phươngpháp so sánh và phương pháp tổng hợp, cụ thể như sau:
Phương pháp hệ thống được sử dụng trong Chương 1 để phân loại và
đánh giá nội dung các công trình nghiên cứu về dân chủ, DCTT và pháp luật
về DCTT ở trên thế giới và ở Việt Nam
Phương pháp logic được sử dụng xuyên suốt trong các chương Theo
đó, dựa trên tổng quan tình hình nghiên cứu ở Chương 1, tác giả xác định
những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu ở các chương tiếp theo của luận án Vàtrên cơ sở những vấn đề lý luận đã được phân tích làm rõ ở Chương 2, tác giả
sử dụng để đánh giá thực trạng pháp luật về DCTT ở Chương 3 và từ đó đưa
ra các quan điểm và giải pháp trong Chương 4
Phương pháp lịch sử chủ yếu được sử dụng trong đánh giá thực trạng
pháp luật về DCTT ở Việt Nam (ở Chương 3) Phương pháp lịch sử đòi hỏi khinghiên cứu pháp luật về DCTT phải đặt chúng trong bối cảnh lịch sử cụ thể
Trang 12C.Mác đã chỉ rõ rằng pháp luật không thể vượt ra khỏi điều kiện kinh tế - xãhội mà pháp luật đó tồn tại Do vậy, pháp luật về DCTT chỉ được xem xét mộtcách khách quan, khoa học khi chúng được đặt trong mỗi giai đoạn phát triểncủa lịch sử Điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong mỗi giai đoạn làmột trong những cơ sở nền tảng để đánh giá thực trạng pháp luật về DCTTcủa giai đoạn đó.
Phương pháp phân tích được sử dụng trong cả Chương 2, Chương 3 và
Chương 4 của luận án để khảo sát và đưa ra những nhận định, đánh giá các vấn
đề liên quan đến đề tài thể hiện qua những tài liệu sơ cấp và thứ cấp Tài liệu sơcấp bao gồm các văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn kiện của Đảng Cộngsản Việt Nam, các vụ việc, các số liệu thống kê chính thức của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, văn bản pháp luật quốc tế, văn bản pháp luật của một số quốcgia, các văn kiện, báo cáo có liên quan đến đề tài của các tổ chức quốc tế Tàiliệu thứ cấp bao gồm các bài báo, tạp chí, kết luận phân tích đã được các tác giảkhác thực hiện và công bố trong các sách chuyên khảo, tham khảo
Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong toàn bộ luận án để khái quát
hoá, phân loại, xếp loại các tri thức, số liệu qua việc phân tích các tài liệu, từ
đó giúp nghiên cứu sinh đưa ra các nhận xét, đánh giá tổng quan ở mỗichương và trong phần Kết luận của luận án
Phương pháp so sánh cũng được sử dụng trong toàn bộ luận án, đặc biệt
là ở các Chương 2 và Chương 3 để đối chiếu tìm ra sự tương đồng và khác biệt
về quan điểm giữa các tác giả, cũng như để đánh giá sự tương thích giữa phápluật Việt Nam với pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia khác vềDCTT So sánh cũng nhằm làm rõ sự phát triển của pháp luật về DCTT ở ViệtNam qua các giai đoạn lịch sử từ khi giành độc lập (1945) đến nay
5 Đóng góp mới của luận án
Luận án là một trong những công trình khoa học có tính chuyên sâu,toàn diện và là công trình đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ luật học phân tích vấn đềDCTT từ góc độ của chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật ởViệt Nam Những đóng góp mới của luận án thể hiện cụ thể như sau:
Trang 13Thứ nhất, củng cố và bổ sung nền tảng lý luận pháp luật về DCTT ở Việt Nam Luận án đã kế thừa các công trình nghiên cứu đã có trên lĩnh vực
này nhưng có sự phân tích, đánh giá để xác định khái niệm, đặc điểm, vai trò,nội dung và những yêu cầu đặt ra với việc hoàn thiện pháp luật về DCTT theomột cách thức toàn diện, hợp lý hơn Ngoài ra, luận án đã góp phần bổ sungnhững tri thức lý luận hiện có về vấn đề này ở nước ta thông qua việc làm rõcác lý thuyết phổ biến trên thế giới có liên quan đến DCTT và tác động cũngnhư khả năng ứng dụng của các lý thuyết đó ở Việt Nam Đây là những quanđiểm khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về DCTT ở Việt Nam và cũngchính là những đóng góp về mặt lý luận của luận án
Thứ hai, thông qua việc nghiên cứu quá trình phát triển và những biểu
hiện trong thực tế, luận án đã bổ sung những phân tích, đánh giá có tính hệthống và cập nhật khuôn khổ pháp luật hiện hành về DCTT ở Việt Nam Cụthể, luận án đã khái quát hóa những nội dung cốt lõi của pháp luật về DCTTqua các giai đoạn phát triển, phân tích, so sánh chỉ ra những ưu điểm cũngnhư những bất cập, hạn chế, đồng thời xác định nguyên nhân của những bấtcập, hạn chế đó
Thứ ba, luận án đã xây dựng các quan điểm, đề xuất và luận giải một hệ
thống giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật hiện hành về DCTT ởViệt Nam Các quan điểm, giải pháp có sự kế thừa từ những nghiên cứu đãđược công bố về vấn đề này ở Việt Nam, nhưng được phát triển ở mức độtoàn diện hơn, dựa trên những cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn đáng tin cậyđược xác định trong toàn bộ luận án
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
6.1 Về phương diện lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, củng cố cơ sở lýluận khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về DCTT ở Việt Nam, cụ thể làkhẳng định sự cần thiết và khả năng giải quyết vấn đề từ góc độ lý luận pháp
lý, đặc biệt là lý luận về lịch sử nhà nước và pháp luật
Trang 146.2 Về phương diện thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu thamkhảo cho nhiều chủ thể khác nhau ở Việt Nam, bao gồm các cơ quan củaĐảng, Nhà nước, đặc biệt là ở cấp Trung ương, trong việc nhìn nhận, phântích, đánh giá vấn đề và hoạch định, sửa đổi, bổ sung và tổ chức thực hiện cácchính sách, văn bản pháp luật có liên quan đến DCTT
Bên cạnh đó, luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảocho các cơ sở học thuật, các tổ chức xã hội và chính quyền địa phương trongviệc giảng dạy, nghiên cứu và tổ chức thực thi pháp luật về DCTT
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình khoa học cóliên quan đến đề tài luận án mà tác giả đã công bố, Danh mục tài liệu thamkhảo, luận án gồm 4 chương, 13 tiết
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Cùng với quá trình đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN vànền kinh tế thị trường định hướng XHCN, yêu cầu phát huy dân chủ trong cáclĩnh vực của đời sống được đặt ra một cách cấp thiết ở Việt Nam Bối cảnh đóthúc đẩy nhiều cơ sở học thuật và học giả trong nước nghiên cứu tìm hiểunhững vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về thực thi DCTT ở trên thế giới và
ở Việt Nam Nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công bố ởtrong và ngoài nước dưới nhiều hình thức như: Sách chuyên khảo, các bài báokhoa học, các kỷ yếu hội thảo khoa học, các luận án, luận văn trong các lĩnhvực chuyên ngành luật học, chính trị học,
Mặc dù vậy, so với nhiều vấn đề chính trị - pháp lý khác, có thể thấy sốlượng các công trình nghiên cứu liên quan đến DCTT ở Việt Nam hiện vẫnchưa nhiều Đặc biệt, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào phântích một cách toàn diện và chuyên sâu vấn đề DCTT ở Việt Nam từ góc độ lýluận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Xét tổng quát, có thể chia các công trình nghiên cứu về DCTT đã đượccông bố ở nước ta thành các nhóm sau:
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về dân chủ và dân chủ trực tiếp
Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu như sau:
- Thái Ninh, Hoàng Chí Bảo:“Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa“ [81] Nội dung cuốn sách tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về dân chủ
tư sản, dân chủ XHCN Các tác giả xem dân chủ tư sản là thành quả của cuộccách mạng tư sản, là kết quả nhà nước tư sản sử dụng phương pháp tự do chủnghĩa để thực hiện chuyên chính tư sản, chỉ ra những đặc trưng cơ bản của dân
Trang 16chủ tư sản Về dân chủ XHCN, các tác giả xác định đó là nền dân chủ gắn vớibản chất chế độ nhà nước XHCN; là hình thức chính quyền mà đặc trưng làviệc tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, thừa nhận cácquyền tự do bình đẳng của công dân Theo các tác giả, trong tương quanquyền lực với Nhân dân, dân chủ được coi là công cụ, là hình thức thực hiệnchủ yếu quyền lực Nhân dân.
