1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Một số vấn đề về kết quả tính toán biến dạng lún cuối cùng trong thiết kế nền móng

6 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 530,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biến dạng lún của nền là sự phản ánh kết quả tương tác giữa đất nền với tải trọng công trình. Trong khi đó, đất nền có vô vàn các thuộc tính và tải trọng thì đa dạng, nên từ các bài toán liên quan đến tính toán biến dạng lún đã có các cách mô phỏng khác nhau về các đặc điểm đất nền và tải trọng.

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KẾT QUẢ TÍNH TOÁN BIẾN DẠNG LÚN

CUỐI CÙNG TRONG THIẾT KẾ NỀN MÓNG

TRẦN THƯƠNG BÌNH*

Some problems on calculation results of final settlement in the foundation design

Abstract: The paper analyzes the error factors in the prediction method

of final settlement, clarifies the practical meaning of the calculation results

ĐẶT VẤN ĐỀ *

Biến dạng lún của nền là sự phản ánh kết

quả tương tác giữa đất nền với tải trọng công

trình Trong khi đó, đất nền có vô vàn các

thuộc tính và tải trọng thì đa dạng, nên từ các

bài toán liên quan đến tính toán biến dạng lún

đã có các cách mô phỏng khác nhau về các

đặc điểm đất nền và tải trọng Theo đó, biến

dạng lún đã có nhiều phương pháp khác nhau

với kết quả tính không giống nhau Ngoài ra,

nếu phân biệt các phương pháp bởi bản chất

thông tin của các số liệu đất nền, thì trong

cùng một diện tích lãnh thổ, các phương pháp

khác nhau luôn cho kết quả tính khác nhau Sự

khác nhau đó chính là sự khác nhau về giá trị

sai số của kết quả tính mà phương pháp nào

cũng có Do đó, để đánh giá sự khác nhau về

giá trị kết quả tính trong cùng một xác suất tin

cậy của lý thuyết xác suất thống kê, để khẳng

định phương pháp nào chính xác hơn là không

đủ cơ sở, nếu không có một giá trị lún thực tế

Trong khi đó, giá trị lún cuối cùng của đất nền

dưới một tải trọng không đổi là kết quả của

một quá trình diễn biến theo thời gian, có khi

hàng chục năm Ngoài sự khác nhau về mức

*

Đại học Kiến trúc Hà Nội

ĐC: Km 10, đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân,

TP Hà Nội

ĐT: 0913537260

độ sai số, các phương pháp còn có những ưu nhược điểm khác nhau về tính thực dụng Đó

là các lý do mà trong tiêu chuẩn tính toán nền móng đã hướng dẫn nhiều phương pháp tính

mà không quy định một phương pháp cụ thể cho mọi trường hợp Do đó, lựa chọn phương pháp tính hợp lý trên cơ sở xem xét bản chất của các yếu tố sai số trong mỗi phương pháp

là một vấn đề rất đáng bàn luận

1 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ BIẾN DẠNG LÚN CHO CÔNG TRÌNH

Các phương pháp đánh giá biến dạng lún của nền, nếu phân biệt với nhau theo bản chất của thông tin sử dụng trong đánh giá thì có thể chia thành các nhóm:

+ Quan trắc lún Các thông tin trong quan trắc là các giá trị lún thực tế đo được của một công trình với tải trọng xác định trên vị trí nền xác định Như thế, kết quả quan trắc cho biết giá trị lún chính xác ứng với các điều kiện rất cụ thể của tải trọng tại chính đất nền đó Mọi ứng xử của đất nền sẽ thể hiện khách quan và trực tiếp tổng hợp vào các phép đo chuyển vị lún hay nghiêng Do đó, về nguyên tắc sử dụng thí nghiệm quan trắc để đánh giá cho công trình khác tương tự, đặt trên đất nền tương tự sẽ cho các ứng xử tương tự Tuy nhiên, thực tế một nền đất tương tự là một khái niệm liên quan đến mức độ khác nhau của

