1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Thực trạng xác định tỉ lệ đóng góp khi làm bài tập nhóm của sinh viên chuyên ngành sư phạm tiếng Anh

11 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 8,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xác định tỷ lệ đóng góp của sinh viên khi làm bài tập nhóm là một thao tác quan trọng, nhằm góp phần nâng cao chất lượng bài tập nhóm của sinh viên và đảm bảo tính công bằng giữa các thành viên. Tuy nhiên nhiều giảng viên vẫn chưa chú trọng việc này khi cho sinh viên làm bài tập nhóm. Bài viết nêu lên thực trạng xác định tỷ lệ đóng góp của sinh viên chuyên ngành Sư phạm tiếng Anh tại thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: https://tapchikhoahoc.sgu.edu.vn

THỰC TRẠNG XÁC ĐỊNH TỈ LỆ ĐÓNG GÓP KHI LÀM BÀI TẬP NHÓM CỦA SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH SƯ PHẠM TIẾNG ANH

Determination of contribution rates of group work among students majoring

English Pedagogy

ThS Đào Vinh Xuân (1), ThS Trần Nguyễn Minh Nhựt (2)

(1) Trường Đại học Sài Gòn

(2) Trường Cao đẳng Kinh tế TP.HCM

TÓM TẮT

Việc xác định tỷ lệ đóng góp của sinh viên khi làm bài tập nhóm là một thao tác quan trọng, nhằm góp phần nâng cao chất lượng bài tập nhóm của sinh viên và đảm bảo tính công bằng giữa các thành viên Tuy nhiên nhiều giảng viên vẫn chưa chú trọng việc này khi cho sinh viên làm bài tập nhóm Bài viết nêu lên thực trạng xác định tỷ lệ đóng góp của sinh viên chuyên ngành Sư phạm tiếng Anh tại thành phố

Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số sinh viên đã nhận thức được lợi ích của việc xác định

tỉ lệ đóng góp khi làm bài tập nhóm, nhưng ở mức độ chưa cao và chủ yếu là sinh viên vẫn chia đều tỉ lệ đóng góp; có nhiều nguyên nhân và hậu quả không xác định tỉ lệ đóng góp Từ đó, chúng tôi đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế các hậu quả có thể xảy ra và phát huy tối đa lợi ích của việc xác định tỉ

lệ đóng góp khi làm bài tập nhóm trong môi trường đại học

Từ khóa: Bài tập nhóm của sinh viên, chất lượng bài tập nhóm, xác định tỉ lệ đóng góp

ABSTRACT

Identifying contribution rates of students’ group work is important to raise the quality of students’ group work and ensure the fairness among group members However, many teachers still do not pay attention

to this when assigning group exercises for students The article highlights the situation of determining the contribution rate of students majoring in English Pedagogy in Ho Chi Minh City The study results showed that the majority of the students were aware of the benefits of determining the rate of contribution to group exercises, but this level is not high and mostly students still divided the contribution equally There are many causes and consequences that do not determine the contribution rate From there, we propose a number of measures to limit the possible consequences and maximize the benefits of determining the contribution rate when doing group exercises at university

Keywords: Students’ group work, quality of students’ group work, determination of contribution rate

