Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm: “Việt Na
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-
-BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM
Đề tài: “Tìm hiểu đường lối đối ngoại của Đảng trong tình hình đổi
mới ( từ Đại hội VI đến Đại hội XII )”
GVHD : Ths Trịnh Đình Thanh SVTH : Thái Thanh Thủy
Đà Nẵng, tháng 6 năm 2018
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
Trang 2B NỘI DUNG 3
Phần 1 Toàn cầu hóa và tính tất yếu của Đường lối đối ngoại rộng mỡ 3
1.1 Toàn cấu hóa là xu thế của thế giới 3
1.2 Đổi mới Đường lối đối ngoại là đồi hỏi khách quan nhằm phù hợp với tình hình mới 4
Phần 2 Đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ đổi mới ( từ Đại hội IV đến Đại hội XII ) 5
2.1 Từ 1986 – 1996 Xác lập đường lối đội ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế 5
2.1.1 Đại hội VI (12/1986) Đề ra các nguyên tắc cơ bản cần được quán triệt trong quá trình đổi mới đề cập đến tình hình các nước XHCH, sự phá hội của Chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta 5
2.1.2 Đại hội VII (6/1991) “Việt Nam muốn là bạn của các nước trong cộng đồng trên thế giới, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển” 7
2.1.3 Đại hội VIII (6/1996) Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ trên tinh thần Đại hội VII đề ra 9
2.2 Từ 1996 đến nay Đây là giai đoạn xây dựng đường lối đối ngoại hội nhập quốc tế 11
2.2.1 Đại hội IX ( 4/2001) Đảng đề ra chủ trương: “ Việt Nam sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển” 11
2.2.2 Đại hội X (4/2006) Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Việt Nam sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tình hình hợp tác quốc tế khu vực , chủ độc tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” 12
2.2.3 Đại hội XI ( 1/2011) Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Chủ độc tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, là bạn là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” 13
2.2.4 Đại hội XII (1/2016)Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đảm bảo lợi ích tối cao của quôc gia dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế” 17
C KẾT LUẬN 18
A MỞ ĐẦU
Trang 3Sau khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, thế và lực của nước ta đã lớn mạnh, có lợi thế rất lớn là tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định, môi trường hoà bình Nhằm phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong tiến hành công cuộc Đổi mới với mục tiêu xây dựngnước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá,
đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm: “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Việt Nam đã và đang hợp tác chặt chẽ với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực để cùng nhau giải quyết những thách thức chung như dịch bệnh truyền nhiễm, đói nghèo, tội phạm xuyên quốc gia, ô nhiễm môi trường, buôn lậu ma túy, … Những
nỗ lực của Việt Nam thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm của mình đối với bạn bè ở khu vực và quốc tế Việt Nam sẽ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối
đa nội lực, nâng cao hợp tác quốc tế, độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc…
Chính vì những lý do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu “ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH ĐỔI MỚI ( từ Đại hội VI đến Đại hộiXII )”
Trang 4B NỘI DUNG
Phần 1 Toàn cầu hóa và tính tất yếu của Đường lối đối ngoại rộng mỡ.