- Đỗ Trung Hiếu: “Một số suy nghĩa về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay” [54] Trong cuốn sách này, tác giả tập trung phân tích các yêu
cầu và những đặc thù của nền dân chủ ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giảipháp tiếp tục phát huy dân chủ trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam
- Hồ Bá Thâm, Nguyễn Tôn Thị Tường Vân: “Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền” [105] Cuốn sách phân tích những hình thức thực hiện chức năng phản biện xã hội của các tổ chức xã hội dân sự, đặc biệt
là của Mặt trận và tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp đối với cáccấp chính quyền và cả cấp ủy đảng ở nước ta nói chung và thành phố Hồ ChíMinh nói riêng Theo các tác giả, để thực hiện dân chủ thực sự, tránh hìnhthức, các cơ quan lãnh đạo, quản lý cần tạo điều kiện để Nhân dân thực hiệnvai trò phản biện xã hội mà thực chất là thực hiện quy trình “dân biết, dânbàn, dân làm, dân kiểm tra, dân quyết định và dân thụ hưởng”
-Viện Chính sách công và Viện Nhà nước và pháp luật: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam” [125] Đây là cuốn sách tập hợp nhiều bài viết của các tác giả trong nước
về DCTT, dân chủ ở cơ sở ở nước ta trong sự so sánh, đối chiếu với một số nướctrên thế giới Cuốn sách bao gồm các bài viết liên quan đến những vấn đề lýluận, thực tiễn và các mô hình tổ chức thực hiện DCTT, dân chủ cơ sở trên thếgiới và của Việt Nam, đồng thời đề xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiệnkhuôn khổ pháp luật và các cơ chế bảo đảm DCTT và dân chủ cơ sở
ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 17- Trần Hậu Thành: “Dân chủ và mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền với dân chủ” [103] Bài viết định nghĩa dân chủ là quyền lực thuộc về Nhân dân, đặc trưng của dân chủ vô sản là làm cho đa số quần chúng lao động
bị áp bức và bóc lột trước đây thực sự tham gia công việc quản lý nhà nước,làm cho họ có thể thực sự hưởng thụ những thành quả tiến bộ của nhân loại.Theo tác giả, dân chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội; giữa dân chủ và phápluật có mối quan hệ gắn kết, không thể có dân chủ tách ra khỏi pháp luật vàcũng không thể có pháp luật mà không có dân chủ Tác giả cũng cho rằngquan hệ giữa nhà nước pháp quyền với dân chủ là quan hệ biện chứng: muốn
có nhà nước pháp quyền với đầy đủ ý nghĩa của nó thì phải xây dựng đượcnhà nước thật sự dân chủ Nhà nước pháp quyền XHCN và chính quyền dânchủ Nhân dân phải gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Mối quan hệĐảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ là cơ chế hữu hiệu củanền dân chủ XHCN trong điều kiện nhà nước pháp quyền
- Vũ Công Giao, Cầm Thị Lai:“Dân chủ trực tiếp trên thế giới và dân chủ trực tiếp ở nước ta“ [39] Tác giả phân tích bốn hình thức DCTT phổ biến
trên thế giới hiện nay gồm trưng cầu ý dân, sáng kiến công dân, sáng kiếnchương trình nghị sự và bãi miễn, phân tích những ưu nhược điểm của DCTT.Trên cơ sở đó, tác giả phân tích khái quát thực trạng tình hình thực hiện DCTTtrên thế giới qua bốn hình thức đã nêu Tác giả cũng làm rõ các hình thức DCTT
ở Việt Nam hiện nay qua các bản Hiến pháp, từ đó chỉ ra những mặt thuận lợi,thách thức đặt ra trong quá trình thực hiện DCTT ở Việt Nam
- Lương Minh Tuân: “Kinh nghiệm của Thụy Sĩ về dân chủ trực tiếp”
[117] Tác giả phân tích mô hình, cách thức thực hiện DCTT ở Thụy Sĩ Bêncạnh đó, tác giả cũng phân tích các cơ chế pháp lý chủ yếu của Thụy Sĩ để ngườidân thực hiện DCTT, bao gồm trưng cầu ý dân bắt buộc, trưng cầu ý dân khôngbắt buộc, Nhân dân đưa ra sáng kiến, và trưng cầu ý dân ở cấp bang và cấp địaphương Tác giả cũng đã phân tích, làm rõ các công cụ của DCTT tác
Trang 18động như thế nào đến hệ thống chính trị ở Thụy Sỹ đồng thời chỉ ra bài họckinh nghiệm cho Việt Nam.
Bên cạnh những công trình đã nêu trên, trong nhóm này còn có một sốcông trình nghiên cứu cụ thể các hình thức DCTT như: trưng cầu dân ý, bầu
cử và bãi miễn, sáng quyền Nhân dân, dân chủ cơ sở Có thể kể đến các côngtrình tiêu biểu sau:
- Sách chuyên khảo: “Trưng cầu ý dân: Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trương Thị Hồng Hà [46] Tác giả nêu lên những vấn đề lý luận và
kinh nghiệm các nước trên thế giới về trưng cầu ý dân Tuy nhiên, tác giả mớidừng ở mức khái quát về trưng cầu ý dân, từ khái niệm, vị trí, vai trò củatrưng cầu ý dân; phân biệt giữa trưng cầu ý dân với việc lấy ý kiến Nhân dân
và điều tra xã hội học; nêu lên ý nghĩa của chế định trưng cầu ý dân trong hệthống cơ chế DCTT ở Việt Nam, khẳng định yêu cầu phải hoàn thiện thể chếDCTT ở Việt Nam, và việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân là một khâu độtphá, khái quát chế định trưng cầu ý dân trong lịch sử lập hiến Việt Nam Bêncạnh đó, tác giả cũng nêu ra những vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân, thủ tục tiếnhành trưng cầu ý dân và khảo cứu thực tiễn trưng cầu ý dân ở một số quốc gia
trên thế giới (Pháp, Thụy Sỹ, Mỹ, Ý, Đức).