Trang 2

các loại nền thông qua việc đánh giá các đặc

điểm ứng xử của nền Do đó, kết quả quan trắc

là giá trị lún thực tế, nhưng luôn có tính bất định

về không gian, tức là kết quả không đúng cho

công trình có tải trọng như thế, nhưng đặt ở

không gian khác

+ Tính toán theo kết quả thí nghiệm hiện

trường

Điểm chung của các thí nghiệm hiện trường

có khả năng xác định biến dạng lún của nền là

tạo ra biến dạng cho nền bằng một tác dụng của

tải trọng tại hiện trường nơi đã, đang hoặc sẽ xảy

ra các ứng xử với tải trọng công trình Giá trị của

kết quả thí nghiệm hiện trường là sự phản ánh

khách quan các đặc điểm đất nền trong một phạm

vi nào đó được nhận biết thông qua sự biến đổi

trạng thái ứng suất nền bởi một tác động bên

ngoài gây ra biến dạng cho nền Cho nên, giá trị

sử dụng của thông tin về đất nền mà thí nghiệm

hiện trường mang lại, phụ thuộc vào phương thức

gây ra dạng phản ứng của nền và cách thức thu

nhận thông tin từ các phản ứng đó Do đó, ý

nghĩa của kết quả thí nghiệm hiện trường phụ

thuộc vào việc khai thác và sử dụng nó

Hiện nay, kết quả thí nghiệm hiện trường

trong tính toán biến dạng lún thường sử dụng hệ

số nền của thí nghiệm nén tĩnh nền, giá trị

kháng xuyên của thí nghiệm CPT

- Phương pháp nén tĩnh nền

Cơ sở của phương pháp là đề xuất của

Sleikhe-Polshin trong trường hợp nền đất một

lớp đất với chiều dày vô hạn, thì biến dạng lún

của nền dưới đế móng được xác định bởi

C

Pb

S- độ lún trung bình của toàn bộ diện chịu tải

b- chiều rộng hình chữ nhật hay bán kính

hình tròn

hệ số tra bảng phụ thuộc vào hình dạng

kích thước độ cứng của móng

P- cường độ tải trọng phân bố đều

C- hệ số nền ,

2

1

E

C trong đó E modul đàn hồi

Thí nghiệm nén tĩnh nền khi gia tải các cấp khác nhau, cùng với việc sử dụng diện tích bàn nén khác nhau sẽ cho giá trị của kết quả với các

ý nghĩa phản ánh ứng xử của nền khác nhau Bởi vì, nếu diện tích hoặc tải trọng càng lớn thì chiều sâu vùng ảnh hưởng càng lớn, theo đó hệ

số nền phản ánh ứng xử nén của nền đến chiều sâu lớn hơn

Do đó, để xác định độ cứng của nền chỉ nên

áp dụng cho trường hợp nền đất đồng nhất hoặc nền có chiều dầy lớp đất chịu nén nằm trên đá gốc không lớn, trong trường hợp nền phân lớp thì sử dụng diện tích bàn nén và tải trọng nén bằng với diện tích đế móng và tải trọng công trình Như thế, khi nén trên nền phân lớp, tải trọng thí nghiệm sẽ rất lớn nếu công trình có tải trọng lớn, đó là hạn chế phương pháp này khi triển khai vào thực tế

- Phương pháp dựa vào kết quả thí nghiệm xuyên tĩnh CPT

Năm 1957, De Beer và Martens được bổ xung bởi Bogdanovich, Milovich 1963, phương pháp đánh giá biến dạng lún theo giá trị xuyên CPT như sau:

2

ln 3

t m

i

 

Trong đó, izi - ứng suất bản thân ở độ sâu zi t- chiều sâu đáy móng

m- chiều sâu giới hạn là chiều sâu có ứng suất bản thân bt = gl,

zi - ứng suất hiệu quả do tải trong công trình gây ra (ứng suất gây lún)

Ci - sức kháng xuyên mũi, tính trung bình cho lớp

So sánh sự hình thành phản lực nền lên đáy móng trong quá trình ứng xử,với phản lực nền lên mũi xuyên có sự khác nhau về phương của

