1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lí lớp 9 ở trường PTDTBT THCS Thượng Nông năm học 2016- 2017

17 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 123,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mà các giáo viên trái môn dù có dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn Địa lí để giảng dạy nhưng không nắm vững được kiến thức chuyên sâu của bộ môn, đặc biệt là thiếu các kĩ năng chuy

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

NĂM HỌC 2016 - 2017

Họ và tên: ………

Sinh ngày 14 tháng 7 năm 1980 Giới tính: Nữ

Đơn vị công tác: Trường PTDT bán trú THCS Thượng Nông

Chức vụ: Phó hiệu trưởng, Phó Chủ tịch Công đoàn trường, Chi ủy viên chi

bộ Nhà trường, Ủy viên BTV Hội Liên hiệp phụ nữ xã

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học Sư phạm Địa lí

Quyền hạn, nhiệm vụ được giao hoặc đảm nhận:

+ Phụ trách công tác chuyên môn tổ Xã hội;

+ Phụ trách công tác quản lý học sinh bán trú;

+ Phụ trách công tác Phổ cập giáo dục- xóa mù chữ;

+ Phụ trách công tác Thiết bị- Thư viện;

+ Phụ trách công tác Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực; + Phụ trách công tác Văn thể;

+ Giảng dạy môn Địa lí khối 9;

+ Phụ đạo học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức kĩ năng môn Địa lí lớp 9

Tên sáng kiến kinh nghiệm:

“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lí lớp 9 ở trường PTDTBT THCS Thượng Nông năm học 2016- 2017”

I PHẦN MỞ ĐẦU:

1 Lý do chọn đề tài:

Giáo dục là quốc sách hàng đầu, bởi giáo dục luôn đi trước sự phát triển của đất nước, nên vấn đề chất lượng giáo dục hiện nay đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội Nhưng để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và nâng cao chất lượng giảng dạy của môn học nói riêng thì đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực sư phạm, có sự đổi mới trong phương pháp

Trang 2

giảng dạy, … Tuy nhiên, trường PTDTBT THCS Thượng Nông từ năm học

2013-2014, 2014- 2015, 2015- 2016 và 2016- 2017 không có giáo viên chuyên giảng dạy môn Địa lý do đó bộ môn Địa lý là do các giáo viên trái môn giảng dạy Mà các giáo viên trái môn dù có dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn Địa lí để giảng dạy nhưng không nắm vững được kiến thức chuyên sâu của bộ môn, đặc biệt là thiếu các kĩ năng chuyên biệt của bộ môn Địa lí như sử dụng bản đồ, lược đồ, mô hình nhất là kĩ năng vẽ và phân tích biểu đồ, Còn học sinh, tiếp thu kiến thức một cách bị động, khó hiểu; yếu về kỹ năng đọc bản đồ, lược đồ, phân tích bảng số liệu, đặc biệt là chưa có kỹ năng vẽ và phân tích biểu đồ Chính vì vậy, học sinh chưa có sự ham mê trong học tập, tư tưởng coi thường môn Địa lý Điều đó dẫn đến chất lượng môn Địa lý ở nhà trường nói chung và môn Địa lý lớp 9 nói riêng trong

ba năm trở lại đây rất thấp Do vậy, bản thân tôi thấy được vấn đề cấp thiết là phải tìm

ra “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lý lớp 9 ở trường PTDTBT THCS Thượng Nông năm học 2016 - 2017”

2 Mục đích nghiên cứu:

Giúp đỡ các giáo viên không chuyên môn Địa lí mà đang giảng dạy Địa lí

tại trường PTDTBT THCS Thượng Nông nắm vững được các nội dung theo chuẩn

kiến thức môn Địa lí và các kĩ năng chuyên biệt như sử dụng bản đồ, lược đồ, mô hình nhất là kĩ năng vẽ và phân tích biểu đồ,