1.1 Toàn cấu hóa là xu thế của thế giới
Từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống của các quốc gia, dân tộc Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng khoảng sâu sắc Đến đầu những năm 1990, chế độ xã hội chủ nghĩa
ở Liên Xô sụp đổ, dẫn đến những biến đổi to lớn về quan hệ quốc tế Trật tự thế giới được hình thành từ sau chiến tranh thê giới thứ hai trên cơ sở hai khối đối lập do Liên Xô và Hoa
Kỳ đứng đầu (trật tự thế giới hai cực) tan rã, mở ra thời kỳ hình thành một trật tự thế giới mới Trên phạm vi thế giới, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới là hoà bình và hợp tác phát triển Các quốc gia, các tổ chức
và lực lượng chính trị quốc tế thực hiện điều chỉnh chiến lược đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bên trong và đặc điểm của thê giới
Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển đãđổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế ;
mở rộng và tăng cương liên kết , hợp tác với các nước phát triển để tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, mở rộng thị trường, học tập kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh Các nước đổi mới tư duy về quan niệm sức mạnh, vị thế quốc gia Thay thế cách đánh giá cũ, chủ yếu dựa vào thế mạnh quân sự bằng các tiêu chí tổng hợp, trong đó sức mạnh kinh tế được đặt ở vị trí quan trọng hàng đầu
Xu thế toàn cầu hoá và tác động của nó: Dưới góc độ kinh tế, toàn cầu hoá là quá trình lực lượng sản xuất và quan hệ kinh tế quốc tế phát triển vượt qua các rào cản bởi biên giới quốc gia và khu vực, lan toả ra phạm vi toàn cầu, trong đó hàng hoá, vốn, tiền tệ, thông tin, lao động… vận động thông thoáng ; sự phân cồng lao động mang tính quốc tế; quan hệ kinh
tế giữa các quốc gia, khu vực đan xen nhau, hình thành mạng lưới quan hệ đa chiều Những tác động tích cực của toàn cầu hoá: trên cơ sở thị trường được mở rộng, trao đổi hàng hoá tăng mạnh đã thúc đẩy phát triển sản xuất của các nước; nguồn vốn, khoa học công nghệ, kinhnghiệm quản lý cùng các hình thức đầu tư, hợp tác mang lại lợi ích cho các bên tham gia hợp tác Mặt khác toàn cầu hoá làm tăng tính tuỳ thuộc lẫn nhau, nâng cao sự hiểu biết giữa các quốc gia, thuận lợi cho việc xây dựng môi trường hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa các nước Những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa: xuất phát từ việc các nước công nghiệp phát triển thao túng, chi phối quá trình toàn cầu hoá tạo nên sự bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế
và làm gia tăng sự phân cực giữa các nước giàu và nghèo
1.2 Đổi mới Đường lối đối ngoại là đồi hỏi khách quan nhằm phù hợp với tình hình mới.
Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là một xu thế tất yếu khách quan đối với một nước nào trên con đường phát triển trong điều kiện thế giới hiện nay Đối với nước ta, Đảng và Nhànước đã chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước
Vì vậy, đã là nền kinh tế thị trường thì việc mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là điều thực sự cần thiết và là một tất yếu khách quan
Trang 5Tình hình khu vực và thế giới tác động mạnh mẽ đến nước ta Trước mắt chúng ta có cả
cơ hội và thách thức lớn Vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với nước ta là nắm bắt cơ hội, vượt qua thử thách sánh vai cùng các nước phát triển trên thế giới Từ tình hình quốc tế và trong nước, Đảng ta đã nêu lên đường lối đối ngoại đó là: thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối
đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái
Trong chính sách đối ngoại mở rộng, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, một trong những vấn đề quan trọng mà Đảng ta nêu lên trong những vấn đề chính sách đối ngoại đó là: chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Đây là một vấn đề có tầm quan trọng lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước, tuy có nhiều thuận lợi song cũng đặt ra những thử thách hết sức gay gắt cho chúng ta
Trên thực tế chúng ta đã bắt đầu quá trình hội nhập với kinh tế khu vực và trên thế giới
từ hơn 1 thập niên trước đây Với đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với 167 nước trong đó có hầu hết các nước lớn và các trung tâm kinh tế chính trị thế giới Trong thời gian qua chúng ta đã có nhiều cố gắng khẩn trương hội nhập với các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới như Hiệp hội các nước ASEAN (AFTA), Diễn đàn Châu á Thái Bình Dương (APEC) và chuẩn bị hội nhập với tổ chức thương mại thế giới WTO
Mặt khác, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế còn là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân Sự nghiệp này đòi hỏi phải có vốn, có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, là những yếu tố mà nước ta đang thiếu, trong khi đó ở các nước phát triển lại có ưu thế, có tiềm lực khổng lồ Nước ta phải biết tận dụng những yếu tố thuận lợi của hoàn cảnh quốc tế, tận dụng tối đa “ngoại tệ” để phát huy nội lực
Từ xuất phát trên, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi trọng việc kết hợp sức mạnh dân tộcvới sức mạnh thời đại, coi đó là một trong những nguyên tắc cơ bản trong đường lối đối ngoạicủa mình
Phần 2 Đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ đổi mới ( từ Đại hội IV đến Đại hội XII )
2.1 Từ 1986 – 1996 Xác lập đường lối đội ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế
2.1.1 Đại hội VI (12/1986) Đề ra các nguyên tắc cơ bản cần được quán triệt trong quá trình đổi mới đề cập đến tình hình các nước XHCH, sự phá hội của Chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta.