Trang 3

phản lực nền và không giống nhau về chế độ

chất tải Ngoài ra, sự biến đổi mối quan hệ ứng

suất biến dạng trong ứng xử của đất dưới đế

móng với đất xung quanh mũi xuyên có những

điểm khác biệt đã hạn chế ý nghĩa sử dụng kết

quả thí nghiệm xuyên tĩnh trong tính toán biến

dạng Nhưng, với ưu điểm tiến hành đơn giản

cho phép thu thập thông tin đất nền ở nhiều

điểm và ở các độ sâu khác nhau, kết quả xuyên

tĩnh có nhiều điều kiện để kết hợp với các thông

tin khác trong đánh giá biến dạng lún

Tính toán biến dạng lún bằng thí nghiệm

xuyên tĩnh còn được tiến hành thông qua các

quan hệ tương quan giữa qc với E thể hiện dưới

dạng bảng tra hoặc các hàm tương quan Tuy

nhiên, các hàm tương quan được xây dựng trên

các số liệu của một khu vực giữa các cặp số

liệu, nên chỉ có ý nghĩa khu vực với một sự

chính xác nhất định Ưu việt lớn nhất của

phương pháp tính biến dạng lún bằng xuyên tĩnh

là kết quả tính là không phụ thuộc vào việc phân

chia chủ quan các lớp đất dưới nền

- Tính toán theo kết quả thí nghiệm trong phòng

Các phương pháp tính toán này xem xét quy

luật phân bố ứng suất gây lún giảm dần theo độ

sâu, trên cơ sở sử dụng kết quả thí nghiệm nén

không nở hông và tính toán độ lún của nền dưới

tâm diện chịu tải Theo mức độ xem xét khác

nhau về quy luật phân bố ứng suất và vùng chịu

nén, có các phương pháp sau

Phương pháp sử dụng đường cong e-p

Đặc điểm của phương pháp xem xét biến

dạng lún thông qua biến thiên từ lúc chưa chất

tải đến khi kết thúc lún của quá trình chất tải của

độ rỗng đất ở các độ sâu khác nhau, theo đó độ

lún của nền sẽ là

bt i z i

S i T i n

i

i

e e m

S

 

1

Trong đó, eiT,eis- hệ số rỗng của phân tố thứ i

trước và sau khi gia tải

iz, ứng suất gây lún ở phân tố thứ i

ibt ứng suất bản thân ở phân tố thứ i m- chiều dày phân tố

i- hệ số nở hông của phân tố thứ i Phương pháp dựa vào đường e-logp Đặc điểm của phương pháp là dựa vào đường cong bán loga để tìm ra giới hạn phân chia 2 trạng thái của đát có bản chất cố kết khác nhau:

- Với đất quá cố kết (c> vo) đất đã trải qua quá trình nén chặt

' '

lg

voi i

n

i

ci c

q h

e

C S

- Với đất thiếu cố kết

) lg

lg (

'

voi voi

pi si n

i

i c

q C

e

h S

trong đó, hi , Cci Csi, e0i- chiều cao, chỉ số nén, chỉ số nở và hệ số rỗng ban đầu của lớp đất thứ i

voi áp lực thẳng đứng ban đầu của lớp đất thứ i bằng trọng lượng lớp nằm trên đến giữa lớp tính toán

q = I.H.- tải trọng gây lún lên lớp thứ i, trong đó I hệ số ảnh hưởng xác định theo toán

đồ Oserberg Phương pháp lớp tương đương:

Đặc điểm của phương pháp là tuyến tính hóa đường phân bố ứng suất bằng việc quy đổi vùng chịu nén theo chiều dày lớp tương đương như sau:

hs chiều dày lớp tương đương hs=A b với A là

hệ số tra bảng dựa vào kích thước độ cứng ở tâm hoặc góc móng và hệ số biến dạng ngang 

a0 – hệ số nén lún rút đổi bình quân;

0 0

1 e

a a

 với eo hệ số rỗng của đất và a hệ số nén lún của đất

h- độ sâu vùng chịu nén được xác định theo biểu thức:

p P h

P j

j h

s

s

2 1

2

Trang 4

Trong đó, Pct độ bền cấu trúc của đất;

j- Grandien thủy lực

xem độ lún của nền dưới một diện chịu tải,

được xác định bởi biểu thức

s

Ph

a

S 0

+ Phương pháp phân tầng lấy tổng

Đặc điểm của phương pháp là chia nền đất ra

nhiều phân tố để xác lập trạng thái ứng suất cho

các phân tố, trong đó độ lún của nền là tổng

biến dạng của các phân tố theo công thức:

i i i i n

i

n

i

i m

E S

1

1

trong đó, Si - giá trị lún của một lớp phân tố

trong vùng chịu nén

mi – chiều dầy phân tố thứ i

Ei – modul tổng biến dạng của phân tố thứ i nhận

được từ tính toán kết quả thí nghiệm trong phòng

i

 - hệ số nở hông của phân tố thứ i nhận được

từ bảng tra hoặc tính theo công thức

n - số phân tố trong vùng chịu nén z Z là

chiều sâu tính từ đáy diện chịu tải đến độ sâu có

ứng suất gây lún z nhỏ hơn 5 lần ứng suất bản

thân bt

Các phương pháp liên quan đến kết quả thí

nghiệm trong phòng chứa đựng nhiều yếu tồ sai

số, bao gồm:

- Kết quả thí nghiệm trong phòng là sản

phẩm của nhiều công đoạn lấy mẫu, vận

chuyển, bảo quan, gia công và kết quả thí

nghiệm phụ thuộc vào kỹ năng thao tác, sự

chính xác của thiết bị

- Các mô phỏng về trạng thái của mẫu đất

trong phòng thí nghiệm không thể đúng với

trạng thái tồn tại của nó và điều kiện để nó ứng

xử đúng với thực tế Trong khi, một sai số nhỏ

của thí nghiệm thông qua các phép cộng sẽ trở

thành lớn của kết quả tính

- Tính lún bằng kết quả thí nghiệm trong

phòng còn phụ thuộc vào sự xác lập chiều dày

các lớp đất

Nhưng các phương pháp tính lún bằng kết

quả thí nghiệm trong phòng đều tính ở tâm diện chịu tải, nơi phân bố ứng suất theo chiều sâu là lớn nhất, cùng với sự chỉnh lý thống kê kết quả thí nghiệm và các phép tuyến tính trong bài toán Do đó, thay vì các sai số của kết quả tính dao động xung quanh giá trị thực đã được dồn

về một phía để đảm bảo kết quả tính toán là giá trị có độ tin cậy cao nhất cho ổn định công trình Chính vì thế, cùng với các ưu điểm khác, phương pháp tính toán dựa vào kết thi nghiệm trong phòng đã trở thành truyền thống và phổ biến trong thiết kế tiền định

Tóm lại mỗi phương pháp đêu có những ưu và nhược điểm khác nhau, không phương pháp nào

ưu việt trong mọi hoàn cảnh Do đó, kết hợp giữa các phương pháp thí nghiệm hiện trường và quan tắc với tính toán bằng thí nghiệm trọng phòng sẽ cho giá trị sát thực nhất, vấn đề là kết hợp như thế nào để có kết quả đánh giá hợp lý nhất

2 Mục đích của tính toán biến dạng và ý nghĩa cúa các kết quả

Ngoài các sai số kết quả của các phương pháp tính, thì kết quả tính còn phụ thuộc vào việc xác định tải trọng, trong khi tải trọng công trình là kết quả của tổ hợp theo các kịch bản Như vậy, tải trọng tác dụng xuống nền đất thông qua móng không phải là giá trị thực, nên kết quả tính toán biến dạng lún cho một công trình cụ thể cũng là không thực, cho dù kết quả từ các phương pháp tính là chính xác

Hơn thế, biến dạng lún của đất nền luôn kèm theo sự biến đổi cấu trúc của đất để hình thành một cấu trúc khác Khi biến dạng còn nằm trong giới hạn phát triển của biến dạng trượt thì sự biến đổi cấu trúc có xu hướng làm tăng bền và giảm khả năng biến dạng Như thế, biến dạng lún của công trình còn phụ thuộc vào phương thức chất tải nhanh hay chậm, trong khi các phương pháp tính chưa tường minh sự ảnh hưởng này

