1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Khảo sát liều lượng chất trợ keo tụ trong xử lý nước thải lò giết mổ gia súc bằng công nghệ keo tụ – tạo bông

10 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 653,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này được tiến hành ở quy mô phòng thí nghiệm nhằm khảo sát liều lượng chất trợ keo tụ phù hợp để xử lý nước thải lò giết mổ - một loại nước thải chứa nhiều SS và chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học.

Trang 1

Khảo sát liều lượng chất trợ keo tụ trong xử lý nước thải

lò giết mổ gia súc bằng công nghệ keo tụ – tạo bông

A study on Auxiliary Coagulant Dosage for Slaughter-House Wastewater Treatment

by Coagulation-Flocculation Technology

ThS Lê Hoàng Việt, Trường Đại học Cần Thơ

Le Hoang Viet, M.Sc., Can Tho University

Nguyễn Thị Huyền Trân, Trường Đại học Cần Thơ Nguyen Thi Huyen Tran, Can Tho University

Hoàng Thị Hiếu, Trường Đại học Cần Thơ Hoang Thi Hieu, Can Tho University

PGS.TS Nguyễn Võ Châu Ngân, Trường Đại học Cần Thơ Nguyen Vo Chau Ngan, Assoc Prof., Ph.D., Can Tho University

Tóm tắt

Nghiên cứu này được tiến hành ở qui mô phòng thí nghiệm nhằm khảo sát liều lượng chất trợ keo tụ phù hợp để xử lý nước thải lò giết mổ - một loại nước thải chứa nhiều SS và chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học Các kết quả nghiên cứu trên mô hình Jartest cho thấy, hiệu quả keo tụ - tạo bông nước thải lò giết mổ với 225 mg/L PAC kết hợp 3 mg/L polymer là tốt nhất, hiệu suất loại bỏ COD đạt 84,91%, độ đục đạt 99,55% Áp dụng các thông số lựa chọn trên vào mô hình bể keo tụ - tạo bông, chúng tôi thấy, hiệu suất xử lý COD và P tổng của nước thải lần lượt đạt 73,39% và 79,31% Chất lượng nước thải sau xử

lý keo tụ - tạo bông phù hợp để đưa sang công đoạn xử lý sinh học tiếp theo

Từ khóa: bộ Jartest, chất trợ keo tụ, keo tụ - tạo bông, nước thải lò giết mổ

Abstract

This research was conducted at a lab scale model to find out the optimum quantity of auxiliary coagulant for treating slaughter-house wastewater - a source of wastewater with high concentration of

SS and bio-degradable organic compounds The results of the Jartest testing showed that slaughter-house wastewater coagulated and flocculated with 225 mg/L PAC, combined with 3 mg/L cationic-polymer, getting the optimum removal efficiency of turbidity at 99.55%, and COD at 84.91% Applied the chosen parameters into the coagulation-flocculation pilot testing, the treatment efficiency of P total

and COD were 79.31% and 73.39%, respectively The treated wastewater after coagulation-flocculation process has enough nutrients to access into the next biological treatment steps

Keywords: Jartest apparatus, auxiliary coagulant, coagulation-flocculation, slaughter-house wastewater

Trang 2

1 Giới thiệu

Hiện nay đời sống vật chất của con

người được nâng cao dẫn đến nhu cầu tiêu

thụ hàng hóa trong đó có lương thực, thực

phẩm ngày càng tăng Một trong những

nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho

con người là các sản phẩm chế biến từ thịt

gia súc, gia cầm Vì vậy, các hoạt động

nuôi và giết mổ gia súc, gia cầm diễn ra

ngày càng nhiều với qui mô lớn để đáp ứng

nhu cầu này

Lượng nước trung bình sử dụng để giết

mổ một con heo có thể lên đến 0,5 m3 sinh

ra nước thải chứa chất hữu cơ, các chất rắn

như vụn xương, thịt vụn, mỡ, lông, móng,

phân… Nồng độ BOD5 của nước thải giết

mổ gia súc, gia cầm có thể lên đến 1.800

mg/L, COD là 2.700 mg/L và SS là 810

mg/L (Lâm Minh Triết và ctv., 2008) Với

tải lượng các chất ô nhiễm cao, nước thải

giết mổ cần được xử lý phù hợp để không

gây ô nhiễm nguồn tiếp nhận Nhưng hiện

nay, hầu hết các cơ sở giết mổ gia súc, gia

cầm chưa có hệ thống xử lý nước thải hoặc

đã có song vận hành chưa hiệu quả

Ở Việt Nam, để loại bỏ phần lớn chất

rắn lơ lửng và dầu mỡ cùng một phần chất

hữu cơ trong nước thải lò giết mổ, Lâm

Minh Triết và ctv (2008) đã đề xuất các

hình thức xử lý bao gồm tuyển nổi, keo tụ -

tạo bông Hà và Hương (2017) đã nghiên

cứu xử lý nước thải lò giết mổ bằng quy

trình keo tụ và ghi nhận các loại phèn

nhôm có hiệu suất xử lý chất hữu cơ và

dưỡng chất trên 90% Tuy nhiên, chưa có

ghi nhận về những nghiên cứu sử dụng

chất trợ keo tụ để làm tăng hiệu suất xử lý

nước thải lò giết mổ

Nghiên cứu này được tiến hành nhằm

tìm ra liều lượng chất trợ keo tụ phù hợp về

mặt kỹ thuật và kinh tế, để thiết kế và vận

hành bể keo tụ - tạo bông trong xử lý nước thải có nồng độ ô nhiễm cao từ các lò giết

mổ, góp phần bảo vệ môi trường

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại các phòng thí nghiệm của Bộ môn Kỹ thuật Môi trường, Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, Trường Đại học Cần Thơ trong khoảng thời gian từ tháng 01 đến tháng 4 năm 2017

Đối tượng thí nghiệm là nước thải của hoạt động giết mổ (chủ yếu giết mổ heo) được thu thập từ hố thu nước thải của cơ

sở chế biến thực phẩm tại phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ Thời gian lấy mẫu khoảng 5 giờ sáng hàng ngày

2.2 Hóa chất, thiết bị

2.2.1 Hóa chất

Chất keo tụ gồm phèn sắt [FeCl3.6H2O] độ tinh khiết ≥ 99% và PAC [Aln(OH)mCl3n-m] độ tinh khiết ≥ 30%; cả hai đều có xuất xứ Trung Quốc

Chất trợ keo tụ được sử dụng là polymer cation specfloc C-1492 HMW, Anh quốc

2.2.2 Thiết bị

Thiết bị Jartest: các thí nghiệm xác định thông số vận hành của chất keo tụ thực hiện trên bộ Jartest ET750 Lovibond với cốc chứa 1 L

Mô hình bể keo tụ - tạo bông: thiết kế với lưu lượng nước thải Q = 0,4 L/phút bằng thủy tinh dày 5 mm, có hệ thống cánh khuấy truyền động bằng motor Mô hình có hai phần kết hợp với nhau: (i) bể keo tụ (gồm 1 ngăn khuấy trộn hóa chất và 2 ngăn tạo bông), và (ii) bể lắng cơ học theo

phương ngang

Trang 3

Bảng 1 Thông số thiết kế của mô hình

Bể keo tụ

Thông số

Ngăn trộn hóa chất

Ngăn khuấy nhanh

Ngăn khuấy

Thời gian phản ứng (phút) 1 - 2 10 - 30 10 - 30 -

Kích thước (m × m) 0,1 × 0,1 0,15 × 0,175 0,15 × 0,175 0,15 × 0,8

Hình 1 Sơ đồ bố trí các thí nghiệm định hướng trên bộ Jartest

Trang 4

Thiết bị phân tích mẫu: các chỉ tiêu

đầu vào và đầu ra của mẫu nước được

phân tích bằng những phương pháp phù

hợp với tiêu chuẩn theo quy định của

APHA, AWWA, WEF (2005) tại các

phòng thí nghiệm Kỹ thuật Môi trường,

Đại học Cần Thơ

3 Kết quả - thảo luận

3.1 Thành phần và tính chất nước thải lò giết mổ

Mẫu nước thải được lấy tại hố thu nước thải của lò giết mổ trong 03 ngày liên tiếp (từ 15 - 17/01/2017) để phân tích các chỉ tiêu ô nhiễm làm cơ sở cho việc xem xét đặc điểm của nước thải có phù hợp với phương

án xử lý được đề xuất hay không

Bảng 2 Thành phần, đặc điểm của nước thải thí nghiệm

(n = 3)

QCVN 62-MT:2016 /BTNMT (cột B)*

Tổng Coliform MPN/100 mL 4,90×105 ± 0,75×105 5.000

Note: * Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi

Về cảm quan, nước thải có màu đỏ của

máu, nhiều cặn lơ lửng, mỡ, lông và có mùi

hôi Kết quả phân tích cho thấy, nước thải

bị ô nhiễm hữu cơ, hàm lượng cặn lơ lửng

và máu cao cần phải có biện pháp xử lý sơ

cấp phù hợp để giảm tải cho công đoạn xử

lý sinh học Nước thải có pH nằm trong

khoảng 6,5 - 7,5 thích hợp cho việc sử dụng

FeCl3.6H2O và PAC keo tụ nước thải

3.2 Kết quả thí nghiệm định hướng

Thí nghiệm định hướng được thực

hiện một lần trên bộ Jartest để chọn loại và

liều lượng phèn thích hợp cho keo tụ nước

thải lò giết mổ Thí nghiệm tiến hành với

liều lượng FeCl3.6H2O được thay đổi ở các

khoảng liều lượng biến thiên từ 400 đến

650 mg/L, đối với PAC là từ 150 đến 400 mg/L (mỗi mức liều lượng cách nhau 50 mg/L) Trong quá trình thí nghiệm, quan sát bông cặn và quá trình lắng, lấy mẫu nước đo độ đục để đánh giá hiệu quả keo tụ

và phân tích COD của mẫu nước thải có độ đục thấp nhất để đánh giá khả năng loại bỏ chất hữu cơ của biện pháp keo tụ

Đối với thí nghiệm keo tụ bằng phèn sắt, khi cho FeCl3.6H2O vào khuấy và để lắng các bông cặn bắt đầu hình thành, từ liều lượng 400 mg/L đến 550 mg/L FeCl3.6H2O các bông cặn lớn dần và lắng tốt, độ đục của nước thải sau keo tụ giảm mạnh Độ đục của nước thải giảm là do FeCl3.6H2O tạo nên các ion Fe3+ có khả

Trang 5

năng trung hòa điện tích các hạt keo, làm

mất tính ổn định của các hạt keo, do đó các

hạt keo có thể kết với nhau tạo thành bông

cặn và lắng xuống Thêm vào đó,

FeCl3.6H2O còn tạo các phức hay phản ứng

với alkalinity của nước thải, hình thành

Fe(OH)3 kết tủa hấp phụ các hạt keo và kéo

theo chất rắn lơ lửng trong nước thải lắng

xuống Ở liều lượng từ 550 mg/L đến 650

mg/L tạo các bông cặn lớn hơn và lắng

nhanh, tuy nhiên độ đục của nước thải sau

keo tụ tăng trở lại, điều này cho thấy hiệu

quả keo tụ của FeCl3.6H2O giảm khi liều

lượng phèn thêm vào bị dư Điều này là do khi sử dụng chất keo tụ quá liều, lượng

Fe3+ trong nước tăng cao các hạt keo hút nhiều các ion Fe3+ sẽ tái ổn định (mang điện tích dương của ion Fe3+); thêm vào đó

ở liều lượng cao các bông cặn phát triển quá lớn, lắng nhanh và bỏ sót lại các bông cặn nhỏ làm độ đục tăng

Tương ứng với độ đục thấp nhất đạt

được ở liều lượng 550 mg/L FeCl3.6H2O, khi đó COD giảm từ 2750 mg/L xuống còn

1150 mg/L, đạt hiệu suất loại COD là 58,18%

Hình 2 Độ đục của nước thải và hiệu suất xử lý ở các mức liều lượng FeCl 3 6H 2 O khác nhau

Hình 3 Độ đục của nước thải và hiệu suất xử lý ở các mức liều lượng PAC khác nhau

Trang 6

Đối với thí nghiệm keo tụ bằng PAC,

khi cho PAC vào nước thải khuấy và để

lắng, các bông cặn hình thành và phát triển

dần: liều lượng PAC từ 150 mg/L đến 250

mg/L, cho các bông cặn lớn và khả năng

lắng tốt độ đục giảm rõ rệt; ở liều lượng

PAC từ 250 mg/L đến 400 mg/L, tạo các

bông cặn lớn hơn và lắng nhanh nhưng

trong nước còn nhiều cặn lơ lửng nhỏ

không kết vào bông cặn lớn nên độ đục của

nó tăng cao Sau khi keo tụ nước thải vẫn

còn màu đỏ của máu Độ đục của nước thải

tăng giảm có cơ chế giống thí nghiệm FeCl3.6H2O nhưng PAC tạo ra các ion Al3+

và Al(OH)3 Độ đục thấp nhất đạt được ở

liều lượng PAC là 250 mg/L, khi đó COD

giảm từ 2750 mg/L xuống còn 1250 mg/L đạt hiệu suất loại COD là 54,55%

Kết quả thí nghiệm cho thấy hiệu quả loại bỏ COD và độ đục của FeCl3.6H2O tốt hơn PAC, nhưng việc lựa chọn loại phèn nào để áp dụng còn phụ thuộc vào chi phí hóa chất Tính toán chi phí hóa chất sử dụng cho quá trình xử lý như Bảng 3

3.2 Kết quả xử lý COD, TSS, độ màu

Bảng 3 So sánh chi phí hóa chất sử dụng cho thí nghiệm Hóa chất keo tụ Liều lượng sử dụng

(mg/L)

Đơn giá hóa chất (đồng/kg)

Chi phí xử lý (đồng/m 3 )

Tính toán so sánh trên cho thấy tuy

khả năng loại bỏ COD của FeCl3.6H2O cao

hơn PAC, nhưng chi phí hóa chất để keo tụ

bằng PAC rẻ hơn rất nhiều so với

FeCl3.6H2O Do đó, PAC với liều lượng

250 mg/L được chọn làm chất keo tụ cho

các thí nghiệm định hướng tiếp theo Chọn

lựa này cũng phù hợp với kết quả nghiên

cứu trước đó của Lê Hoàng Việt và ctv

(2015), Đào Minh Trung và ctv (2016)

3.3 Kết quả thí nghiệm Jartest

3.3.1 Thí nghiệm xác định liều lượng

polymer thích hợp hỗ trợ quá trình keo tụ

Hiệu quả của quá trình keo tụ bằng các

loại phèn có thể tăng cao khi sử dụng chất

trợ keo tụ là polymer Giá thành của

polymer tuy cao, nhưng liều lượng sử dụng

rất thấp (chỉ vài mg/L), nên việc bổ sung

polymer không làm tăng đáng kể chi phí

nhưng làm tăng hiệu quả loại bỏ độ đục và

COD của quá trình keo tụ Thí nghiệm này tiến hành trên bộ Jartest với liều lượng chất keo tụ PAC cố định ở tất cả các cốc là 250 mg/L, liều lượng chất trợ keo tụ polymer

bổ sung vào các cốc biến thiên từ 2 - 4 mg/L Trong quá trình thí nghiệm, quan sát quá trình tạo bông, lắng, lấy mẫu nước đo

pH, độ đục và COD làm cơ sở để đánh giá hiệu quả keo tụ của PAC kết hợp với polymer

Thông số pH của nước thải đầu vào là 6,3, sau khi qua xử lý keo tụ biến thiên không nhiều, lần lượt đạt các giá trị 5,9; 6,0; 6,1; 5,8; 5,9; 5,8 tương ứng với các ngưỡng liều lượng chất trợ keo tụ là 0,0 mg/L, 2,0 mg/L, 2,5 mg/L, 3,0 mg/L, 3,5

mg/L và 4,0 mg/L Wang và ctv (2005) ghi

nhận ngưỡng pH phù hợp để keo tụ nước thải bằng phèn sắt là 4,0 - 6,5 và > 8,5 Như vậy, các giá trị pH ghi nhận được trong thí

Trang 7

nghiệm này đều nằm trong khoảng phù hợp

để tiến hành keo tụ nước thải

Độ đục của nước thải đầu vào là 549

NTU, sau keo tụ giảm mạnh nhưng không

có chiều hướng rõ rệt Khi cho polymer vào

theo cách tăng liều lượng thì bông cặn hình

thành càng lớn và nhiều, các bông cặn lắng xuống làm giảm độ đục của nước thải Tiếp tục tăng lượng polymer, các hạt keo sẽ tái

ổn định, bông cặn được hình thành lớn hơn

và lắng rất nhanh nên có thể bỏ sót lại các bông cặn nhỏ làm tăng độ đục của nước

Hình 4 Độ đục của nước thải khi kết hợp PAC các mức polymer khác nhau

Hình 5 COD của nước thải khi kết hợp PAC các mức polymer khác nhau

Ở các cốc có chất trợ keo tụ liều lượng

từ 0,0 đến 2,5 mg/L hiệu quả keo tụ giảm,

COD của nước thải sau keo tụ cao hơn khi

không bổ sung polymer Điều này do các

polymer cũng là các hợp chất hữu cơ, nếu

liều lượng chưa đủ sẽ không thể tạo cầu nối

các hạt keo, làm cho hiệu quả loại bỏ COD

giảm Ở liều lượng polymer 3,0 mg/L cho hiệu quả loại bỏ COD cao nhất (hiệu suất

xử lý đạt 72,87%), do lượng polymer đó đã

đủ để tạo cầu nối hạt keo làm tăng khả năng lắng Hiệu suất xử lý này thấp hơn kết quả nghiên cứu của Ha và Huong (2017) nhưng cao hơn ghi nhận của Metcalf & Eddy

Trang 8

(1991) từ 30 - 60% Khi tiếp tục tăng liều

lượng polymer, các bông cặn nhỏ có thể bị

bỏ sót lại theo cơ chế đã giải thích ở trên

làm giảm hiệu quả loại bỏ COD

Dựa vào kết quả trên, liều lượng

polymer 3,0 mg/L kết hợp với 250 mg/L

PAC được chọn để tiến hành thí nghiệm xác

định lượng chất keo tụ kết hợp với polymer

3.3.2 Thí nghiệm xác định lượng chất

keo tụ ở khoảng thu hẹp kết hợp với polymer

Việc sử dụng polymer là chất trợ keo

tụ có thể làm thay đổi liều lượng PAC cần

sử dụng, do đó thí nghiệm này được tiến

hành để xác định lại liều lượng PAC Kết

quả của thí nghiệm 1 đã ghi nhận liều

lượng PAC là 250 mg/L, nên trong thí nghiệm này liều lượng PAC được cho biến thiên từ 200 đến 300 mg/L; mỗi mức liều lượng cách nhau 25 mg/L, riêng liều lượng polymer được giữ cố định ở mức 3,0 mg/L Thông số pH của nước thải đầu vào là 6,5, qua xử lý keo tụ có biến thiên nhưng không đều; lần lượt đạt các giá trị 5,7; 6,2; 6,1; 6,0; 5,9; 5,6 tương ứng với các ngưỡng liều lượng chất keo tụ PAC là 200 mg/L,

225 mg/L, 250 mg/L, 275 mg/L và 300 mg/L Như vậy, các giá trị pH đo được trong thí nghiệm này đều nằm trong

khoảng phù hợp ghi nhận bởi Wang và ctv

(2005) để tiến hành keo tụ nước thải

Hình 6 Độ đục của nước thải sau keo tụ ở liều lượng polymer cố định kết hợp PAC 250 mg/L

Hình 7 COD của nước thải sau keo tụ ở liều lượng polymer cố định kết hợp PAC 250 mg/L

Trang 9

Kết quả cho thấy, độ đục sau keo tụ

thấp nhất ở liều lượng 200 mg/L PAC kết

hợp 3 mg/L polymer (hiệu suất xử lý đạt

99,55%), còn COD sau keo tụ thấp nhất ở

liều lượng 225 mg/L PAC kết hợp với 3

mg/L polymer (hiệu suất xử lý đạt

84,91%)

Với mục tiêu chủ yếu là giảm tải nạp

chất hữu cơ cho các công đoạn tiếp theo

trong thực tế xử lý nước thải, liều lượng

PAC 225 mg/L kết hợp với 3 mg/L

polymer được chọn để tiến hành thí

nghiệm trên mô hình bể keo tụ - tạo bông

3.4 Kết quả thí nghiệm chính thức trên mô hình bể keo tụ - tạo bông

Thí nghiệm này được tiến hành trên

mô hình bể keo tụ - tạo bông để kiểm chứng lại kết quả thí nghiệm đã thực hiện trên bộ Jartest Các thông số thí nghiệm bao gồm liều lượng PAC 225 mg/L kết hợp với 3 mg/L polymer Do chỉ có một mô hình thí nghiệm nên không bố trí lặp lại mà nước thải đầu vào và đầu ra được thu thập, phân tích ở 3 ngày liên tiếp

Hình 8 COD, TP của nước thải trước và sau khi qua mô hình keo tụ - tạo bông

Sau quá trình keo tụ - tạo bông, COD

trong nước thải giảm từ 1740,35 mg/L

xuống còn 463,16 mg/L, hiệu suất xử lý

đạt 73,39% cao hơn ghi nhận của Metcalf

& Eddy (1991) từ 30 - 60% TP giảm từ 19

mg/L xuống còn 4 mg/L, hiệu suất xử lý

đạt 79,31% nằm trong khoảng 70 - 90%

ghi nhận bởi Metcalf & Eddy (1991) Tuy

nhiên, hiệu suất này thấp hơn ghi nhận của

Hà và Hương (2017)

Mặc dù hàm lượng COD còn khá cao

nhưng tỉ lệ COD/P trong nước thải sau xử

lý đạt xấp xỉ 100/1, nên lượng dưỡng chất

trong nước thải đầu ra của bể keo tụ đủ để đưa vào công đoạn xử lý sinh học tiếp theo

4 Kết luận - kiến nghị

Nghiên cứu này đã thực hiện thí nghiệm Jartest xử lý nước thải lò giết mổ với lượng chất keo tụ PAC là 225 mg/L, kết hợp với 3 mg/L chất trợ keo tụ polymer, hiệu suất xử lý nước thải đạt tối

ưu với độ đục loại bỏ 99,55% và COD đạt 84,91%

Ứng dụng xử lý nước thải lò giết mổ trên mô hình bể keo tụ - tạo bông với cùng liều lượng chất keo tụ và trợ keo tụ, hiệu

Trang 10

suất loại bỏ COD là 73,39% và Ptổng là

79,31% Nước thải sau xử lý phù hợp để đưa

sang các công đoạn xử lý sinh học tiếp theo

Quá trình keo tụ - tạo bông sẽ tạo ra

bùn thải có thể chứa dư lượng hóa chất gây

độc, do đó cần có thêm những nghiên cứu

khác để đánh giá thành phần bùn thải, tìm

hiểu xử lý lượng bùn thải sinh ra từ quá

trình keo tụ - tạo bông, hạn chế ô nhiễm

cho nguồn tiếp nhận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 APHA, AWWA, WEF (2005), Standard

methods for the examination of water and

waste-water, 21st ed, American Public Health

Association, American Water Works

Association, Water Environment Federation,

Washington DC

2 Bui Manh Ha, Duong Thi Giang Huong

(2017), “Coagulation in treatment of swine

slaughterhouse wastewater”, GeoScience

Engineering LXIII(1) 15-21

3 Đào Minh Trung, Nguyễn Võ Châu Ngân,

Ngô Kim Định (2016), “Hiệu quả xử lí nước

thải dệt nhuộm của chất trợ keo tụ hóa học và

sinh học” Tạp chí Khoa học Đại học Sư

Phạm TP HCM, 9(87): 127-137

4 Lâm Minh Triết, Nguyễn Thanh Hùng,

Nguyễn Phước Dân (2008), Xử lý nước thải

đô thị và công nghiệp, Nxb Đại học Quốc gia

TP Hồ Chí Minh

5 Lê Hoàng Việt, Nguyễn Võ Châu Ngân, Nguyễn Thị Mỹ Phương, Đặng Thị Thúy (2014), “Nghiên cứu xử lý nước thải lò giết

mổ bằng phương pháp keo tụ quy mô phòng thí nghiệm và mô hình bể keo tụ tạo bông kết

hợp lắng”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học

Cần Thơ, 34a: 108-118

6 Lê Hoàng Việt, Nguyễn Võ Châu Ngân, Nguyễn Văn Ngâm, Trịnh Dương Sơn Tùng

(2015), “Xử lý sơ cấp nước thải chế biến cá

tra bằng phương pháp keo tụ”, Tạp chí Khoa

học Trường Đại học Cần Thơ, 40a: 101-109

7 Metcalf & Eddy (1991), Wastewater engineering: Treatment, disposal, reuse,

McGraw Hill Inc

8 Sun M., Yu P F., Fu1 J X., Ji X Q., Jiang T (2017), “Treatment of slaughter wastewater

by coagulation sedimentation - anaerobic biological filter and biological contact

oxidation process”, IOP Conf Ser.: Earth

Environ Sci 82 012021

9 Trịnh Xuân Lai (2011), Xử lý nước cấp sinh

hoạt và công nghệ, Nxb Xây dựng Hà Nội

10 Văn phòng Chính phủ (2016), Thông tư 04:2016/TT-BTNMT ban hành QCVN 62-MT: 2016/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi, Công báo số 349+350

11 Wang L K, Yung-Tse Hung, Nazih K

Shamas (2005), Physico-chemmical treatment

processes, Humana Press

Ngày nhận bài: 24/10/2017 Biên tập xong: 15/7/2018 Duyệt đăng: 20/7/2018

Ngày đăng: 11/02/2020, 19:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w