- Đặng Minh Tuấn: “Lý luận và thực tiễn về trưng cầu ý dân trên thế giới
và ở Việt Nam” [119] Theo tác giả, trưng cầu ý dân là một phương thức thực
hiện DCTT, thể hiện ý chí, nguyện vọng của người dân đối với các vấn đề quantrọng của đất nước trong từng thời điểm lịch sử cụ thể Đây là một hình thức dânchủ tiến bộ đã được thực hiện cách đây hàng nghìn năm, trong đó người dân trựctiếp quyết định một số công việc của nhà nước Thông qua hình thức dân chủnày, người dân được trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, hay nói cách khác làđược tham gia vào việc hoạch định các chính sách, quyết sách lớn của đất nước.Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều quốc gia đã và đang sử dụng hình thức nàynhư là một phương thức hữu hiệu trong hoạt động quản lý, điều hành đất nước.Trên cơ sở đó, tác giả trình bày khái quát những vấn đề lý luận
Trang 19và pháp luật cơ bản về trưng cầu ý dân như: khái niệm, vai trò, nội dung,trưng cầu ý dân Sau đó tập trung trình bày thực tiễn về trưng cầu ý dân ở một
số quốc gia trên thế giới như Pháp, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và
ở Việt Nam Tác giả cũng đề xuất, kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật vềtrưng cầu ý dân ở Việt Nam hiện nay
- Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Văn Nhiêm: “Chế độ Bầu cử ở nước ta, những vấn đề lý luận và thực tiễn” [79] Luận án đề cập cơ sở lý luận về chế
độ bầu cử trong xã hội dân chủ nói chung và Việt Nam nói riêng, đồng thời
phân tích sự phát triển của chế độ bầu cử ở nước ta từ cuộc Tổng tuyển cử bầuQuốc dân đại hội năm 1946 đến nay, làm rõ những thành tựu và những vấn đềcòn tồn tại và ảnh hưởng của những thành tựu đó trong việc xây dựng, củng
cố chính quyền Nhân dân ở nước ta Tác giả cũng phân tích tính tất yếu kháchquan tác động đến nhu cầu hoàn thiện và đổi mới chế độ bầu cử đối với việcphát huy dân chủ, nhất là DCĐD và nêu ra quan điểm và giải pháp hoàn thiệnchế độ bầu cử trong điều kiện phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước phápquyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, phù hợp với điềukiện và hoàn cảnh của nước ta
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Nhã Phương: “Hoàn thiện pháp luật về trưng cầu ý dân ở Việt Nam” [84] Tác giả phân tích sự hình thành và phát triển của pháp luật trưng cầu ý dân ở Việt Nam từ trước đến nay, trong đó
đặc biệt là quy định về trưng cầu ý dân theo các Hiến pháp Bên cạnh đó, tácgiả cũng đề cập đến các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân chủ và trưng cầudân ý Luận văn nêu ra các quan điểm và đề xuất một số giải pháp hoàn thiệnpháp luật về trưng cầu ý dân ở Việt Nam hiện nay
- Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Văn Ngọc: “Đổi mới chế độ bầu cử ở nước ta hiện nay” [77] Luận án đã luận giải và làm sáng tỏ các nguyên lý về
bầu cử; tiếp cận quyền bầu cử từ chủ quyền Nhân dân, quyền con người, quyềnDCTT; làm rõ khái niệm, nội dung, đặc trưng của chế độ bầu cử đại biểu Quốc
Trang 20hội ở nước ta Trên cơ sở đó hình thành khái niệm, chỉ ra đặc điểm, nội dung,phương thức và vai trò đặc biệt quan trọng của đổi mới chế độ bầu cử đại biểuQuốc hội ở nước ta hiện nay Về phương diện thực tiễn, luận án nghiên cứuquá trình hình thành, phát triển, đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội gắnvới đặc điểm lịch sử đất nước trong từng giai đoạn, nhất là trong giai đoạn đổimới đất nước từ năm 1986 đến nay Luận án đã chỉ ra và phân tích đượcnhững hạn chế, bất cập của chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) hiệnhành trước những biến đổi trên nhiều mặt của đời sống chính trị - xã hội sauhơn ba mươi năm đổi mới đất nước và trước những yêu cầu đặt ra trong quátrình thi hành Hiến pháp năm 2013 Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận,những đòi hỏi từ tiễn, luận án chỉ ra được những tiền đề khách quan và địnhhướng đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH ở nước ta hiện nay.
- Đề án “Dân chủ và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn” của Trung tâm Dân chủ và Pháp luật,
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam [113] Thông qua 3 chương, đề
án đã làm nổi bật được các nội dung lớn: Một là, những vấn đề lý luận về dân
chủ và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện dân chủ
ở xã, phường, thị trấn Hai là, thực trạng vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn giai đoạn 2005-2010
Ba là, quan điểm và giải pháp tiếp tục phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam trong việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Ngoài các công trình nêu trên, còn có thể kể thêm các công trình khác
như: Nguyễn Mạnh Bình, Dân chủ và giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước [7] Đồng Hữu Mạo, Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước [71] Nguyễn Văn Hậu, Tiếp tục xây dựng dân chủ trực tiếp nhằm thực hiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng [47] Nguyễn Thị Dung, Dân chủ trực tiếp - Quan niệm và phương thức thực hiện [26]… Những
Trang 21công trình này cũng đề cập và làm sâu thêm một số vấn đề lý luận, thực tiễn
về dân chủ, DCTT cũng như các hình thức DCTT đã được phân tích ở cáccông trình nêu trên
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về pháp luật dân chủ trực tiếp
Các công trình nghiên cứu pháp luật về DCTT tuy chưa nhiều nhưngcũng đã khắc họa những nét cơ bản về pháp luật DCTT ở Việt Nam và là tàiliệu hữu ích cho tác giả khi nghiên cứu pháp luật về DCTT Trong nhóm côngtrình này, có những công trình nghiên cứu pháp luật về DCTT nói chung và cónhững công trình nghiên cứu pháp luật về các hình thức DCTT
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy có những công trình sau:
- Ngô Huy Cương: “Dân chủ và pháp luật” [17] Cuốn sách gồm 3
chương, nội dung tập trung trình bày những nhận thức chung về dân chủ, đánhgiá tính dân chủ trong pháp luật Việt Nam hiện nay, đồng thời đề cập việc xâydựng dân chủ và pháp luật dân chủ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như:xây dựng nền văn hóa chính trị pháp lý, xây dựng Hiến pháp dân chủ, xâydựng chính quyền dân chủ, phát triển các hình thức dân chủ và xây dựng xãhội công dân
-Tập tài liệu “Trưng cầu ý dân theo pháp luật của một số nước trên thế giới” của Đinh Ngọc Vượng, do Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu
Khoa học và Hội Luật gia Việt Nam ấn hành [132] Trong công trình này, tác giả
đã khái quát lịch sử trưng cầu ý dân trên thế giới, khái quát những nội dung cơbản của pháp luật về trưng cầu ý dân của một số nước trên thế giới, phân tích và
so sách pháp luật trưng cầu ý dân và thực tiễn áp dụng pháp luật về trưng cầu ýdân của một số nước trên thế giới Theo đó, tài liệu nghiên cứu này giúp tác giảcủa luận án nhận thức rõ về bức tranh tổng quan về trưng cầu ý dân, chế địnhtrưng cầu ý dân trên thế giới thông qua thực tiễn xây dựng pháp luật và thực tiễn
áp dụng chế định trưng cầu ý dân ở một số quốc gia Điều này tạo nên cơ sởquan trọng cho tác giả của luận án tiếp tục nghiên cứu phát triển
Trang 22trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu trên để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận án.
- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Dân chủ trực tiếp và hoàn thiện cơ chế thực thi dân chủ trực tiếp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
do Nguyễn Thị Việt Hương chủ nhiệm [63] Đề tài phân tích làm rõ nhữngvấn đề lý luận về DCTT và cơ chế pháp lý thực thi DCTT trong Nhà nướcpháp quyền Trên cơ sở đó, đề tài đánh giá thực trạng DCTT và cơ chế pháp lýthực thi DCTT ở Việt Nam hiện nay, đồng thời nêu ra phương hướng và giảipháp phát huy DCTT, hoàn thiện cơ chế pháp lý thực thi DCTT trong Nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030
- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hồng Chuyên: “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [15] Theo tác giả, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp
xã là quá trình triển khai đưa các quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ
ở xã, phường, thị trấn đi vào thực tiễn đời sống xã hội, trở thành hành vi phápluật thực tế hợp pháp của chính quyền, cán bộ, công chức cấp xã, các cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan ở địa phương Từ đó, làm cơ sở phát huy quyềnlàm chủ của Nhân dân; thu hút Nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xãhội; kiểm tra, giám sát các hoạt động của chính quyền cấp xã; góp phần giữgìn trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn Luận án
đã làm rõ cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã, trìnhbày thực trạng và đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện phápluật dân chủ cấp xã ở Việt Nam theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền
- Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Văn Dương: “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên” [28] Luận án đã
làm rõ những đặc thù của việc thực hiện pháp luật dân chủ ở xã, phường, thị trấntrên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên như: Thực hiện pháp luật về dân chủ
ở xã, phường, thị trấn được tiến hành bởi nhiều chủ thể pháp luật; thực hiện
Trang 23pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị là hoạt động thường xuyên, liên tụcdiễn ra trên địa bàn cấp xã; thôn, buôn làng, tổ dân phố; thực hiện pháp luật
về dân chủ ở xã, phường, thị trấn có nội dung thực hiện trên mọi lĩnh vực củađời sống xã hội Luận án cũng chỉ rõ những hạn chế, bất cập trong việc thựchiện pháp luật về dân chủ trên địa bàn như: Chất lượng hoạt động của hệthống chính trị cơ sở vẫn còn chưa cao; chính sách cán bộ cho vùng miền núiTây Nguyên chưa hợp lý; trình độ dân trí, ý thức và năng lực thực hành dânchủ, năng lực giám sát của Nhân dân còn thấp, đời sống đồng bào các dân tộcTây Nguyên vẫn còn chậm phát triển; công tác tiếp dân và giải quyết khiếunại, tố cáo ở một số nơi chưa được coi trọng; sự phối kết hợp giữa hình thứcDCTT và DCĐD trong thực hiện các nội dung của pháp luật về dân chủ ở xã,phường, thị trấn vùng Tây Nguyên chưa được tăng cường Trên cơ sở đó,luận án đã chỉ ra những giải pháp: củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị ở cấpxã; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân ở cộng đồng dân cưthôn, buôn, tổ dân phố; phát huy vai trò già làng, trưởng dòng họ, chức sắctôn giáo; vận dụng luật tục của các dân tộc ở Tây Nguyên vào thực hiện phápluật dân chủ; xây dựng chế độ, chính sách đãi ngộ đặc thù đối với cán bộ,công chức cấp xã; cũng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự antoàn xã hội trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên; định kỳ tổng kết thực tiễn, rútkinh nghiệm; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về dân chủ ở
xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên
- Luận án tiến sĩ của tác giả Lã Khánh Tùng: “Sự phát triển của hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á” [120] Với bố cục gồm 4 chương,
luận án đã phân tích, giải thích tiến trình dân chủ hóa ở các quốc gia Đông Á.Theo tác giả, quá trình dân chủ hoá ở các nước Đông Á chịu ảnh hưởng của cảcác hệ tư tưởng bản địa và du nhập, và chính sự thay đổi về cấu trúc xã hội đãquyết định sự ra đời và phát triển của các bản hiến pháp ở các nước trong khuvực này Ở chiều ngược lại, các bản hiến pháp đã góp phần củng cố các thiết
Trang 24chế dân chủ ở khu vực Đông Á Tuy nhiên, theo tác giả, khả năng tác độngngược trở lại này là khác nhau giữa các quốc gia do sự khác biệt về các yếu tốvăn hóa chính trị và điều kiện kinh tế xã hội.