Trang 5

Tóm lại có rất nhiều vấn đề chỉ ra rằng, kểt

quả tính toán lún cuối cùng của đất nền dưới tải

trọng công trình là giá trị không thực Vậy,

chúng có ý nghĩa gì trong thiết kế nền móng, khi

mà theo thời gian chịu tải trọng công trình, đất

nền chỉ biến đổi theo chiều hướng tăng bền,

giảm tốc độ lún và tắt dần đã được khẳng định

chăc chắn bằng sự thỏa mãn điều kiện chịu tải

của đất nền

Để tường minh về ý nghĩa thực tiễn của kết

quả tính toán, trước hết phải tường minh về bản

chất biến dạng lún của công trình

Biến dạng lún của công trình là sự chuyển vị

thẳng đứng lũy tiến theo thời gian của công

trình đó Nếu xét chuyển vị bằng sự biến đổi

theo thời gian khối tâm của công trình thì sẽ có

sự phân biệt biến dạng lún giữa công trình có

khối tâm không đổi là công trình có kết cấu

cứng hoặc đặt trên diện chịu tải cứng với công

trình kết cấu mềm như nền đường, nền đê v.v

Giữa chúng luôn có yêu cầu khác nhau về sử

dụng kết quả tính biến dạng lún

- Đối với công trình kết cấu cứng, khi chuyển

vị thẳng đứng, mọi điểm trên công trình đều

dịch chuyển theo quỹ đạo thẳng đứng và khi

chuyển vị xoay, mọi điểm đều dịch chuyển theo

quỹ đạo tròn, chung một trục nhưng khác bán

kính, sự phân bố tải trọng công trình xuống đất

nền là không giống nhau giữa các điểm, nên

biến dạng lún ở một điểm trong nền không phải

biến dạng lún cho công trình, nhưng sẽ làm thay

đổi nội lực của kết cấu Vì thế với công trình kết

cấu cứng, mục đích tính biến dạng là xác định

sự lún lệch với quan niệm rằng, sai số xảy ra thì

cùng sai số như nhau, chênh lún giữa các điểm

không bị ảnh hưởng

Trong thiết kế tiền định, tính toán biến dạng

nhằm khẳng định giải pháp móng được lựa chọn

thỏa mãn về điều kiện biến dạng, với yêu cầu

kết quả tính nhỏ hơn trị giới hạn cho phép về

biến dạng tuyệt đối và độ lún lệch, còn nhỏ hơn bao nhiêu không cần xem xét

Trong TCVN 9362 và TCVN 10304 quy định: nhà khung bê tông cốt thép không có tường chèn, giá trị lún tuyệt đối giới hạn

Sgh=8cm và độ lún lệch giữa hai móng liền kề

S/L= 0.002 là thỏa mãn, không cần xem xét đến sai số của kết quả tính Việc không xét đến sai số của kết quả tính, đã dẫn đến những sai lầm tiềm ẩn nguy cơ hoặc thể hiện ra bên ngoài bằng sự phá hủy kết cấu

Ví dụ, lún của đài A là S= 5cm và đài B có S=4,2 cm khoảng cách 2 đài L=5 mét, khi đó độ lún lệch giữa hai đài là 0.0016<0.002 và được đánh giá là thỏa mãn cả hai giới hạn Nhưng, nếu xem xét sai số của kết quả tính với giá trị thực vẫn có thể xảy ra khả năng: tại A độ lún S= 4mm, tại B độ lún S= 2,5mm, khi đó độ lún lệch

S/L=0.003, tức là không thỏa mãn giá trị cho phép Ngược lại sẽ có trường hợp kết quả tính không thỏa mãn, nhưng vì sai số nên giá trị thực vẫn thỏa mãn

- Đối với công trình có kết cấu mềm từ thân đến móng, những vấn đề chuyển vị và phân bố tải trọng công trình xuống nền khác với kết cấu cứng Trong đó, với công trình kết cấu mềm, tải trọng công trình truyền xuống các điểm dưới nền là như nhau Vì thế, lún lệch không phải là vấn đề chính yếu mà giá trị độ lún tuyệt đối mới cần có sự yêu cầu chính xác

Trong tính toán nền đường đắp trên đất yếu thì độ lún rất lớn, vì vậy sai số sẽ rất lớn, nếu bỏ qua sai số, tính toán chỉ xét theo độ tin cậy sẽ làm tăng khối lượng so với thực tế vốn có Đặc biệt với nền đất yếu, lún là quá trình lâu dài phụ thuộc vào điều kiện cố kết Vì thế, thời gian lún hay thời gian cố kết mới là điều quan tâm Như vậy, muốn có một giá trị lún thực tế thì mọi phương pháp tính toán đều không đáp ứng được, ngoài phương pháp quan trắc Nhưng,

