Nằm ở vùng đất tận cùng phía nam Tổ quốc, Tây Nam Bộ mang trong mình hình ảnh của nền “văn minh kênh rạch”, với biểu tượng ghe xuồng ghi đậm dấu ấn đời sống văn hóa - ngôn ngữ suốt bao đời qua. Từ góc nhìn ngôn ngữ biểu tượng, qua khảo sát 2462 câu ca dao Nam Bộ, chúng tôi đã xác định được 9 ý nghĩa biểu tượng của ghe xuồng.
Trang 1ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY
Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: https://tapchikhoahoc.sgu.edu.vn
GHE XUỒNG TRONG CA DAO CỦA VÙNG VĂN HÓA SÔNG NƯỚC TÂY NAM BỘ - TIẾP CẬN TỪ GÓC NHÌN NGÔN NGỮ BIỂU TƯỢNG
Boats in the folksongs of river culture in the Southwest – An access from
the symbolic language perspective
TS Nguyễn Đăng Khánh
Trường Đại học Sài Gòn
TÓM TẮT
Nằm ở vùng đất tận cùng phía nam Tổ quốc, Tây Nam Bộ mang trong mình hình ảnh của nền “văn minh kênh rạch”, với biểu tượng ghe xuồng ghi đậm dấu ấn đời sống văn hóa - ngôn ngữ suốt bao đời qua Từ góc nhìn ngôn ngữ biểu tượng, qua khảo sát 2462 câu ca dao Nam Bộ, chúng tôi đã xác định được 9 ý nghĩa biểu tượng của ghe xuồng Đó là ý nghĩa biểu tượng về đời sống vật chất gắn với những nét khắc nghiệt và hoang dã của thiên nhiên thời mở cõi hoặc nét thanh bình, no đủ của đời sống cư dân nơi đây Đó còn là ý nghĩa biểu tượng về đời sống tinh thần phong phú với nét hào sảng của tình yêu quê hương đất nước hay vẻ chân chất, bộc trực của tình yêu lứa đôi, hoặc khí phách hào hiệp, tính cách phóng khoáng cùng những nét vất vả mưu sinh của những phận đời lênh đênh chìm nổi theo con nước lớn ròng Đó cũng là những vẻ đẹp giá trị của một bản sắc, một biểu tượng mà nền văn hóa sông nước Nam Bộ đã sản sinh
Từ khóa: Ghe xuồng, ý nghĩa biểu tượng, biểu tượng, Tây Nam Bộ
ABSTRACT
Located in the southern end of the country, the Southwest possesses the image of the "civilization of the canals", with the boat logo symbolizing the cultural-linguistic life throughout the past From symbolic language perspective, through the survey of 2462 Southern folk songs, we have identified 9 symbolic meanings of boats It is the symbolic meaning of material life associated with the harsh and wild features of the nature of the open realms or the serenity and fullness of the life of the people there It is also the symbolic meaning of the spiritual life enriched with the pride of the homeland's love of the country or the naivety, straightforwardness of the love of couple, or chivalrous temperament, liberal personality and the the hardship of life floating under the great water These nine symbolic meanings are the nine valuable beauties of an identity and a symbol that the Southern River culture has produced
Keywords: Boats, symbolic meaning, symbol, Southwest
1 Đặt vấn đề
1.1 Như đứa con sinh thành được thừa
hưởng tất cả sự yêu thương bao bọc của
dòng sông mẹ Mekong(1) hùng tráng - một
trong mười hai con sông lớn nhất thế giới,
Tây Nam Bộ (còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long, hay gọi một cách thân thương là
“Đất Chín Rồng”, “miệt vườn Miền Tây” hoặc nói gọn “miệt Miền Tây”, gọn hơn nữa: “Miền Tây”), là vùng đất ở tận cùng
Trang 2phía nam của Tổ quốc, với diện tích hơn
40.000 km2, là trung tâm nông nghiệp lớn
nhất nước ta, nơi hội tụ của các cư dân
Việt, Khmer, Hoa, Chăm Trên cơ thể tự
nhiên của vùng Đất Chín Rồng được tưới
tắm bởi chín con rồng huyền thoại, dòng
Cửu Long đã tạo nên một mạng lưới
khoảng hơn 5000km sông rạch chằng chịt
dọc ngang tựa như hệ mạch máu khiến Tây
Nam Bộ trở nên mềm mại uyển chuyển,
phô diễn vẻ phì nhiêu của tấm thảm xanh
đồng bằng trù phú Chính môi trường sông
nước đặc thù ấy đã hình thành tập quán ưa
đi lại bằng những phương tiện đường thuỷ
mà chủ yếu là ghe xuồng của cư dân nơi
đây Và từ không gian ấy, ghe xuồng - một
biểu tượng văn hóa được sản sinh, tạo nên
nét độc đáo của “văn minh kênh rạch”
không nơi nào có trên dải đất hình chữ S
1.2 Xét từ đặc điểm nguồn gốc ngôn