Hình thành cho học sinh phương pháp học tập để chiếm lĩnh tri thức và tạo cho bản thân một phương pháp học tập phù hợp để nắm vững kiến thức, xử lý những thông tin thu thập trong quá trình học tập Muốn vậy, người giáo viên phải tích cực chủ động trong việc đổi mới phương pháp và đa dạng hóa các hình thức dạy học để giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức một cách hiệu quả nhất

Chính vì những yêu cầu quan trọng trên, trong quá trình thực hiện giảng

dạy trên lớp bản thân tôi đã: “Vận dụng một số biện pháp để nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lý 9 ở trường PTDTBT THCS Thượng Nông năm học 2016-2017”, phần công việc mà tôi được đảm nhận trong nhiều năm học qua, bước đầu

đã có những kết quả nhất định

Trang 3

3 Đối tượng nghiên cứu:

Chất lượng giảng dạy của giáo viên và học tập môn Địa lí của học sinh lớp 9 ở trường PTDTBT THCS Thượng Nông năm học 2016 – 2017

4 Kế hoạch nghiên cứu:

T

T

Thời gian

Từ 01/9/ 2016

đến 15/5/2017

Nội dung công việc Sản phẩm

1 Từ 01/9 đến

15/9/2016

- Chọn đề tài, viết đề cương nghiên cứu - Bản đề cương chi tiết

2 Từ 15/9 đến

15/10/2016

- Đọc tài liệu lý thuyết về cơ

sở lý luận

- Khảo sát thực trạng học sinh, tổng hợp số liệu thực tế

- Tổ chức thăm lớp dự giờ giáo viên trái môn dạy Địa lí;

- Trao đổi với đồng nghiệp đề xuất các biện pháp, các sáng kiến

- Tập tài liệu lý thuyết

- Số liệu khảo sát đã xử lý

- Sổ dự giờ

- Tập hợp ý kiến đóng góp của đồng nghiệp

3 Từ 15/10 đến

15/11/2016

- Tổ chức Hội thảo môn Địa

lí, trao đổi với các giáo viên không chuyên môn Địa lí mà đang trực tiếp giảng dạy môn Địa lí tại trường; giải đáp những khó khăn vướng mắc khi giảng dạy môn Địa lí

- Tập huấn cho các giáo viên

về chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Địa lí cấp THCS;

- Tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Địa lý THCS; sách giáo khoa, sách bài tập Địa lí

- Một số mô hình, hình vẽ, bản đồ, lược đồ, Át lát Địa lí

và biểu đồ địa lí

4 Từ 15/11/

2016 đến

- Tổ chức dạy điển hình để các giáo viên trái môn được

- Bài soạn các tiết dạy điển hình trên lớp

Trang 4

dự giờ, trao đổi và thống nhất cách thức tổ chức một tiết dạy Địa lí đạt hiệu quả

- Thực hiện đổi mới một số nội dung, bài soạn, phương pháp và hình thức tổ chức dạy

và học môn Địa lí ở lớp 9;

- Áp dụng thử nghiệm sáng kiến vào thực hiện

- Bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng

- Hoạt động giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh

- Tài liệu, bài soạn bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng

5 Từ 10/4 đến

30/4/2017

- Hệ thống hóa tài liệu, viết báo cáo

- Xin ý kiến của đồng nghiệp

- Bản nháp báo cáo

6 Từ 30/4 đến

15/5/2017

Hoàn thiện báo cáo, nộp Hội đồng Sáng kiến cấp cơ sở Bản báo cáo chính thức

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện sáng kiến, bản thân tôi đã sử dụngmột số phương pháp như: các phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết, các phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin và thống kê, xử lý số liệu

II PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận của sáng kiến

Trong quá trình dạy học, việc nâng cao chất lượng dạy và học là một vấn đề quan trọng và đòi hỏi phải được sự quan tâm của Thầy và Trò Trước hết để nâng cao chất lượng giảng dạy đòi hỏi người thầy phải có trình độ chuyên môn, năng lực

sư phạm vững vàng bởi vì dạy học vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật phải có những phương pháp giảng dạy phù hợp, theo hướng tích cực giúp học sinh chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức Việc nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và chất lượng môn Địa lý nói riêng cần có những phương pháp đặc trưng, kĩ

Trang 5

năng đặc thù riêng Ngoài việc lên lớp các giáo viên nhất là giáo viên không có chuyên môn phải không ngừng học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, tích cực tìm kiếm những tài liệu tham khảo có liên quan để làm sao có thể truyền đạt những kiến thức cho học sinh một cách nhẹ nhàng, dễ hiểu Sự tiếp thu của học sinh nhiều hay ít, nhanh hay chậm sẽ liên quan đến chất lượng của việc học Khi mà học sinh lĩnh hội kiến thức và kĩ năng cơ bản của môn Địa lí một cách đầy đủ, tự giác và tích cực từ khối lớp 6,7,8 năm học trước thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng trong quá trình học tập của học sinh khối lớp 9 ở năm học tiếp theo Điều đó cũng có nghĩa là góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của Nhà trường

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến:

Bản thân tôi là Phó hiệu trưởng và là giáo viên chuyên môn Địa lý, nhiều năm đảm nhận giảng dạy môn Địa lý lớp 9, qua quá trình giảng dạy trên lớp, tìm hiểu và trao đổi với một số đồng nghiệp trái môn nên tôi đã rút ra được những ưu điểm và nhược điểm của việc giảng dạy môn Địa lý ỏ trường PTDTBT THCS Thượng Nông như sau:

* Ưu điểm:

- Giáo viên: Nắm được phương pháp dạy học môn Địa lý tương đối tốt, trong quá trình giảng dạy đã biết lựa chọn phương pháp khá phù hợp với từng bài dạy và nội dung từng hoạt động cụ thể Nội dung giảng dạy dựa theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và phân phối chương trình môn Địa lí THCS;

- Học sinh: Phần lớn các em đều nhìn nhận bộ môn Địa lý không phải là môn học phụ nên đã có ý thức tự giác trong học tập thậm chí tự tìm tòi tham khảo thêm tài liệu, trong giờ học hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài, chăm lo cho việc học bài

và làm bài tập ở nhà Một số em học sinh tự nguyện tham gia vào đội tuyển bồi dưỡng học sinh giỏi, điều đó đã động viên tinh thần cho những giáo viên dạy môn Địa lý

* Nhược điểm:

- Nhà trường: Thiếu giáo viên chuyên môn Địa lý nên học sinh khối lớp 6,7,8 đều do giáo viên trái môn giảng dạy;

- Giáo viên: Không phải chuyên môn Địa lý nên mặc dù có bám theo chuẩn kiến thức kỹ năng, có vận dụng nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau nhưng có

Trang 6

những phương pháp sử dụng chưa phù hợp với nội dung bài dạy, nhất là nhiều nội dung kiến thức không nắm được chuyên sâu, đặc biệt là thiếu các kỹ năng cơ bản của bộ môn Địa lý như kỹ năng vẽ và phân tích biểu đồ, kỹ năng xử lý, phân tích bảng số liệu, kỹ năng sử dụng bản đồ, lược đồ, sử dụng Át lát Địa lý, hay kỹ năng giải các bài tập Địa lý, … Do đó giáo viên thường dạy chay ít sử dụng đồ dùng trực quan, còn những bài tập vẽ và phân tích biểu đồ thì dạy không đủ các bước

- Học sinh: Đa số các em đặc biệt là học sinh lớp 9 khi học đến phần Địa lí dân

cư và kinh tế- xã hội Việt Nam thì bị rỗng kiến thức Địa lí tự nhiên Việt Nam từ lớp