Đổi mới toàn diện, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) của Đảng đề ra chính sách đối ngoại phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước Đại hội khẳng định:
“Đảng và Nhà nước ta kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình và hữu nghị” Về quan
hệ với các nước khu vực Đông Nam Á: “Chúng ta mong muốn và sẵn sàng cùng các nước
Trang 6trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định và hợp tác” Đại hội
VI nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu là “… tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”… và “cần hoà bình để phát triển kinh tế” Nghị quyết của Đại hội VI và các nghị quyết của Trung ương đã chuyển hướng chính sáchngoại giao, chủ trương đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội khác nhau, thi hành chính sách hữu nghị, phù hợp với lợi ích của nhân dân ta và xu thế phát triển chung của thế giới Nó trở thành tư tưởng chủ đạo, sợichỉ đỏ xuyên suốt quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đồng thời là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình từng bước gia nhập ASEAN của Việt Nam
Trên cơ sở đổi mới tư duy đối ngoại, Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu và những chính sách đối ngoại lớn Mục tiêu của ngoại giao Việt Nam lúc này là hòa bình và phát triển Đảng và Nhà nước ta quyết tâm giải quyết vấn đề Campuchia, từ đó giải quyết vấn đề bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, ASEAN và Hoa Kỳ
Từ giữa những năm 80, các nước lớn và ASEAN đi vào hòa hoãn, hợp tác giải quyết các vấn đề khu vực, trong đó có vấn đề Campuchia Đại hội VI đã khẳng định “chúng ta mong muốn và sẵn sàng cùng các nước trong khu vực thương lượng để giải
Đường lối xây dựng hệ thống đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hòa bình, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác” Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị (khóa
VI 20/5/1988) là mốc khởi đầu của quá trình đổi mới tư duy, nhận thức và đường lối đối ngoạicủa Đảng ta Nghị quyết khẳng định nước ta “lại càng có những cơ hội lớn để có thể giữ hòa bình và phát triển về kinh tế” và xác định “với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chúng ta sẽ càng có nhiều khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hơn” Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị thay chủ trương 10 năm trước tăng cường liên minh 3 nước Đông Dương làm đối trọng với các nước ASEAN Ngược lại, chúng ta khẳng định không đối lập nhóm 3 nước Lào, Việt Nam, Campuchia, xã hội chủ nghĩa với nhóm ASEAN, tư bản chủ nghĩa
Nghị quyết nêu rõ chúng ta cần có chính sách toàn diện với Đông Nam Á, trước hết là tăng cường quan hệ hợp tác về nhiều mặt với Indonexia, phá vỡ bế tắc trong quan hệ với Thái Lan, mở rộng quan hệ hợp tác về kinh tế, khoa học – kỹ thuật, văn hóa với các nước trong khuvực, thúc đẩy việc xây dựng khu vực hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác Đặc biệt nghị quyết cũng nhắc lại lời cảnh báo của nghị quyết 32 khóa V về nguy cơ tụt hậu xa hơn “nếu chúng ta lại để lỡ những cơ hội lớn đó thì sẽ gặp những thách thức mới và sẽ bị thua kém về mọi mặt so với nhiều nước trên thế giới” Ra sức tranh thủ sự đồng tình của thế giới, làm thất bại âm mưu cô lập ta về kinh tế và chính trị; lợi dụng sự phát triển của khoa học – kỹ thuật, đồng thời tranh thủ vị trí tối ưu trong phân công lao động quốc tế
Thực hiện chủ trương trên, ta đã mời ngoại trưởng Indonexia sang thăm và ký Thông cáo chung Việt Nam – Indonexia tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 29/07/1987, vừa khai thông quan hệ song phương, mở đường cho xu thế đối thoại, hợp tác giải quyết vấn đề Campuchia Việt Nam đã từng bước rút quân khỏi Campuchia từ 1984 – 1989 Như vậy vấn đề Campuchia
đi dần vào giải pháp hòa bình Trước những tiến triển mới đó, các nước ASEAN bắt đầu phát triển quan hệ song phương với Việt Nam, hoan nghênh Việt Nam tham gia vào hợp tác khu vực Tháng 12/1987, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 3 họp tại Manila ( Philipin )