1 Dẫn nhập

Bài tập nhóm là tài sản trí tuệ của tập thể

và có sự đóng góp của từng cá nhân, là nhiệm

nay nhiều công trình như là: “An introduction

to group work practice” của Toseland & Robert (2017); “Group Work in the English

Trang 2

Classroom Learning” của Philip Chappell

(2014) và “Spirals Series Circle: Developing

Language and Communication Skills through

Effective Small Group Work” của Nash

(2011) đã nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến

thực trạng làm việc nhóm chưa hiệu quả của

SV như: thiếu kỹ năng làm việc nhóm, chưa

rõ cách thức trình bày bài tập nhóm, lịch học

tập của mỗi SV khác nhau do học chế tín

chỉ… dẫn đến khó khăn khi làm việc nhóm

Bên cạnh đó, nghiên cứu về việc xác định tỉ lệ

đóng góp khi làm bài tập nhóm đối với SV

chưa nhiều Chính vì vậy, chúng tôi đã tìm

hiểu thực trạng xác định tỉ lệ đóng góp khi

làm bài tập nhóm của SV chuyên ngành Sư

phạm tiếng Anh (SPTA) tại một số trường

trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

(TP.HCM) trong bối cảnh đất nước đang hội

nhập sâu rộng khu vực và thế giới như hiện

nay, đặc biệt là các tổ chức như ASEAN,

CPTPP rất đề cao vai trò của sở hữu trí tuệ

trong cuộc sống Từ đó cho thấy, mức độ

quan trọng và lợi ích của hoạt động xác định tỉ

lệ đóng góp khi làm bài tập nhóm đối với SV

nói chung và SV chuyên ngành SPTA nói

riêng, tiến tới xây dựng nền văn hoá tỉ lệ đóng

góp trong môi trường đại học tại Việt Nam

2 Nội dung

2.1 Khái niệm

2.1.1 Khái niệm “bài tập nhóm”

Bài tập là “nội dung giao cho người

học để tập vận dụng những điều đã học”

(Thái Xuân Đệ, 2012, tr 27) hay Bài tập là

“bài làm học trò làm theo yêu cầu của

người Thầy” (Hoàng Long, 2012, tr 25)

Nhóm là “tập hợp một số người có chung

định hướng” (Richards, J & Schmidt, R,

2010, tr 99) Do đó, bài tập nhóm là bài

tập người dạy yêu cầu hai hay nhiều người

học cùng thực hiện Tuy nhiên, bài tập

nhóm có rất nhiều yếu tố liên quan Một

trong số đó là “tỉ lệ đóng góp” của SV

2.1.2 Khái niệm “tỉ lệ đóng góp”

Theo Từ điển Tiếng Việt, tỉ lệ là “cái lệ

dùng để so sánh, là tương quan so sánh giữa hai số” (Thái Xuân Đệ, 2012, tr 155) Ngoài ra, làm việc nhóm một hoạt động học tập bao gồm một nhóm nhỏ của những người học làm việc cùng nhau Nhóm có thể làm việc trên một nhiệm vụ duy nhất hoặc trên các phần khác nhau của một nhiệm vụ lớn hơn Nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm thường được lựa chọn bởi các thành viên của nhóm (Richards & Schmidt, 2010, p 99) Công việc của nhóm

có thể được định nghĩa là hoạt động hướng đến mục tiêu với các nhóm nhiệm vụ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này được hướng đến các thành viên nhóm và toàn bộ nhóm trong một hệ thống (Toseland & Robert,

2017, p 199) Đóng góp là “sự góp sức hay tiền bạc vào một công việc gì đó” (Hoàng Long, 2012, tr 52) Do đó, tỉ lệ đóng góp

là tương quan giữa sự đóng góp công sức hay tiền bạc của các thành viên vào một công việc chung

2.2 Thực trạng

2.2.1 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu nhằm làm rõ các nội dung như sau: (i) Nhận thức của SV về mức

độ quan trọng của việc xác định tỉ lệ đóng góp (ii) Nguyên nhân SV thực hiện/ không thực hiện việc xác định tỉ lệ đóng góp (iii) Cách thức xác định tỉ lệ đóng góp của SV (iv) Các vấn đề phát sinh khi không thực hiện việc xác định tỉ lệ đóng góp

2.2.2 Phương pháp, công cụ và mẫu nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi và phương pháp toán học (ứng dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0

Trang 3

để xử lý các số liệu) Công cụ khảo sát là

phiếu hỏi được xây dựng dựa trên thực

trạng làm bài tập nhóm của SV hiện nay

trong một học phần Phiếu khảo sát gồm 03

phần với 10 câu hỏi đóng Số lượng mẫu:

300 SV chuyên ngành SPTA tại trường Đại

học Sài Gòn, trường Đại học Sư phạm

TP.HCM và trường Đại học Sư phạm Kỹ

thuật TP.HCM được lấy theo cách ngẫu

nhiên phân tầng từ SV năm nhất đến năm

cuối trong năm học 2016 - 2017

2.2.3 Kết quả nghiên cứu

Kết quả khảo sát cho thấy các thực

trạng về: i) Nhận thức của sinh viên mức

độ quan trọng của việc xác định tỉ lệ đóng

góp ii) Nguyên nhân sinh viên thực hiện/ không thực hiện việc xác định tỉ lệ đóng góp iii) Cách thức xác định tỉ lệ đóng góp của sinh viên và iv) Các vấn đề phát sinh khi không thực hiện việc xác định tỉ lệ đóng góp

a) Nhận thức của sinh viên về mức độ quan trọng của việc xác định tỉ lệ đóng góp

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên các phương diện như: mức độ thường xuyên làm bài tập nhóm theo thời gian, môn học hay làm nhóm, tính tích cực thành viên của nhóm và quan điểm của SV về mức độ cần thiết khi xác định tỉ lệ đóng

góp khi làm bài tập nhóm

Bảng 1: Mức độ thường xuyên làm bài tập nhóm

Xếp hạng Mức độ Số lựa chọn (SV) Tỉ lệ (%)

Từ Bảng 1 cho thấy SV chuyên ngành

SPTA khá thường xuyên làm bài tập nhóm

(56,7%) Do đó, việc làm bài tập nhóm là một

hoạt động thường xuyên và phổ biến ở bậc

đại học Các bài tập nhóm đó được thực hiện

đối với môn chuyên ngành và môn chung,

đặc biệt nhiều ở các môn chủ chốt của ngành SPTA Tuy nhiên, không phải cá nhân nào cũng tích cực làm việc nhóm và kết quả khảo sát thực tế cho thấy tỉ lệ thành viên tích cực hoạt động trong nhóm là khác nhau Số liệu được thể hiện trong Biểu đồ 1 như sau:

Trang 4

10

20

30

40

50

Khoảng 25% Khoảng 50% Khoảng 75% Khoảng 100%

12.7

50

31.3

6

Mức độ

Biểu đồ 1: Tỉ lệ thành viên tích cực khi làm việc nhóm

Tỉ lệ thành viên tích cực trong tổng số thành viên của nhóm

Từ Biểu đồ 1 cho thấy 50% SV

chuyên ngành SPTA cho rằng chỉ có một

nửa thành viên của nhóm là hoạt động tích

cực Đặc biệt, số liệu cho thấy tất cả thành

viên của nhóm làm việc tích cực chỉ là

6% Do đó, làm việc nhóm là nhiệm vụ

thường xuyên ở bậc đại học, nhưng không

phải SV nào cũng tích cực làm việc và

đóng góp cho bài tập nhóm Bên cạnh đó,

có khá nhiều SV còn lơ là, chưa tích cực

đóng góp cho bài tập của nhóm Như vậy,

tỉ lệ thành viên tích cực làm việc và đóng góp cho bài tập của nhóm thường không cao và không phải SV nào cũng tích cực đóng góp công sức cá nhân của mình cho bài tập chung của nhóm Nguyên nhân

của thực trạng này sẽ được chúng tôi thể hiện ở các phần sau

Bên cạnh đó, chúng tôi còn tìm hiểu quan điểm của SV về mức độ cần thiết khi xác định tỉ lệ đóng góp khi làm bài tập nhóm được thể hiện trong Bảng 2

Trang 5

Bảng 2: Mức độ cần thiết khi xác định tỉ lệ đóng góp khi làm bài nhóm

Xếp hạng Mức độ Số lựa chọn (SV) Tỉ lệ (%)