ngữ, “ghe”, “xuồng”, theo nhà nghiên cứu
Trần Ngọc Thêm (2014), là khái niệm do
người Việt xứ Đàng Trong sử dụng, có
nguồn gốc Đông Nam Á (tiếng Chăm là
gaiy; tiếng Mã Lai là gay), tương đương
với “ghe” là “thuyền” ở xứ Đàng Ngoài
Ghe xuồng là từ dùng chung để chỉ loại
phương tiện di chuyển trên sông nước,
nhưng trong thực tế sử dụng, cũng có sự
phân biệt ghe và xuồng Ghe là loại có kích
thước nhỏ, thường không có mui và sức tải
nhỏ hơn, còn xuồng chỉ loại “ghe” có kích
thước và sức tải lớn, thường có mui Nói
chung, ghe xuồng luôn đáp ứng được mọi
loại nhu cầu vận chuyển hàng hóa, con
người và các loại nông sản, cơ động và linh
hoạt, có thể đi qua mọi khóm ấp và mọi
loại địa hình kinh rạch lớn nhỏ, nông sâu
Bởi vậy, với cư dân vùng sông nước, ghe
xuồng là người bạn thân thiết Hơn thế, nó
là thành tố quan trọng để lập ra các đơn vị
quần cư, đó là những làng ghe, làng chài, làng nghề Tây Nam Bộ có những làng đóng ghe xuồng nổi tiếng như Bình Đại (Bến Tre), Cần Đước (Long An), Phú Quốc (Kiên Giang), Cần Thơ, An Giang là vì thế Từ đó, ghe xuồng trở thành biểu tượng cho vùng văn hóa sông nước miền Tây Trong các tài liệu viết về Nam Bộ của nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Thanh Lợi (2005; 2007), Trần Ngọc Thêm (2014), khi viết về đời sống cư trú và sinh hoạt của người dân vùng này, đều có nói tới vai trò, đặc điểm cấu tạo
và công năng sử dụng của các loại ghe xuồng nhưng đề cập đến mặt biểu tượng ghe xuồng trong ca dao thì cho tới nay, chưa
hề thấy công trình nào bàn tới
1.3 Kể từ thế kỉ XVII, ngay buổi đầu
tiên lưu dân người Việt vào đến vùng Nam
Bộ khai phá, trong suốt hơn ba thế kỉ, ghe xuồng luôn gắn bó khắng khít với sinh hoạt vật chất và tinh thần của họ Với đời sống vật chất, ghe xuồng là tài sản, là phương tiện di chuyển cơ bản, phương tiện chuyên chở con người và hàng hóa chủ yếu không chỉ của khách thương hồ mà còn của cư dân bản địa “Ghe xuồng trở thành phương tiện đi lại tiêu biểu ở Tây Nam Bộ, không chỉ là dấu hiệu phân biệt Tây Nam Bộ với Bắc Bộ và Trung Bộ mà còn phân biệt rõ rệt với cả Sài Gòn nói riêng và Đông Nam
Bộ nói chung” (Trần Ngọc Thêm, 2014, tr 421) Với đời sống tinh thần, ghe xuồng mang giá trị tinh thần của một biểu tượng văn hóa, được nhân sinh hóa, nhân cách hóa Bởi vậy, ghe xuồng cũng có mắt mũi, cũng phục sức chạm trổ thân mình, cũng có thân phận, số phận, và cao hơn, nó hình thành một tín ngưỡng Đó là tục vẽ mắt hai bên mũi ghe hay lễ cúng khai nhãn để thổi linh hồn cho ghe nhằm tránh mọi rủi ro, bất trắc, và công việc làm ăn thuận lợi
Trang 32 Con đường hình thành nhận thức
biểu tượng và sự nhận thức biểu tượng
ghe xuồng
2.1 Biểu tượng (tiếng Anh: symbol,
tiếng Pháp: symbole, tiếng Đức: symbol),
vốn bắt nguồn từ tiếng La Mã symbolus và
Hy Lạp cổ symbolon/ sumbolum, có nghĩa
“một đối tượng đại diện cho một đối tượng
khác” (something stands for something
else), là dấu hiệu được phô bày ra bên
ngoài, bao gồm mọi dạng thức hình ảnh,
hữu hình hay vô hình, thể hiện ở thể tĩnh
hay thể động (tĩnh như một pho tượng, một
bức tranh, một con thuyền, một con đò,
một chiếc thuyền hay một chiếc lá; động
như một hoạt động nghi lễ, một khuôn mẫu
ứng xử, một chuỗi hành động trong nghệ
thuật sân khấu biểu diễn) tác động vào giác
quan con người, tạo nên những rung động
về chúng trong tâm hồn theo từng mức độ
khác nhau Từ điển Petit Larousse (1993)
của Pháp định nghĩa: “Biểu tượng là một
dấu hiệu hình ảnh, bằng con vật sống động
hay bằng đồ vật, nó biểu hiện một điều trừu
tượng, nó là hình ảnh cụ thể của một sự
hay một điều gì đó” (tr 978) Nhà khoa
học Jung C G lại xác định: “Cái mà
chúng ta gọi là biểu tượng là một từ ngữ,
một danh từ hay một hình ảnh, ngay cả khi
chúng là quen thuộc trong đời sống hàng
ngày vẫn chứa đựng những ý nghĩa khác,
bổ sung vào cái ý nghĩa ước định hiển
nhiên và trực tiếp của nó” (dẫn lại trong
Jean Chevier & Alain Gheerbrant, 1997, tr
28) Tác giả cũng chỉ rõ: “biểu tượng được