Trang 7Tổng thống Philipin C.V Akinô tuyên bố không coi Việt Nam là mối đe dọa đối với Philipin Tiếp đó tháng 2/1989 Bộ trưởng Ngoại giao Philipin tuyên bố “ không chống lại việc Việt Nam gia nhập ASEAN” Còn thủ tướng Thái Lan Chatichai, khi lên cầm quyền tháng 8/1988,
đã đưa ra chủ trương “ Biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường” Chính sách trên của Thái Lan đã được thủ tướng Malaysia tuyên bố ủng hộ (6/1989)
Thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội Đảng VI, Nhà nước ta cũng luôn khẳng định lập trường của Việt Nam là được chung sống hoà bình với các nước trong khu vực, sẵn sàng hợp tác để xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hoà bình, ổn định và phát triển Tháng 1/1989, tại Hội nghị bàn tròn các nhà báo châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại thành phố
Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh một lần nữa nhấn mạnh: Việt Nam sẵn sàng phát triển quan hệ hữu nghị với các nước ASEAN và các nước trong khu vực
Tại Hội nghị này, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á” Những phát biểu trên một lần nữa nhấn mạnh quan điểm trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề gia nhập ASEAN Quan
hệ Việt Nam – ASEAN đã được đẩy mạnh trong năm 1989 và các năm tiếp theo Sự kiện chính trị nổi bật và quan trọng nhất trong quan hệ hai bên đó là Tổng thống Indonexia
Xuhacto, nguyên thủ của một nước ASEAN đầu tiên, thăm hữu nghị chính thức Việt Nam tháng 10/1990 Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng lần lượt thăm hữu nghị chính thức Indonexia, Vương quốc Thái Lan và Cộng Hòa Singapore từ ngày 24/10 đến ngày 01/11/1991
Kể từ giai đoạn này, các nước ASEAN tách dần khỏi lập trường của Trung Quốc về vấn
đề Campuchia, vượt qua chính sách bao vây cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam để đi vào cải thiện quan hệ với Việt Nam – Đông Dương Buôn bán hai chiều Việt Nam – ASEAN đã tăng từ 107 triệu đô la Mỹ năm 1985 lên 740 triệu đô la Mỹ năm 1991
Chúng ta đã giải quyết được vấn đề Campuchia trên cơ sở giữ vững một số thành quả của cách mạng Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, khai thông quan hệ với các nước ASEAN tạo dựng tiền để để ta tham gia tổ chức này nhằm xây dựng khu vực Đông Nam
Á hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển, từng bước cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ từ đó có điều kiện tăng cường quan hệ với Nhật Bản và các nước phương Tây khác Những thành tựu đối ngoại thời kỳ đầu đổi mới này sẽ tạo đà cho những thắng lợi lớn hơn thời kỳ tiếp theo
2.1.2 Đại hội VII (6/1991) “Việt Nam muốn là bạn của các nước trong cộng đồng trên thế giới, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển”
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần VII chủ trương: "Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở các
nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình", với phương châm "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển"
- Với Lào và Campuchia Thực hiện đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả trên tinh thần bình đẳng
- Với Trung Quốc bình thường hoá quan hệ, từng bước mở rộng hợp tác Việt – Trung
- Với các nước Đông Nam Á, Châu Á- Thái Bình Dương phấn đấu cho một Đông Nam Á hoà bình, hữu nghị và hợp tác
- Với Hoa Kỳ thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
Trang 8Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991 trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có những diễn biến phức tạp:
- Tình hình quốc tế: có những thay đổi lớn, tác động sâu sắc đến nước ta Đang diễn ra cuộctấn công quyết liệt của các thế lực thù địch đế quốc và phản động vào các lực lượng hoà bình, độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội nhằm tiến tới xoá bỏ chủ nghĩa xã hội bằng mọi thủ đoạn thâm độc; cuộc khủng hoảng toàn diện trong hệ thống xã hội chủ nghĩa dẫn đến sự sụp đổ củachế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu (1989 - 1990) Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên
Xô đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng và dẫn tới sự thất bại vào nửa cuối năm
1991 So sánh lực lượng diễn ra bất lợi cho lực lượng cách mạng trên thế giới