Trang 6

phương pháp quan trắc lại có tính bất định không

gian Do đó, kết hợp chúng lại là nguyên tắc cơ

bản trong thiết kế nền móng để lựa chọn hợp lý

kết quả tính Nguyên tắc đó là: căn cứ vào độ lệch

của các kết quả tính so với kết quả quan trắc để

làm cơ sở lựa chọn Tuy nhiên, thực hiện theo

nguyên tắc đó đòi hòi một quy trình phức tạp, nhất

là với nhà cao tầng giải pháp móng sâu

Đối với công trình nhà kết cấu cứng, luôn có

yêu cầu về độ tin cậy của lún lệch, nhất là

trường hợp dưới móng công trình có nhiều

thành tạo cùng ở một độ sâu nhưng có tốc độ

lún khác nhau sẽ xảy ra sự chênh lún tức thời,

trước khi đạt giá trị cuối cùng Cho nên, để đảm

bảo sai số nhỏ hơn của giá thực so với kết quả

tính sẽ có cách giải quyết đơn giản như sau:

Giá trị giới hạn về điều kiện lún cho một loại

công trình, bao gồm: Giá trị lún tuyệt đối xem như

điều kiện cần là S <Scgh, giá trị độ lún lệch là điều

kiện đủ, xác định theo đẳng thức Sgh= L sgh, khi

đó điều kiện cần và đủ sẽ là: S <Scgh= L sgh

Trong đó, Scgh - độ lún tuyệt đối giới hạn phụ

thuộc vào loại công trình

L - khoảng cách giữa 2 điểm của móng gần

nhất được tính toán lún

sgh - độ lún lệch giới hạn quy định theo kết

cấu loại công trình,

Ví dụ, nhà khung bê tông cốt thép không có

tường chèn quy định S< Scgh=8cm đồng thời

s< sgh= 0.002 thì đề xuất điều kiện cần S <

8cm điều kiện đủ S< Sgh= 0.002L

Theo đề xuất này, kết quả kiểm tra điều kiện

biến dạng lún sẽ loại bỏ tất cả các khả năng lún

lệch giữa các móng vượt quá giới hạn cho phép

So với với cách kiểm tra điều kiện biến dạng

của giải pháp móng truyền thống S< Scgh và s<

sgh, phương pháp đề xuất áp dụng cho giải

pháp móng sâu không ảnh hưởng nhiều, vì độ

lún tuyệt đối của móng sâu rất nhỏ, nhưng áp

dụng với móng nông trong nhiều trường hợp sẽ phải thay đổi đáng kể kích thước móng để có được sự thỏa mãn Trong những trường hợp với móng nông, nên sử dụng kết quả nén tĩnh nền, hoặc sử dụng hệ số an toàn do đề xuất Statements (1967)

Kết luận:

Lựa chọn hợp lý kết quả tính toán biến dạng trong thiết kế nền móng công trình có vai trò quyết định đến lựa chọn giải pháp móng hợp lý, nếu lựa chọn kết quả không hợp lý sẽ có giải pháp móng không hợp lý Để lựa chọn hợp lý kết quả tính toán lún đòi hỏi phải tường minh tổ hợp tải trọng, kết cấu công trình, đặc biệt là quá trình xác lập các thông số đất nền xây dựng các phương án làm cơ sở lựa chọn

Ngoài những vấn đề được trình bày xung quanh kết quả tính toán và lựa chọn hợp lý kết quả tính, để sáng tỏ vấn đề biến dạng lún của đất nền còn nhiều vấn đề khác phải xem xét, trong đó vấn đề sử dụng lý thuyết xác suất thống

kế làm công cụ để giải quyết các biến dạng của nền không đồng nhất về thành phần và bất đẳng hướng về cấu tạo và tính chất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 E.D Sukina (1985), “Cơ lý hoá hệ phân tán tự nhiên”, NXB Matxcova,< Tiếng Nga>

2 N.A Xưtovich.(1983), “Cơ học đất”, bản

dịch tiếng Nga Nhà xuất bản Nông nghiệp 3.Shamsher Prakash- Hary D.Sharma

(1999),“Móng cọc trong thực tế xây dựng“ ,NXB XD – HN

4 R Whitlow (1997), “Cơ học đất”, NXB

Giáo dục

5.K.Széchy, L Varga (1978), “ Foundation engineering”, Akadémiai Kiadó Budapest,

<Tiếng Anh>

Người phản biện: PGS.TS ĐOÀN THẾ TƯỜNG

Ngày đăng: 11/02/2020, 15:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w