định hình thành một vế có khả năng nắm
bắt được, gắn liền với một vế khác không
nắm bắt được” (Jean Chevier & Alain
Gheerbrant, 1997, tr.23) Từ đấy, có thể
thấy, việc sử dụng dụng các hình ảnh, sự
vật tự nhiên để thể hiện những quan niệm,
những nhận thức về thế giới là xu hướng biểu tượng hóa mà nhân loại thường làm, như “mặt trời”- khối sáng của vì tinh tú ban ngày được dùng để biểu tượng cho trí tuệ vũ trụ bao trùm và soi sáng tất cả các bí
ẩn, “mặt trăng”- khối sáng của vì tinh tú ban đêm với chu kì mọc lặn của nó được dùng để biểu tượng cho thước đo thời gian,
“bánh xe pháp luân” với cấu tạo và chức năng của nó được nhà Phật dùng để biểu tượng cho sự vận động của vũ trụ cùng Phật pháp, “bọc trăm trứng” với huyền tích
trong truyện Họ Hồng Bàng là biểu tượng
cho nguồn gốc giống nòi người Việt, “chợ nổi” với đặc trưng “nổi” trên sông và mọi hoạt động mua bán, trao đổi diễn ra trên ghe xuồng vào thời điểm từ tờ mờ sáng đến
lúc bình minh (chợ nổi Cần Thơ chẳng
hạn), được Nhà nước công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”, là biểu tượng cho văn hóa sông nước, cho “văn minh miệt vườn Tây Nam Bộ”
2.2 Ngôn ngữ biểu tượng (symbolic
language), theo Đinh Hồng Hải (2015) “là một thành tố văn hóa do con người tạo ra
để sử dụng như một loại công cụ thông tin
và giao tiếp có tính tượng trưng Chúng ra đời, tồn tại và tác động đến đời sống con người Vì vậy, việc tìm hiểu ngôn ngữ biểu tượng cũng là tìm hiểu đời sống văn hóa xã hội và loài người thông qua các biểu tượng văn hóa do họ tạo ra” (NĐK nhấn mạnh,
tr 27) Tuy có những cách giải thích khác nhau ở nhiều nhà nghiên cứu, nhiều bộ từ điển và bách khoa thư trên thế giới nhưng chung quy đều cho rằng, đó là loại ngôn ngữ có thể kết hợp với ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, hoặc có thể dùng độc lập để giao tiếp và hòa nhập với nhau mà không nhất thiết nói chung một thứ tiếng, sống chung với nhau cùng một khu vực không
Trang 4gian, thời gian, thậm chí cách xa nhau
nhiều nền văn minh, nhiều thế hệ khác
nhau trong lịch sử loài người Nếu văn hóa
là một hệ thống ý nghĩa, thì ý nghĩa chính
là nội dung hàm chứa trong biểu tượng, tức
“cái được biểu đạt”(signified) hay là ý
nghĩa biểu tượng tồn tại cùng với “cái biểu
đạt”(signifier) của một kí hiệu Điều này có
nghĩa là việc nhận thức biểu tượng khác
với ý nghĩa biểu tượng Mặt khác, do biểu
tượng có tính đa chiều và phụ thuộc vào
hiểu biết khoa học và kinh nghiệm trực
giác trong việc “đọc”, giải mã nên ý nghĩa
biểu tượng tuy có tính bao quát, tính
chung, tính quy luật và được cộng đồng
chấp nhận sử dụng nhưng việc hiểu, tiếp
nhận ý nghĩa ấy cũng không hề giản đơn
Đúng như Lời mở đầu của cuốn Từ điển
biểu tượng văn hóa thế giới đã viết:
“Không cách gì định nghĩa cho được một
biểu tượng Nó giống mũi tên bay mà
không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên
mà lại không nắm bắt được Ta sẽ phải
dùng các từ để gợi ra một hay nhiều ý
nghĩa của biểu tượng nên phải luôn nhớ
rằng, các từ không thể diễn tả hết các ý
nghĩa của biểu tượng” (Jean Chevier &
Alain Gheebrant, 1997, tr.14) Chính vì
thế, nhà khoa học Nga Iu Lotman đã
khẳng định: “Biểu tượng là một trong
những từ nhiều nghĩa nhất trong hệ thống
các khoa học về kí hiệu” (dẫn theo Trịnh
Bá Dĩnh, 2017, tr.23)
2.3 Ca dao Nam Bộ là tiếng lòng ân
tình, mộc mạc của người dân Nam Bộ,
mang trong đó hình ảnh của nền “văn minh
kênh rạch”, với biểu tượng ghe xuồng gần
gũi quen thuộc, ghi dấu ấn đậm nét trong
đời sống văn hóa-ngôn ngữ vùng này suốt
bao đời qua Có thể nói, trong suốt hàng
trăm năm nay, trên nền bức tranh vùng sông