- Ở trong nước, sau hơn 4 năm thực hiện đường lối đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội có những chuyển biến tích cực, song vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng Mặt khác, trước sự khủng hoảng và sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa đã tác động không nhỏ tới lập
trường,tư tưởng và niềm tin vào chủ ng hội nghĩa xã hội của một bộ phận cán bộ, đảng viên
và nhân dân
Bối cảnh trên đây đặt ra cho Đại hội VII một nhiệm vụ hết sức nặng nề là phải đề ra đường lối để đưa đất nước thoát khỏi khó khăn, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Nội dung cơ bản của Đại hội VII:
Đại hội đã đánh giá quá trình thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và nhận định: Sau hơn 4 năm đưa Nghị quyết Đại hội VI vào cuộc sống, các chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang lại những kết quả nhất định: Tình hìnhchính trị của đất nước: ổn định; nền kinh tế có những bước phát triển, đã đạt được những tiến
bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế (lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu); kinh tế đối ngoại phát triển nhanh, mở rộng hơn về quy mô, hình thức, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội; bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Quyền dân chủ của nhân dân ngày càng được phát huy Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm, từng bước phá thế bao vây về kinh tế, chính trị Quan hệ quốc tếngày càng mở rộng, tạo ra môi trường thuận lợi để đẩy mạnh công cuộc đổi mới
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì những yếu kém và khó khăn còn rất lớn: Đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng chưa được giải quyết như lạm phát cao, lao động thiếu việc làm, nhiều cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài Số lao động thiếu việc làm tăng Chế độ lương bất hợp lý Tốc độ dân số còn quácao; tình trạng vi phạm dân chủ còn nhiều; văn hoá xã hội có những mặt tiếp tục xuống cấp Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, bất công trong xã hội tăng thêm, an ninh trật tự và an tòan xãhội còn phức tạp, vẫn còn nhân tố gây mất ổn định chính trị, bộ máy nhà nước, Đảng và các đoàn thể nhân dân cồng kềnh, quan liêu, hoạt động kém hiệu quả
Đại hội đã làm rõ nguyên nhân của khuyết điểm, yếu kém, đồng thời bước đầu rút ra năm kinh nghiệm trong tiến hành công cuộc đổi mới:
Một là: Phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới
Hai là: Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp
Ba là: Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nưóc về kinh tế - xã hội
Trang 9Bốn là: Phát huy ngày càng sâu rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Năm là: Quan tâm dự báo tình hình, kết hợp phát hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh, tăng cường tổng kết thực tiễn và không ngừng hoàn chỉnh lý luận về con đườngxây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trên cơ sở kiểm điểm việc thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra và căn cứ vào đặc điểm tình hình đất nước, Đại hội tiếp tục đưa ra phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong 5 năm 1991 - 1995
+ Về mục tiêu: " mục tiêu tổng quát của 5 năm tới là vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công
xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay”
+ Đại hội nêu lên bốn phương châm chỉ đạo là: tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân; kết hợp động lực kinh tế với động lực tinh thần, thực hiện hài hoà lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và xã hội; tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời thúc đấy mạnh
mẽ việc đổi mới các lĩnh vực khác; tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi để mở rộng và tăng cường quan hệ quốc tế về mọi mặt
+ Đại hội nêu lên một số nhiệm vụ chủ yếu để thực hiện tốt mục tiêu đã đề ra như: ổn định
và phát triển kinh tế trên cơ sở tập trung đầu tư cả chiều rộng và chiều sâu; xây dựng nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế; kết hợp hài hoà phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân Củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
+ Đại hội VII của Đảng đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chi nam cho hoạt động của Đảng
