Cơ cấu số lượng mặt hàng các nhóm điều trị trong danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện quân y 7C kết hợp xuất xứ .... Cơ cấu giá trị tiêu thụ các nhóm điều trị trong danh mục thuốc sử dụn
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Trang 2LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
Người hướng dẫn khoa học : TS Lã Thị Quỳnh Liên
Thời gian thực hiện : 5/2017 - 05/2018
HÀ NỘI – 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, Tôi xin chân thành cảm ơn:
TS Lã Thị Quỳnh Liên - Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược
Cô là người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tinh thần tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Dược Hà Nội, các thầy, cô giáo Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, Phòng sau đại học cùng toàn thể các thầy cô trong trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ, dìu dắt tôi trong thời gian học tập, làm luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới Ban Chỉ huy Phòng Quân y, Ban Giám đốc Bệnh viện Quân Y 7C đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt khóa học tập nâng cao trình độ chuyên môn
Cuối cùng tôi cảm ơn tới tất cả bạn bè, đồng nghiệp và bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đến gia đình và những người thân yêu của tôi, những người đã chăm sóc, chia sẻ, động viên giúp đỡ tôi trực tiếp trong thời gian vừa qua cũng như giúp tôi trưởng thành hơn và vươn lên trong cuộc sống
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
HỌC VIÊN
Nguyễn Đức Chung
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1 CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN 3 1.1 Khái niệm danh mục thuốc và các bước xây dựng danh mục thuốc bệnh viện 3 1.1.1 Khái niệm 3 1.1.2 Xây dựng danh mục thuốc bệnh viện 3 1.2 Các phương pháp phân tích danh mục thuốc để đánh giá tình hình sử dụng tại bệnh viện 5 1.2.1 Phân tích ABC 5 1.2.2 Phân tích các loại thuốc sống còn, thiết yếu và không thiết yếu
(VEN) đối với danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện 6 1.2.3 Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện theo tiêu chí
nhóm điều trị của thuốc 8 1.3 Thực trạng tiêu thụ thuốc qua các nghiên cứu phân tích danh mục thuốc
sử dụng tại một số bệnh viện ở Việt Nam 9 1.3.1 Nghiên cứu phân tích ABC danh mục thuốc sử dụng tại một số
bệnh viện 9 1.3.2 Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo cơ cấu nhóm điều trị của
thuốc 10 1.3.3 Phân tích cơ cấu về nguồn gốc xuất xứ 13 1.3.4 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân loại thuốc
biệt dược- thuốc generic 15 1.3.5 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân loại thuốc
đơn thành phần - thuốc phối hợp 16 1.4 Vài nét về Bệnh viện quân y 7C 17
Trang 51.4.1 Giới thiệu về bệnh viện 17
1.4.2.Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức và khái quát hoạt động của khoa dược 17
1.4.3 Vài nét về Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện 19
1.4.4 Tính thiết yếu của đề tài 20
CHƯƠNG 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 22
2.2.2 Biến số nghiên cứu 22
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.2.4 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu 24
CHƯƠNG 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 Mô tả về cơ cấu của danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện quân y 7C theo một số chỉ tiêu 26
3.1.1 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo nguồn gốc, xuất xứ 26
3.1.2 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo thuốc generic - thuốc biệt dược 27
3.1.3 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo thành phần đơn chất- phối hợp chất kết hợp xuất xứ sản phẩm 29
3.1.4 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo đường dùng kết hợp xuất xứ sản phẩm 31
3.1.5 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm điều trị kết hợp xuất xứ sản phẩm 33
3.2 Phân tích cơ cấu thuốc tiêu thụ theo phương pháp ABC/VEN 37
3.2.1 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc theo phương pháp ABC 37
3.2.2 Cơ cấu tiêu thụ các thuốc theo phương pháp phân loại VEN 38
3.2.3 Cơ cấu tiêu thụ các thuốc theo phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN 39
Trang 63.2.4 Phân tích cơ cấu các thuốc hạng A theo một số tiêu chí 41
Chương 4:BÀN LUẬN 52
4.1 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo một số chỉ tiêu 52
4.1.1 Về nguồn gốc xuất xứ 52
4.1.2 Về thuốc đơn thành phần và đa thành phần 54
4.1.3 Thuốc biệt dược- thuốc generic 55
4.1.4 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo đường dùng 57
4.1.5 Nhóm điều trị kết hợp xuất xứ sản phẩm 58
4.2 Cơ cấu tiêu thụ theo phương pháp phân tích ABC/VEN 59
KẾT LUẬN 63
KIẾN NGHỊ 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Biến số nghiên cứu 23 Bảng 3.2 Cơ cấu tiêu thụ thuốc tại Bệnh viện quân y 7C theo nguồn gốc,
xuất xứ 26 Bảng 3.3 Cơ cấu thuốc tiêu thụ Bệnh viện quân y 7C theo tên gốc- thuốc
biệt dược 27 Bảng 3.4 Một số thuốc có cùng hoạt chất Paracetamol (acetaminophen)
được tiêu thụ tại Bệnh viện quân y 7C 29 Bảng 3.5 Cơ cấu thuốc tiêu thụ Bệnh viện quân y 7C theo đơn chất- thuốc
phối hợp 30 Bảng 3.6 Cơ cấu thuốc tiêu thụ tại Bệnh viện quân y 7C theo đường dùng
của thuốc 31 Bảng 3.7 Cơ cấu thuốc tiêu thụ Bệnh viện quân y 7C dùng đường uống
theo tiêu chí tổng số lượng tiêu thụ của từng mặt hàng 33 Bảng 3.8 Cơ cấu số lượng mặt hàng các nhóm điều trị trong danh mục
thuốc sử dụng tại Bệnh viện quân y 7C kết hợp xuất xứ 34 Bảng 3.9 Cơ cấu giá trị tiêu thụ các nhóm điều trị trong danh mục thuốc sử
dụng tại Bệnh viện quân y 7C kết hợp xuất xứ 35 Bảng 3.10 Cơ cấu các nhóm thuốc tại Bệnh viện quân y 7C theo phân loại
ABC/VEN 39 Bảng 3.11 Cơ cấu thuốc hạng A theo nguồn gốc, xuất xứ 41 Bảng 3.12 Cơ cấu tiêu thụ các thuốc hạng A theo đơn, đa thành phần 42 Bảng 3.13 Cơ cấu tiêu thụ các thuốc hạng A theo thuốc generic – thuốc
biệt dược 43 Bảng 3.14 Cơ cấu tiêu thụ các thuốc hạng A theo nhóm tác dụng dược lý 44 Bảng 3.15 Cơ cấu 10 thuốc nhóm điều trị ký sinh trùng và Chống nhiễm
khuẩn hạng A có giá trị tiêu thụ cao nhất 48 Bảng 3.16 Cơ cấu tiêu thụ các khoáng chất và vitamin hạng A 50
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức hoạt động của khoa dược 19 Hình 3.1 Cơ cấu các nhóm thuốc tại Bệnh viện quân y 7C theo phương
pháp ABC 37 Hình 3.2 Cơ cấu các nhóm thuốc tại Bệnh viện quân y 7C theo phương
pháp phân loại VEN 38
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Tài chính (FMM) APEC 2017, Việt Nam nỗ lực vươn lên và từ năm 2010, theo Ngân hàng thế giới, Việt Nam đã thuộc nhóm nền kinh tế đang phát triển có thu nhập trung bình Năm 2017, GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng 170 USD so với năm 2016 [20] Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh cùng với Hà Nội là 02 trung tâm phát triển kinh tế- xã hội lớn nhất Việt Nam, đóng góp hơn 1/3 GDP của cả nước, mức tăng trưởng ổn định và luôn là Thành phố dẫn đầu Còn về phần dân số, Việt Nam có gần 95 triệu người (tính đến đầu năm 2017) là nước đứng thứ 14 trong số các quốc gia đông dân nhất thế giới [20] Do đó, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, nhu cầu sử dụng thuốc và chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng nâng cao Theo Tổng cục Hải quan, trong năm 2015, nhập khẩu dược phẩm của cả nước lên tới 2,3 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2014 Mới nhất, 6 tháng đầu năm 2016, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng dược phẩm
là 1,2 tỷ USD, tăng 24,72% so với cùng kỳ 2015 [6] Nhu cầu sản phẩm về dược của người dân Việt Nam rất lớn, mức chi tiêu thuốc bình quân của người dân tăng từ 9,85 USD/người vào năm 2005 đến 37,97 USD/người vào năm 2015 (gấp khoảng 3,8 lần) [6]
Để phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao, đặc biệt nhu cầu dược phẩm về số lượng lẫn chất lượng, cả hệ thống Bệnh Viện và hệ thống các công ty cung cấp, kinh doanh dược cần cải thiện đáng kể về số lượng và
sự phối hợp nhịp nhàng trong quá trình thực hiện Tuy nhiên hệ thống y tế chưa đủ mạnh, nên việc sử dụng thuốc trong chăm sóc sức khỏe nhân dân còn nhiều bất cập Các Bệnh Viện còn loay hoay nhiều trong việc xây dựng danh mục thuốc phục vụ từ công tác đấu thầu đến sử dụng cho quá trình điều trị
Trang 10Thực tế thì việc quản lý, sử dụng thuốc trong Bệnh Viện gặp rất nhiều khó khăn, nhiều Bệnh Viện chưa đảm bảo cung ứng đủ thuốc chủ yếu, người bệnh nội trú phải tự mua thuốc; nhà thuốc Bệnh Viện chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ Y tế; chưa thực hiện nghiêm túc quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn [4] Năm 2017, Nghị định 54/2017/NĐ-CP ngày 08/5/2017 của Chính phủ ban hành quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật dược bắt đầu có hiệu lực nên càng cần thiết tháo gỡ những vướng mắc trước
đó để thực hiện đúng quy định
Bệnh Viện quân y 7C là một Bệnh Viện hạng II, với 300 giường bệnh,
04 ban chức năng và đơn vị hậu cần , 10 khoa lâm sàng và 03 khoa cận lâm sàng, 06 phòng phẫu thuật và 03 xe cấp cứu chuyên dùng Trong năm 2017, Bệnh Viện đã tiếp nhận 334.168 lượt Bệnh nhân, nâng công suất sử dụng giường bệnh lên 108% - tăng 18% so với kế hoạch đặt ra, trong đó khoa có công suất sử dụng cao nhất lên đến 166%; Tổng giá trị tiền thuốc tiêu thụ của Bệnh Viện hơn 100 tỉ đồng Điều đó cho thấy số lượng thuốc tiêu thụ hàng năm tại Bệnh viện quân y 7C là rất lớn, tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu khoa học nào về việc tiêu thụ thuốc tại Bệnh Viện Vì vậy, tôi
thực hiện đề tài “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện quân y 7C năm 2017” với 02 mục tiêu sau:
- Mô tả về cơ cấu của danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện quân y 7C theo một số chỉ tiêu
- Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp phân tích ABC/VEN
Từ các kết quả phân tích đưa ra các nhận xét và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trong việc sử dụng thuốc, đáp ứng tốt và có hiệu quả nhu cầu đều trị tại Bệnh viện quân y 7C
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Khái niệm danh mục thuốc và các bước xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
1.1.2 Xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
Việc xây dựng danh mục thuốc trong bệnh viện phải đảm bảo nguyên tắc sau:
- Đảm bảo phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí thuốc dùng trong bệnh viện; phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật;
- Căn cứ vào hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đáp ứng được với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị;
- Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện;
- Thống nhất với Danh mục thuốc thiết yếu, Danh mục thuốc chủ yếu
do Bộ Y Tế ban hành;
- Trong trường hợp thuốc trong nước đáp ứng yêu cầu về Điều trị, giá thuốc
và khả năng cung cấp do Bộ Y tế công bố thì phải được ưu tiên tuyệt đối
Đồng thời đáp ứng được các tiêu chí:
- Phù hợp mô hình bệnh tật của bệnh viện;
Trang 12- Luôn đề cao chất lượng, hiệu quả và an toàn trong điều trị của thuốc;
- Ưu tiên lựa chọn thuốc Generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế thuốc biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể;
- Căn cứ vào chi phí và chi phí – hiệu quả của thuốc;
- Thuốc phải phù hợp với điều kiện, trang thiết bị chuyên môn, trình độ chuyên môn của người thực hiện
Bộ Y Tế đã có hướng dẫn quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện, hướng dẫn: Khoa Dược sẽ tổng hợp Danh mục thuốc bệnh viện và thông qua Hội đồng thuốc và điều trị góp ý chỉnh sửa, sau khi Hội đồng thuốc và điều trị họp thống nhất, khoa Dược tổng hợp thành danh mục dự thảo và trình lên Giám đốc bệnh viện xem và ký duyệt ban hành danh mục chính thức Việc lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc là 1 nhiệm vụ của Hội đồng thuốc và điều trị và phải căn cứ vào các yếu
Trang 131.2 Các phương pháp phân tích danh mục thuốc để đánh giá tình hình
sử dụng tại bệnh viện
Có rất nhiều phương pháp có thể sử dụng để phân tích tình hình tiêu thụ thuốc tại các bệnh viện, trong đó có một số phương pháp chính thường hay được sử dụng Trong phạm vi đề tài, tôi chỉ đề cập tới 03 phương pháp: phân tích giá trị ABC, phân tích theo nhóm tác dụng dược lý, phân tích thuốc sống còn, thiết yếu và không thiết yếu (VEN)
- Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn
- Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế
- Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn
- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng và từ đó phát hiện ra những chưa hợp lí trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật
- Xác định phương thức mua các thuốc không có trong Danh mục thuốc thiết yếu của Bệnh Viện
1.2.1.3 Các bước thực hiện
Bộ Y tế hướng dẫn hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện, trong đó việc thự hiện phương pháp phân tích ABC được tiến hành theo các bước sau [1]:
Trang 14Bước 1 Liệt kê các sản phẩm thuốc
Bước 2 Điền các thông tin sau mỗi sản phẩm thuốc:
- Đơn giá của sản phẩm (sử dụng giá cho các thời điểm nhất định nếu sản phẩm có giá thay đổi theo thời gian);
- Số lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc tại bệnh viện
Bước 3 Tính tổng tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với
số lượng sản phẩm Tổng số tiền sẽ bằng tổng tiền của mỗi sản phẩm
Bước 4 Tính % giá trị của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền
Bước 5 Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự có giá trị phần trăm giảm dần Bước 6 Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm bắt đầu với sản phẩm thứ nhất, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách
Bước 7 Phân nhóm như sau:
- Nhóm A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 - 80 % tổng giá trị tiền;
- Nhóm B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 - 20 % tổng giá trị tiền;
- Nhóm C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 - 10 % tổng giá trị tiền
Về số lượng, nhóm A chiếm 10 – 20% tổng số sản phẩm, nhóm B chiếm 10 – 20% và còn lại là nhóm C chiếm 60 -80% [1],
1.2.2 Phân tích các loại thuốc sống còn, thiết yếu và không thiết yếu (VEN) đối với danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện [1]
1.2.2.1 Khái niệm
Hệ thống VEN xác định những ưu thế trong việc lựa chọn mua và sử dụng theo tình hình sức khỏe, chịu ảnh hưởng bởi mỗi thuốc riêng lẻ, mô hình VEN phân chia mỗi thuốc dựa trên công thức hoặc Danh mục thuốc thiết yếu
để chia làm ba loại:
Trang 15- V (các thuốc sống còn): thuốc tối cần thiết có khả năng cứu sống con người có tác dụng phụ quan trọng hoặc được quyết định để phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe cơ bản
- E (các thuốc thiết yếu): thuốc thiết yếu là một dạng thuốc có hiệu quả chống lại bệnh tật nhưng hoàn toàn không tối cần thiết trong việc chăm sóc sức khỏe cơ bản
- N (các thuốc không thiết yếu): gồm các thuốc dùng để điều trị các bệnh nhẹ, có thể có hoặc không có trong Danh mục thuốc thiết yếu và không cần thiết phải lưu trữ trong kho
1.2.2.2 Ý nghĩa
Sử dụng mô hình VEN có ý nghĩa trong:
- Chọn lựa thuốc: thuốc tối cần thiết và thuốc thiết yếu sẽ được ưu tiên lựa chọn
- Mua thuốc
- Kiểm tra: thuốc tối cần và thuốc thiết yếu nên được kiểm tra chặt chẽ
- Bảo quản an toàn: việc bảo quản an toàn nên cao hơn đối với thuốc tối cần và thuốc thiết yếu
- Yêu cầu số lượng: mô hình VEN nên được sử dụng đảm bảo đủ thuốc tối cần và thuốc thiết yếu để tránh hết thuốc, thủ kho nên theo dõi chặt chẽ thuốc tối cần và thuốc thiết yếu
1.2.2.3 Các bước tiến hành
- Các thành viên của Hội đồng thuốc và điều trị sắp xếp các thuốc theo
3 loại V, E hoặc N
- Kết quả phân loại của các thành viên được tập hợp và thống nhất
- Hội đồng thuốc và điều trị lựa chọn và loại bỏ những phương án điều trị trùng lặp
- Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc này khỏi danh mục nếu có thể Xem xét lại số lượng mua dự
Trang 16kiến, mua các thuốc nhóm V và E trước nhóm N và đảm bảo thuốc nhóm V
và E có 1 lượng dự trữ an toàn; Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V và E chặt chẽ hơn nhóm N
1.2.3 Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện theo tiêu chí nhóm điều trị của thuốc [7]
Dựa trên phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị giúp:
- Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất
- Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý
- Xác định những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể ví dụ sốt rét và sốt xuất huyết
- Hội đồng thuốc và điều trị lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế
1.2.3.3 Các bước tiến hành
- Sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, % chi phí của từng thuốc
sử dụng trên tổng chi phí sử dụng thuốc toàn viện
- Phân loại nhóm điều trị cho từng thuốc: phân loại này có thể dựa vào phân loại trong Danh mục thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế thế giới hoặc theo các tài liệu tham khảo khác như hệ thống phân loại Dược lý - Điều trị của hiệp hội Dược thư bệnh viện của Mỹ (AHFS) hoặc hệ thống phân loại Giải phẫu - Điều trị - Hóa học (ATC) của Tổ chức Y tế thế giới… Trong đề tài này tôi
Trang 17phân tích nhóm điều trị trên cơ sở phân nhóm của Thông tư số BYT ngày 17/11/2014 của Bộ Y tế ban hành và hướng dẫn về thực hiện danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán qũy bảo hiểm y tế
40/2014/TT Tổng hợp chi phí, phần trăm chi phí các thuốc trong mỗi nhóm thuốc,
từ đó xác định tình hình kê đơn thuốc thực tế đang tập trung vào những nhóm thuốc nào thông qua việc xác định nhóm điều trị nào chiếm chi phí lớn nhất
- Đối chiếu với mô hình bệnh tật, từ đó phân tích đánh giá tính hợp lý của mối tương quan giữa các nhóm thuốc sử dụng trong điều trị và mô hình bệnh tật thực tế tại bệnh viện
1.3 Thực trạng tiêu thụ thuốc qua các nghiên cứu phân tích danh mục thuốc sử dụng tại một số bệnh viện ở Việt Nam
Tại Việt Nam, Bộ Y tế ban hành Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 8 tháng 8 năm 2013 đưa vào phương pháp phân tích danh mục thuốc bằng phương pháp ABC/VEN nhằm phát hiện những vấn đề bất cập về sử dụng thuốc Đây chính là bước đầu trong quy trình xây dựng danh mục thuốc của bệnh viện
1.3.1 Nghiên cứu phân tích ABC danh mục thuốc sử dụng tại một số bệnh viện
Năm 2008, Nguyễn Hằng Nga đã thực hiện nghiên cứu phân tích ABC
ở 3 bệnh viện: BV Nhi Trung Ương; BV Hữu Nghị; BV Lao phổi Trung Ương Kết quả: tỷ lệ theo chủng loại nhóm A ở Bệnh viện Hữu Nghị cao nhất
là 15,7%; tiếp theo Lao phổi Trung Ương (9,9%) và Bệnh viện Nhi Trung Ương (9,6%) [28]
Năm 2009, Hà Đăng Quang sử dụng phương pháp phân tích ABC đối với danh mục thuốc tại bệnh viện 87 Tổng cục Hậu cần trong 3 năm liên tiếp cho thấy tỷ lệ giá trị tiêu thụ của từng thuốc trong nhóm A, B, C là tương đương nhau, nhưng số lượng và giá trị tiêu thụ thực tế tăng rất nhiều qua từng
Trang 18năm Hơn nữa, tỷ lệ mặt hàng trong các nhóm có thay đổi rõ ràng: các thuốc nhóm A và B có tỷ lệ giảm qua các năm [30]
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Trung Hà (2013), tại Bệnh viện quân
y 108 năm 2013: 4 nhóm sử dụng kinh phí lớn nhất lần lượt là thuốc điều trị ung thư chiếm 21,7%, thuốc kháng sinh (20,3% kinh phí), thuốc tim mạch chiếm 15%, thuốc đường tiêu hóa chiếm 10,5% Thuốc nhóm A chiếm 18,5%
số khoản mục nhưng tương đương giá trị sử dụng 73,8% Thuốc nhóm B chiếm 71,8% số khoản mục nhưng chỉ tương đương giá trị sử dụng 24,7% Thuốc nhóm C chiếm 9,7% số khoản mục và tương đương giá trị sử dụng 1,5% Trong thực hiện quy chế chuyên môn: 100% ghi đầy đủ thông tin bệnh nhân; 100% bệnh án đánh số thứ tự ngày dùng thuốc với thuốc có quy đinh đánh số thứ tự ngày dùng thuốc; trên 90% bệnh án ghi đủ tên thuốc, nồng độ Nêu ra được một số nghiên cứu đã đề xuất giải pháp sử dụng phân tích ABC
để kịp thời phát hiện và can thiệp những tồn tại và bất hợp lý trong sử dụng thuốc, tăng cường quản lý sử dụng kháng sinh dự phòng cho phẫu thuật, giảm
số lượng thuốc trung bình trong một đơn [22]
1.3.2 Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo cơ cấu nhóm điều trị của thuốc
Để đánh giá vai trò của thuốc trong điều trị tại các bệnh viện, trong một nghiên cứu của Cục Quản lý Khám chữa bệnh năm 2009, 2010 về tình hình
sử dụng thuốc tại 1018 bệnh viện, kết quả cho thấy thuốc sử dụng trong bệnh viện chiếm tỷ trọng 47,9% trong tổng giá trị tiền viện phí hàng năm, trong đó thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu thuốc tiêu thụ tại các bệnh viện[27] Tiếp đến là các nhóm giảm đau, chống viêm, thuốc điều trị các bệnh gout và xương khớp, nhóm vitamin và khoáng chất, nhóm tim mạch Tình trạng lạm dụng kháng sinh, vitamin vẫn rất phổ biến, kháng sinh nhập khẩu chiếm tỷ lệ 30%-40% tổng giá trị nhập khẩu thuốc hàng năm của cả nước[26] Năm 2013, nghiên cứu tại bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên nhóm
Trang 19thuốc ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm 39,5% tổng kinh phí sử dụng thuốc[25] Năm 2014, nhóm ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện
đa khoa huyện Nga Sơn chiếm tỷ lệ 11,62%[34], bệnh viện quận 5 Thành Phố
Hồ Chí Minh chiếm 15,73%[19], bệnh viện đa khoa Bà Rịa - Vũng Tàu chiếm 22,07%[24] tổng kinh phí sử dụng thuốc Cũng trong năm 2014, một nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn chỉ ra nhóm thuốc vitamin và khoáng chất chiếm tỷ lệ cao về số lượt bệnh nhân được chỉ định sử dụng chiếm tỷ lệ 4,59% [34], còn ở bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn chiếm tỷ lệ 4,01%[23]
Đối với đơn vị tiêu thụ (bệnh viện và các cơ sở y tế), Cục quản lý Dược báo cáo tổng kết công tác Dược hàng năm, hầu hết các bệnh viện đã xây dựng Danh mục thuốc, căn cứ theo Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh hiện hành Năm 2014, tổng giá trị mua thuốc tại các bệnh viện trên toàn quốc là 3.120 triệu USD chiếm khoảng 50% tổng giá trị tiền thuốc sử dụng [9] Tuy nhiên, từ kết quả phân tích đánh giá về cơ cấu trong Danh mục thuốc của một số bệnh viện cho thấy, hiện nay, việc xây dựng Danh mục thuốc của các bệnh viện còn nhiều vấn đề bất cập Thuốc đắt tiền, thuốc ngoại nhập, thuốc biệt dược, thuốc không phải là thuốc thiết yếu thường chiếm tỉ lệ cao trong Danh mục thuốc các bệnh viện nhất là các bệnh viện lớn Đặc biệt các thuốc kháng sinh luôn chiếm tỉ lệ cao trong các Danh mục thuốc bệnh viện (khoảng 56 - 58%) Nguyên nhân là do việc sử dụng tràn lan, lạm dụng kháng sinh phổ rộng, điều trị bao vây dẫn đến gia tăng các tác dụng không mong muốn và tình trạng kháng kháng sinh Hiện nay, thuốc kháng sinh đang được lựa chọn như một giải pháp phổ biến WHO vẫn khuyến cáo thực trạng kê đơn kháng sinh đáng lo ngại trên toàn cầu, tới mức trung bình 30-60% bệnh nhân được kê thuốc kháng sinh và tỉ lệ này cao gấp đôi so với nhu cầu lâm sàng Tại Bệnh viện Bạch Mai, số thuốc kháng sinh chiếm tỉ lệ 46,25%, nghĩa là theo đánh giá chuẩn của WHO đã có đến 1/2 số thuốc kháng sinh sử dụng thừa Số thuốc được kê không cần thiết này làm
Trang 20tăng chi phí y tế, tăng khả năng xuất hiện tác dụng phụ của thuốc và tình trạng kháng kháng sinh Cũng ở Bệnh viện này, khoa tai mũi họng: 100%, răng hàm mặt: 94%, khoa ngoại: 94%, khoa sản: 89% Tình trạng kết hợp nhiều loại kháng sinh cũng ở mức rất phổ biến (41,91%) và đã xuất hiện những đơn thuốc kê kết hợp cùng lúc đến bốn loại kháng sinh Riêng chi phí dành cho kháng sinh đã lên mức gần 100 tỉ đồng, chiếm khoảng 1/3 ngân sách mua thuốc toàn viện [36] Thậm chí tại một số cơ sở y tế, mức độ sử dụng kháng sinh cho bệnh nhân thậm chí gần như 100%
Một nhóm thuốc khác cũng dễ bị lạm dụng là vitamin và thuốc bổ trợ Kết quả phân tích tại 38 bệnh viện trong cả nước năm 2009 cho thấy vitamin
là một trong 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất tại tất cả các tuyến bệnh viện Bên cạnh đó, nhóm thuốc này cũng được sử dụng nhiều tại Bệnh viện Hữu Nghị từ năm 2008-2010 Năm 2014, tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa giá trị sử dụng vitamin và khoáng chất là 2,7 tỷ chiếm 2,7% [35] Nhóm thuốc có tác dụng bổ trợ, hiệu quả điều trị chưa rõ ràng cũng đang được sử dụng phổ biến trong cả nước Kết quả khảo sát về thực trạng thanh toán thuốc Bảo hiểm Y tế trong cả nước năm 2010 cho thấy trong tổng số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán lớn nhất có cả thuốc bổ trợ là L-ornithin-L-aspartate, Glucosamine, Ginkgobiloba, Arginine, Glutathion Trong đó hoạt chất L-ornithin-L-aspartate nằm trong số 5 hoạt chất chiếm tỷ lệ lớn nhất về giá trị thanh toán [33] Một nghiên cứu năm 2009 chỉ ra rằng nhóm thuốc hỗ trợ tiêu hóa có giá trị sử dụng lớn tại tất cả các bệnh viện, đặc biệt là các thuốc hỗ trợ điều trị bệnh gan mật (như L-ornithin-L-aspartate, Arginine) Sản phầm chứa Lornithin-L-aspartate dạng tiêm tại một BV trung ương có giá trị
sử dụng là 21 tỷ, chiếm 25,3% nhóm thuốc tiêu hóa Tại các bệnh viện trung ương và tuyến tỉnh, nhóm thuốc giải độc và dùng trong trường hợp ngộ độc cũng chiếm tỷ lệ cao về giá trị và phần lớn giá trị của các nhóm này tập trung vào các thuốc có giá thành cao, hiệu quả không rõ ràng như Glutathion, Alfoscerat [22]
Trang 211.3.3 Phân tích cơ cấu về nguồn gốc xuất xứ
1.3.3.1 Sơ lược về thực trạng chung trong công tác cung ứng thuốc tại Việt Nam
Tại Việt Nam những năm qua, công tác dược nói chung đã có những bước phát triển rất cơ bản về tổ chức, quản lý, sản xuất và cung ứng thuốc Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Dược được rà soát, sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới để đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển, đặc biệt là Luật Dược số 105/2016/QH13 ngày 06/4/2016 đã được Quốc Hội thông qua và có hiệu lực
từ 01/01/2017 Tuy nhiên, công nghiệp dược Việt Nam vẫn phát triển ở mức trung bình - thấp, chưa sáng chế được thuốc mới và hiện chỉ có hơn 52% doanh nghiệp dược đủ tiêu chuẩn sản xuất thuốc Thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là generic, không có giá trị cao, mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu thụ thuốc nội địa mặc dù thị trường dược phẩm cũng rất phong phú
Song trên tất cả, Bộ Y tế đánh giá chung: “Ngành Dược đã có những thành tích nổi bật là đảm bảo nhu cầu về thuốc chữa bệnh cho nhân dân, khắc phục tình trạng thiếu thuốc trước đây” Năm 2013, tổng giá trị tiền thuốc sản xuất trong nước đạt 1.300.000 triệu USD, tăng 8,3% so với năm 2012, đáp ứng được nhu cầu sử dụng thuốc của người dân Tiền thuốc bình quân đầu người năm 2014 đạt 34,48 USD so với năm 2013 là 31,18 USD tăng 3,3USD Thời gian vừa qua, Việt Nam đã sản xuất được 234/314 hoạt chất trong danh mục TTY, đủ nhóm tác dụng dược lý theo phân loại của WHO Mặc dù vậy, nước ta vẫn phải nhập khẩu thuốc với tổng giá trị gần 2.170 triệu USD vào năm 2014, tăng 17,6% so với năm 2013 Trong đó nhập khẩu thuốc thành phẩm là 904,8 triệu USD, còn lại vaccine, sinh phẩm y tế là 59,6 triệu USD và nguyên liệu là 265,9 triệu USD [8]
Trang 221.3.3.2 Một số nghiên cứu phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nguồn gốc, xuất xứ
Về cơ cấu thuốc sản xuất trong nước so với thuốc ngoại nhập, năm
2010, Cục Quản lý Khám chữa bệnh- Bộ Y tế đã tiến hành khảo sát 900 bệnh viện trên cả nước và ở cả 3 tuyến cho thấy tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước tại tuyến trung ương chiếm tỷ lệ 11,9%, trong khi đó tỷ lệ này ở các bệnh viện tuyến tỉnh là 33,2%, tuyến huyện là 51,5% Chiều ngược lại, ở tuyến trung ương thuốc nhập khẩu chiếm tỷ lệ lên đến 88,1%, tuyến tỉnh chiếm 66,8%, tuyến huyện chiếm 48,5% Như vậy, có sự chênh lệch đáng kể về cơ cấu thuốc nội, ngoại giữa các tuyến trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện, thậm chí
có sự chênh lệch giữa các bệnh viện trong cùng tuyến [10]
Sự chênh lệch này xuất phát từ phân tuyến và nhu cầu điều trị mà nguyên nhân thuốc nhập khẩu được sử dụng nhiều tại bệnh viện tuyến trung ương do đáp ứng được nhu cầu thuốc điều trị các bệnh chuyên khoa sâu do nền công nghiệp sản xuất thuốc trong nước chưa đáp ứng kịp, đa phần là “sản xuất các thuốc thông thường, dạng bào chế đơn giản, chưa nhiều các thuốc dùng cho chuyên khoa sâu”[26] Một nguyên nhân khác, tâm lý bác sỹ còn chuộng sử dụng thuốc ngoại đắt tiền trong khi đó giá trị sinh học giữa thuốc nội và thuốc ngoại là tương đương nhau Theo thống kê của Bộ Y tế chỉ có khoảng 20- 30% thuốc nội được các bác sỹ Việt Nam kê trong đơn cho bệnh nhân [27] Điều này vô hình chung đã làm tăng chi phí trong điều trị, tạo rào cản lớn cho sự phát triển nền sản xuất thuốc trong nước
Tuy nhiên ở khía cạnh tích cực, năm 2013, theo kết quả đánh giá nhanh của Cục Quản lý Dược tại 7 Sở y tế và 8 bệnh viện có giường bệnh trực thuộc
Bộ Y tế cho thấy số lượng và giá trị sử dụng thuốc sản xuất trong nước tăng gấp 2 lần so với năm 2012 Tại các bệnh viện tuyến trung ương, số lượng sử dụng thuốc sản xuất trong nước cũng tăng đáng kể: năm 2012 số lượng sử dụng chỉ là 38 triệu đơn vị và giá trị sử dụng đạt 120 tỷ đồng thì năm 2013
Trang 23gấp hơn 2 lần là 73 triệu đơn vị và giá trị sử dụng là 256 tỷ đồng so với Trong khi đó, tại 7 Sở Y tế, số lượng thuốc sản xuất trong nước là 338 triệu đơn vị năm 2012 và năm 2013 tăng lên 700 triệu đơn vị, giá trị sản xuất thuốc năm 2013 là 768 tỷ đồng Năm 2014, tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước tăng lên 1,01% trong tổng giá trị tiền thuốc trúng thầu tại các bệnh viện tuyến trung ương và tại các bệnh viện tuyến huyện tăng lên 2,41% [11] Điều này phản ánh được mức độ phát triển của ngành Dược trong nước đang dần đáp ứng kịp nhu cầu bệnh tật, khẳng định được thương hiệu cũng như sự tin dùng của bác
sỹ, góp phần giảm chi phí trong điều trị cho bệnh nhân
1.3.4 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân loại thuốc biệt dược- thuốc generic
Việc lạm dụng thuốc biệt dược gốc các cơ sở y tế cũng là 1 vấn đề cần
có được biện pháp giả quyết, bởi nhóm này thường ở tình trạng bị lạm dụng dẫn đến chiếm tỷ lệ cao trong danh mục thuốc bệnh viện Năm 2012, Nghiên cứu tại các bệnh viện phụ sản Hà Nội số lượng thuốc thuốc biệt dược chiếm 83,03%; ở bệnh viện đa khoa Đông Anh nhóm này chiếm 54,21% trên tổng số thuốc sử dụng; còn năm 2014 bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa thuốc mang tên thương mại chiếm 11,13%; [29],[35],[37] Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2014 tỷ lệ thuốc mang thuốc biệt dược gốc chiếm 7,2% số lượng và 4,5% giá trị sử dụng [23], tại bệnh viện quân y 7B năm 2015 thuốc theo thuốc biệt dược chiếm 114 hoạt chất với tỷ lệ là 56,71%, 211 khoản mục chiếm tỷ lệ 59,77% và chiếm 76,44% tổng kinh phí sử dụng thuốc [26] Trong khi đó, sử dụng các thuốc mang thuốc generic (generic) được xem là một trong những cách làm giảm chi phí điều trị và đây cũng là một trong những tiêu chí Bộ Y
tế đưa ra trong việc lựa chọn thuốc sử dụng tại bệnh viện Một số nghiên cứu
đã cho thấy được việc sử dụng thuốc generic trong điều trị là khả thi Tại bệnh viện Phục hồi Chức năng Tây Ninh thuốc mang tên Generic chiếm số lượng chủ yếu trong DMT sử dụng (99,29%) đồng thời cũng chiếm giá trị sử
Trang 24dụng lớn nhất (93,68%) Bệnh viện chỉ sử dụng 01 thuốc mang thuốc biệt dược gốc đó là thuốc kháng sinh (Ciprobay chiếm 6,32% tổng giá trị sử dụng thuốc năm 2016) [16] Bệnh viện đa khoa huyện Quỳ Hợp, thuốc theo tên INN được sử dụng nhiều hơn thuốc biệt dược cụ thể thuốc theo tên INN chiếm 132 hoạt chất trên tổng số 137 hoạt chất sử dụng chiếm 96,4% và 203 khoản mục trên tổng số 209 chiếm 97,1% khoản mục thuốc sử dụng và kinh phí sử dụng thuốc chiếm 98% [36]
1.3.5 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân loại thuốc đơn thành phần - thuốc phối hợp
Việc sử dụng thuốc đơn thành phần bao giờ cũng an toàn hơn so với thuốc đa thành phần vì tương tác thuốc là hiện tượng xảy ra khi dùng đồng thời 2 hoặc nhiều thuốc Khi sử dụng thuốc phối hợp thường dễ kéo theo hiện tượng tương tác thuốc vì khó kiểm soát hết các thành phần
Số khoản mục thuốc và giá trị tiêu thụ của thuốc đơn thành phần chiếm
tỷ lệ trung bình thường dao động ở khoảng 77%-90%, thuốc đa thành phần chiếm tỷ lệ khoảng 10%-23% Tuy nhiên tỷ lệ này giữa các tuyến bệnh viện không giống nhau Năm 2014, bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn có tỷ lệ sử dụng về số lượng - giá trị sử dụng thuốc đơn thành phần là 87,8% -78,8%; của thuốc đa thành phần là 12,2%-21,2% [23] Cũng năm này, bệnh viện đa khoa
Bà Rịa - Vũng Tàu có tỷ lệ sử dụng về số lượng - giá trị sử dụng thuốc đơn thành phần là 84,44% -77,1%; của thuốc đa thành phần là 16,56%-22,9% [24] Năm 2015, tại bệnh viện Quân y 7B: thuốc đơn thành phần có 353 khoản mục chiếm tỷ lệ số lượng - giá trị sử dụng 89,59% - 88,02%; thuốc đa thành phần có 41 khoản mục chiếm tỷ lệ số lượng - giá trị sử dụng 10,41% - 11,98% [26] Năm 2016, bệnh viện Phục hồi Chức năng Tây Ninh: thuốc đơn thành phần có 121 thuốc- 86,4%, giá trị sử dụng chiếm 87,50%; thuốc đa thành phần có 19 thuốc- 13,6%, giá trị sử dụng chiếm 12,50% [16]
Trang 251.4 Vài nét về Bệnh viện quân y 7C
1.4.1 Giới thiệu về bệnh viện
Bệnh viện quân y 7C được thành lập ngày 15 tháng 10 năm 1972 (theo Quyết định của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) là bệnh viện đa khoa hạng II của Quân đội (tương đương tuyến tỉnh, mở rộng phạm vi cứu chữa tuyến huyện) đóng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, trực thuộc Cục Hậu cần, cơ quan chỉ đạo, quản lý chuyên môn là Phòng Quân y Trong thời chiến làm nhiệm vụ thu dung, cữu chữa cho thương, bệnh binh Hiện nay với quy mô 300 giường bệnh, gồm 5 ban hậu cần- kỹ thuật, 10 khoa lâm sàng và 03 khoa cận lâm sàng, 06 phòng phẫu thuật và 03 xe cấp cứu chuyên dùng, gần 400 cán bộ- nhân viên y tế Ngoài nhiệm vụ phòng bệnh, cấp cứu, khám, chữa bệnh cho bộ đội Bệnh viện quân y 7C còn khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, tham gia
hỗ trợ y tế cho tuyến dưới trong khối Quân đội
1.4.2.Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức và khái quát hoạt động của khoa dược
1.4.2.1 Chức năng, nhiệm vụ
Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
- Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho nhu cầu điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác (phòng chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa)
- Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị
và các nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu
- Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và Điều trị
Trang 26- Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”
- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc, tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện
- Phối hợp với khoa cận lâm sàng và lâm sàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý đặc biệt là sử dụng kháng sinh và theo dõi tình hình kháng kháng sinh trong bệnh viện
- Tham gia hội chẩn khi được yêu cầu
- Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc
- Quản lý hoạt động của Nhà thuốc bệnh viện theo đúng quy định
- Thực hiện nhiệm vụ cung ứng, theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra, báo cáo về vật tư y tế tiêu hao (bông, băng, cồn, gạc) khí y tế đối với các cơ
sở y tế chưa có phòng Vật tư - Trang thiết bị y tế và được người đứng đầu các
cơ sở đó giao nhiệm vụ
1.4.2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động
- Nghiệp vụ dược
- Kho và cấp phát
- Thống kê dược
- Dược lâm sàng, thông tin thuốc
- Quản lý hoạt động chuyên môn của Nhà thuốc bệnh viện
- Cung ứng thuốc
Trang 27Tổ chức hoạt động của khoa dược bệnh viện quân y 7C được thể hiện tại hình 1.2
Hình 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức hoạt động của khoa dược
- Xây dựng kế hoạch mua thuốc:
+ Kế hoạch mua thuốc hàng năm: Căn cứ số lượng sử dụng năm trước liền kề và tình hình bệnh tật bệnh viện điều trị trong năm
+ Kế hoạch mua thuốc hàng tháng: Căn cứ số lượng sử dụng tháng trước liền kề, so sánh số lượng sử dụng cùng tháng với năm trước liền kề Số lượng sử dụng nhân ba trừ đi số lượng tồn kho, lớn hơn không dự trù mua thuốc
- Mua thuốc:
+ Trình Cục Hậu cần thông qua Phòng Quân y kế hoạch mua thuốc
+ Hình thức mua sắm: mua sắm trực tiếp thông qua kết quả đấu thầu của bệnh viện
1.4.3 Vài nét về Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện
Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện
bệnh viện Giám đốc
hiểm y tế
Kho vật tư, hóa chất
Kho dịch
vụ
Trang 28- Chức năng:
Hội đồng thuốc và điều trị có chức năng tư vấn cho Giám đốc về các vấn đề liên quan đến thuốc và cách sử dụng thuốc tại bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện
- Nhiệm vụ:
+ Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện + Xây dựng danh mục thuốc bệnh viện, xây dựng và thực hiện các hướng dẫn điều trị
+ Xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc
+ Giám sát phản ứng có hại của thuốc và các sai sót trong điều trị + Thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc
1.4.4 Tính thiết yếu của đề tài
- Bộ Y tế đã quy định việc xây dựng danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện phải trên cơ sở đánh khoa học, sử dụng ít nhất một trong các phương pháp sau để phân tích việc sử dụng thuốc tại đơn vị [1]:
+ Phân tích ABC: Các bước phân tích thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của
Bộ Y tế;
+ Phân tích nhóm điều trị: Các bước phân tích thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế;
Trang 29+ Phân tích VEN: Các bước phân tích thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư này;
+ Phân tích theo liều xác định trong ngày - DDD: Các bước phân tích thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư này;
+ Giám sát các chỉ số sử dụng thuốc theo hướng dẫn tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế
- Lượng thuốc tiêu thụ tại bệnh viện tăng đều qua các năm gần đây cho thấy quy mô bệnh viện ngày một mở rộng, đồng thời nhu cầu sử dụng thuốc trong điều trị tăng lên hoặc việc sử dụng thuốc trong điều trị tại bệnh viện là vấn đề cần được xem xét nhằm mục đích đánh giá đúng hiệu quả sử dụng, làm cơ sở duy trì những điểm đã đạt được, loại bỏ những điểm hạn chế trong
sử dụng thuốc tại bệnh viện
- Việc thực hiện các phân tích khoa học đánh giá, xây dựng danh mục thuốc cần thực hiện thường xuyên để đảm bảo đúng quy định, đồng thời sẽ đem đến nhiều lợi ích trong công tác điều trị
- Đến nay chưa có nghiên cứu chính thức nào thực hiện phân tích một cách đầy đủ danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện quân y 7C
Vì vậy, em đề nghị thực hiện đề tài “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện quân y 7C năm 2017”, trong đó sử dụng các phương
pháp phân tích danh mục thuốc: phân tích ABC; phân tích VEN, ABC/VEN; phân tích nhóm điều trị; hay phân tích dựa trên một số chỉ tiêu để thực hiện
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Toàn bộ thuốc đã được sử dụng tại Bệnh viện quân y 7C năm 2017
* Địa điểm nghiên cứu:
Bệnh viện quân y 7C
* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2017 - 05/2018
* Nguồn thu thập số liệu:
Báo cáo xuất - nhập - tồn của Bệnh Viện năm 2017- 2018;
Báo cáo tổng kiểm kê thực lực vật tư thời điểm 0g00 ngày 01.01.2018
Quyết định, kèm theo danh mục thuốc trúng thầu của bệnh viện
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu cắt ngang: hồi cứu hồ sơ, báo cáo tổng kết,
sổ sách theo dõi, hóa đơn, chứng từ thanh quyết toán của Bệnh viện quân y 7C từ tháng 5/2017 đến tháng 5/2018;
- Báo cáo xuất – nhập – tồn từng tháng, quý các năm 2017- 2018
2.2.2 Biến số nghiên cứu
Các biến số nghiên cứu được trình bày trong bảng 2.1 dưới đây
Trang 31Bảng 2.1 Biến số nghiên cứu
TT Tên biến
Loại biến
Cách thu thập
Biến số Hồi cứu số liệu
Giá trị nguyên biểu thị số lƣợng đã
sử dụng trong năm của 1 thuốc với đơn vị tính nhỏ nhất
Biến số Hồi cứu số liệu
- Thuốc phối hợp: trong công thức
có nhiều hơn 1hoạt chất có hoạt tính
Phân loại Hồi cứu
Phân loại Hồi cứu số liệu
Phân loại Hồi cứu số liệu
Trang 322.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
- Đề nghị khoa dược bệnh viện báo cáo các số liệu liên quan sau khi