nước mà người Mẹ thiên nhiên vĩ đại tạo ra, nổi bật lên dáng hình của chiếc ghe xuồng mềm mại, đẩy đưa lả lướt theo dòng nước, con nước và neo đậu bên những dòng ca dao dung dị, chân thực, hồn nhiên nhất Thế giới ca dao ân tình ấy mở ra nhiều biểu tượng cực kì đặc sắc, trong đó, ghe xuồng nổi lên như một biểu tượng trung tâm Bởi, nói tới Nam Bộ cũng như miền Tây, là nói đến miệt vườn sông nước, kinh rạch, mà nói đến sông nước, kinh rạch là nói đến ghe xuồng Ghe xuồng là đại biểu xứng đáng nhất của không gian “văn minh sông nước miệt vườn” (chữ dùng của nhà Nam Bộ học Sơn Nam) Trong kí ức dân giã, nếu như mái đình, cây đa, bến nước là biểu tượng trung tâm của làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ, thì ghe xuồng là biểu tượng trung tâm của nền văn hóa sông nước Nam Bộ nói chung, và văn hóa miệt vườn sông nước Tây Nam Bộ nói riêng Xét trong nhiều biểu tượng khác của Tây Nam Bộ liên quan đến địa hình như sông, nước, kênh, rạch, biển… hay phương tiện
di chuyển như đò, thuyền, phà… thì ghe xuồng là biểu tượng đáng chú ý và nổi bật nhất Đây là một nét đẹp văn hoá độc đáo được lưu giữ qua ca dao cũng như kí ức, cảm thức ngôn ngữ và văn hóa của con người vùng đất này suốt hàng thế kỷ
3 Hệ ý nghĩa của biểu tượng ghe xuồng trong đời sống sông nước vùng Tây Nam Bộ
Trong tâm thức và trong dòng chảy văn hóa ngôn ngữ của vùng Tây Nam Bộ, ghe xuồng mang một hệ ý nghĩa biểu tượng khá đặc biệt Với nhận thức của người miền Tây, ghe xuồng vừa là vật thể hữu hình vì nó có hình dáng, kích thước và sự
đa dạng về chủng loại, có hình khối, đường nét, mà người ta thể sờ lấy, nắm lấy, hay
Trang 5trao trọn tính mạng mình cho nó Đồng
thời, ghe xuồng cũng có mặt vô hình, bởi
nó còn có linh hồn riêng, neo vào lòng
người và dòng đời, mở đôi mắt dõi nhìn
theo cảnh huống, tâm trạng và nhịp sống
chủ nhân: khi lắng sâu, trầm tĩnh, lúc ào ạt
bung phá, lúc thủ thỉ tâm tình, khi rộn ràng,
cởi mở, khi mưa xuống, nắng lên, lúc đầy
vơi con nước, lúc say tràn cung mây
3.1 Về mặt định danh
Chính sự ra đời trên nền cảnh sông
nước như vậy nên cảm thức ngôn ngữ - văn
hóa ấy của người Tây Nam Bộ thể hiện
thông qua cách đặt tên gọi ghe xuồng là rất
phong phú, linh hoạt và cực kì cụ thể
Chẳng hạn, khi định danh, tùy theo cấu tạo,
mục đích sử dụng, thậm chí tùy theo hình
dáng, hình thức, ghe xuồng được gọi tên để
dễ phân biệt Ghe lớn thì có nhiều loại như
ghe bầu, ghe cửa, ghe lồng, ghe giàn, ghe
be, ghe chài, ghe hầu, ghe quyển, ghe ô,
ghe điệu, ghe hàng bố, ghe bè, ghe cá, ghe
rổi, ghe đục.v.v Ghe nhỏ cũng vậy, có ghe
lườn, ghe mỏ vạch, ghe tam bản, ghe cà
vom, ghe cui, ghe lưới, ghe cào Theo
thống kê của Nguyễn Văn Lợi (2007), ở
Tây Nam Bộ có 36 loại ghe Tương tự,
xuồng do đặc điểm nhỏ gọn, rất linh hoạt
và dễ luồn lách trên kinh rạch quanh co,
nên cũng có nhiều tên gọi như xuồng ba lá,
xuồng tam bản, xuồng năm lá, xuồng be
bẩy, xuồng be chín, xuồng câu, xuồng mui,
xuồng đục, xuồng máy, xuồng năm
quăng.v.v Từ phương diện chức năng, ghe
xuồng không chỉ đảm nhận vai trò là
phương tiện đi lại đáp ứng nhu cầu về sinh
hoạt, chuyên chở sản phẩm hàng hóa mà
còn đảm nhận vai trò của là một sản phẩm
văn hoá chứa đựng không gian sinh hoạt,
không gian văn hóa tinh thần của người
dân, với những phong tục tập quán, nghi lễ
như tục vẽ mắt cho ghe, tục đua ghe ngo của người Khmer hay những điệu hò, câu hát như hò chèo ghe, hò mái dài, mái cụt,
hò sông Hậu, hò Đồng Tháp.v.v Tất cả đã tạo nên sắc thái rất riêng của văn minh miệt vườn vùng Tây Nam Bộ
3.2 Về mặt biểu hiện
Trên cơ sở hình ảnh thực, trong đời sống ngôn ngữ văn hóa, ghe xuồng được nâng lên thành biểu tượng cho cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân miền Tây Ghe xuồng trở thành một miền kí ức, một không gian sinh tồn, một không gian văn hóa mà sự phong phú về ý nghĩa biểu tượng của nó đã mở ra cho mọi người thấy được thế giới vật chất với những hoạt động
cư trú, sinh sống, làm ăn cũng như một thế giới tinh thần với những tâm lí, tình cảm, khát vọng của con người miền Tây chân chất, hào sảng
Trong đời sống thường ngày, người Tây Nam Bộ, nhất là khách thương hồ, đều xem ghe xuồng là nhà, sông nước là quê hương Điều này, cách đây hơn hai thế kỉ,
sách “Gia Định thành thông chí” đã mô tả:
“Ở Gia Định chỗ nào cũng có ghe, thuyền, hoặc dùng thuyền để làm nhà ở, hoặc để đi chợ, hay để đi thăm người thân thích, hoặc chở gạo củi đi buôn bán, rất tiện lợi, mà ghe thuyền chật sông ngày đêm qua lại ” (Trịnh Hoài Đức, 1998, tr.27)
Do đặc trưng sông ngòi dày đặc, địa bàn làm ăn, cư trú, sinh hoạt hầu như quanh năm gặp cảnh sình lầy, ngập nước nên ghe xuồng là phương tiện hữu dụng và phổ biến nhất trong hoạt động sản xuất, sinh hoạt Trên cơ sở cảm nhận và hiểu được sâu sắc nhịp biến động của thiên nhiên, nhịp đầy vơi của con nước, dòng nước, nên người Tây Nam Bộ đã chế tạo ra nhiều loại ghe thuyền nhằm tận dụng, đối
Trang 6phó và phát huy tối đa các phương tiện đi
lại, vận chuyển trên sông nước Bởi thế,
ghe xuồng rất đa dạng về kiểu loại, chủng
loại Từ những chiếc ghe xuồng hoạt động
bằng bơi, chèo, chống, luồn lách trong
kinh, rạch nhỏ đến những chiếc ghe, tàu vài
chục tấn, vài trăm tấn chạy bằng động cơ
máy nổ được sử dụng đan xen nhau chở
hàng hóa, nông sản, thủy hải sản tạo nên
cảnh tấp nập, nhộn nhịp mang đặc trưng
riêng của miệt vườn sông nước miền Tây
Khảo sát trên 2462 câu ca dao Nam
Bộ, ý nghĩa biểu tượng về đời sống vật
chất càng được thể hiện rõ Khi thì ghe
xuồng gắn với ý nghĩa biểu tượng về môi
trường sông nước với những nét khắc
nghiệt và hoang dã của thiên nhiên thời mở
cõi Từ buổi đầu lưu dân người Việt mới
đến khai phá, vùng đất Nam Bộ nói chung
và miền Tây nói riêng còn hết sức hoang
sơ, cả trời, đất, thực vật, động vật tạo ra
một cảnh tượng: “Muỗi kêu như sáo thổi/ Đỉa lội tựa bánh canh/ Cỏ mọc thành tinh/Rắn đồng biết gáy”; kèm theo đó là
một ý nghĩa biểu tượng về sự khắc nghiệt,
dữ dằn, bất trắc và đầy ám ảnh: “Chèo ghe
sợ sấu cắn chưn/ Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma”; “Ai ơi Rạch Giá qua truông/ Gió rung ngọn sậy ngồi buồn nhớ em/ U Minh Rạch Giá thị quá Sơn Trường/ Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua”; “Bớ chiếc
ghe sau chèo mau anh đợi/ Kẻo khúc sông
này bờ bụi bụi tối tăm”; “Chèo ghe xuống
biển bắt cua/ Bắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi” Từ đó, ý nghĩa biểu tượng ghe xuồng
xuất hiện trong mô hình thứ nhất:
Ý nghĩa biểu tượng GHE/XUỒNG = Hình ảnh sự vật tự nhiên + Yếu tố tĩnh/động biểu hiện sự khắc nghiệt, dữ dằn của vùng sông nước Nam Bộ thời khẩn hoang
Sự khắc nghiệt, hoang dã ấy chỉ là hình
ảnh buổi đầu của vùng đất thời khẩn hoang
còn thực tế ngày nay, nhờ sự bồi đắp của hệ
thống sông Cửu Long, tài nguyên phong phú,
dồi dào với nhiều nguồn lợi thủy sản phong
phú, với những cánh đồng thẳng cánh cò
bay, với những miệt vườn xanh mướt, với
nhiều sản vật vang danh khắp xứ Bởi thế,
trong không gian văn hóa sông nước miệt
vườn ấy, ghe xuồng còn mang ý nghĩa biểu
tượng cho sự trù phú, no đủ của đời sống cư
dân: “Sông Tiền, sông Hậu cùng nguồn/ Ghe
xuồng tấp nập bán buôn dập dìu”; “Kinh
Vĩnh Tế biển Hà Tiên/ Ghe thuyền xuôi
ngược bán buôn dập dìu”; “Sài Gòn là xứ
ngựa xe/ Mỹ An là xứ xuồng ghe dập dìu”;
“Có ai đến với xứ thơ/ Ghé qua xứ lụa bên
bờ Tiền Giang/ Dòng sông thẳng tắp hàng
ngàn/ Tàu ghe xuôi ngược, đò sang bên này/
Bên này mặc Lãnh Mỹ A/ Đưa đò sang chợ tưởng xa hóa gần”; “Bớ ghe ai chờ đợi em
cùng/ Kẻo ghe anh nặng vẫy vùng chẳng đi”
Theo đó, ý nghĩa biểu tượng ghe xuồng xuất hiện trong mô hình thứ hai:
Ý nghĩa biểu tượng GHE/XUỒNG = Hình ảnh sự vật tự nhiên + Yếu tố tĩnh/động biểu hiện sự trù phú, no đủ của miệt vườn sông nước miền Tây
Mỗi khi xuất hiện trong những lời ca
dao ân tình, mộc mạc như vậy, ghe xuồng
thường gợi lên hình ảnh một cuộc sống đời thường dung dị, thanh bình, yên ả của miệt
Trang 7vườn sông nước, hay một cuộc sống tinh
thần thanh thoát, thăng hoa từ chính những
dòng nước, con nước Đặc biệt, cảm giác
về sự yên bình, no đủ ấy khi có mặt của
xuồng ba lá- biểu tượng của sự thanh bình
êm ái, yên ả, thậm chí ngay cả trong cảnh
huống “lênh đênh”: “Dẫu xuồng ba lá lênh
đênh/ Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi/
