1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Quy trình xác định giá trị SAR lớn nhất của thiết bị vô tuyến nhiều ăng ten sử dụng kỹ thuật bật/tắt nguồn bức xạ

5 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 631,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đề xuất một quy trình đo mới nhằm xác định SAR cực đại của thiết bị nhiều ăng ten phát. Quy trình đo kiểm này dựa trên kỹ thuật bật/tắt lần lượt các ăng ten trong mỗi phép đo để xác định các tham số ước lượng, từ đó, ước lượng cường độ điện trường tại điểm đo đối với các tổ hợp sai pha bất kỳ giữa các ăng ten.

Trang 1

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 5(126).2018, Quyển 1 35

QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ SAR LỚN NHẤT CỦA THIẾT BỊ VÔ TUYẾN NHIỀU ĂNG TEN SỬ DỤNG KỸ THUẬT BẬT/TẮT NGUỒN BỨC XẠ

A MEASUREMENT PROCEDURE FOR DETERMINING THE MAXIMUM SAR VALUE OF

MULTIPLE ANTENNA RADIO DEVICES USING THE ON/OFF TECHNIQUE

Chu Văn Hải, Nguyễn Huy Hoàng, Lê Đình Thành

Học viện Kỹ thuật Quân sự; chuhait1@gmail.com, hoangnh@mta.edu.vn, le.dinhthanh.vn@ieee.org

Tóm tắt - Trong bài báo này, nhóm tác giả đề xuất một quy trình

đo mới nhằm xác định SAR cực đại của thiết bị nhiều ăng ten phát

Quy trình đo kiểm này dựa trên kỹ thuật bật/tắt lần lượt các ăng

ten trong mỗi phép đo để xác định các tham số ước lượng, từ đó,

ước lượng cường độ điện trường tại điểm đo đối với các tổ hợp

sai pha bất kỳ giữa các ăng ten Trên cơ sở đó, chúng ta có thể chỉ

ra tổ hợp sai pha cụ thể ứng với SAR cực đại trong mặt phẳng đo

Sau khi biết tổ hợp sai pha này, phép đo xác định SAR trung bình

không gian cực đại của thiết bị nhiều ăng ten có thể tiến hành

tương tự như đối với thiết bị đơn ăng ten Nhóm tác giả phân tích

các vấn đề cơ bản, mô phỏng và kiểm chứng kỹ thuật ước lượng

mới đối với một số cấu hình ăng ten điển hình Kết quả kiểm chứng

cho thấy kỹ thuật ước lượng và quy trình đo mới đơn giản, chính

xác và tiết kiệm thời gian

Abstract - In this paper, theauthors propose a new measurement

procedure for determining the maximum SAR value of multi-antenna devices The proposed procedure is based on a new technique which requires antennas turning ON/OFF alternatively in each measurement to determine the estimated factors Then, the E-field

at measured points can be estimated for any combination of relative phases of the antennas Thanks to the estimation, we can find out the combination of relative phases corresponding to the maximum E-field in the measured plane By setting the combination to the antennas, the maximum spatial-averaged SAR of a multiple-antenna device can be measured similarly to that of a single antenna device The authors have analyzed the fundamentals of the new technique, conducted simulations and validations for some typical antenna configurations As a result, it is confirmed that the proposed technique and procedure is simple, accurate, and time saving

Từ khóa - hệ số hấp thụ riêng; thiết bị vô tuyến nhiều ăng ten phát;

đầu dò điện trường véc-tơ; sai pha tương đối; cường độ điện

trường

Key words - specific absorption rate - SAR; multiple antenna radio

device; vector field probes; relative phase; E-Field

1 Đặt vấn đề

Thiết bị vô tuyến nhiều ăng ten phát được kỳ vọng sẽ

đóng vai trò quan trọng trong các hệ thống thông tin vô

tuyến thế hệ tiếp theo Hiện nay, các thiết bị vô tuyến nhiều

ăng ten, bao gồm kỹ thuật MIMO (Input

Multi-Output), và ăng ten mạng pha, nhận được nhiều quan tâm

về nghiên cứu và phát triển Tuy nhiên, để đưa các thiết bị

này vào hoạt động trong thực tế, có nhiều vấn đề cần nghiên

cứu, giải quyết như tốc độ truyền dữ liệu, chất lượng tin,

kích thước, cường độ điện trường bức xạ… Trong đó, vấn

đề về tương thích điện từ trường là yêu cầu quan trọng để

đảm bảo các thiết bị cung cấp dịch vụ an toàn và tin cậy,

không gây nhiễu đến thiết bị khác trong hệ thống

Một tham số đặc trưng để kiểm tra tính tương thích điện

từ trường đó là hệ số hấp thụ riêng SAR (Specific

Absorption Rate) được chỉ ra trong các chuẩn quốc tế về an

toàn bức xạ vô tuyến [1], [2], [3] Hệ số hấp thụ riêng SAR

được định nghĩa là giá trị đặc trưng cho công suất hấp thụ

trên mỗi đơn vị khối lượng của một cơ thể sinh học khi cơ

thể đó tiếp xúc với trường điện từ Giá trị SAR tỷ lệ với

bình phương biên độ cường độ điện trường bức xạ, và được

tính theo công thức:

2

W /

trong đó,  và  tương ứng là độ dẫn điện (S m/ ) và

mật độ khối lượng riêng ( 3

/

Kg m ) của cơ thể sinh học; E

là cường độ điện trường tại điểm đo (V m/ )

Hệ thống đo SAR thông thường có các thành phần

chính gồm: (1) một phantom được cấu tạo từ chất điện môi

ít tổn hao; (2) chất lỏng bên trong phantom có tính chất

điện từ trường tương đương với cơ thể con người; (3) đầu

dò điện trường để đo cường độ điện trường bên trong phantom; và (4) thiết bị cần đo Tùy thuộc vào các hệ thống

đo khác nhau, có thể có thêm cánh tay robot để điều khiển đầu dò điện trường đo các điểm khác nhau trong phantom Phantom có 2 loại cơ bản là phantom phẳng - dùng để đo SAR của các thiết bị vô tuyến nói chung và phantom có dạng đầu người (head phantom) - dùng để đo SAR của điện thoại di động Chất lỏng bên trong phantom (liquid) là môi trường hấp thụ sóng điện từ mạnh Đầu dò điện trường có hai loại: đầu dò vô hướng [4] (scalar probes) và đầu dò

véc-tơ [5] (vector probes) Đầu dò vô hướng chỉ có thể cung cấp thông tin về biên độ điện trường tại điểm đo, trong khi

đó đầu dò véc-tơ cung cấp thông tin cả về pha và biên độ của điện trường

Đối với các thiết bị vô tuyến có 1 ăng ten phát (trên một đường thông tin), các kỹ thuật đo SAR và quy trình tìm giá trị SAR lớn nhất đã được chỉ rõ trong các chuẩn đo quốc tế [1], [2] Tuy nhiên, đối với thiết bị có nhiều ăng ten phát hoạt động trong cùng một tần số, các kỹ thuật đo và quy trình xác định SAR hiện nay vẫn chưa rõ ràng, tốn thời gian

và phức tạp Chẳng hạn, các chuẩn IEEE 1528 [1] và IEC/TR 62630 [2] hiện tại khuyến nghị thực hiện các phép

đo SAR với các giá trị sai pha của nguồn bức xạ (ăng ten) thay đổi từ 0 độ đến 360 độ (với một giá trị bước pha xác định) Theo đó, nếu thiết bị cóNăng ten phát hoạt động

trong cùng một tần số, và bước pha là k độ, thì cần thực

360 / ( k)N− phép đo SAR lặp đi lặp lại, và tìm giá trị SAR lớn nhất trong số kết quả đo Rõ ràng, đây là một quy trình tốn nhiều thời gian, thậm chí không khả thi trong thực

tế khi giá trị bước pha nhỏ, hoặc số lượng ăng ten lớn, biết

Trang 2

36 Chu Văn Hải, Nguyễn Huy Hoàng, Lê Đình Thành rằng mỗi phép đo SAR thường mất khoảng 30 phút

Một số nghiên cứu trong [6], [7], với trường hợp 2 ăng

ten phát và giá trị bước pha bằng 45 độ, thực hiện 8 phép đo

để xác định giá trị SAR lớn nhất Tuy nhiên, do bước pha là

khá lớn nên giá trị SAR lớn nhất tìm được có thể nhỏ hơn rất

nhiều giá trị SAR thực tế (ứng với giá trị sai pha không phải

là bội của bước pha 45 độ) Các nghiên cứu này chỉ dừng lại

với các trường hợp 2 ăng ten phát Khi số lượng các ăng ten

phát tăng lên, kỹ thuật đo này trở nên khó khả thi vì yêu cầu

số lượng lớn các phép đo SAR trong thực tế

Để giảm thời gian đo, một kỹ thuật khác đã được giới

thiệu trong [8] Theo đó, giá trị SAR của thiết bị nhiều ăng

ten phát được xác định bằng cách kết hợp các giá trị SAR

riêng lẻ của từng ăng ten Tuy vậy, kỹ thuật này chỉ có thể

chỉ ra giá trị cận trên của SAR, và giá trị này thường quá

cao so với SAR thực tế (overestimating)

Ngoài ra, trong [9], đánh giá SAR trên 4 mẫu điện thoại

di động điển hình có 2 ăng ten phát cùng một tần số hoạt

động ở băng tần LTE Giá trị SAR được tính theo công thức

của FCC [3] và không xem xét đến sự thay đổi sai pha giữa

2 ăng ten Vì vậy giá trị SAR thu được có thể thay đổi khi

sai pha thay đổi Một kỹ thuật ước lượng được giới thiệu

trong [10], phân tích vị trí đặt các ăng ten trong thiết bị di

động với 6 mẫu được khảo sát Kết quả cho thấy SAR lớn

nhất tại hình a và hình c có thể dự đoán được tương ứng

với sai pha cụ thể là 0°và 180° giúp giảm rất nhiều thời

gian đo Nghiên cứu cũng đưa ra hướng dẫn thiết kế thiết

bị cầm tay đa ăng ten với SAR thấp Tuy nhiên, kỹ thuật

ước lượng này có thể không chính xác khi số lượng ăng ten

tăng, vị trí đặt khác và với chủng loại ăng ten khác

Như vậy, các kỹ thuật đo SAR hiện nay đang gặp thách

thức rất lớn về thời gian đo và tính chính xác trong xác định

SAR của thiết bị Để giải quyết bài toán này, nhóm nghiên

cứu đã giới thiệu một vài kỹ thuật để ước lượng nhanh SAR

[11], [12] Các kỹ thuật này được phát triển trên cơ sở phân

tích lý thuyết điện trường tổng tại điểm đo, tính toán các

tham số ước lượng và thực hiện ước lượng SAR với các tổ

hợp sai pha bất kỳ của nguồn bức xạ Các kiểm chứng cho

một vài mô hình cụ thể đã được tiến hành nhằm minh chứng

cho tính chính xác của kỹ thuật ước lượng

Trong bài báo này, nhóm tác giả trình bày chi tiết một

kỹ thuật mới để xác định các tham số ước lượng, từ đó đề

xuất quy trình đo đơn giản và hiệu quả nhằm xác định giá

trị SAR cực đại của thiết bị vô tuyến nhiều ăng ten phát

Kỹ thuật mới được phát triển trên cơ sở ứng dụng hệ thống

đo điện trường sử dụng đầu dò điện trường véc-tơ

2 Phân tích điện trường tại điểm đo

Để đơn giản, trước hết ta khảo sát điện trường tại một

điểm đo bên trong chất lỏng của hệ thống đo SAR Về cơ

bản, môi trường chất lỏng bên trong phantom là môi trường

hấp thụ sóng điện trường mạnh Vì vậy, điện trường tại điểm

đo bên trong phantom của thiết bị có N ăng ten phát có thể

được biểu diễn là tổng véc-tơ các thành phần điện trường

gây ra bởi mỗi nguồn bức xạ riêng lẻ theo phương các trục

x, y, z Để đánh giá SAR, ba thành phần điện trường theo

phương các trục x, y, z cần được đo kiểm Tuy nhiên, dưới

đây, nhóm tác giả chỉ trình bày giải pháp ước lượng cho

thành phần điện trường theo trục x (trường hợp theo

phương trục y, z ước lượng tương tự) Xét theo phương trục

x, giá trị cường độ điện trường tại điểm đo được tính theo công thức:

2

1 2 i i N

N

tot

trong đó ann=1 Nlà các giá trị phức, đặc trưng cho

điện trường tại điểm đo gây ra bởi ăng ten thứ n; và

( 2 )

 = là sai pha tương ứng giữa ăng ten thứ n và

ăng ten 1

Chúng ta nhận thấy rằng, nếu có thể xác định được các giá trị ann=1 Nthông qua một số hữu hạn các phép đo cho trước, thì cường độ điện trường ứng với tổ hợp sai pha bất kỳ có thể được ước lượng thông qua công thức (2) Vì thế, các giá trị ann=1 Nđược gọi là các tham số ước lượng Trong các nghiên cứu ước lượng trước đây [11], [12], các tham số ước lượngann=1 Nđược xác định dựa trên dữ liệu đo từ các phép đo đối với các tổ hợp sai pha biết trước Tuy nhiên, việc thiết lập các giá trị sai pha chính xác ở một giá trị nào đó trong quá trình đo là rất khó khăn và thường gây ra sai số Nếu việc thiết lập các tổ hợp sai pha có sai số lớn, thì giá trị SAR ước lượng có thể khác nhiều so với giá trị SAR thực tế

Để giải quyết vấn đề này, nhóm tác giả đề xuất trong bài báo kỹ thuật xác định các tham số ước lượng

 1 

a = một cách đơn giản mà không cần thiết phải thiết lập giá trị sai pha trong các phép đo Từ công thức (2), chúng ta thấy rằng các tham số ước lượng ann=1 N đặc trưng cho cường độ điện trường tại điểm đo gây ra bởi từng nguồn bức xạ Vì thế, bằng cách bật/tắt tuần tự từng ăng ten và đo cường độ điện trường bức xạ từ ăng ten đang bật, các tham số này có thể được xác định thông qua các phép đo sử dụng đầu dò điện trường véc-tơ

Quy trình cơ bản được thực hiện như sau:



1 tot

2 tot

N tot

a = E (1) Khi ¨ng ten 1 bËt, c¸c ¨ng ten kh¸c t¾t

a = E (2) Khi ¨ng ten 2 bËt, c¸c ¨ng ten kh¸c t¾t

a = E (N) Khi ¨ng ten N bËt, c¸c ¨ng ten kh¸c t¾t

(3)

Như vậy, đối với thiết bị có N ăng ten phát, cần thực hiện

N phép đo để xác định các tham số ước lượng ann=1 N

So với kỹ thuật ước lượng trong [12] (cùng sử dụng loại đầu

dò điện trường véc-tơ), số lượng phép đo được yêu cầu là không đổi, song hệ thống đo sẽ phức tạp hơn do phải bật/tắt nguồn kích thích và khó thực hiện với hệ thống ăng ten được kích thích đồng thời, ví dụ như ăng ten mảng pha Tuy nhiên,

kỹ thuật bật/tắt tuần tự từng ăng ten sẽ loại bỏ được sai số gây ra do việc đặt sai tổ hợp sai pha của các nguồn bức xạ Sau khi các tham số ước lượng được xác định, thì cường độ điện trường tại điểm đo ứng với tổ hợp sai pha bất kỳ đều có thể được ước lượng dựa vào công thức (2)

3 Quy trình đo SAR mới

Đối với việc đo SAR theo các chuẩn quốc tế IEEE1528 [1] hay IEC/TR 62630 [2], quy trình đo SAR phải thực hiện qua 2 bước đo cơ bản: i) đo trong một mặt phẳng xác định

Trang 3

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 5(126).2018, Quyển 1 37 (gọi là area scan), và ii) đo trong một không gian hình lập

phương xung quanh điểm có giá trị SAR lớn nhất trong mặt

phẳng đo ở bước i (được gọi là zoom scan) Giá trị SAR

lớn nhất cần được xác định là giá trị SAR trung bình theo

không gian (spatial-averaged SAR), được tính là trung bình

SAR của các điểm đo trong bước ii

Cần chú ý rằng, việc ước lượng giá trị cường độ điện

trường ở đây là ước lượng theo từng điểm Nghĩa là, các

tham số ước lượng ở các điểm đo khác nhau sẽ khác nhau

Vì thế, việc đo các điểm trong bước đo “area scan” cần

được thực hiện lần lượt trong mỗi lần bật/tắt các ăng ten

Sau khi thực hiện ước lượng và xác định tổ hợp sai pha của

các nguồn ứng với giá trị cường độ điện trường (hay SAR)

lớn nhất trong mặt phẳng đo, chúng ta có thể thực hiện

bước đo “zoom scan” đối với tổ hợp sai pha đó và xác định

giá trị SAR trung bình không gian lớn nhất

Trên cơ sở kỹ thuật ước lượng trên, nhóm tác giả đưa

ra quy trình đo mới nhằm xác định giá trị SAR trung bình

không gian cực đại cho các thiết bị vô tuyến có nhiều ăng

ten phát như chỉ ra trên Hình 1 Các phép đo “area scan”

và “zoom scan” được thực hiện tuân thủ theo tiêu chuẩn

quốc tế về đo SAR

Thực hiện N phép đo “area scan” để xác định:

E tot (1) cho ăng ten thứ 1 bật, (N-1) ăng ten còn lại tắt.

E tot (2) cho ăng ten thứ 2 bật, (N-1) ăng ten còn lại tắt.

E tot (N) cho ăng ten thứ N bật, (N-1) ăng ten còn lại tắt.

Bắt đầu Thiết lập công suất ở mức lớn nhất cho mỗi ăng ten phát

Tính toán các tham số ước lượng a 1 …a N theo (3)

Ước lượng E tot cho (β 2 ,β 3 ,…,β N ) bất kỳ theo công thức (2)

Kết thúc

Xác định bộ giá trị (β 2 ,β 3 ,…,β N )max tương ứng với (E tot )max

Đo E tot tương ứng với giá trị (β 2 ,β 3 ,…,β N )max trong “zoom scan”

Xác định SAR theo công thức (1) trong “zoom scan”

Lựa chọn hệ thống đo sử dụng đầu dò véc tơ

Tính toán giá trị SAR trung bình không gian theo chuẩn IEEE1528/IEC62209

Hình 1 Quy trình đo SAR của thiết bị có N ăng ten

4 Mô hình và kết quả kiểm chứng

4.1 Mô hình

Để kiểm chứng việc xác định hệ số ước lượng dựa trên

việc bật/tắt tuần tự các ăng ten, nhóm tác giả xây dựng một

số mô hình với 3 trường hợp thiết bị đo kiểm DUT (Device

Under Test) như sau: 2 ăng ten chữ F ngược (IFA:

Inverted-F Antenna); 3 ăng ten chữ Inverted-F ngược và 3 ăng ten chấn tử

nửa sóng Cấu hình ăng ten và các thông số kích thước

được thể hiện trong Hình 2 và Bảng 1 DUT được đặt phía

dưới phantom phẳng và cách chất lỏng trong phantom là

10 mm Kích thước phantom phẳng, vỏ phantom, các thông

số chất lỏng theo các tiêu chuẩn quốc tế được thể hiện ở Bảng 1 Hình 3 là ví dụ biểu diễn mô hình phantom phẳng

và DUT là ăng ten chữ F ngược Mặt phẳng đo “area scan” nhóm tác giả lựa chọn là mặt phẳng XZ phía trong phantom

và cách DUT là 11 mm

Mô hình phantom phẳng, cấu hình DUT được mô phỏng bằng phần mềm CST STUDIO SUITE [13] (Computer Simulation Technology) Dữ liệu cường độ điện trường khi bật/tắt từng ăng ten có được từ mô phỏng tính toán sẽ được sử dụng thay thế cho dữ liệu đo thực tế

Để đánh giá sai số ước lượng, nhóm tác giả cũng lấy dữ liệu mô phỏng tính toán SAR tương ứng với các sai pha từ

0 độ đến 360 độ (với bước pha là 15 độ) cho trường hợp 2 ăng ten; đối với trường hợp 3 ăng ten, dữ liệu SAR tính toán tương ứng với 64 tổ hợp sai pha 2, 3 giữa các nguồn bức xạ, trong đó  lần lượt nhận các giá trị 0 độ đến 2, 3

360 độ (với bước pha là 45 độ) Các dữ liệu mô phỏng này

sẽ được dùng để so sánh với dữ liệu ước lượng SAR theo quy trình được đề xuất như Hình 1 Tất cả các dữ liệu SAR được chuẩn hóa theo giá trị SAR lớn nhất trong mặt phẳng

đo “area scan” Ngoài ra, kỹ thuật ước lượng trong [12]

cũng được sử dụng để so sánh kết quả ước lượng SAR với

kỹ thuật bật/tắt nguồn bức xạ mà nhóm tác giả đề xuất

5

29

3

100

Inverted F antennas

GND

(a)

5

29

3

100

Inverted F antennas

GND

29

(b)

Hình 2 Mô hình và kích thước (mm) ăng ten chữ F ngược:

(a) trường hợp 2 ăng ten; (b) trường hợp 3 ăng ten

10 mm

Chất lỏng trong phantom

Mặt phẳng quan sát

DUT

Ăng ten chữ F ngược

Vỏ phantom

Vỏ phantom

Hình 3 Mô hình phantom và ăng ten chữ F ngược Bảng 1 Các thông số của phantom và ăng ten chấn tử nửa sóng

Trang 4

38 Chu Văn Hải, Nguyễn Huy Hoàng, Lê Đình Thành

4.2 Kết quả kiểm chứng

4.2.1 Trường hợp 2 ăng ten

Hình 4 Phân bố SAR trên mặt phẳng đo “area scan”:

(a) Ăng ten 1 bật, ăng ten 2 tắt; (b) Ăng ten 2 bật, ăng ten 1 tắt

Với mô Hình 2 ăng ten chữ F ngược, Hình 4 thể hiện

phân bố SAR khi bặt/tắt ăng ten trên mặt phẳng đo “area

scan” Dữ liệu SAR này dùng để tính toán các tham số ước

lượng theo (3)

Từ các tham số ước lượng nhanh chóng xác định được

SAR với sai pha bất kỳ thay đổi từ 0 độ đến 360 (với bước

pha là 1 độ) Hình 5 biểu diễn SAR lớn nhất cho tương ứng

với các sai pha khác nhau Từ Hình 5, nhận thấy đường

biểu diễn SAR lớn nhất cho cả 2 kỹ thuật ước lượng là

tương đối trùng khớp và tại sai pha bằng 175 độ, cả 2 kỹ

thuật SAR ước lượng đều cho kết quả SAR lớn nhất trên

mặt phẳng đo “area scan”, giá trị SAR sai lệch khoảng

0,28% Phân bố SAR lớn nhất tại sai pha bằng 175 độ trên

mặt phẳng đo “area scan” được thể hiện trong Hình 6, dễ

thấy các phân bố SAR là khá tương đồng

Hình 5 Giá trị SAR lớn nhất tương ứng với các sai pha

Hình 6 Phân bố SAR trên mặt phẳng đo “area scan” tại sai

pha bằng 175 độ: (a) Kỹ thuật bật/tắt nguồn bức xạ;

(b) Kỹ thuật trong [12]; (c) Dữ liệu tính toán mô phỏng

Hình 7 Sai số giữa ước lượng và tính toán SAR

Hình 7 thể hiện sai số giữa SAR tính toán mô phỏng và

SAR ước lượng cho tất cả các trường hợp kiểm tra, sai số

ước lượng giữa kỹ thuật đề xuất và kỹ thuật trong [12] đều

rất nhỏ (dưới 0,5%)

4.2.2 Trường hợp 3 ăng ten chữ F ngược

Hình 8 Phân bố SAR cho 3 ăng ten chữ F ngược trên mặt

phẳng đo “area scan”: (a) Ăng ten 1 bật, 2, 3 tắt; (b) Ăng ten 2 bật, 1, 3 tắt; (c) Ăng ten 3 bật, 1, 2 tắt

Hình 8 biểu diễn phân bố SAR trên mặt phẳng đo “area scan” cho trường hợp 3 ăng ten chữ F ngược khi bật/tắt tuần tự từng ăng ten Tương tự như trường hợp 2 ăng ten, nhóm tác giả cũng nhanh chóng xác định được SAR lớn nhất trên mặt phẳng đo “area scan” Hình 9a cho biết SAR lớn nhất xác định tại tổ hợp sai pha (92 độ và 67 độ) theo

kỹ thuật đề xuất và Hình 9b biểu diễn SAR lớn nhất tương ứng tại tổ hợp sai pha (90 độ và 65 độ) khi sử dụng kỹ thuật trong [12]

Hình 9 Giá trị SAR lớn nhất tương ứng với các tổ hợp sai pha

cho trường hợp 3 ăng ten chữ F ngược:

(a) Kỹ thuật bật/tắt nguồn bức xạ; (b) Kỹ thuật trong [12]

Hình 10 Sai số giữa tính toán và ước lượng SAR cho trường

hợp 3 ăng ten chữ F ngược:

(a) Kỹ thuật bật/tắt nguồn bức xạ; (b) Kỹ thuật trong [12]

Hình 10 thể hiện sai số giữa SAR tính toán mô phỏng

và SAR ước lượng cho tổ hợp 64 bộ sai pha kiểm tra Với

cả 2 kỹ thuật, ước lượng sai số đều rất nhỏ (dưới 1,6% cho

kỹ thuật đề xuất và dưới 0,8% cho kỹ thuật trong [12])

Trang 5

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 5(126).2018, Quyển 1 39

4.2.3 Trường hợp 3 ăng ten chấn tử nửa sóng

Hình 11 Phân bố SAR cho 3 ăng ten chấn tử nửa sóng trên

mặt phẳng đo “area scan”: (a) Ăng ten 1 bật, 2, 3 tắt;

(b) Ăng ten 2 bật, 1, 3 tắt; (c) Ăng ten 3 bật, 1, 2 tắt

Tiến hành các bước tính toán tương tự như trường hợp

3 ăng ten chữ F ngược Kết quả phân bố SAR tương ứng

với các tham số ước lượng thể hiện trên Hình 11; phân bố

SAR lớn nhất trên mặt phẳng đo “area scan” (Hình 12) và

sai số kiểm tra thể hiện trên Hình 13 cho cả 2 kỹ thuật ước

lượng Các kết quả đều cho thấy kỹ thuật ước lượng bật/tắt

nguồn bức xạ xác định nhanh chóng SAR lớn nhất và sai

số ước lượng dưới 0,5% SAR lớn nhất ước lượng theo kỹ

thuật đề xuất tương ứng với tổ hợp sai pha (225 độ và 12

độ) (Hình 12a) và theo kỹ thuật [12] tương ứng với tổ hợp

sai pha (212 độ và 347 độ) (Hình 12b)

Hình 12 Giá trị SAR lớn nhất tương ứng với các tổ hợp sai pha

cho trường hợp 3 ăng ten chấn tử nửa sóng:

(a) Kỹ thuật bật/tắt nguồn bức xạ; (b) Kỹ thuật trong [12]

Hình 13 Sai số giữa tính toán và ước lượng SAR cho trường

hợp 3 ăng ten chấn tử nửa sóng:

(a) Kỹ thuật bật/tắt nguồn bức xạ; (b) Kỹ thuật trong [12]

5 Kết luận

Trong bài báo này, nhóm tác giả đã phân tích, đề xuất

kỹ thuật ước lượng và quy trình đo mới, cho phép xác định giá trị SAR lớn nhất của thiết bị vô tuyến có nhiều ăng ten phát một cách nhanh chóng và chính xác Kỹ thuật được đề xuất trong bài báo này cho phép xác định các giá trị ước lượng thông qua việc đo điện trường tại điểm đo sử dụng các đầu dò véc-tơ khi các nguồn bức xạ (ăng ten) lần lượt được bật/tắt Ưu điểm của kỹ thuật này là tránh được sai số

đo gây ra do việc đặt sai giá trị sai pha của nguồn trong quá trình đo

Nhóm tác giả thực hiện một số kiểm chứng trong các

mô hình khác nhau để xác định tính chính xác của kỹ thuật

đề xuất Kết quả là, giá trị ước lượng SAR và giá trị tính toán SAR khá phù hợp với nhau Sai số giữa giá trị ước lượng và giá trị mô phỏng chỉ nhỏ hơn 1,6% trong hầu hết các trường hợp

Với quy trình mới này, việc đo SAR của các thiết bị vô tuyến nhiều ăng ten trở nên đơn giản hơn, nhanh hơn và chính xác hơn so với các kỹ thuật hiện tại, góp phần giảm thời gian và chi phí trong đo kiểm của nhà sản xuất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] IEEE 1528, IEEE Recommended Practice for Determining the Peak

Spatial-Average Specific Absorption Rate (SAR) in the Human Head from Wireless Communications Devices: Measurement Techniques, Ed.2013

[2] IEC/TR 62630, Guidance for Evaluating Exposure from Multiple

Electromagnetic Sources, Ed 1.0, 2010

[3] FCC OET Bulletin 65, Evaluating Compliance with FCC Guidelines for

Human Exposure to Radiofrequency Electromagnetic Fields, Ed 97-01

[4] DASY52 by SPEAG, http://www.speag.com/products/dasy/dasy-systems/

[5] ART-MAN by ART-Fi, http://www.art-fi.eu/art-man

[6] K.-C Chim, K C L Chan, and R D Murch, “Investigating The

Impact of Smart Antennas on SAR”, IEEE Trans Antennas Propag.,

Vol 52, No 5, May 2004, pp 1370-1374

[7] J O Mattsson, and L P De Leon, “SAR Evaluation of A

Multi-Antenna System”, Proc IEEE Multi-Antennas and Propagation Int

Symp., Honolulu, Jun 2007, pp 1373-1376

[8] T Iyama and T Onishi, “Maximum Average SAR Measurement

Procedure for Multi-Antenna Transmitters”, IEICE Trans Comm.,

Vol E93-B, No 7, Jul 2010, pp 1821-1825

[9] K Zhao, S Zhang, Z Ying, T Bolin, S He, “SAR Study of Different MIMO Antenna Designs for LTE Application in Smart

Mobile Handsets”, IEEE Trans Antennas Propag., Vol 61, No 6,

Jun 2013, pp.3270-3279

[10] H Li, A Tsiaras, B Lau, “Analysis and Estimation of MIMO-SAR

for Multi-antenna Mobile Handsets”, IEEE Trans Antennas

Propag., 2017, pp 1522-1527

[11] D T Le, L Hamada, and S Watanabe, “Measurement Procedure to Determine SAR of Multiple Antenna Transmitters Using Scalar

Electric Field Probes”, Proc IEEE The International Conference on

Advanced Technologies for Communications 2014 (ATC'14)., Ha

Noi, Oct 2014

[12] D T Le, L Hamada, S Watanabe, and T Onishi, “An Estimation Method for Vector Probes Used in Determination SAR of

Multiple-Antenna Transmission Systems”, Proc IEEE International

Symposium on Electromagnetic Compatibility., Tokyo, May 2014

[13] https://www.cst.com/products/csts2.

(BBT nhận bài: 23/01/2018, hoàn tất thủ tục phản biện: 28/05/2018)

Ngày đăng: 11/02/2020, 18:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w