- Luận án tiến sĩ: “Pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của
cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam” của tác giả Tô Văn Châu [11].
Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạtđộng của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, đồng thời phân tích quátrình hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật về thực hiện dân chủ tronghoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tácgiả luận án đã đề xuất một số quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật vềthực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở ViệtNam trong thời gian tới
- Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Đoan Hùng: “Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân ở Việt Nam hiện nay” [62] Luận
án đã đề xuất phương hướng, giải pháp đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH theohướng dân chủ, dựa trên những nguyên tắc và tiêu chuẩn bầu cử tiến bộ phù hợpvới điều kiện chính trị - xã hội của nước ta hiện nay Về phương diện lý luận,luận án đã luận giải và làm sáng tỏ các nguyên lý về bầu cử; tiếp cận quyền bầu
cử từ chủ quyền Nhân dân, quyền con người, quyền DCTT; làm rõ khái niệm,nội dung, đặc trưng của chế độ bầu cử ĐBQH ở nước ta Trên cơ sở đó hìnhthành khái niệm, chỉ ra đặc điểm, nội dung, phương thức và vai trò đặc biệt quantrọng của đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH ở nước ta hiện nay Đây chính là cơ sở
lý luận góp phần nâng cao nhận thức, thống nhất hành động để tiếp tục đổi mớichế độ bầu cử ĐBQH ở nước ta Về phương diện thực tiễn, luận án nghiên cứuquá trình hình thành, phát triển, đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH gắn với đặc điểmlịch sử đất nước trong từng giai đoạn, nhất là trong giai đoạn đổi mới đất nước từnăm 1986 đến nay Luận án đã chỉ ra và phân tích được những hạn chế, bất cậpcủa chế độ bầu cử ĐBQH hiện hành trước
Trang 25những biến đổi trên nhiều mặt của đời sống chính trị - xã hội sau hơn ba mươinăm đổi mới đất nước và trước những yêu cầu đặt ra trong quá trình thi hànhHiến pháp năm 2013 Đây chính là cơ sở thực tiễn để luận án đề xuất các giảipháp tiếp tục đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH ở nước ta Trên cơ sở làm rõnhững vấn đề lý luận, những đòi hỏi từ thực tiễn, luận án chỉ ra được nhữngtiền đề khách quan và định hướng đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH ở nước tahiện nay Từ đó, phân tích, kiến nghị các nhóm giải pháp khác nhau, nhấnmạnh một số giải pháp đột phá: Đổi mới tư duy lý luận về bầu cử, quyền bầu
cử, tính đại diện của ĐBQH; bảo đảm thực chất quyền bầu cử, quyền tự ứngcử; xây dựng Hội đồng bầu cử quốc gia độc lập và hệ thống quản lý bầu cửtheo mô hình hỗn hợp; đổi mới dự kiến, hiệp thương bầu cử theo hướng dânchủ; đổi mới quy trình bầu cử để tăng cường tính cạnh tranh, công khai, minhbạch; đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về bầu cử
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Dung: “Pháp luật về dân chủ trực tiếp ở Việt Nam” [14] Tiếp cận dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, luận án đã trình bày cơ sở lý luận cơ bản về DCTT, pháp luật về
DCTT Nội dung trọng tâm của luận án đã phân tích thực trạng pháp luật vàthực tiễn thực hiện pháp luật về DCTT qua một số phương thức như trưng cầu
ý dân; bầu cử và bãi nhiệm đại biểu; sáng kiến Nhân dân Từ đó, rút ra nhữngbất cập, hạn chế và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế Luận án đề xuấtcác giải pháp hoàn thiện pháp luật về DCTT ở nước ta trong bối cảnh hiệnnay, trong đó nhấn mạnh các giải pháp pháp luật, giải pháp về các yếu tố bảođảm thực hiện và một số giải pháp khác Có thể nói, đây là công trình đầu tiênnghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống pháp luật về DCTT ở ViệtNam Đây là một tài liệu tham khảo rất hữu ích cho nghiên cứu sinh trong quátrình viết luận án của mình
- Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Luật Trưng cầu ý dân: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, của Hội Luật gia Việt Nam [58] Kỷ yếu tập hợp các báo
Trang 26cáo và tham luận của các nhà khoa học Luật của Việt Nam về trưng cầu ý dân,
về DCTT và các vấn đề liên quan Đây là một tập hợp các bài viết, bài nghiêncứu có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn, giúp cho tác giả của luận án thamkhảo và tiếp tục phát huy trên cơ sở kế thừa những giá trị hợp lý phù hợp vớimục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Ngoài ra, có các công trình khác như: Nguyễn Minh Đoan, “Dân chủ
và pháp luật” [35]; Nguyễn Đình Thơ, “Hạn chế của pháp luật về trưng cầu
ý dân - Nguyên nhân của hơn 60 năm chưa có trưng cầu dân ý” [110]; Nguyễn Văn Mạnh, “Quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử và sự phát triển các quy định về quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử qua các bản Hiến pháp Việt Nam” [70]; Nguyễn Sỹ Phương, “Dân chủ trực tiếp với luật Trưng cầu dân ý” [86]; Trương Đắc Linh “Trưng cầu ý dân ở địa phương: Khuôn khổ pháp lý
và tính khả thi” [67]; Nguyễn Thanh Minh, Nguyễn Tiến Đạt “Quyền bãi miễn đại biểu dân cử theo pháp luật Việt Nam” [73]; Những công trình này cũng đề cập và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận, thực tiễn về DCTT đã được
phân tích ở các công trình nêu trên, đặc biệt là liên quan đến hệ thống phápluật và việc xây dựng, thực hiện pháp luật về DCTT trong xu thế phát triển ởnước ta hiện nay
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về dân chủ và dân chủ trực tiếp
Dân chủ là giá trị chung, là giá trị tiến bộ của nhân loại, do đó, đâycũng là vấn đề nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
và nhiều học giả trên thế giới Các công trình nghiên cứu về dân chủ, DCTT
và các nội dung liên quan của các học giả trên thế giới có thể kể đến các côngtrình nghiên cứu chuyên khảo, luận án và các bài báo, tạp chí sau:
- Cuốn “Le referendum: Etude Comparative” (Trưng cầu ý dân: Nghiên
cứu so sánh) của GS Francis Hamon - Giáo sư Luật công và Khoa học chínhtrị [146] Công trình đã giới thiệu về trưng cầu ý dân, mối quan hệ giữa dân
Trang 27chủ, chế độ dân chủ với trưng cầu ý dân Theo đó, tác giả cho rằng chế độ dânchủ, được hiểu dưới hai hình thức khác nhau: hình thức trực tiếp (bao hàm sựtham gia trực tiếp của mỗi công dân trong việc thực hiện quyền lực chính trị)