Anh ơi chớ ngại ngần chi/ Ngồi xuồng ba
lá giữa kỳ nước lên"; “Quan cưới em bằng
kiệu em cũng không thèm/ Anh cưới em
bằng xuồng ba lá em cũng nguyền đi
theo” Ý nghĩa biểu tượng ghe xuồng, do
vậy, xuất hiện trong mô hình thứ ba:
Ý nghĩa biểu tượng GHE/XUỒNG = Hình ảnh sự vật tự nhiên + Yếu tố tĩnh/động biểu hiện sự thanh bình, êm ái, yên ả ở chốn miệt vườn sông nước miền Tây
Đối với giới thương hồ, chiếc ghe
dùng để chở hàng hoá cũng là căn nhà di
động, nay đậu ở vàm kinh này, mai lại dời
đi bến khác, len lỏi vào tận những con
kinh, con rạch chằng chịt để buôn bán tìm
kế mưu sinh Do vậy, ghe xuồng mang ý
nghĩa biểu tượng cho cuộc sống của khách
thương hồ, cho những phận đời nổi trôi,
nhiều bất trắc, sớm hôm mưu sinh trên
những con nước lớn ròng: “Thảm thiết
thương cho chiếc ghe lườn đi ngược/
Không biết chừng nào mới được nước
xuôi”; “Tôi ở Trà Vinh tôi nghèo quá/ Tôi
chèo ghe vô Cà Mau, Rạch Giá/ Tôi mua ít
tạ khoai lang/ Tôi đi thẳng Trà Bang/ Tôi
bán một tạ chỉ lời mấy cắc/ Tôi trở về nhà
thấy anh ở sòng tứ sắc/ Tôi kể chắc anh đã
thua rồi/ Trời đất ơi! Con năm bảy đứa,
gạo tôi kiếm từng nồi anh thấy không?”;
“Anh đi ghe rổi chín chèo/ Bởi anh thua
bạc nên nghèo, nợ treo/ Nợ treo mặc kệ nợ
treo/ Em bán bánh bèo trả nợ nuôi anh”;
“Bước xuống ghe quạt che quạt ngoắt/ Cất mái chèo ruột thắt từng cơn”; “Chèo ghe
đi bán lòng tong/ Nước chảy ròng ròng
chẳng thấy ai mua”; “Thuyền lên Châu Đốc, ghe xuống Vàm Nao/ Thẳng tới Ba
Sao coi chừng con nước đẩy”…Cái địa
danh “Vàm Nao”, vốn chỉ dòng sông chuyển nước sông Tiền vào sông Hậu, nổi danh có dòng chảy xiết, có nhiều nước xoáy nên rất hiểm nguy cho tàu bè, là một nỗi ám ảnh đối với cư dân và khách thương
hồ mỗi khi đi ghe xuồng qua đây Không phải ngẫu nhiên mà sông Vàm Nao còn
được gọi là “Hồi Oa” có nghĩa là “nước
chảy xoáy tròn” Bởi thế, ý nghĩa biểu tượng cho thân phận của khách thương hồ miền sông nước, nổi nênh và bất trắc càng được tô đậm Do đó, ý nghĩa biểu tượng ghe xuồng lại được xuất hiện trong mô hình thứ tư:
Ý nghĩa biểu tượng GHE/XUỒNG = Hình ảnh sự vật tự nhiên + Yếu tố tĩnh/động biểu hiện thân phận khách thương hồ lênh đênh, chìm nổi nơi miền Tây sông nước
Đối với người dân vùng sông nước, ghe
xuồng là cả không gian sống Cho dù trên
thực tế, mỗi ghe xuồng có diện tích khá hạn
chế, nhưng do được nối kết với sông nước
rộng khoáng hoạt với đất trời Bởi vậy, sau một ngày vất vả bán buôn hoặc rong ruổi trên sông nước tha phương, dưới ánh trăng lúc mờ lúc tỏ, khách thương hồ tụ họp lại bên tách trà, ly rượu hoặc ngân lên một điệu
Trang 8hò mái đẩy với rộn ràng đàn ca tài tử, cất
lên một lớp Nam ai, lẩy vài câu vọng cổ,
hòa quyện với tiếng đàn kìm, đàn ghi ta
ngân vang trên nhịp đầy vơi của con nước
hữu tình Ghe xuồng, lúc ấy, mang ý nghĩa
biểu tượng cho tâm hồn trong sáng, hồn
hậu, cho tiếng lòng con người dung dị ở
miệt vườn sông nước miền Tây Tiếng lòng
đó, lúc thì tâm tình, thủ thỉ, lúc thì bừng
bừng khí thế: “Xuồng ai đi trước/ Giọt
nước chảy ròng ròng/ Phải xuồng người
nghĩa, quay vòng tôi hỏi thăm”; “Ghe ai
ngọn sóng vỗ bờ/ Nghe vang tiếng hát tiếng
hò mà thương”; “Hai đứa mình ngồi xuống
một ghe/ Khoan khoan chèo chậm để nghe huê tình”; “Ghe bầu dọn dẹp kéo neo/ Mấy
chú bạn chèo bắt cái hò khoan”; “Bớ chiếc thuyền loan, khoan khoan ngớt mái/ Đặng đây tỏ một đôi lời phải trái nghe chơi/ Đây cũng muốn chờ/ Ngặt bóng trăng lờ, tiếng
đàn diệu vợi/ Xuồng lái em sẵng sàng, em
đợi luống công” Qua cách thức đó, ý nghĩa
biểu tượng ghe xuồng xuất hiện trong mô hình thứ năm:
Ý nghĩa biểu tượng GHE/XUỒNG = Hình ảnh sự vật tự nhiên + Yếu tố tĩnh/động biểu hiện cho tâm hồn trong sáng, hồn hậu, dung dị của con người miền Tây
Nhưng có lẽ, khó tìm thấy ở đâu đẹp
đẽ và hào sảng, giàu sức biểu cảm, “lao
lung’ hơn như ý nghĩa biểu tượng của ghe
xuồng về tình cảm quê hương đất nước
thông qua cảnh sinh hoạt gia đình cụ thể,
dung dị: “Con nước lớn cha chống xuồng/
Con nước ròng mẹ nhóm bếp cà ràng đợi