8, trong khi các kĩ năng cơ bản ở lớp 6, 7 và phần địa lí tự nhiên ở lớp 8 có mối quan

hệ chặt chẽ với phần địa lí dân cư, kinh tế- xã hội ở lớp 9

Bên cạnh đó, nhiều học sinh yếu về kỹ năng đọc bản đồ, lược đồ, phân tích bảng số liệu, đặc biệt là chưa có kỹ năng vẽ và phân tích biểu đồ Chính vì vậy, một

số học sinh chưa có sự ham mê trong học tập, tư tưởng coi thường môn Địa lý, cho rằng môn Địa lí là môn học không cần trí tuệ Nên trong giờ học, khi hoạt động nhóm và khi xây dựng bài học sinh chưa chịu khó suy nghĩ, thiếu chủ động còn phụ thuộc vào sách giáo khoa Từ những hạn chế trên, chất lượng dạy và học môn Địa lí lớp 9 nói riêng và chất lượng môn Địa lí của nhà trường nói chung trong những năm vừa qua rất thấp

3 Các sáng kiến đã được sử dụng để giải quyết vấn đề (Bài học kinh nghiệm):

3.1 Tiến hành khảo sát học sinh, giáo viên sau 4 tuần học:

- Kết quả khảo sát học sinh nắm được một số nội dung theo chuẩn kiến thức,

kĩ năng cơ bản môn Địa lí:

- Kết quả thăm lớp dự giờ giáo viên dạy trái môn của Ban giám hiệu và Tổ chuyên môn xếp loại: 3/3 giờ Trung bình

Trao đổi với giáo viên không có chuyên môn Địa lí mà đang trực tiếp giảng

dạy môn Địa lí lớp 6, 7, 8 thì 3/3 giáo viên trái môn đều cho rằng: “nhiều nội

Trang 7

dung theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Địa lí THCS là rất khó, nhất là các kĩ năng Địa lí như sử dụng bản đồ, lược đồ, Át lát Địa lí và khó nhất là kĩ năng vẽ

và phân tích biểu đồ”

Từ những kết quả khảo sát học sinh và trao đổi với giáo viên dạy trái môn, tôi

đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp sau:

3.2 Tổ chức Hội thảo bộ môn:

Để phụ đạo được học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng thì trước hết đội ngũ giáo viên phải có kiến thức và kĩ năng của bộ môn nhất định Cho nên đối tượng thứ nhất là các giáo viên không có chuyên môn Địa lý mà đang trực tiếp giảng dạy môn Địa lý trong nhà trường Nội dung tập trung vào giải quyết những vướng mắc, khó khăn khi giảng dạy trái môn Trên cơ sở áp dụng theo hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Địa lý cấp THCS, tổ chức trao đổi thảo luận để nắm được những khó khăn, vướng mắc khi dạy môn Địa lý từ các giáo viên không chuyên, từ đó tập huấn cho giáo viên không chuyên về nội dung theo chuẩn kiến thức, kỹ năng, phương pháp giảng dạy và học tập bộ môn Địa lý Hướng dẫn

về kỹ năng khai thác bản bản đồ, lược đồ; kỹ năng vẽ và phân tích biểu đồ Hướng dẫn, giải đáp những khó khăn, vướng mắc của giáo viên khi giải bài tập Địa lí Bên cạnh đó, chú trọng tích hợp các nội dung theo quy định như: Giáo dục bảo

vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm năng lượng và định hướng phát triển năng lực

3.3 Thực hành giảng dạy trên lớp:

Là giáo viên chuyên môn Địa lý bản thân tôi trực tiếp lên lớp giảng dạy, mỗi khối lớp từ một đến hai tiết dạy trong đó 02 tiết dạy về nội dung kiến thức kết hợp rèn kỹ năng sử dụng hình vẽ, mô hình; 01 tiết dạy về nội dung kiến thức kết hợp rèn kỹ năng sử dụng bản đồ, lược đồ và phân tích bảng số liệu; 01 tiết dạy rèn kỹ năng vẽ và phân tích biểu đồ, để cho các giáo viên không có chuyên môn được

dự giờ sau đó trao đổi và đi đến thống nhất về cách thức tổ chức giảng dạy và học tập môn Địa lý để giúp cho học sinh vừa nắm được kiến thức vừa rèn được những

kĩ năng cơ bản Chẳng hạn:

Trang 8

+ Đối với bài có sử dụng hình vẽ, mô hình để giúp học sinh vừa nắm vững kiến thức vừa rèn kĩ năng sử dụng mô hình, tạo ra trí tưởng phong phú của các em:

Ví dụ như bài 7 Sự tự quay quanh trục của Trái Đất và các hệ quả (lớp 6): Ở bài

này giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh về kiến thức: Trình bày được chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất (hướng, thời gian, quỹ đạo và tính chất chuyển động); và các hệ quả chuyển động của trái đất (hiện tượng ngày, đêm kế tiếp nhau ở khắp mọi nơi trên Trái Đất; sự chuyển động lệch hướng của các vật thể ở nửa cầu Bắc và nửa cầu Nam trên bề mặt Trái Đất) Về kỹ năng: Sử dụng hình vẽ, mô hình (Quả địa cầu) để mô tả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất, mô tả hướng chuyển động tự quay, sự lệch hướng chuyển động của các vật thể trên bề mặt Trái Đất, độ nghiêng, hướng nghiêng của trục Trái Đất khi chuyển động trên quỹ đạo

+ Đối với bài có sử dụng bản đồ, lược đồ để giúp học sinh vừa nắm vững kiến thức vừa rèn kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ:

Ví dụ như bài 35 Khái quát châu Mĩ (lớp 7): Ở bài này giáo viên phải hướng

dẫn cho học sinh biết được kiến thức về vị trí địa lí, giới hạn của châu Mĩ trên bản đồ; trình bày được những đặc điểm khái quát về lãnh thổ, dân cư, dân tộc của châu

Mĩ Đồng thời, rèn kĩ năng sử dụng bản đồ châu Mĩ để xác định vị trí địa lí của châu Mĩ; đọc lược đồ các luồng nhập cư vào châu Mĩ để biết dân cư châu Mĩ hiện nay có nguồn gốc chủ yếu là người nhập cư, nguyên nhân làm cho châu Mĩ có thành phần chủng tộc đa dạng

+ Đối với bài rèn kĩ năng vẽ và phân tích biểu đồ:

Ví dụ như bài 35 Thực hành về khí hậu và thuỷ văn Việt Nam (lớp 8): Ở bài

này, trọng tâm là rèn cho học sinh kĩ năng vẽ biểu đồ phân bố lượng mưa và lưu lượng nước trong năm ở trạm khí tượng sông Hồng và sông Gianh, vẽ biểu đồ kết hợp cột và đường Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh thực hiện 5 bước:

Bước 1: Kẻ khung hệ tọa độ, hai trục tung với 2 trục đơn vị khác nhau (trục tung bên trái biểu thị lượng mưa (mm), trục tung bên phải biểu thị lưu lượng nước của sông (m3 /s), trục hoành biểu thị thời gian (12 tháng);

Trang 9

Bước 2: Vẽ từng cột lần lượt theo thứ tự bảng số liệu (12 cột tương ứng 12 tháng trong năm) biểu thị cho lượng mưa;

Bước 3: Vẽ đường biểu diễn, các điểm đặt ở giữa các cột để nối đường biểu diễn biểu thị cho lưu lượng nước của sông

Bước 4: Ghi các số liệu vào biểu đồ đã vẽ Có kí hiệu để phân biệt, có tên biểu đồ, bảng chú giải

Bước 5: Hoàn chỉnh biểu đồ, nhận xét

3.4 Đổi mới một số nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy và học môn Địa lí ở khối lớp 9 ở trường PTDTBT THCS Thượng Nông:

* Đổi mới cách soạn bài:

- Giáo án được xem là bản kế hoạch dạy học của giáo viên Vì vậy trong giáo án phải chú trọng thiết kế các hoạt động học tập của học sinh, tăng cường tổ chức các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ, chuẩn bị phiếu học tập Tăng cường giao tiếp giữa thầy và trò, huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm của từng học sinh

- Phải lựa chọn nội dung thích hợp: Những nội dung phải đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính giáo dục, tính phổ thông của chương trình Tuy nhiên, khối lượng tri thức nhiều nhưng thời gian lại có hạn (45 phút), nên những yêu cầu phải đảm bảo tính khoa học, tính chính xác là cần thiết, bên cạnh đó cũng phải đảm bảo tính vừa sức với học sinh

- Hệ thống câu hỏi đặt ra phải có tính kích thích sự tò mò, ham hiểu biết, có nhiều ý nghĩa về thực tiễn, đặt ra vấn đề học tập dưới dạng mâu thuẫn giữa các học sinh đã biết và học sinh chưa biết

Ví dụ: Bài 1 Cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Cần nêu câu hỏi kích thích sự tò mò của học sinh như: Những nét văn hóa riêng của các dân tộc được thể hiện như thế nào Cho ví dụ? Em thuộc dân tộc nào? Địa bàn cư trú ở đâu? Nét văn hóa tiêu biểu của dân tộc em là gì? Sự phân bố các dân tộc Việt Nam như thế nào?

Xác định nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện các kĩ năng và tư duy phù hợp với nội dung bài học, làm thế nào để những học sinh có trình độ nhận

Trang 10

thức và tư duy khác nhau đều được làm việc với sự nổ lực của bản thân.

Ví dụ: Trong bài 30 Thực hành so sánh tình hình sản xuất cây công nghiệp lâu năm ở Trung du miền núi Bắc Bộ và Tây nguyên.

Phải chú trọng rèn luyện cho học sinh kĩ năng so sánh sự khác biệt về cây công nghiệp ở hai vùng Để hoàn thành nội dung này, giáo viên phải tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm, mỗi nhóm phân tích một loại cây để các học sinh có trình

độ khác nhau có thể hỗ trợ cho nhau trong việc tìm ra kiến thức

* Xây dựng tình huống có vấn đề:

- Xây dựng những tình huống có vấn đề, khi học sinh đứng trước một mục đích muốn đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết bằng cách nào, chưa đủ kiến thức để giải quyết

- Khi xây dựng tình huống có vấn đề, giáo viên cần lựa chọn:

+ Đặt vấn đề, hướng dẫn học sinh cách giải quyết vấn đề Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh

+ Nêu vấn đề, gợi ý học sinh cách giải quyết Giáo viên và học sinh cùng đánh giá kết quả làm việc

+ Giáo viên cung cấp thông tin, tạo tình huống Học sinh phát hiện vấn đề nảy sinh cần giải quyết, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn phương pháp giải quyết Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

+ Giáo viên đưa ra tình huống thực để học sinh tự phát hiện vấn đề, lựa chọn vấn đề cần giải quyết, tự lập kế hoạch và phương pháp giải quyết, tự đánh giá chất lượng và hiệu quả giải quyết vấn đề

Ví dụ bài Phân bố dân cư và các loại hình quần cư.

Giáo viên đưa ra vấn đề: Tại sao vùng đồng bằng sông Hồng có mật động dân số cao nhất cả nước? Học sinh nêu các giả thuyết về nguyên nhân làm cho đồng bằng có mật độ dân số cao nhất cả nước là (học sinh thảo luận, trao đổi, phân tích và so sánh, rồi rút ra kết luận)

+ GV chuẩn kiến thức: Do Đồng bằng sông Hồng có lịch sử khai phá và định cư lâu đời, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cư trú và sản xuất, nền nông

Ngày đăng: 11/02/2020, 19:29

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w