và hình thức đại diện (quyền lực chính trị được phó thác cho những người đạidiện đã được Nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân)
Về nội dung, công trình này gồm có 3 phần: Phần 1: giới thiệu về cáchình thái trưng cầu ý dân (gồm: phạm vi, mục tiêu, hệ thống sáng kiến vềtrưng cầu ý dân); tổ chức các cuộc trưng cầu ý dân (gồm: phát động, truyềnthông, bỏ phiếu và giám sát trưng cầu ý đân), nhiệm vụ của các cuộc trưngcầu ý dân (gồm: nhiệm vụ hợp pháp hóa, nhiệm vụ đối trọng quyền lực,nhiệm vụ phân xử, nhiệm vụ bỏ phiếu tín nhiệm); Phần 2: Trưng cầu ý dântrên thế giới, giới thiệu tổng quát về trưng cầu ý dân và sự tăng lên toàn cầucủa các cuộc trưng cầu ý dân ở các quốc gia trên thế giới qua mô hình nướcPháp; Mô hình của Thụy Sỹ; Mô hình của Mỹ; Mô hình của Ý; trưng cầu ýdân ở các nước Bắc Âu; Phần 3 - Trưng cầu ý dân và đời sống chính trị: Sựtác động đến việc tham gia (tham gia bằng việc đề xướng, tham gia bằng bỏphiếu, các yếu tố kỹ thuật và công nghệ); sự tác động tới quyết định (ảnhhưởng bảo thủ, nguy hiểm cho các dân tộc thiểu số, các lĩnh vực bị cấm); sựtác động tới thể chế (trưng cầu ý dân và chế độ đại diện, trưng cầu ý dân vàcác đảng chính trị, trưng cầu ý dân và sự cá thể hóa quyền lực)…
Nghiên cứu tài liệu này giúp cho tác giả có một cái nhìn đầy đủ hơn vàtoàn diện hơn về trưng cầu ý dân, cả góc độ lý luận và thực tiễn; các mô hìnhtrưng cầu ý dân ở một số quốc gia dân chủ trên thế giới, từ phạm vi, mục tiêu vàphương pháp tổ chức thực hiện, mối quan hệ giữa trưng cầu ý dân và đời sốngchính trị; các yếu tố tác động, ảnh hưởng tới kết quả các cuộc trưng cầu ý dân, sựtăng lên toàn cầu của các cuộc trưng cầu ý dân ở các quốc gia Đặc biệt, Phần 2của công trình nghiên cứu này giới thiệu các mô hình trưng cầu ý dân của một sốquốc gia dân chủ trên thế giới, thể hiện tính đa dạng của mục đích trưng cầu ý
Trang 28dân Đây là tài liệu tham khảo quan trọng được nghiên cứu sinh nghiên cứu vàrút ra những kinh nghiệm để có thể kiến nghị áp dụng ở Việt Nam.
Có thể nói, thông qua việc nghiên cứu các tài liệu trên, tác giả luận án
đã có nhận thức sâu sắc hơn về các giá trị như dân chủ, nhân quyền, chủquyền Nhân dân; các vấn đề lý luận liên quan đến luật học như chủ nghĩa hợphiến, xã hội dân sự,…
- Thomas Meyer, Nicole Breyer, “Tương lai của nền dân chủ xã hội”
[109] Cuốn sách là một tác phẩm khoa học lý luận gồm 10 chương Tư tưởnglớn của cuốn sách là sự phê phán chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tân tự do vớinhững đặc trưng của nó là phát triển và bảo vệ sở hữu tư nhân, kinh tế thịtrường tự do, tự điều tiết, các quyền con người thụ động, nền dân chủ hìnhthức và không hoàn thiện Tư tưởng chủ đạo của cuốn sách là dân chủ xã hội
ra đời và phát triển trên cơ sở sự không hoàn thiện của dân chủ tự do Dự ándân chủ xã hội không giống với chủ nghĩa tự do thuần túy, bao gồm một hệthống các giá trị cơ bản, các quan điểm, nguyên tắc và giải pháp cải cách kinh
tế - xã hội Vì mục tiêu phát triển và lý tưởng tự do công bằng bình đẳng vàhạnh phúc của con người trong bối cảnh hiện nay của thế giới Xuất phát từlập trường quan điểm dân chủ xã hội, các tác giả cố gắng lập luận về triểnvọng sáng sủa của dân chủ xã hội so với dân chủ tân tự do trong sự phát triểncủa thế giới đương đại
- John Dewey, “Dân chủ và giáo dục” [66] Trong tác phẩm này, tác
giả trình bày những yêu cầu của một xã hội dân chủ và vận dụng các quanniệm đó vào những vấn đề của hoạt động giáo dục Cuốn sách chỉ rõ các mụctiêu và phương pháp kiến tạo của nền giáo dục công lập xét từ quan điểm nóitrên, và đưa ra những đánh giá có tính phê phán các lý luận liên quan đếnnhận thức và sự phát triển đạo đức Các lý luận đó đã được phát biểu trongnhững điều kiện xã hội trước đó song vẫn tiếp tục có hiệu lực trong những xãhội mang danh xưng dân chủ và cản trở việc thực hiện lý tưởng dân chủ
Trang 29- N.M Voskresenskaia, N.B Davletshina, "Chế độ dân chủ: Nhà nước
và xã hội" [82] Cuốn sách đã được thể hiện như là một thử nghiệm đầu tiên
trong việc soạn thảo sách giáo khoa về dân chủ Nội dung của cuốn sách trảlời cho các câu hỏi: Tại sao lại phải dạy về dân chủ? Theo các tác giả: Vì Tự
do có thể là bẩm sinh, nhưng thực hành dân chủ thì phải học mới biết Tại saobây giờ mới được thử nghiệm dạy về dân chủ ở Nga? Theo các tác giả: Vì từxưa đến nay (thập kỷ 90 của thế kỷ trước) người Nga chưa hiểu thật rõ ràngthế nào là dân chủ theo cái nghĩa phổ quát của nhân loại và chưa bao giờ nềndân chủ được lên ngôi ở Nga Cuốn sách trình bày những điều hết sức cơ bản:Thế nào là dân chủ? Xã hội và các giá trị dân chủ, quyền con người, quyềncông dân trong xã hội dân chủ, xã hội dân sự, các hình thức tổ chức chínhquyền và nhà nước, văn hóa chính trị và văn hóa quyền lực
- Robert Alan, Dalh, Democracy and Its Critics, “Dân chủ và sự phê phán” [98] Trong cuốn sách này, với cách tiếp cận chính trị học, tác giả khẳng
định quyền lực mà nhà nước có được là xuất phát từ quyền lực gốc của Nhândân; do đó, để thực thi một nền dân chủ đòi hỏi phải có sự chế ước lẫn nhau giữacác chủ thể trong xã hội, phải được cụ thể hóa và bảo đảm thực thi bằng phápluật Tuy nhiên, mỗi một chế độ dân chủ được duy trì, thực thi như thế nào cònphụ thuộc vào từng điều kiện về kinh tế, truyền thống văn hóa dân tộc của mỗiquốc gia khác nhau Khi làm rõ khái niệm dân chủ, tác giả khẳng định rằng, chođến nay, chưa có một quốc gia nào đáp ứng đầy đủ các lý tưởng dân chủ Để đạttới một nền dân chủ lý tưởng, theo tác giả cuốn sách, phải đảm bảo năm tiêu chísau: một là, sự tham gia hiệu quả: mọi công dân phải có cơ hội đầy đủ và bìnhđẳng để thể hiện nguyện vọng của mình và đặt câu hỏi trong các chương trìnhcông cộng, thể hiện các lý do cho một kết quả tốt đẹp hơn; hai là, các công dânphải được bình đẳng, công bằng trong bầu cử ở giai đoạn quyết định; ba là, sựhiểu biết sâu sắc: các công dân phải được hưởng những cơ hội phong phú vàbình đẳng cho những phát hiện và lựa chọn tốt nhất phục vụ cho lợi ích của họ;bốn là, kiểm soát các chương trình nghị sự: các công dân phải có
Trang 30cơ hội quyết định những vấn đề chính trị thực sự toàn diện và đúng ý nghĩa;năm là, tính toàn diện: tính bình đẳng phải được mở rộng đến tất cả các côngdân Mọi người đều phải có cổ phần hợp pháp trong quá trình chính trị.