gió/ Vàng bông điên điển Châu Giang/ Ai đến Văn Lang/ Ai về châu thổ/ Con nước rong chảy tràn mùa nước nổi/ Con nước kém ai dừng lại bên bờ châu thổ/ Gác mái dầm nghe câu hát lao lung"
Và từ đấy, ý nghĩa biểu tượng ghe xuồng xuất hiện trong mô hình thứ sáu:
Ý nghĩa biểu tượng GHE/XUỒNG = Hình ảnh sự vật tự nhiên + Yếu tố tĩnh/động biểu hiện tình cảm quê hương đất nước hào sảng của người dân vùng sông nước miền Tây
Đời sống sông nước đã cho họ những
tình cảm hồn nhiên chân chất và ghe xuồng
trở thành một sinh thể chứa đầy cảm xúc,
tâm trạng Trong bối cảnh ấy, ghe xuồng
mang ý nghĩa biểu tượng cho tính cách hào
hiệp, phóng khoáng của con người xứ miệt
vườn với niềm hứng khởi dâng tràn: “Gió
lên rồi căng buồm cho sướng/ Gác chèo
lên ta nướng ngô khoai/ Nhậu cho tuôn hết
mấy chai/ Bỏ ghe nghiêng ngửa không ai chống chèo”; “Đi xuồng có bốn cái vui/
Lúc chống, lúc bạo, lúc bơi, lúc chèo”
Qua đây, ý nghĩa biểu tượng ghe xuồng xuất hiện trong mô hình thứ bảy:
Ý nghĩa biểu tượng GHE/XUỒNG = Hình ảnh sự vật tự nhiên + Yếu tố tĩnh/động biểu hiện tính cách hào hiệp, phóng khoáng của con người miền Tây
Có lẽ cái hồn hậu, trong trẻo ấy trong
đời sống tâm hồn người dân vốn có căn
nguyên từ môi trường sông nước trong lành đã cho họ một cách sống, cách suy
Trang 9nghĩ, cách cảm vừa hồn nhiên, trong sáng,
vừa phóng khoáng, vừa hài hước, lạc quan,
dí dỏm Điều đáng lưu ý là tất cả cảm xúc,
cung bậc tình cảm con người đều được ghe
xuồng chuyên chở lặng lẽ, say mê và đầy
tận tụy như một người bạn tri kỉ, tri âm, lúc
lắng sâu, diệu vợi hay lúc tột đỉnh thăng
hoa Nhất là trong tình yêu đôi lứa, nhờ sự
nhân cách hóa, ý nghĩa biểu tượng của ghe
xuồng được thắp sáng với tất cả vẻ đằm
thắm, dịu dàng, hồn nhiên, bộc trực
Đây là tâm trạng của một chàng trai
lúc khởi đầu muốn làm quen, chưa biết
thực hư “đối tác” thế nào, trong sự hóa
thân của ghe xuồng, tâm trạng chàng trai
mang một chút lao xao và một chút thăm
dò: “Chèo ghe tới bến cắm sào/ Nghe em
có chỗ, anh lộn nhào xuống sông” Và cô
gái cũng vậy, trước tình thế ấy, buộc phải
lên tiếng giãi bày, thề thốt, cởi mở thẳng
thắn: “Chiếc ghe kia nói có/ Chiếc ghe nọ
nói không/ Phải chi miễu ở gần sông/ Em
thề một tiếng kẻo lòng anh nghi”; “Đừng
theo cái thói ghe buôn/ Khi vui thì ở, khi
buồn thì đi” Rồi cả hai đều vỡ òa trong sự
giải tỏa, vui vẻ, hào hứng: “Xuồng đã chèo
lơi, đặng chờ người tri kỷ/ Gặp mặt chuyện
trò cho phỉ ước mơ”; “Chèo ghe mái nổi
mái chìm/ Lòng thương em bậu anh tìm tới
đây” Còn đây là tâm trạng khấp khởi, hồi
hộp của của cô gái trong buổi đầu hò hẹn,
sự mạnh mẽ dễ thương bất chấp cảnh nghèo, cảnh khó của chàng trai đã làm cho
cô gái mềm long Ghe xuồng, lúc này như
chứng nhân lắng nghe và thấu hiểu: “Ghe
ai đỏ mũi xanh lườn/ Phải trên Gia Định xuống vườn thăm em”; “Nhà anh cách nhà
em hai kinh một rạch/ Anh ngó thấy em tóc dài buông hờ bà ba tím/ Anh nghèo chưa
sắm xuồng ba lá/ Chẳng đành lội kinh
dính sình sang bên gặp em”… để rồi nhanh
chóng chuyển thành sự ngóng đợi, nhớ
nhung, trao gửi: “Chiếc xuồng nhỏ đưa em
về xóm nhỏ/ Bỏ anh một mình chiều ra ngõ ngó trông/ Trông trời mây trắng vây
quanh/ Ghe mờ lối nhỏ nên đành xa em”;
“Ghe lên, ghe xuống dập dìu/ Ghe củi,
ghe nghều chẳng thấy ghe em”; “Chiều
chiều con quạ nó đứng đầu cầu/ Nó kêu
bớ má ghe bầu đã vô”; “Ghe lên, ghe
xuống dầm dề/ Sao em không gửi thư về thăm anh?”; “Nóp nồng em gửi tặng anh/
Xuồng em bơi tận trong kinh Tháp Mười”;
“Ghe lui khỏi vịnh/ Em thọ bịnh đau liền/
Không tin anh hỏi xóm giềng mà coi”
Hãy nghe những lời nhắn gửi của cô gái gửi đến chàng trai, nghe xao lòng, da diết
thấu đến ruột gan: “Anh ơi đừng ham đi
bạn ghe chài/ Cột buồm cao, bao lúa
nặng có ngày anh xa em” Lúc này, ý
nghĩa biểu tượng ghe xuồng được xuất hiện trong mô hình thứ tám:
Ý nghĩa biểu tượng GHE/XUỒNG = Hình ảnh sự vật tự nhiên + Yếu tố tĩnh/động biểu hiện các cung bậc tình yêu đôi lứa đằm thắm, hồn nhiên, bộc trực của con người miền Tây