tổng kết xuất- nhập- tồn hàng tháng từ tháng 5/2017 đến 5/2018 theo biểu mẫu sau đây:
hoạt chất Hàm lượng Tên thuốc- Đơn vị sản xuất Nước SL sử dụng Đơn giá
Thành tiền
- Sau khi thu thập đủ số liệu thuốc sử dụng trong năm nghiên cứu được
sắp xếp thứ tự các thuốc theo nhóm tác dụng dược lý, thứ tự ban đầu của danh mục thuốc trúng thầu của bệnh viện như đã nêu trên ta tiếp tục xử lý để phù hợp với yêu cầu nghiên cứu
2.2.4 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu
2.1.4.1 Xử lý số liệu
- Khi đã thu thập đủ dữ liệu để có 12 trang Excel như trên, dùng phép toán excel để cộng cột số liệu của 12 tháng thành 1 cột số liệu của năm, các cột thông tin khác như: tên thuốc (generic và biệt dược); nồng độ, hàm lượng; đơn vị tính; đơn giá; dạng bào chế; nước sản xuất; nhà cung cấp của mỗi thuốc được giữ nguyên
- Kiểm tra các cột dữ liệu và cột số lượng sau khi thực hiện thuật toán
để đảm bảo không xảy ra sai số do lỗi chủ quan
Trang 33- Kiểm tra lại dữ liệu so với các chỉ số nghiên cứu đã đầy đủ hay chưa, đồng thời có thể loại bớt các thông tin không cần thiết tránh làm nhiễu bảng
Dạng bào chế
Hàm lượng
Đơn
vị
SL sử dụng
Đơn giá
Thành tiền
hoạt chất Xuất xứ Nhóm tác dụng dược lý
Thành phần Đường dùng
Thuốc biệt dược, generic
VEN
Trong đó mã hóa các biến số như sau:
+ Xuất xứ (sản xuất trong nước- nhập khẩu): nhập khẩu: 1; sản xuất trong nước: 2
+ Thành phần (đơn chất- đa chất): đơn chất: 1; đa chất: 2
+ Thuốc generic, biệt dược: Thuốc biệt dược: 1; Thuốc generic: 2
+ Đường dùng: Tiêm, truyền: 1; Uống: 2; Đường dùng khác: 3
- Để trích xuất được số liệu diễn đạt các biến dạng số, biến phân loại phục vụ nghiên cứu, ta sử dụng phần mềm phân tích ABC/VEN để xử lý phân tích dữ liệu đã làm sạch ở phần trên
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Mô tả về cơ cấu của danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện quân y 7C theo một số chỉ tiêu
3.1.1 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo nguồn gốc, xuất xứ
Cơ cấu theo nguồn gốc, xuất xứ của các thuốc được tiêu thụ tại Bệnh viện quân y 7C thể hiện trong bảng 3.2 dưới đây
Bảng 3.2 Cơ cấu tiêu thụ thuốc tại Bệnh viện quân y 7C theo nguồn gốc,
Số lượng mặt hàng thuốc sản xuất trong nước là 327 mặt hàng với tỷ lệ
là 45,6% tổng số thuốc toàn danh mục và giá trị tiêu thụ đạt 37,72 tỷ đồng tương đương 37% tổng giá trị tiêu thụ
Thuốc nhập khẩu chiếm tỷ lệ lớn cả về số lượng mặt hàng với 390 sản phẩm chiếm 54,4% tổng mặt hàng của danh mục và giá trị tiêu thụ chiếm 63% tổng mức tiêu thụ của bệnh viện, đạt trên 64 tỷ đồng, gấp 1,7 lần so với giá trị tiêu thụ thuốc sản xuất trong nước, tuy về số lượng mặt hàng cao hơn không nhiều (gần 9%) so với thuốc sản xuất trong nước
Trang 353.1.2 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo thuốc generic - thuốc biệt dược
Cơ cấu theo thuốc generic - thuốc biệt dƣợc kết hợp nguồn gốc, xuất xứ của các thuốc đƣợc tiêu thụ tại Bệnh viện quân y 7C thể hiện trong bảng 3.3
Trang 36Chênh lệch về giá trị thuốc generic so với giá trị tiêu thụ thuốc biệt dược nhiều hơn so với chênh lệch về số lượng mặt hàng giữa 2 loại mặt hàng này (gấp 16 lần so với gấp 11 lần)
Cơ cấu theo xuất xứ của các thuốc generic: thuốc generic sản xuất trong nước có số lượng mặt hàng gần như tương đương thuốc nhập khẩu, sự chênh lệch ở đây là không đáng kể 326 sản phẩm so với 331 sản phẩm; còn giá trị tiêu thụ lại thể hiện sự chênh lệch đáng kể khi giá trị tiêu thụ thuốc generic sản xuất trong nước là 37,67 tỷ đồng chiếm 36,69% nhỏ hơn 2/3 giá trị tiêu thụ của nhóm thuốc gốc nhập khẩu
Cơ cấu theo xuất xứ của các thuốc biệt dược: Thuốc biệt dược sản xuất trong nước chỉ có 01 mặt hàng chiếm 0,14% số lượng mặt hàng; trong khi đó thuốc biệt dược nhập khẩu chiếm 8,23% so với toàn bộ danh mục thuốc sử dụng với 59 sản phẩm; Giá trị tiêu thụ thuốc biệt dược nhập khẩu chiếm 5,89% tổng giá trị tiêu thụ toàn bệnh viện tương đương 6 tỷ đồng nhiều hơn
120 lần giá trị tiêu thụ của thuốc biệt dược sản xuất trong nước với 50 triệu đồng; số lượng mặt hàng biệt dược nhập khẩu nhiều hơn 59 lần, trong khi giá trị tiêu thụ nhiều hơn 120 lần mặt hàng biệt dược sản xuất trong nước
Sự khác biệt về nguồn gốc xuất xứ của thuốc trong danh mục tập trung chủ yếu ở nhóm biệt dược
Một ví dụ về sự chênh lệch mặt hàng giữa thuốc generic và thuốc biệt dược đó là các chế phẩm của hoạt chất Paracetamol (acetaminophen) được trình bày tại bảng 3.4 Cụ thể, có tới 12 thuốc generic tên thương mại được sử dụng trong Bệnh viện gồm các sản phẩm của cả các nhà sản xuất trong nước lẫn sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài, song chỉ có 01 biệt dược gốc là Perfalgan
Trang 37Bảng 3.4 Một số thuốc có cùng hoạt chất Paracetamol (acetaminophen)
được tiêu thụ tại Bệnh viện quân y 7C
Tên hoạt chất STT Thuốc biệt dƣợc Sản xuất Nhập
Trang 38Bảng 3.5 Cơ cấu thuốc tiêu thụ Bệnh viện quân y 7C theo đơn chất-
thuốc phối hợp
Cơ cấu
Số lượng mặt hàng Giá trị tiêu thụ
Số lượng (Đơn vị) %
Giá trị (tỷ đồng) %
tương ứng của thuốc phối hợp
Số lượng mặt hàng thuốc đơn chất là 591 sản phẩm chiếm 82,43% số
lượng toàn danh mục và có giá trị tiêu thụ đạt 79,07 tỷ đồng tương đương
77,58% tổng giá trị tiêu thụ toàn bệnh viện Còn với thuốc phối hợp số mặt
hàng là 126 sản phẩm chiếm 17,57% tổng mặt hàng và chiếm 22,42% tổng
giá trị tiêu thụ với 22,85 tỷ đồng
Cơ cấu theo xuất xứ của các thuốc dạng đơn chất: số lượng mặt hàng các thuốc dạng đơn chất được sản xuất trong nước nhỏ hơn thuốc dạng đơn
chất được nhập khẩu không nhiều (37,80% so với 44,63%) nhưng giá trị tiêu
thụ thuốc dạng đơn chất được sản xuất trong nước nhỏ hơn đáng kể giá trị tiêu
thụ của thuốc dạng đơn chất được nhập khẩu (mức chênh lệch là 19,46%
tương đương 19,81 tỷ đồng)