Từ Bảng 2 cho thấy có đến 83,3% SV

tham gia khảo sát đã nhận biết được sự cần

thiết và 76,7% SV nói rằng họ có thực hiện

việc xác định tỉ lệ đóng góp khi làm bài tập

nhóm Nghĩa là trong thực tế, đa số SV

cũng đã nhận thức được vai trò của công

việc xác định tỉ lệ đóng góp này

b) Nguyên nhân sinh viên thực hiện/ không thực hiện việc xác định tỉ lệ đóng góp

Có khá nhiều yếu tố để SV xác định tỉ

lệ đóng góp, số liệu được thể hiện trong Biểu đồ sau:

Biểu đồ 2: Lợi ích của việc xác định tỉ lệ đóng góp

khi làm bài tập nhóm

2 27.1

47.6 23.3

Đảm bảo sự công bằng giữa các thành viên Dễ dàng phân bố lợi ích khi có phát sinh

Từ Biểu đồ 3, chúng ta nhận thấy SV

chuyên ngành SPTA cho rằng lợi ích lớn

nhất của hoạt động này là “đảm bảo sự công

bằng giữa các thành viên” (47,6%), thứ hai

là “kích thích thành viên tham gia tích cực”

(27,1%) và kế đến là “dễ dàng phân bổ lợi

ích phát sinh” (23,3%) Từ đó cho thấy, SV

đã cơ bản am hiểu nhận biết được lợi ích

của hoạt động này Tuy nhiên, nội dung “dễ

dàng phân bổ lợi ích khi có phát sinh” từ bài

tập nhóm - một tài sản trí tuệ của cá nhân và tập thể - thì SV lựa chọn chưa nhiều Điều này cho thấy một thực trạng: SV còn chưa quan tâm và tìm hiểu kỹ lợi ích có thể phát sinh từ bài tập nhóm Thực tế cho thấy, thông thường SV không khai thác bài tập nhóm gì thêm sau khi hoàn tất Bên cạnh

đó, không phải nhóm nào cũng xác định tỉ lệ đóng góp khi làm bài tập nhóm và những lý

do được SV đưa ra là:

Trang 6

Bảng 3: Lý do sinh viên không xác định tỉ lệ đóng góp khi làm bài tập nhóm

Xếp hạng Lý do Số lựa chọn (SV) Tỉ lệ (%)

2 Nể nang bạn bè nên thấy ngại xác định tỉ lệ 83 27,7

4 Chưa từng nghe qua việc xác định tỉ lệ này 36 12,0

5 Có xác định tỉ lệ cũng không có lợi ích gì 22 7,3

Từ Bảng 3 cho thấy, có nhiều nguyên

nhân khiến SV chuyên ngành SPTA

không xác định tỉ lệ đóng góp Trong đó

nguyên nhân chính cũng là lý do phổ biến

nhất là do “Giảng viên không có yêu cầu”

(30%) nên SV cũng không thực hiện hoạt

động này Thứ hai là tâm lý “nể nang bạn

bè nên thấy ngại xác định tỉ lệ” (27,7%)

với bạn cùng lớp Thứ ba là “không biết

cách xác định như thế nào” cho phù hợp

(23%) vì có thể SV không được Thầy/Cô

hoặc người thân hướng dẫn cách thức thực

hiện Ngoài ra cũng có một số lý do khác

như “chưa từng nghe qua việc xác định tỉ

lệ này” (12%) hoặc “có xác định tỉ lệ cũng không có lợi ích gì” (7,3%) nên SV đã

không thực hiện Như vậy, có khá nhiều

nguyên nhân chủ quan và khách quan khiến SV không xác định tỉ lệ đóng góp khi làm bài tập nhóm, điều này có thể dẫn đến một số hậu quả phát sinh như phân tích ở phần sau

c) Cách thức xác định tỉ lệ đóng góp của sinh viên

Bên cạnh nhận thức và nguyên nhân nêu trên, chúng tôi đã khảo sát các cách thức mà SV xác định tỉ lệ đóng góp Số liệu được trình bày ở Biểu đồ 3 như sau:

Trang 7

Biểu đồ 3: Cách thức xác định tỉ lệ đóng góp

khi làm bài tập nhóm

60

17 23

0 10 20 30 40 50 60

70 %

Chia đều nhau Căn cứ vào đóng

góp thực tế

Căn cứ vào các thỏa thuận khác

Theo kết quả khảo sát, có đến 60% SV

vẫn chia đều nhau tỉ lệ đóng góp cho các

thành viên, 23% chia theo đóng góp thực tế,

còn lại theo thoả thuận khác Do đó, có một

nghịch lý xảy ra là: mức độ tích cực đóng

góp của các thành viên là khác nhau, nhưng

đa số SV chuyên ngành SPTA lại chia đều

nhau tỉ lệ đóng góp khi làm bài tập nhóm

Vì vậy, tỉ lệ SV căn cứ vào “đóng góp thực tế” để xác định tỉ lệ đóng góp cho bài tập nhóm là chưa cao, trong khi căn cứ này chính là cơ sở để đánh giá về mặt điểm số hoặc phân chia các lợi ích khác (nếu có)

giữa các thành viên trong nhóm sau này

Trang 8

d) Các vấn đề phát sinh khi không thực hiện việc xác định tỉ lệ đóng góp

Biểu đồ 4: Hậu quả khi không xác định tỉ lệ đóng góp

khi làm bài tập nhóm

3

52.2 30.1

14.7

Hậu quả khác Không công bằng Chất lượng bài tập nhóm chưa như mong đợi Xảy ra mâu thuẫn khi quyền lợi phát sinh

Từ thực trạng trên có thể dẫn đến một số

hậu quả hay vấn đề có thể phát sinh như sau:

Từ biểu đồ 4 cho thấy có đến 52,2% SV

cho rằng sự “không công bằng” sẽ xảy ra

nếu không xác định tỉ lệ đóng góp, điều này

hoàn toàn trùng khớp với kết quả của Biểu

đồ 2 Thứ hai là “chất lượng bài tập nhóm

chưa như mong đợi” (30,1%), điều này cũng

phản ánh đúng thực tế của SV là có quan

tâm đến kết quả của bài tập nhóm mình đã

thực hiện Và chỉ khoảng 14,7% cho rằng

“mâu thuẫn có thể xảy ra nếu có lợi ích phát

sinh” từ bài tập nhóm, điều này cũng hoàn

toàn trùng khớp với nội dung SV còn hạn

chế trong việc khai thác, phân bổ lợi ích phát

sinh nếu có của bài tập nhóm sau khi hoàn

tất Từ các vấn đề trên, có thể dẫn đến hậu

quả là khối lượng công việc nhóm của mỗi

thành viên phải làm là chưa đồng đều, có thể

công việc chỉ dồn hết vào một số thành viên

của nhóm và sẽ có SV không nắm được kiến

thức trọn vẹn của phần nội dung được giao,

vì lệ thuộc vào phần thực hiện của các thành

viên khác Như vậy, từ những lý do không

xác định tỉ lệ đóng góp và các vấn đề có thể phát sinh, chúng tôi cho rằng SV đã hiểu biết phần nào hậu quả có thể xảy ra khi không xác định tỉ lệ đóng góp sau khi làm bài tập nhóm, tuy nhiên mức độ này vẫn còn chưa cao

Tóm lại, đa số SV chuyên ngành SPTA đã nhận thức được hậu quả và lợi ích của việc xác định tỉ lệ đóng góp này Thế nhưng cần có sự hướng dẫn từ nhà trường để hạn chế các vấn đề và phát huy được tối đa lợi ích của hoạt động xác định

tỉ lệ này trong môi trường đại học

3 Một số đề xuất

Trên cơ sở lí luận kết hợp với kết quả khảo sát, nhóm nghiên cứu có một số đề xuất và kiến nghị sau đây:

3.1 Về phía nhà trường

- Định hướng văn hóa xác định tỉ lệ đóng góp khi làm bài tập nhóm trong SV

Trang 9

nói chung và SV chuyên ngành SPTA nói

riêng ngay từ khi SV mới vào đại học

- Ban hành các quy định cụ thể về văn

hóa làm bài tập nhóm và rộng hơn là quản

trị tài sản trí tuệ

3.2 Về phía Giảng viên

- Hướng dẫn và tạo điều kiện cho SV

xác định tỉ lệ đóng góp khi làm bài tập

nhóm, từ đó giúp SV có kiến thức cơ bản

về quản trị tài sản trí tuệ cho bản thân

- Yêu cầu SV xác định tỉ lệ đóng góp

khi làm bài tập nhóm, nhằm tăng tính công

bằng trong kiểm tra và đánh giá kết quả

học tập của SV, góp phần nâng cao hơn

nữa chất lượng giảng dạy

3.3 Về phía Sinh viên

- Ý thức được mức độ quan trọng của

việc xác định tỉ lệ đóng góp khi làm bài

tập nhóm và cần tích cực tham gia khi làm

việc nhóm

- Hình thành thói quen và từng bước xây dựng văn hóa xác định tỉ lệ đóng góp đúng với đóng góp thực tế, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng học tập của SV

4 Kết luận

Bài báo khẳng định mức độ quan trọng

và lợi ích của việc xác định tỉ lệ đóng góp khi làm bài tập nhóm, góp phần giúp SV làm việc nhóm hiệu quả hơn trong môi trường đại học Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là chỉ mới tập trung vào các tiêu chí đánh giá đối với SV chuyên ngành SPTA và chưa có sự so sánh đối chiếu với các SV ngành khác Vì vậy, hướng nghiên cứu tiếp theo là mở rộng đối tượng nghiên cứu và tìm hiểu mối tương quan giữa các tiêu chí ảnh hưởng đến việc xác định tỉ lệ đóng góp của SV khi làm bài tập nhóm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hoàng Long (chủ biên) (2012) Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, tr 25

Nash, M (et al.) (2011) Spirals Series Circle: Developing Language and Communication Skills through Effective Small Group Work, Great Britain: Routledge, p 88-89 Philip Chappell, Ph (2014) Group Work in the English Language Curriculum: Sociocultural and Ecological Perspectives on Second Language Classroom Learning, Great Britain: Palgrave Macmillan, p 89-90.

Richards, J & Schmidt, R (2010) Longman Dictionary of Language Teaching and

Applied Linguistics, (ed.), Great Britain: Longman, p 99

Thái Xuân Đệ (2012) Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hoá Thông tin, tr 27

Toseland, R W & Robert, R (2017) An introduction to group work practice, (8th editon), Great Britain: Pearson, p 199

Ngày nhận bài: 01/8/2018 Biên tập xong: 15/6/2019 Duyệt đăng: 20/6/2019

Trang 10

Kính gửi Quý bạn đọc,

Trong số Tạp chí này, chúng tôi xin giới thiệu đến Quý bạn đọc và các nhà khoa học những bài nghiên cứu thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Giáo dục

Ban Biên tập Tạp chí khoa học Đại học Sài Gòn xin trân trọng thông báo đã nhận được bài viết của rất nhiều nhà khoa học ở các chuyên ngành và lĩnh vực khác nhau Ban Biên tập chân thành cảm ơn sự cộng tác của Quý vị Vì điều kiện giới hạn

về số lượng bài trong mỗi số, chúng tôi xin được chọn đăng ở các số Tạp chí tiếp theo

Với những bài viết đã chọn đăng trong số Tạp chí này, chắc chắn vẫn còn thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý bạn đọc để có thể ngày một nâng cao hơn nữa chất lượng cho Tạp chí

Một lần nữa, Ban Biên tập Tạp chí khoa học Đại học Sài Gòn chân thành cảm

ơn Quý bạn đọc, các nhà khoa học trong cả nước và mong muốn được đón nhận sự tín nhiệm lâu dài của Quý vị trong tương lai

Trân trọng

BAN BIÊN TẬP TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Ngày đăng: 11/02/2020, 20:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w