Mô hình này biểu hiện các cung bậc
cảm xúc của tình yêu đôi lứa có thể nói là
đa dạng bậc nhất và thú vị bậc nhất Điều
này lí giải tại sao trong kết quả khảo sát,
tần suất xuất hiện của ý nghĩa biểu tượng
cho tình yêu đôi lứa đằm thắm, dịu dàng,
hồn nhiên, bộc trực lại chiếm tỉ lệ áp đảo, với 93/218 câu ca dao, chiếm 43%
Tình yêu trên sông nước hữu tình, trong sự hóa thân của những ghe xuồng đậm chất thi vị, lãng mạn và rất đặc trưng càng làm nổi bật những vẻ đẹp ý nghĩa
Trang 10biểu tượng của nó: “Đèn treo trước mũi
ghe lồng/ Thấy em còn nhỏ chưa chồng
anh thương”; “Gió thổi lao xao khúc sông
nào sóng nấy/ Xuồng em đi giữa dòng anh
thấy anh thương”; “Ví dầu cầu ván đóng
đinh/ Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi/ Khó
đi anh dắt em luôn/ Em đi có té anh bơi
xuồng vớt em”; “Ghe anh bóng loáng
mỏng ván nhẹ chèo/ Xin anh bớt mái buông
chèo chờ em” Đến khi chia tay trở về với
công việc thường nhật, họ quyến luyến, bịn
rịn, không đành rời xa, ghe xuồng, lúc ấy,
lại trở thành chứng nhân cho những điều
thầm kín: "Bước xuống ghe ba lần không
dứt/ Khuyên em vào chỗ khuất anh
lui”;“Ghe lui em chẳng dám cầm/ Hai tay
áo lụa ướt dầm như mưa”; “Biển cạn láng
khô ghe vô không được/ Phải trở lề đi
ngược lòng em”; “Ghe lui khỏi bến còn
dầm/ Người thương đâu vắng, chỗ nằm còn
đây”; “Gió năm non thổi lòn hang chuột/
Thấy em bơi xuồng, đứt ruột đứt gan”
Đến lúc tỏ tình, có khi cần nói đẩy đưa
“vòng vo tam quốc”, hay lúc cần bộc trực
nói thẳng “nói huỵch tẹc”, ghe xuồng cũng
làm rất tốt công việc “đóng thế” Ý nghĩa
biểu tượng của ghe xuồng, lúc này, hàm
chứa trong lời tỏ tình vừa chân chất, bộc
trực, vừa mạnh bạo, kiên quyết: “Chèo ghe
mái nổi, mái chìm/ Thương con thợ lưới
mới tìm tới đây/ Tới đây dây vắn gàu thưa/
Hỏi người cố hữu giếng xưa ai đào”;
“Chiếc tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát/
Chiếc xuồng câu tôm đậu sát đống chà/
Anh thấy em có một mẹ già/ Muốn vô phụng
dưỡng biết là đặng không?”; “Em bán
giống chi, em đi xuồng ba lá/ Em ghé lại
đây, anh gửi thư về thăm má cùng ba”;
“Anh cất tiếng kêu cho thấu vô buồng/ Cho
em thức dậy bơi xuồng với anh/ Theo anh
thời cũng muốn theo/ Tôi sợ anh nghèo anh
bán tôi đi”; “Tàu Nam Vang mũi đỏ/ Ghe Sa Đéc mũi đen/ Em ở chi nước rẫy nước phèn/
Theo anh về chợ đốt đèn măng-xông”
Lời tỏ tình ấy, đôi khi mang dáng dấp
của một lời thề nguyền: “Mái chèo có cột nơi nao/ Xuồng anh thương nhớ cắm sào
ngàn năm” Hiểu được thâm ý tuy lém lỉnh
dễ thương nhưng cũng khá vội vàng này của chàng trai, trong vai của chiếc ghe xuồng,
cô gái đã rất tài tình, khôn khéo hóa giải:
“Không cho ghe vội cắm sào/ Vườn quê mới
lập, lựu với đào còn non”; “Kiếm nơi nước
vận cắm sào/ Đợi cha mẹ định, cắm xuồng
nào em cũng chơi” Tính cách người miền
Tây là vậy, rõ ràng, dứt khoát Nhưng có khi “nói dzậy mà không phải dzậy”, “ghe
cá, ghe tôm” kiếm cớ than trách: “Nào khi
anh dỗ chẳng nghe/ Bây giờ xách nón chèo
ghe đi tìm”; “Trách ai nỡ đốn cây bần/
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm”
Tình yêu là vậy, khi nở hoa, kết trái,
cô gái miệt quê nghèo có cơ may được sánh duyên cùng chàng trai trong sự hóa thân của chiếc ghe bầu – mang ý nghĩa
biểu tượng cho sự giàu có: “Chị kia búi tóc
cánh tiên/ Ghe bầu lại cưới một thiên cá
mòi/ Không tin giở hộp ra coi/ Cây trâm ở
dưới tiền bồi ở trên”; “Ghe bầu trở lái về
đông/ Làm thân con gái theo chồng nuôi con” Và khi đã là vợ chồng, ghe xuồng lại
là câu chuyện của đạo nghĩa Ý nghĩa biểu tượng của ghe xuồng lúc này, lại khoác
một màu sắc mới, một ẩn ý nhắc nhở: “Ai
chèo ghe bí qua sông /Đạo nghĩa vợ chồng
nặng lắm anh ơi’" Và đây cũng là ý nghĩa
biểu tượng ghe xuồng xuất hiện trong mô hình thứ chín- mô hình biểu hiện cuối cùng trong số ngữ liệu 2462 câu ca dao mà chúng tôi khảo sát:
Ý nghĩa biểu tượng GHE/XUỒNG = Hình ảnh sự vật tự nhiên + Yếu tố tĩnh/động biểu hiện sự giàu có trong đạo nghĩa vợ chồng của con người xứ sông nước miền Tây