- GS.Amartya Sen có bài viết “Democracy as a Universal Value”, “Dân chủ như một giá trị toàn cầu” [45], trong bài viết của mình, ông đã khẳng định: “Trong số những sự phát triển lớn lao và khác nhau xảy ra trong thế kỷ
20, sau rốt, tôi chẳng thấy khó khăn gì khi chọn một sự phát triển ưu việt nhấttrong thời đại này: đó là sự phát triển của chế độ dân chủ Nói thế không cónghĩa là các sự kiện khác trong cùng thời không phải là không quan trọng,nhưng tôi sẽ lập luận rằng trong một tương lai không xa, khi người ta nhìn lạinhững gì đã xảy ra trong thế kỷ này, họ sẽ phải nhìn nhận sự phát triển củachế độ dân chủ-một chế độ chính trị được công nhận là ưu việt - xứng đángđược xem là quan trọng nhất”… Nghiên cứu bài viết, tác giả luận án cho rằng:nếu xem dân chủ như một giá trị toàn cầu thì trước hết phải bảo đảm việc thựcthi quyền dân sự và chính trị của công dân Trong đó có quyền được tham giavào xây dựng pháp luật và quản lý xã hội của công dân, không phân biệt thểchế chính trị Đây là một tài liệu tham khảo có giá trị giúp cho tác giả luận ánnhận thức rõ hơn về vấn đề mình tiếp tục nghiên cứu
1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về dân chủ trực tiếp
Về pháp luật về DCTT có thể kể đến một số công trình tiêu biểu ở nướcngoài như sau:
- Trong cuốn “Referendums around the world”, (Trưng cầu ý dân trên thế
giới) của Butler David and Ranney Austin [139] và cùng nhiều tác giả khác đãđưa ra các vấn đề lý luận và thực tiễn về trưng cầu ý dân, các chế định của Hiếnpháp về trưng cầu ý dân, thông qua nghiên cứu các trường hợp của Anh, Pháp,
Ý, các nước Bắc Âu và Ai Len… Cuốn sách cũng đề cập các hình thức và chứcnăng của trưng cầu ý dân thông qua việc khảo cứu thực tiễn các cuộc trưng cầu ýdân ở Chile năm 1988, ở Uruguay năm 1992, ở Brazil năm 1993, ở
Trang 31Canada năm 1992, ở Nam Phi năm 1992 Cuốn sách đã chỉ ra sự đa dạng về lýluận và thực tiễn về trưng cầu ý dân trên thế giới thông qua các trường hợpnghiên cứu cụ thể Đồng thời, cuốn sách cũng cho thấy mục đích, tác động,ảnh hưởng của pháp luật trưng cầu ý dân tới đời sống chính trị - kinh tế - vănhóa xã hội ở mỗi quốc gia.
- Bài viết “Cách làm luật trong một xã hội dân chủ” của GS Gordon
Morris Bakken - Giáo sư lịch sử tại Đại học bang California ở Fullerton - Hoa
Kỳ [44] Tác giả bài viết cho rằng, tuy các thể thức cụ thể về việc làm luật đãtiến triển qua nhiều thế kỷ nhưng làm luật theo thể thức dân chủ vẫn cònnhững đặc điểm đáng chú ý là phải cần có sự thỏa thuận của dân chúng, phải
có một hệ thống kiểm soát và cân bằng và phải có một chính sách công linhđộng để thích ứng với các vấn đề Trong một xã hội dân chủ, vai trò làm chủcủa Nhân dân được thể hiện thông qua nhiều cách thức, trong đó có vai tròxây dựng pháp luật
Liên quan trực tiếp đến đề tài luận án có cuốn sách của tác giả Viginia
Beramandi, Andru Elis: “Dân chủ trực tiếp: Sổ tay IDEA Quốc tế" (Chủ trì bản
tiếng Việt, Đào Trí Úc, Vũ Công Giao) [127] Cuốn sách đưa ra các phân tích, sosánh, thông tin và những hiểu biết toàn diện về một loạt thể chế và quá trình dânchủ Cuốn sách trình bày tổng quan về việc vận dụng DCTT ở tất cả các khu vựctrên thế giới và đánh giá điển hình sáu quốc gia: Hunggary, Thụy Sĩ, Uganda,Hoa Kỳ (bang Oregon), Uruguay và Venezuela Nội dung chính của cuốn sách làcung cấp các khuyến nghị và bài học thực tiễn thành công nhất, đưa ra nhữngphân tích quan trọng dành cho những người có thể đang xem xét áp dụng mộthoặc nhiều công cụ của DCTT, hoặc cho nhưng người có thể đang tìm cách làmcho các thể chế và quy trình hiện có hoạt động hiệu quả hơn Cuốn sách đưa rabốn cơ chế DCTT cung cấp cho các cử tri nhiều cơ hội hơn khi tham gia vào cáchoạt động của chính phủ, đó là trưng cầu ý dân, sáng kiến của công dân, sángkiến chương trình nghị sự và bãi miễn Trên cơ sở đó, khảo sát phạm vi sử dụngcủa bốn cơ chế bằng cách nêu bật những thực tiễn thành công nhất, chỉ ra khi
Trang 32nào và làm thế nào để mỗi cơ chế đó có thể sử dụng tốt nhất Các nghiên cứutrong cuốn sách đưa ra sự so sánh độc đáo giữa các cơ chế khác nhau củaDCTT và làm thế nào các cơ chế này đáp ứng được nhu cầu của mỗi quốc giatrong bối cảnh cụ thể.
Với kết cấu gồm 9 chương và nhiều số liệu, thông tin khảo sát xã hộihọc, cuốn sổ tay đã phần nào phản ánh được việc thực hiện DCTT ở một sốnước trên thế giới Thông qua các bài viết, các tác giả đã nêu rõ quan điểm:Dân chủ biểu thị sự tham gia của người dân trong các hoạt động của chínhquyền Một loạt tập quán dân chủ tồn tại nhằm giúp công dân tham gia nhiềuhơn trong việc đưa ra những quyết định về chính trị và thể chế Mức độ thamgia của người dân do Hiến pháp hoặc các Chính phủ quy định, thông qua phápluật và việc lựa chọn, thiết kế hệ thống bầu cử Trên cơ sở nghiên cứu cáctrường hợp cụ thể ở 6 quốc gia như: Hunggary, Thụy Sỹ, Uganda, Hoa Kỳ(bang Oregon), Uruguay và Venezuela, các tác giả cho thấy: trong khi một sốnước đưa ra các quy định cho người dân tham gia trực tiếp trong khuôn khổHiến pháp thì các nước khác lại có những hạn chế chặt chẽ hơn Ngoài ra,cuốn sổ tay cũng xem xét, làm rõ bốn cơ chế DCTT là trưng cầu ý dân, sángkiến công dân, sáng kiến chương trình nghị sự và bãi miễn đại biểu dân cử,đồng thời cũng khảo sát phạm vi sử dụng của bốn cơ chế đó; nêu bật nhữngthực tiễn thành công nhất, chỉ ra khi nào và làm thế nào để mỗi cơ chế đó cóthể được sử dụng tốt nhất, qua đó cung cấp cho các cử tri nhiều cơ hội hơn khitham gia vào các hoạt động của Chính phủ của họ
Thông qua việc nghiên cứu trường hợp, cuốn sổ tay đưa ra sự so sánhđộc đáo giữa các cơ chế khác nhau của DCTT và làm thế nào các cơ chế nàyđáp ứng được nhu cầu của mỗi quốc gia trong những bối cảnh cụ thể Theo
đó, kết quả nghiên cứu này phần nào phản ánh được thực tiễn thực hiệnDCTT ở một số quốc gia trên thế giới
Bên cạnh cuốn “Sổ tay IDEA quốc tế về dân chủ trực tiếp” trình bàynhững nội dung chung nhất có liên quan đến pháp luật về DCTT, còn có các
Trang 33cuốc sách đề cập đến các hình thức cụ thể liên quan đến pháp luật về DCTT như dân chủ cấp địa phương, vấn đề bầu cử.
- Về hình thức dân chủ địa phương có cuốn: "Dân chủ ở cấp địa
phương: Sổ tay IDEA Quốc tế” của tác giả Viginia Beramandi, Andru Elis và
các tác giả khác: (Chủ trì bản tiếng Việt, Đào Trí Úc, Vũ Công Giao) [128].Nội dung của cuốn sách nêu ra các phương thức thực tiễn cho việc củng cốnền dân chủ ở cấp địa phương Cuốn sách cung cấp cho người dân và các nhàhoạch định chính sách, pháp luật những ý tưởng và các lựa chọn để đẩy mạnh
ý nghĩa và hiệu quả của dân chủ ở cấp địa phương Nội dung cuốn sách cũngbao gồm những gợi ý thiết thực cho việc xây dựng các thiết chế quản trị địaphương thông qua phân cấp, sự tự trị, các mối liên kết với thế giới và chỉ ranhững lợi thế và khó khăn của những phương pháp này Những nguyên tắc vàchính sách chi tiết cho việc quản lý các thành phố đa dạng văn hóa (culturallydiverse cities) và những công cụ để quản lý xung đột sắc tộc cũng như để đẩymạnh hòa giải xã hội Những phương pháp thực tiễn cho việc cũng cố bầu cửđịa phương và DCĐD thông qua các quy tắc bầu cử, cải cách hành chính vàphát triển đảng chính trị Những lựa chọn cho việc mở rộng sự tham gia củangười dân và mô hình thực hiện sự tham gia của người dân vào quá trìnhhoạch định chính sách cho các lãnh đạo dân sự Những gợi ý cho cộng đồngthế giới về hỗ trợ cho sự phát triển hơn nữa của mạng lưới chính sách quốc tế
để phát huy dân chủ ở địa phương
-Về hình thức bầu cử có cuốn: “Thiết kế hệ thống bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế“ của tác giả Viginia Beramandi, Andru Elis và các tác giả khác [129].
Cuốn sách trình bày các nội dung cơ bản liên quan đến thiết kế hệ thống phápluật về bầu cử của các nước trên thế giới hiện nay Nội dung sách phân tích vaitrò, tầm quan trọng của hệ thống bầu cử, đưa ra các tiêu chuẩn thiết kế, thànhphần thiết kế của hệ thống Sách cũng đánh giá, so sánh đặc điểm các hệ thốngbầu cử hiện nay trên thế giới từ các góc độ như hiệu quả, cơ chế quản trị, chi
Trang 34phí… đồng thời phân tích những ví dụ cụ thể về hệ thống bầu cử của một sốquốc gia trên thế giới.
1.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN SẼ TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu về dân chủ, DCTT, pháp luật
về DCTT, tác giả luận án có một số nhận xét, đánh giá về các kết quả nghiêncứu như sau:
1.3.1 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề
tài Thứ nhất, về những công trình nghiên cứu ở trong nước
Các công trình hiện có ở trong nước đã đề cập, phân tích vấn đề DCTTnói chung một cách khá toàn diện, trên tất cả các phương diện lý luận và thựctiễn Các công trình đã đề cập đến vai trò, ý nghĩa của DCTT trong mối quan
hệ với chính trị, trong mối quan hệ với phát triển kinh tế - xã hội DCTT đượckhảo sát và phân tích trên nhiều góc độ như khái niệm, đặc điểm, vai trò, cáchình thức DCTT, mối quan hệ giữa DCTT và DCGT… cũng như kinh nghiệmcủa các quốc gia trong lĩnh vực này Đây là những kiến thức tham khảo rấthữu ích cho việc thực hiện phần lý luận chung về DCTT của luận án Trongphần này, tác giả có thể tiếp thu, kế thừa rất nhiều kiến thức, thông tin vềnhững vấn đề lý luận chung của DCTT từ các công trình hiện có
Dựa trên lý luận và thực tiễn về DCTT, nhiều công trình của các tác giảViệt Nam đã đi sâu nghiên cứu làm rõ những hình thức cụ thể của DCTTđược điều chỉnh bằng pháp luật hiện hành Đây cũng là những kiến thức,thông tin có giá trị tham khảo hữu ích đối với tác giả luận án, bởi luận án đềcập đến việc hoàn thiện pháp luật đối với DCTT
Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào củacác tác giả trong nước phân tích một cách toàn diện, chuyên sâu các vấn đềpháp lý và thực tiễn về DCTT ở Việt Nam từ góc độ chuyên ngành Lý luận vàlịch sử nhà nước và pháp luật (các công trình nghiên cứu hiện có chủ yếu mới
Trang 35chỉ đề cập đến DCTT từ góc độ chính trị học và khoa học luật hiến pháp, luậthành chính) Thêm vào đó, nhiều nghiên cứu hiện có chưa đề cập đến nhữngyêu cầu về hoàn thiện pháp luật DCTT xuất phát từ định hướng xây dựng nhànước pháp quyền XHCN, hội nhập quốc tế và những quy định mới được thểhiện trong Hiến pháp năm 2013 Nói tóm lại, hiện vẫn còn nhiều vấn đề lýluận pháp lý và vấn đề thực tiễn cần được tiếp tục làm rõ để hoàn thiện phápluật về DCTT ở nước ta.
Thứ hai, về những công trình nghiên cứu ở ngoài nước
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về dân chủ nói chung vàDCTT nói riêng rất phong phú, tuy nhiên chủ yếu tiếp cận từ góc độ chính trịhọc và xã hội học, có rất ít nghiên cứu từ góc độ luật học Thêm vào đó, hiệnchưa có nghiên cứu nào ở nước ngoài tập trung phân tích lý luận và pháp luật
về DCTT ở Việt Nam
Dù vậy, những công trình của các tác giả nước ngoài về DCTT vẫn làtài liệu tham khảo hữu ích cho đề tài luận án Nhiều trong số công trình nàycung cấp cho tác giả luận án những kiến thức chuyên sâu, cách tiếp cận mới
về DCTT, cũng như kinh nghiệm thực tiễn quý báu ở một số quốc gia mà cóthể tham khảo áp dụng vào thực tiễn Việt Nam Các công trình nghiên cứu củacác tác giả nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trực tiếp hỗ trợ tác giả luận ántrong quá trình khảo cứu các vấn đề lý luận về dân chủ nói chung, DCTT nóiriêng
Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về DCTT,trong đó tiếp cận ở nhiều góc độ và nhiều ngành, chuyên ngành khoa học xã hội,trong đó có luật học Các công trình nghiên cứu đó đã cung cấp một lượng kiếnthức, thông tin lớn về DCTT và pháp luật về DCTT mà tác giả có thể kế thừa,phát triển trong luận án này, cụ thể là về những vấn đề sau đây:
Một là, về khái niệm DCTT Các công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước đã đề xuất nhiều định nghĩa về DCTT từ nhiều góc độ khác nhau Qua đó,
Trang 36nội hàm của khái niệm DCTT đã được xác định khá rõ, đặc biệt là đã phânbiệt được hai khái niệm DCTT và DCĐD (dân chủ gián tiếp).
Hai là, về vai trò của DCTT Các công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước đã chứng minh một cách thuyết phục sự cần thiết, ý nghĩa của DCTT đốivới các xã hội, đặc biệt trong một số lĩnh vực cụ thể như việc nâng cao hiệuquả quản lý nhà nước, đảm bảo nền dân chủ và xây dựng nhà nước phápquyền ở nước ta hiện nay
Ba là, về pháp luật về DCTT Các công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước đã bước đầu phân tích, đánh giá khung pháp luật hiện hành của ViệtNam DCTT, trên cơ sở đó đã nêu ra một số hạn chế và phân tích các nguyênnhân, đồng thời đề xuất một số giải pháp khắc phục những hạn chế đó Ngoài
ra, một số công trình nghiên cứu cũng đã sơ bộ phân tích các quy định phápluật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia về DCTT, từ đó nêu ra một sốbài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo áp dụng trong việc hoànthiện pháp luật về vấn đề này
1.3.2 Những vấn đề luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu
Từ việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài,tác giả nhận thấy những vấn đề sau đây của đề tài cần được tiếp tục nghiêncứu để bổ sung hoặc để củng cố, phát triển, bao gồm:
- Về phương diện lý luận, luận án cần tiếp tục:
+ Tổng hợp, phân tích, đánh giá sâu hơn các lý thuyết, quan điểm khoahọc về DCTT, pháp luật về DCTT để củng cố cơ sở lý luận về pháp luật vàhoàn thiện pháp luật về DCTT ở Việt Nam, trong đó đặc biệt là luận giải, làmsâu sắc thêm những vấn đề như: tính chất, đặc điểm, các phương thức thựchiện DCTT, đồng thời phân tích làm rõ hơn những nội dung, yếu tố tác động,điều kiện bảo đảm và những yêu cầu đặc thù của việc hoàn thiện pháp luật vềDCTT ở Việt Nam Đây là những vấn đề thuộc về khung phân tích của chuyênngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật mà chưa
Trang 37được đào sâu nghiên cứu, đánh giá trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về DCTT.
+ Khảo cứu, tìm hiểu các mô hình pháp luật và kinh nghiệm tốt về xâydựng, thực hiện pháp luật về DCTT ở một số quốc gia khác, đặc biệt là nhữngcách tiếp cận mới trong lĩnh vực này, và rút ra những giá trị tham khảo choviệc hoàn thiện pháp luật về DCTT ở Việt Nam
- Về phương diện thực tiễn, luận án cần tiếp tục:
+ Khảo sát thực trạng pháp luật và đánh giá việc thực hiện pháp luật vềcác hình thức DCTT chủ yếu ở Việt Nam từ trước đến nay, trong đó đặc biệt
là từ khi Hiến pháp năm 2013 ra đời và có hiệu lực; phân tích, so sánh, đánhgiá sự phát triển của pháp luật và thực tiễn về dân chủ trực tiếp ở nước ta quacác thời kỳ, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thànhtựu, hạn chế trong hoạt động này ở nước ta
+ Xác định và phân tích những vấn đề cấp thiết đang được đặt ra vớiviệc hoàn thiện pháp luật về DCTT ở nước ta hiện nay xuất phát từ yêu cầuthực thi những quy định mới về DCTT trong Hiến pháp năm 2013 cũng như
từ việc xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế
+ Xác định các quan điểm, giải pháp có tính toàn diện và có tầm chiếnlược để hoàn thiện pháp luật về DCTT ở nước ta trong thời gian tới, đồng thờiluận giải về tính khoa học và khả thi của các quan điểm, giải pháp đó
1.4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊNH
HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1.4.1 Giả thuyết khoa học
Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài, tác giả xác định giả thuyết khoa học của luận án là:
Pháp luật về DCTT đã được xây dựng ở Việt Nam từ lâu, song mới được chú trọng phát triển từ Hiến pháp 2013, vì vậy hiện vẫn còn nhiều hạn chế và việc thực hiện trên thực tế còn mang tính hình thức Nguyên nhân chủ
Trang 38yếu là do nhiều vấn đề lý luận còn chưa được làm rõ và ý nghĩa, tầm quan trọng của pháp luật về DCTT trong tình hình mới chưa được nhận thức đầy
đủ Việc hoàn thiện pháp luật về DCTT là một trong những yêu cầu cấp thiết
ở nước ta hiện nay để đáp ứng các yêu cầu của quá trình toàn cầu hoá và xây dựng nhà nước pháp quyền Điều này đòi hỏi những sửa đổi, bổ sung một cách thực chất các quy định pháp luật hiện hành, trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm tốt của các nước khác, đảm bảo sự phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.
1.4.2 Câu hỏi nghiên cứu
Cũng từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến
đề tài và giả thuyết khoa học, tác giả xác định một câu hỏi nghiên cứu lớn, cótính bao trùm của luận án và ba câu hỏi nghiên cứu cụ thể cần giải đáp, tươngứng với ba phần chính của luận án
Câu hỏi nghiên cứu xuyên suốt cho toàn bộ luận án là: Vì sao và cần phải làm gì để hoàn thiện pháp luật về dân chủ trực tiếp ở nước ta hiện nay?
Ba câu hỏi nghiên cứu cụ thể cần giải đáp đó là:
(1) Cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện pháp luật về DCTT là gì?
(2) Thực trạng pháp luật về DCTT ở Việt Nam hiện nay đang đặt ranhững yêu cầu gì với việc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan?
(3) Quan điểm, giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật về DCTT ở nước
ta hiện nay?
1.4.3 Định hướng nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở giả thuyết khoa học và các câu hỏi nghiên cứu đã được xácđịnh, đồng thời kế thừa kết quả những nghiên cứu trong và ngoài nước liênquan đến đề tài, luận án được triển khai theo định hướng như sau:
Đầu tiên là xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật
về DCTT ở Việt Nam Vấn đề này được thực hiện bằng cách phân tích các lýthuyết, cách tiếp cận, các quy định pháp luật quốc tế và kinh nghiệm của một
Trang 39số quốc gia trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật về DCTT, từ đó rút ranhững giá trị mà Việt Nam cần và có thể tham khảo, áp dụng Hoạt động nàyđược thực hiện ở Chương 2 của luận án, gắn với việc giải quyết câu hỏinghiên cứu cụ thể (1) đã nêu ở trên.
Tiếp theo là đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam về DCTTnhằm xác định những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu,hạn chế đó Việc đánh giá dựa trên việc phân tích đối chiếu với cơ sở lý luậnkhoa học đã được xác định, kết hợp với việc phân tích những dữ liệu, số liệu chothấy mức độ hiệu quả trong thực tế của các quy định pháp luật hiện hành vềDCTT ở Việt Nam Hoạt động này được thực hiện ở Chương 3 của luận án, gắnvới việc giải quyết câu hỏi nghiên cứu cụ thể (2) đã nêu ở trên
Cuối cùng là xác định, đề xuất cách tiếp cận và những giải pháp lậppháp, đặc biệt là những giải pháp mang tính chiến lược, để hoàn thiện phápluật về DCTT ở Việt Nam Việc này được thực hiện trên cơ sở vận dụngnhững lý luận khoa học đã được xác định để giải quyết những bất cập, hạnchế trong các quy định pháp luật hiện hành về DCTT ở Việt Nam Hoạt độngnày được thực hiện ở chương cuối cùng (Chương 4) của luận án, gắn với việcgiải quyết câu hỏi nghiên cứu cụ thể (3) đã nêu ở trên
Trang 40luận khoa học hoàn chỉnh để từ đó xác định các phương hướng và giải pháphoàn thiện pháp luật về DCTT ở nước ta.
2 Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước tuy phong phú nhưng cũng
chủ yếu đề cập đến DCTT dưới góc độ chính trị học, có rất ít nghiên cứuchuyên sâu về pháp luật về DCTT Thêm vào đó, còn thiếu những nghiên cứu
về DCTT phù hợp với điều kiện đặc thù ở các nước đang phát triển Đặc biệt,chưa có công trình nghiên cứu ở nước ngoài nào đề cập đến pháp luật vềDCTT ở Việt Nam
3 Luận án có thể kế thừa những kết quả nghiên cứu liên quan đến đề
tài đã được các tác giả khác công bố, cụ thể như khái niệm, nội dung củaDCTT, các tiêu chuẩn quốc tế và pháp luật của một số quốc gia về DCTT, một
số quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về DCTT ở Việt Nam;song sẽ tiếp tục phân tích làm rõ hơn những vấn đề liên quan đến đề tài đãđược các nghiên cứu khác đề cập nhưng chưa được giải quyết thấu đáo, trong
đó bao gồm: Cơ sở lý luận khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về DCTT;
so sánh, đánh giá quá trình hoàn thiện và thực trạng pháp luật về DCTT ở ViệtNam; cách tiếp cận và những giải pháp lập pháp hoàn thiện pháp luật vềDCTT ở Việt Nam