+ Đại hội khẳng định đường lối đối ngoại rộng mở, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển
Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
+ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỷ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã tổng kết cách mạng Việt Nam từ năm 1930, nêu lên những bài học và đặc biệt là xác định sáu đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng do nhân dân lao động làm chủ: có một nền kinh tế phát triển cần dựa trên lực lượng sản xuất, hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu: có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị
và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới
+ Cương lĩnh xác định quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, phảitrải qua nhiều chặng đường
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 là mốc đánh dấu sự phát triển tư duy chính trị của Đảng ta, thể hiện nhận thức sâu sấc về thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, về công cuộc đổi mới
Trang 10Đại hội VII là cột mốc mới trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước trưởng thành của Đảng ta Đại hội đã thực sự làm tròn trách nhiệm mà lịch sử giao phó, đó là "Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương - đoàn kết".
Đại hội đã hoạch định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm của Việt Nam và những giải pháp đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đặt cơ sở và quyết định những bước đi cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước Từ đó củng cố them niềm tin tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công cuộc đổi mới đất nước
+ Trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang diễn ra những biến đổi phức tạp thì “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội” đã thể hiện bản lĩnh vững vàng, sự kiên định về lập trường chính trị của Đảng ta trong qụá trình lãnh đạo cách mạng và tạo niềm tin cho nhân dân ta về sự thắng lợi tất yếu của công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Lần đầu tiên trong lãnh dạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có một bản Cương lĩnh toàn diện, khái quát và nêu lên những vấn đề cở bản trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hộ, an ninh quốc phòng của đất nước, chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tatrong công cuộc đổi mới
2.1.3 Đại hội VIII (6/1996) Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ trên tinh thần Đại hội VII đề ra.
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần VIII khẳng định: tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị khu vực và quốc tế; đồng thời, chủ trương xây dựng nền kinh tế mở và đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại Thủ đô Hà Nội, từ ngàv 28-6 đến ngày 1- 7 1996 Dự Đại hội có 1.198 đại biểu và nhiều đoàn đại biểu quốc tế Đại hội đã thông qua các văn kiện quan trọng:Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 - 2000, Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi) và Nghị quyết Đại hột đại bỉểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam
Đại hội VIII của Đảng có nhiệm vụ quan trọng là kiểm điểm kết quả 5 năm thực hiện Nghịquyết Đại hội VII và tổng kết 40 năm đổi mới, đề ra những mục tiêu, phương hướng, nhiệm
vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Đại hội khẳng định, sau 10 năm đổi mới đất nước, chúng ta đã thu được những thành tựu
to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng: Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, hoàn thành vượt mức nhiều mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm; tạo ra được một số chuyển biến tích cực về mặt
xã hội; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị: phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá vỡ thế bịbao vây cấm vận, mở rộng hợp tác và tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế
Để bảo đảm thực hiện mục tiêu, Đại hội VIII đềra những định hướng phát triển các lĩnh vực chủyếu:
+ Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quán triệtcác quan điểm và nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn