1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Vấn đề khái niệm và định hướng dạy học văn bản thông tin trong chương trình ngữ văn của một số nước trên thế giới

11 160 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 434,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này, trên cơ sở tìm hiểu dạy học văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới đã xác định lại đặc điểm của văn bản thông tin và những định hướng dạy học loại văn bản này trong chương trình của các nước; từ đó đưa ra một số gợi ý cho việc dạy học loại văn bản này trong chương trình Ngữ văn của nước ta sau năm 2018.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: https://tapchikhoahoc.sgu.edu.vn

VẤN ĐỀ KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC VĂN BẢN

THÔNG TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN

CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

The issue of concept and orientation in teaching informational texts in language

arts and literature curricula of some countries in the world

ThS Nguyễn Thị Ngọc Thúy

Trường Đại học Sư phạm TP.HCM

Tóm tắt

Năng lực đọc hiểu văn bản thông tin đóng một vai trò rất quan trọng, hỗ trợ cho sự thành công của người học trong tương lai Bài viết này, trên cơ sở tìm hiểu dạy học văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới đã xác định lại đặc điểm của văn bản thông tin và những định hướng dạy học loại văn bản này trong chương trình của các nước; từ đó đưa ra một số gợi ý cho việc dạy học loại văn bản này trong chương trình Ngữ văn của nước ta sau năm 2018

Từ khóa: Văn bản thông tin, chương trình Ngữ văn, năng lực đọc hiểu

Abstract

Informational text reading comprehension competency has an extremely important role, supporting students to succeed in the future Therefore, on the basis of studying the teaching of informational texts

in Language Arts and Literature curricula of some countries in the world, this paper redefines the characteristics of informational texts, orientations of teaching these texts in these curricula; and offers some suggestions for teaching this type of text in our Language Arts and Literature curriculum after

2018

Keywords: informational text, Language Arts and Literature curriculum, reading comprehension

competency

1 Đặt vấn đề

Trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông

tin như hiện nay, năng lực tiếp cận và làm

chủ thông tin đóng vai trò rất quan trọng,

quyết định sự thành công của mỗi cá nhân

trong công việc và cuộc sống Vì vậy,

trong chương trình dạy học Ngữ văn của

một số nước trên thế giới, bên cạnh văn

bản (VB) văn chương, học sinh còn được

học đọc hiểu một hệ thống VB khác có nội dung liên quan trực tiếp đến thế giới hiện thực, không sử dụng những yếu tố hư cấu, tưởng tượng, thực hiện chức năng chủ yếu

là cung cấp thông tin Đó chính là văn bản

thông tin (VBTT) Trong Chương trình

Ngữ văn được ban hành kèm theo Thông

tư số 32/2018/TT-BGDĐT, VBTT cũng được đề cập đến với tư cách là một trong

Trang 2

ba loại VB mà học sinh cần phải đọc hiểu

Vì vậy, qua bài viết này, chúng tôi muốn

trình bày cách hiểu và những định hướng

dạy học loại VB này trong chương trình

Ngữ văn của một số nước trên thế giới, từ

đó đưa ra gợi ý đối với việc dạy học kiểu

VB này trong chương trình Ngữ văn ở

nước ta sau năm 2018

2 Phương pháp nghiên cứu

Để tìm hiểu việc dạy học VBTT trong

chương trình Ngữ văn của một số nước,

chúng tôi chủ yếu sử dụng nhóm phương

pháp nghiên cứu lí thuyết, cụ thể như sau:

- Phân tích và tổng hợp lí thuyết:

Phương pháp phân tích được sử

dụng để nghiên cứu VB chương trình

Ngữ văn của các nước ở khía cạnh dạy

học đọc hiểu VBTT theo cách phân tích

chúng thành từng bộ phận nhằm tìm hiểu

vấn đề một cách toàn diện Còn phương

pháp phân tích tổng hợp được dùng để

liên kết, sắp xếp các tài liệu thành một hệ

thống lí thuyết đầy đủ, sâu sắc về vấn đề

nghiên cứu

- Phân loại và hệ thống hóa lí thuyết:

Phương pháp phân loại được sử dụng

để sắp xếp các tài liệu khoa học thành một

hệ thống logic chặt chẽ theo từng vấn đề

Còn phương pháp tổng hợp lại được dùng

để sắp xếp các tri thức khoa học thành một

hệ thống trên cơ sở các kiểu loại VBTT và

chuẩn đầu ra của việc dạy học loại VB này

trong chương trình Ngữ văn của một số

nước nhằm làm cho sự hiểu biết về vấn đề

nghiên cứu được toàn diện và sâu sắc hơn

Cơ sở dữ liệu được thu thập, khảo sát

là VB chương trình Ngữ văn của một số

nước như Australia, NewZealand, Mỹ,

Anh, Singapore, đó là những nước có nền

giáo dục tiên tiến đại diện cho một số châu

lục trên thế giới Hầu hết các VB chương

trình được khảo sát đều là những VB mới nhất của những nền giáo dục ấy

3 Nội dung nghiên cứu

3.1 Khái niệm văn bản thông tin

3.1.1 Vấn đề tên gọi văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn của một số nước

Chương trình Ngữ văn của một số nước đã dùng những tên gọi khác nhau để chỉ loại VB có nội dung liên quan trực tiếp đến thế giới hiện thực, không sử dụng những yếu tố hư cấu, tưởng tượng, thực hiện chức năng chủ yếu là cung cấp thông tin Chẳng hạn như:

- Trong khung chuẩn cơ bản chương trình Tiếng Anh của liên bang ở Mỹ (sau đây xin gọi là chương trình Ngữ văn của

Mỹ), khái niệm văn bản thông tin

(informational text) được sử dụng trong

tương quan với khái niệm văn bản văn

chương (literary text) để tạo thành hệ thống

VB hoàn chỉnh

- Chương trình Ngữ văn Tiểu học

và Trung học của Singapore xác định

rõ hai loại VB chính được dạy là VB

văn học (literary text) và VB thông tin

(informational text)/ VB chức năng

(functional text)1

- Ở Úc, chương trình Ngữ văn của

quốc gia sử dụng khái niệm VB tưởng

tượng, hư cấu (imaginative text), VB thông tin (informative text), VB thuyết phục

(persuasive text) trong cấu trúc hệ thống

VB của chương trình2 Trong đó, VB thông

tin và VB thuyết phục có nội dung liên

quan trực tiếp đến thế giới hiện thực và không sử dụng các yếu tố hư cấu

- Còn trong chương trình Ngữ văn của

Anh thì “tất cả học sinh đều được khuyến

khích đọc rộng ở cả hai loại VB: VB hư cấu (fiction) và VB phi hư cấu

(non-fiction) để phát triển kiến thức của họ cũng

Trang 3

như những hiểu biết về thế giới mà họ đang

sống, để thiết lập một nhận thức đúng đắn

cùng tình yêu đối với việc đọc và cũng để

tích lũy kiến thức thông qua chương trình.”

[7, tr.14]

- Chuẩn cơ bản của chương trình đọc –

viết cho trẻ từ 1 đến 8 tuổi của New

Zealand cũng quy định rõ hệ thống VB sử

dụng trong chương trình là VB hư cấu

(fiction text) và VB phi hư cấu (non-fiction

text)

Từ việc điểm qua hệ thống khái niệm

VB được sử dụng trong chương trình Ngữ

văn của một số nước trên thế giới, chúng

tôi nhận thấy ở các nước, chương trình

Ngữ văn đều sử dụng đa dạng loại VB

trong dạy học Ít nhất là có hai hệ thống

VB cùng tồn tại trong chương trình, một hệ

thống liên quan đến tác phẩm văn chương,

tạm gọi là VB văn học và một hệ thống

khác có nhiệm vụ cung cấp và truyền tải

thông tin, tạm gọi là VB thông tin Trong

đó tên gọi của hệ thống VB cung cấp và

truyền tải thông tin thay đổi tùy theo từng

nước, ví dụ như informational text trong

chương trình của Mỹ và Singapore,

informative text và persuasive text trong

chương trình của Úc và non-fiction text

trong chương trình của Anh và New

Zealand Đó là điểm khác biệt giữa các

chương trình Tuy nhiên trong chương

trình của bang California (Mỹ), bên cạnh

khái niệm informational text còn một khái

niệm khác được nhắc tới với ý nghĩa tương

đương, đó là expository text, tạm dịch là

VB trình bày, bình luận

3.1.2 Các khái niệm có liên quan đến

văn bản thông tin

Trong chương trình Ngữ văn của các

nước, hệ thống VBTT được sử dụng với

nhiều tên gọi khác nhau Vấn đề đặt ra là

nên hiểu các khái niệm này như thế nào

3.1.2.1 Khái niệm văn bản phi hư cấu

Theo Wikipedia, VB chủ yếu được phân chia thành hai loại phổ biến là VB phi

hư cấu (non-fiction) và VB hư cấu

(fiction) “VB phi hư cấu là một câu

chuyện được xây dựng dựa trên sự kiện và thông tin có thật VB phi hư cấu có thể là một câu chuyện kể, một VB miêu tả lại sự việc đã xảy ra, hoặc là một sản phẩm giao tiếp khác mà tác giả của nó tin rằng sự khẳng định và miêu tả là có thật Những sự khẳng định và miêu tả này có thể chính xác hoặc không, có thể mô tả đúng hoặc sai về đối tượng Tuy nhiên, người ta cho rằng tác giả của những VB ấy tin rằng chúng đúng sự thật tại thời điểm mà họ soạn thảo, hoặc ít nhất đã khiến người tiếp nhận VB tin rằng chúng đúng về phương diện lịch

sử hoặc theo kinh nghiệm Việc báo cáo về niềm tin của mọi người đối với những VB loại này không nhất thiết là sự chứng thực

về tính chân thực của chúng, chỉ đơn giản

nó đúng sự thật khi mọi người tin nó (…)

VB phi hư cấu không nhất thiết chỉ là VB viết, vì tranh ảnh và phim cũng có nội dung miêu tả sự thật về một đề tài, vấn đề nào đó” [12] Từ định nghĩa trên, Wikipedia đã

xác định những kiểu VB cụ thể thuộc loại

VB này: “bài tiểu luận, bài báo, ký sự,

nhật ký, các tài liệu, VB khoa học, tranh ảnh, tiểu sử, sách giáo khoa, sách hướng dẫn du lịch, bản vẽ chi tiết, tài liệu kỹ thuật, sách hướng dẫn sử dụng, biểu đồ…”

[12]

Tuy nhiên sự phân loại này chỉ có ý nghĩa tương đối vì có những VB mang đặc điểm của cả hai loại VB ấy, chẳng hạn như

VB tự biểu hiện, thư từ, tạp chí và VB có yếu tố tưởng tượng, hư cấu Một số VB hư cấu có thể bao hàm những yếu tố phi hư

Trang 4

cấu Trong khi đó, một số VB phi hư cấu

lại chứa đựng những yếu tố tiền giả định,

sự suy diễn hoặc điều tưởng tượng không

thể xác minh, kiểm chứng Điều đó có thể

khiến người đọc hiểu sai bản chất của VB

phi hư cấu Vì thế thuật ngữ VB phi hư cấu

có tính văn chương (literary non-fiction)

được sử dụng trong quan hệ đối lập với

khái niệm VB phi hư cấu thuần túy, để chỉ

những VB phi hư cấu có sử dụng yếu tố

văn chương Những yếu tố có tính sáng tạo

và văn chương thường được cho là không

phù hợp với VB phi hư cấu nhưng vẫn xuất

hiện và thường không làm mờ đi thông tin

của VB Sự đơn giản, sáng rõ và trực tiếp

là những yêu cầu được đặt ra với VB phi

hư cấu Khái niệm này cũng được nhắc đến

trong chương trình Tiếng Anh của Mỹ

3.1.2.2 Khái niệm văn bản thông tin

Duke3 đã từng đưa ra định nghĩa về

VBTT (informational text/ informative

text) như sau: “Mục đích chính của VBTT

là truyền tải thông tin về thế giới tự nhiên

và xã hội, điển hình là từ những người

được cho là biết thông tin đến những người

được cho là không biết.” [6, tr.16] Từ định

nghĩa trên, Duke cho rằng VB tiểu sử, VB

miêu tả các quy trình hay hướng dẫn các

thao tác đều là VB phi hư cấu, không phải

là VBTT vì mục đích chính của chúng là

truyền tải thông tin về cuộc đời của một cá

nhân hoặc hướng dẫn thao tác chứ không

phải chuyển tải thông tin về một điều gì đó

Do đó “những VB phi hư cấu có tính chất

kể chuyện hoặc là “những câu chuyện kể

về sự thật” cũng là VB phi hư cấu chứ

không phải là VBTT vì mục đích chính là

kể về một sự kiện hoặc một chuỗi các sự

kiện đã xảy ra.” [6, tr.16] Từ đó, Duke đã

khẳng định VBTT trình bày toàn bộ các

phân lớp của sự vật (khác với tiểu sử, chỉ

tập trung vào một cá thể, một cá nhân) và nhìn đối tượng theo cách phi thời gian (khác với tiểu sử, chỉ tập trung vào những điểm thời gian đặc biệt) Do đó, VBTT có nội dung bao quát hơn Trên cơ sở ấy, nhóm nghiên cứu của Duke đã xác định các đặc điểm cơ bản của VBTT gồm: VB có sự trình bày và lặp lại của đề tài, chủ đề; miêu

tả những thuộc tính và những sự kiện đặc thù; sử dụng cấu trúc so sánh/ tương phản

và phân loại; sử dụng từ ngữ kỹ thuật; minh họa bằng thực tế hoặc hình ảnh; các chương mục; giúp đỡ, hỗ trợ, định hướng cho người đọc bằng mục lục, số trang, đề mục và những phương tiện hình ảnh đa dạng như biểu đồ, bảng biểu và sơ đồ Vì vậy, việc đọc hiểu VBTT không đơn giản chỉ là đọc lần lượt theo từng dòng; mà còn phải đọc những sơ đồ, bảng biểu và suy nghĩ, tính toán; rồi tiếp tục đọc VB và xem xét lại sơ đồ, bảng biểu hoặc tính toán Việc đọc cứ trở đi trở lại nhưng không theo đường thẳng; mà có thể tiến về phía trước rồi lại đọc lùi về sau và khai thác tối đa hiệu quả thông tin từ những phương tiện thể hiện đặc thù của loại VB này để giúp cho việc đọc hiểu sâu hơn, rõ ràng hơn Chẳng hạn như trong VBTT, việc sử dụng hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ… hỗ trợ tích cực cho người đọc trong quá trình giải mã thông tin Do vậy, người đọc cần được trang bị kỹ năng đọc hiểu loại công cụ này

để có thể sẵn sàng giải mã chúng chứ không phải là bỏ qua chúng trong quá trình đọc Về hình thức thể hiện của VBTT, theo Duke, có nhiều loại khác nhau Có loại VB

là sách (Vd: sách tham khảo, sách giáo khoa, sách chuyên ngành, sách viết về những thông tin mang tính quá trình…) và những loại VB không phải là sách (Vd: tạp chí, báo, áp phích quảng cáo, trang web và

Trang 5

CD-ROM …)

3.1.2.3 Khái niệm văn bản trình bày,

bình luận

Trong chương trình của một số quốc

gia, khái niệm VB trình bày, bình luận

(expository text) được sử dụng để thay thế

cho khái niệm VB phi hư cấu hay VBTT

Khái niệm này xuất hiện trong cách nhìn

nhị phân của một số tác giả về các loại VB,

bao gồm narrative text (tạm dịch là VB

trần thuật) và expository text (tạm dịch là

VB trình bày, bình luận) Moss đã đưa ra

cách định nghĩa expository text như sau:

“Trong khi mục đích của “narrative text”

là kể chuyện, thì mục đích của “expository

text” là thông báo, miêu tả hoặc báo cáo,

tường thuật Trong “narrative text” thì tác

giả sẽ tưởng tượng, hình dung ra nhân vật,

sự kiện và sử dụng cấu trúc của một câu

chuyện kể để tạo ra câu chuyện Còn khi

viết VBTT, tác giả sẽ tổ chức bài viết của

mình theo hướng đạt đến những thông tin

về chủ đề mà họ muốn hướng đến Họ sẽ tổ

chức, sắp xếp thông tin sao cho hợp lý và

hấp dẫn bằng cách sử dụng các cấu trúc

khác nhau của “expository text” […]

Những VB dạng “expository text” cũng có

cấu trúc riêng của nó Những cấu trúc này

sẽ cung cấp cho người học một sơ đồ chỉ

dẫn họ khám phá, tìm hiểu nội dung VB Sự

nhận thức của người học về cấu trúc và

cách thức tổ chức của VB “expository

text” càng lớn bao nhiêu thì việc họ nắm

bắt thông tin của người viết sẽ càng nhanh

hơn ấy nhiêu.” [10, tr.712]

3.1.2.4 Điểm thống nhất và khác biệt

giữa các khái niệm

Từ định nghĩa về các khái niệm, người

viết nhận thấy tuy chương trình của các

nước sử dụng những tên gọi khác nhau để

định danh cho loại VB ấy nhưng nhìn

chung các tên gọi đều được dùng để chỉ một loại VB có nội dung liên quan trực tiếp đến thế giới thực (không chứa những yếu

tố hư cấu, tưởng tượng) Trong đó được sử

dụng rộng rãi nhất là hai khái niệm VB phi

hư cấu (non-fiction) và VB thông tin

(informational text)

Cả hai loại VB này đều được tạo lập từ những thông tin có thật Có tác giả cho rằng hai khái niệm này đồng nhất với nhau, vậy nên họ thường dùng hai khái niệm này thay thế cho nhau Nhưng cũng có một số nhà nghiên cứu như nhóm của Duke (2003) lại cho rằng hai khái niệm này không hoàn

toàn đồng nhất với nhau, VBTT chỉ là một

loại rất quan trọng của VB phi hư cấu vì

VB phi hư cấu bao gồm tất cả các VB viết

về những sự việc có thật Theo Duke

“VBTT khác với các loại khác của VB phi

hư cấu ở mục đích, đặc điểm và hình thức”

[6, tr.16] Vì vậy một số tiểu loại của VB phi hư cấu lại không được nhóm của Duke xếp vào loại VBTT, chẳng hạn như tiểu sử,

tự truyện và những VB thuyết minh về quy trình hoặc thao tác thực hiện Sự phức tạp trong việc xác định khái niệm và phân loại VBTT là một minh chứng cho thấy ranh giới giữa các loại VB là hết sức mong manh Vì vậy, việc xác định, lựa chọn những kiểu cụ thể của loại VB này trong

CT Ngữ văn của một số nước cũng rất khác nhau tùy theo quan điểm của mỗi quốc gia nhưng nhìn chung vẫn phải bảo đảm được những đặc trưng cơ bản của VBTT

Còn khái niệm VB trình bày, bình

luận, liên quan như thế nào với hai khái

niệm trên để có thể được dùng tương

đương với khái niệm VBTT? Các nhà

nghiên cứu thường có khuynh hướng nhị phân các loại VB theo hai hướng như sau: hướng thứ nhất chia các loại VB thành

Trang 6

fiction (VB hư cấu) và non-fiction (VB phi

hư cấu); hướng thứ hai chia các loại VB

thành narrative text (VB trần thuật) và

expository text (VB tình bày, bình luận)

Hướng phân loại thứ nhất chủ yếu căn cứ

vào nội dung của VB, còn hướng thứ hai

chủ yếu dựa vào cách thức tổ chức của VB

Mục đích của VB trần thuật là kể chuyện

nên thường được tổ chức theo kết cấu một

câu chuyện với mở đầu, phát triển và kết

thúc, do đó loại VB này thường có nhân

vật, bối cảnh, mâu thuẫn và đề tài Còn VB

trình bày, bình luận thường được tổ chức

theo những dạng cấu trúc như: miêu tả,

nguyên nhân – kết quả, tiến trình thời gian,

so sánh – tương phản, nêu vấn đề – giải

quyết vấn đề để giải thích thông tin Từ đó

có thể thấy mục đích của VBTT và VB

trình bày, bình luận là giống nhau Thật ra,

hai loại VB này chỉ là một, sở dĩ có hai tên

gọi như vậy là do tiêu chí định danh khác

nhau, một số nhà nghiên cứu gọi VBTT vì

căn cứ định danh là nội dung của VB, còn

nếu gọi là VB trình bày, bình luận thì căn

cứ định danh lại dựa vào cấu trúc của VB

Vậy có thể thấy vấn đề tên gọi của loại

VB này khá phức tạp Nhìn chung trong

chương trình của các nước, loại VB này có

thể được gọi với nhiều khái niệm khác

nhau nhưng đều phản ánh những sự việc,

sự kiện có thật trong thế giới hiện thực

Khác với VB văn học là sản phẩm của hư

cấu, tưởng tượng

Từ việc tìm hiểu những khái niệm trên,

chúng tôi cho rằng trong chương trình Ngữ

văn của nước ta sau năm 2018 hệ thống

những VB có nội dung liên quan đến người

thật, việc thật; không sử dụng các yếu tố hư

cấu, tưởng tượng và mục đích chính là

cung cấp thông tin nên được gọi là VB

thông tin Tên gọi ấy khái quát được nhiều

kiểu loại VB Nếu xác định như thế thì trong chương trình Ngữ văn của chúng ta, tiểu sử và tự truyện sẽ không thuộc loại VB này và tất cả những kiểu VB thuộc VB

trình bày, bình luận (expository text) và

VB thuyết phục (persuasive texts) trong chương trình của Singapore và Úc nên được xếp vào loại VB này vì chúng vẫn mang những đặc điểm của VBTT

3.2 Định hướng dạy học văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới

Qua khảo sát việc dạy học VBTT trong chương trình của một số nước, chúng tôi nhận thấy chương trình Ngữ văn của nước ta sau năm 2018 có thể tham khảo một số định hướng sau:

3.2.1 Định hướng về thời lượng dạy học văn bản thông tin

Trong chương trình Ngữ văn của một

số nước trên thế giới, VBTT đóng vai trò rất quan trọng Chương trình Ngữ văn của

Mỹ đã chỉ ra rằng trong chương trình đọc hiểu của trường phổ thông tỷ lệ VBTT được giảng dạy ngày một tăng lên theo cấp lớp:

[5, tr.5] Theo chương trình Ngữ văn của Mỹ:

“Phần lớn chương trình đọc hiểu bắt buộc

trong những trường cao đẳng và chương trình đào tạo nhân lực là những VB được viết theo cấu trúc VBTT và chứa đựng nhiều thử thách về nội dung” [5, tr.4] Do

đó chương trình giáo dục phổ thông phải quan tâm đến VBTT trong việc rèn luyện

Trang 7

kỹ năng đọc hiểu để học sinh được chuẩn

bị đầy đủ hơn trước khi bước vào những

bậc học cao hơn trong tương lai Vì vậy,

theo chương trình của Mỹ, tỷ lệ đọc hiểu

VB văn học sẽ giảm dần, còn tỷ lệ của

VBTT sẽ tăng dần theo cấp lớp và chiếm

khối lượng đáng kể trong chương trình đọc

hiểu đế đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp và

cuộc sống của người học trong tương lai

3.2.2 Định hướng về sự đa dạng kiểu

loại văn bản thông tin

- Chương trình Ngữ văn của Singapore

đã chia VBTT (informational text)/ VB

chức năng (functional text) thành hai tiểu

loại: “VBTT (informational text) (chẳng

hạn như VB hành chính, VB kể lại sự thật

việc thật, VB tường thuật thông tin và VB

giải thích) thường trình bày các ý chính và

có những ý chi tiết hỗ trợ; còn VB trình

bày, bình luận (exposition) lại trình bày

mối liên hệ giữa các lập luận (chẳng hạn

như tiểu sử, các bài báo, tạp chí, tập san)”

[9, tr.34]

- Chương trình Ngữ văn của Mỹ xác

định VBTT (informational texts) được dạy

với những loại cụ thể như:

Trong chương trình từ mẫu giáo đến

lớp 5, VBTT được xác định với những loại

cụ thể như: “VB phi hư cấu có tính văn

chương (Literacy Nonfiction) gồm tiểu sử

và tự truyện; VB về lịch sử, khoa học

(Historical, Scientific Texts) gồm sách viết

về lịch sử, khoa học xã hội, khoa học tự

nhiên và nghệ thuật; VB thuộc lĩnh vực kỹ

thuật (Technical Texts) gồm những VB

hướng dẫn, những mẫu đơn và những VB

trình bày về nhiều lĩnh vực được thể hiện

dưới dạng đồ thị, biểu đồ, sơ đồ hoặc dữ

liệu thông tin đã được số hóa, v.v.” [5,

tr.31]

Trong chương trình từ lớp 6 đến lớp

12, VBTT chỉ còn được giảng dạy với một

loại là VB phi hư cấu có tính văn chương (Literacy Nonfiction) được chia thành

những tiểu loại cụ thể như: “những kiểu VB

giải thích; VB thể hiện sự tranh luận; VB chức năng dưới hình thức những bài tiểu luận, những bài phát biểu, nói chuyện, những mẩu ý kiến cá nhân; bài tiểu luận về nghệ thuật hay văn học; tiểu sử; tự truyện; bài báo; VB miêu tả; báo cáo về các vấn

đề lịch sử, khoa học, kỹ thuật hoặc kinh tế (bao gồm cả những nguồn tư liệu đã được

số hóa) dành cho đại chúng.” [5, tr.57]

- Chương trình Ngữ văn của Úc quy định các kiểu loại cụ thể của VBTT

(informative texts) và VB thuyết phục

(persuasive texts) như sau:

VB thông tin (informative text): “Loại văn bản này bao gồm những kiểu VB cụ thể như VB giải thích và miêu tả các hiện tượng tự nhiên, VB thuật lại các sự kiện,

VB hướng dẫn, VB trình bày các quy tắc và luật lệ, quy định cũng như những VB tường thuật tin tức ngắn gọn.” [1, tr.200]

VB thuyết phục (persuasive text):

“Loại VB này bao gồm những VB quảng

cáo; những VB thể hiện sự tranh luận, thảo luận; những bài bút chiến, luận chiến; những bài luận có sức thuyết phục và cả những bài báo.” [1, tr.200]

Từ đó, có thể nhận thấy trong chương trình Ngữ văn của một số nước, VBTT được dạy với sự đa dạng về kiểu loại Mặc

dù đa dạng về kiểu loại nhưng nhìn chung

đó đều là những VB có nội dung liên quan trực tiếp đến thế giới thực, không mang màu sắc hư cấu, tưởng tượng Tuy nhiên, chương trình Ngữ văn của Mỹ đã có một

số sự khác biệt khi xếp những VB thể hiện

sự tranh luận vào nhóm VBTT trong khi chương trình của Úc lại gọi kiểu VB ấy là

Trang 8

VB thuyết phục, còn chương trình

Singapore lại xếp nó vào nhóm VB trình

bày, bình luận và các nước thường đặt

kiểu VB này trong thế tương quan với

VBTT Chương trình Ngữ văn của Việt

Nam sau năm 2018 cũng đã xác định VB

nghị luận là một loại VB riêng mà người

học cần phải tìm hiểu bên cạnh VB văn

học, VBTT Ngoài ra, chương trình Mỹ

cũng đã xác định rõ VB không liên tục

(VB có thông tin được trình bày dưới dạng

đồ thị, biểu đồ, sơ đồ, số hóa…) cũng là

một dạng của VBTT – điều mà chương

trình của một số nước chưa đề cập đến

một cách tường minh

3.2.3 Định hướng về chuẩn đầu ra

của việc dạy học văn bản thông tin

Trong chương trình Ngữ văn của một

số nước, chuẩn đầu ra của việc dạy học

VBTT được thiết kế rất chi tiết, cụ thể; chủ

yếu hướng đến việc hình thành và rèn

luyện năng lực tiếp nhận và tạo lập VBTT

cho người học

- Chương trình Ngữ văn của Singapore

đã xác định rõ những kỹ năng, chiến lược,

thái độ và hành vi cần phải đạt được khi

đọc và quan sát VBTT (informational

texts)/ VB chức năng (functional texts) ở

bậc trung học như sau:

+ Về bố cục VB: Xác định những đặc

điểm thuộc về kỹ thuật in ấn và trực quan;

xác định những đặc điểm của VB; nhận

diện mô hình cấu trúc của VB

+ Về sự phản hồi đối với VB: Dự đoán

nội dung của VB dựa vào kiến thức nền;

những đặc điểm thuộc về kỹ thuật in ấn và

trực quan; mô hình và cấu trúc tổ chức VB

+ Giải thích những dự đoán về nội

dung của VB có thể chấp nhận được không

hay phải thay đổi, điều chỉnh Tại sao?

+ Trình bày lại ý tưởng chính và

những chi tiết quan trọng

+ Kiểm tra/ nghiên cứu những ý kiến tranh luận, trái chiều đối với một vấn đề, bao gồm cả chất lượng của những tranh luận ấy

+ Xác định và đưa ra những bằng chứng chứng minh cho những tranh luận, gồm có: sự kiện; nguyên nhân; yêu cầu đặt

ra đối với những người có thẩm quyền; sử dụng phương pháp logic trong tranh luận + Nhận xét cách sử dụng ngôn ngữ của tác giả đã thay đổi như thế nào cho phù hợp với mục đích và đối tượng hướng đến của VB để đạt hiệu quả như mong muốn

[9, tr.45]

- Trong chương trình Ngữ văn của Mỹ, mục tiêu cần đạt của việc dạy học VBTT chủ yếu cũng hướng đến kỹ năng đọc hiểu Chẳng hạn, việc đọc hiểu VBTT ở lớp 9 –

10 cần phải đạt được những kết quả sau:

“Về ý chính và chi tiết: trích dẫn

được những chứng cứ mạnh mẽ và xuyên suốt VB để củng cố cho kết quả phân tích

đã được thể hiện rõ trong VB cũng như kết

quả suy luận từ VB; xác định được ý chính của VB và phân tích sự phát triển của ý

chính qua diễn biến của VB, bao gồm cả việc nó hiện lên nổi bật như thế nào trong

VB và được chắt lọc, định hình như thế nào

qua những chi tiết cụ thể; cung cấp được một bản tóm tắt khách quan về VB; phân tích xem tác giả đã sắp xếp và phân tích hệ

thống các ý kiến và sự kiện như thế nào, bao gồm cả trật tự sắp xếp, cách giới thiệu

và phát triển các quan điểm cũng như sự nối kết giữa các ý kiến và sự kiện đó

Về kỹ xảo ngôn ngữ được sử dụng

trong VB và cấu trúc VB: xác định được ý

nghĩa của từ ngữ được sử dụng trong VB, bao gồm ý nghĩa ẩn dụ, ý nghĩa mở rộng,

và cả ý nghĩa chuyên môn; phân tích được

Trang 9

những tác động cộng hưởng của việc lựa

chọn từ ngữ đối với ý nghĩa và giọng điệu

của VB; phân tích chi tiết những ý kiến và

sự khẳng định của tác giả đã được phát

triển và chắt lọc như thế nào qua những

câu văn, đoạn văn đặc biệt hoặc là từ

những bộ phận lớn hơn câu, đoạn; xác

định được quan điểm hoặc mục đích của

tác giả qua VB và phân tích được tác giả

đã sử dụng hình thức tu từ nào để phát

triển quan điểm hoặc mục đích của mình

…” [5, tr.40]

- Trong chương trình Ngữ văn của Úc,

VBTT được dạy chủ yếu ở phần kiến thức

về ngôn ngữ (Language) và phần kỹ năng

đọc viết (Literacy) Chuẩn đầu ra của việc

dạy VBTT trong chương trình của Úc

không được tách thành phần riêng như

trong chương trình Ngữ văn của Singapore

và Mỹ Trong phần kiến thức về ngôn ngữ

(Language), học sinh thường được học về

VBTT qua những hiểu biết liên quan đến

cấu trúc và tổ chức của VB, cách thức sử

dụng ngôn ngữ để thể hiện và phát triển ý

tưởng Còn ở phần kỹ năng đọc viết

(Literacy), chuẩn đầu ra đối với việc dạy

học VBTT là những nội dung liên quan

đến kỹ năng đọc và viết VB trong ngữ

cảnh, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trong sự

tương tác với những cá nhân khác, kỹ năng

hiểu – phân tích – đánh giá các ý kiến,

thông tin, vấn đề từ nhiều nguồn khác nhau

và kỹ năng tạo lập VB Ở đây, chúng tôi

xin nêu ra một số ví dụ cụ thể về chuẩn đầu

ra trong chương trình Ngữ văn lớp 6 của

Úc mà chúng tôi cho rằng có liên quan đến

việc dạy học VBTT:

“Tìm hiểu đa dạng các loại VB từ VB

hàng ngày, VB hành chính, VB văn học và

VBTT; thảo luận về những yếu tố liên

quan đến cấu trúc VB và những đặc điểm

ngôn ngữ; so sánh cấu trúc tổng thể và

hiệu quả sự lựa chọn của tác giả ở hai hay nhiều VB.” [1, tr.108]

“Quan sát xem chuỗi các sự kiện liên

tiếp được thể hiện bằng những phương tiện hình ảnh như thế nào, bao gồm cả những tranh hài hước, chuỗi hình ảnh được sắp xếp theo dòng thời gian, những biểu đồ có tính quá trình, biểu đồ phát triển, biểu đồ chu trình, chuỗi hình ảnh trong những quyển sách hình ảnh.” [1, tr.110]

“So sánh nhiều VB với nhau bao gồm

cả những VB đa phương tiện để tìm hiểu các cách khác nhau mà các VB đã sử dụng

để trình bày ý kiến và sự kiện.” [1, tr.114]

Từ việc khảo sát ấy, chúng tôi nhận thấy chuẩn đầu ra được xác định rõ là vừa cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về loại VB này, vừa phát triển cho các

em những kỹ năng cụ thể để tương tác với loại VB này trong cuộc sống, đó là những

kỹ năng liên quan đến việc tạo lập và tiếp nhận VB trong hoạt động giao tiếp, cụ thể

là kỹ năng đọc và viết Do đó, có thể nói chương trình dạy học VBTT ở một số nước đã hướng đến việc phát triển năng lực tạo lập và tiếp nhận loại VB này cho người học

3.3 Một số gợi ý từ việc khảo sát chương trình dạy học văn bản thông tin của một số nước trên thế giới

Thứ nhất, trong chương trình Ngữ văn

của chúng ta sau năm 2018, VBTT nên được cân nhắc giảng dạy ở một mức độ phù hợp với vị trí quan trọng của loại VB này trong cuộc sống Nếu chúng ta chỉ coi trọng VB văn học mà quên đi vai trò của VBTT trong việc chuẩn bị kỹ năng đọc hiểu cho học sinh thì các em sẽ gặp nhiều khó khăn trong công việc và cuộc sống khi VBTT là đối tượng mà các em phải tiếp

Trang 10

cận nhiều hơn và thường xuyên hơn

Thứ hai, khi thiết kế nội dung giảng

dạy VBTT trong chương trình Ngữ văn sau

năm 2018, các tác giả sách giáo khoa nên

lưu ý đến tính đa dạng của kiểu loại VB

này để giúp học sinh tiếp cận càng nhiều

kiểu loại VBTT cụ thể càng tốt vì đây chủ

yếu là những dạng VB mà các em tiếp xúc

hàng ngày Đó cũng là một trong những

tiêu chí để học sinh cảm thấy môn Ngữ văn

thiết thực, gắn bó chặt chẽ với cuộc sống

và công việc của họ

Thứ ba, việc dạy học đọc hiểu loại VB

này trong chương trình hiện hành ở nước ta

tuy có được đề cập đến nhưng tỷ lệ chưa

tương xứng với vai trò quan trọng của VB

trong cuộc sống Trong chương trình Ngữ

văn trung học phổ thông hiện hành của

nước ta, VBTT được thể hiện dưới hình

thức những VB cung cấp cho người học

thông tin liên quan đến lịch sử văn học, lý

luận văn học và những vấn đề cấp thiết

trong cuộc sống4 Theo quan niệm của

chương trình hiện hành, VB nghị luận sẽ

được nhìn nhận như một tiểu loại trong VB

văn học Vì vậy nếu quan niệm VBTT là

những VB chủ yếu dùng để cung cấp thông

tin thì tỷ lệ xuất hiện của loại VB này trong

nội dung dạy học đọc hiểu của bộ sách giáo

khoa Ngữ văn Cơ bản bậc trung học phổ

thông được thể hiện như sau:

Khối

lớp

Tỷ lệ VBTT (không bao gồm VB nghị luận)

Những con số thống kê cho thấy sự

xuất hiện của VBTT trong chương trình

đọc hiểu hiện nay của nước ta chiếm tỷ lệ

khá khiêm tốn trong toàn bộ hệ thống VB bắt buộc của chương trình Ngữ văn trung học phổ thông Hơn nữa, đây vẫn là những bài học được thiết kế trong mạch chương trình theo định hướng nội dung nên mục tiêu chủ yếu vẫn là tìm hiểu nội dung của

VB chứ chưa hướng đến việc hướng dẫn người học hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu VBTT Chẳng hạn như mức

độ cần đạt của nhóm VB liên quan đến vấn

đề quá trình văn học ở lớp 10 đã được chương trình xác định như sau: “Hiểu được

những nét chính về quá trình phát triển và những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam; hiểu được những nét chính về đặc trưng và giá trị của văn học dân gian Việt Nam; hiểu được những nét chính về quá trình phát triển, đặc điểm và thành tựu cơ bản” [2, tr.153] Nhìn chung, cách tiếp cận

ấy chủ yếu vẫn hướng đến nội dung của

VB Vì thế từ kinh nghiệm xây dựng chương trình dạy học VBTT của một số nước, chúng tôi hi vọng rằng chương trình của chúng ta sau năm 2018 sẽ chú ý nhiều hơn đến việc dạy loại VB này theo hướng phát triển năng lực cho người học

4 Kết luận

Trên cơ sở khảo sát việc dạy học VBTT trong chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới, chúng tôi tiến hành xác lập các khái niệm liên quan đến VBTT và tìm hiểu định hướng dạy học VBTT trong chương trình của các nước ấy

Từ đó, chúng tôi đã đưa ra những gợi ý đối với việc dạy học VBTT trong chương trình Ngữ văn ở nước ta sau năm 2018 Những định hướng ấy được hi vọng góp phần làm nên những thay đổi căn bản của chương trình Ngữ văn sau năm 2018, hướng đến việc phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh

Ngày đăng: 11/02/2020, 19:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w