1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Ứng dụng thiết bị máng mô phỏng trượt đất để nghiên cứu hiện tượng trượt nông tại thành phố Hạ Long, Quảng Ninh

11 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 2,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các nguyên nhân gây ra trượt đất ở trên, mưa lớn là một nguyên nhân chính, đặc biệt là hiện tượng trượt nông nơi mặt trượt chỉ nằm sâu từ 1m đến 10m (phân loại theo Hội Trượt Đất Quốc tế ICL). Trượt nông thường xảy ra ở những khu vực mà lớp đất trên mặt có hệ số thấm cao nằm trên một lớp đất có hệ số thấm thấp.

Trang 1

ỨNG DỤNG THIẾT BỊ MÁNG MÔ PHỎNG TRƯỢT ĐẤT ĐỂ NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG TRƯỢT NÔNG TẠI THÀNH PHỐ

HẠ LONG, QUẢNG NINH

ĐỖ NGỌC HÀ, ĐOÀN HUY LỢI, HUỲNH ĐĂNG VINH, HUỲNH THANH BÌNH*

Application of landslide flume experiment to research the shallow landslides in Ha Long, Quang Ninh

Abstract: Heavy rainfall is one of the major causes of shallow landslides in

the world To analyze landslide mechanisms triggered by rainfall, large-scale models have been used In Japan, there are several landslide experiments conducted in Forestry and Forest Products Research Institute and National Research Institute for Earth Science and Disaster Prevention In Vietnam, the similar landslide flume experiment was manufactured in Institute of Transport Science and Technology (ITST), Ministry of Transport This study used the laboratory flume experiment in ITST with artificial heavy rainfall to analyze the mechanism of a shallow landslide in Quang Ninh, Vietnam Wire extensometers were installed to detect the surface displacement before the landslide initiation Time prediction of landslide initiation could be possible from the accumulation and acceleration of slope surface movement

1 GIỚI THIỆU *

1.1 Tổng quan việc ứng dụng máng mô

phỏng trượt đất để nghiên cứu trượt nông

trên thế giới

Trượt nông dọc tuyến đường giao thông là

một trong những hiện tượng địa chất động lực

công trình diễn ra trong phạm vi mái dốc nền

đường hoặc trong một phạm vi rộng lớn hơn bao

gồm cả một phần sườn đồi hay sườn núi tiếp giáp

với mái dốc nền đường Hiện tượng trượt đất

phát sinh khi chịu tác động trực tiếp của con

người kết hợp với các yếu tố tác động thiên nhiên

như mưa, bão, lũ lụt, dòng chảy, nước ngầm hoặc

động đất, làm khối đất đá nằm trên mái dốc

hoặc sườn đồi, sườn núi bị mất ổn định cơ học và

sau đó tự tách ra thành một hoặc nhiều khối đất

*

Viện Khoa học và Công nghệ GTVT

E-mail: dongochakhcn@gmail.com

đá chuyển động tự do xuống phía dưới, ở các dạng khác nhau, theo phương trọng lực

Trong các nguyên nhân gây ra trượt đất ở trên, mưa lớn là một nguyên nhân chính, đặc biệt là hiện tượng trượt nông nơi mặt trượt chỉ nẳm sâu từ 1m đến 10m (phân loại theo Hội Trượt Đất Quốc tế ICL) Trượt nông thường xảy

ra ở những khu vực mà lớp đất trên mặt có hệ số thấm cao nằm trên một lớp đất có hệ số thấm thấp Khi nước mưa ngấm từ trên xuống gặp lớp đất có hệ số thấm thấp sẽ không thấm qua được,

do đó mực nước sẽ dâng lên trong lớp đất thấm tốt trên mặt, làm gia tăng áp lực nước lỗ rỗng và dẫn đến mất ổn định sườn dốc Các vụ trượt nông thường là nguồn gốc gây ra lũ bùn đá, lũ quét và khi xảy ra, sẽ gây ra thiệt hại rất lớn về con người và tài sản

Để nghiên cứu trượt đất, người ta có thể dùng các mô hình thí nghiệm Mô hình thí nghiệm

Trang 2

trong phòng là phương pháp mô phỏng gần

đúng với thực tế nhất Trong mô hình này, các

đặc tính của đất, điều kiện biên có thể kiểm

soát được và các thông số lượng mưa, áp lực

nước lỗ rỗng, độ dịch chuyển có thể quan trắc

được Do đó, để nghiên cứu cơ chế của hiện

tượng trượt nông, trên thế giới đã sử dụng một

số thiết bị máng mô phỏng trượt đất có xét đến

ảnh hưởng của mưa Một số nghiên cứu đã

được thực hiện bởi Wang, Sassa (2003),

Lourenco và nnk (2006), Tohari và nnk (2007),

Chen và nnk (2012), Tsutsumi và Fujita

(2012), Okada (2014), L.Z.Wu và nnk (2015), M.R Hakro và nnk (2015) Các máng trượt có kích thước khác nhau: ví dụ tại trường đại học Chengdu, Trung Quốc máng có kích thước chiều dài, rộng và cao lần lượt là 2x0,6x0,8 m

và tại trường Teknologi, Malaysia là 2,2x1x2,2

m Máng mô phỏng trượt đất lớn nhất trên thế giới với kích thước cao, dài, rộng tương ứng là 23x3x1,5 (m) được thiết kế và thí nghiệm tại Viện nghiên cứu Quốc gia về khoa học Trái Đất và phòng chống thảm họa thiên nhiên (NIED), đặt tại Tsukuba, Nhật Bản

Hình 1: Thiết bị máng mô phỏng trượt đất với kích thước dài, cao, rộng tương ứng là 23x3x1,5 (m) được thiết kế và thí nghiệm tại Viện nghiên cứu Quốc gia về khoa học Trái Đất và phòng chống

thảm họa thiên nhiên (NIED), đặt tại Thành phố Tsukuba, Nhật Bản

Máng mô phỏng trượt đất có kích thước nhỏ

hơn với kích thước dài, rộng, cao tương ứng là

9x1x1 (m) và góc nghiêng 320 được thiết kế và

thí nghiệm tại Viện nghiên cứu lâm nghiệp và

lâm sản (FFPRI), đặt tại Thành phố Tsukuba,

Nhật Bản Máng trượt có kích thước càng lớn

thì càng mô phỏng gần với thực tế hơn, tuy

nhiên việc thí nghiệm sẽ tốn kém và mất nhiều thời gian hơn

1.2 Mô hình máng mô phỏng trượt đất ở Việt Nam

Năm 2013, phòng thí nghiệm máng mô phỏng trượt đất đã được thiết kế và bắt đầu xây dựng tại Viện Khoa học và Công nghệ

Trang 3

GTVT Máng được thiết kế dựa trên chỉ tiêu

cơ lý của đất đá phong hóa tại khu vực Hải

Vân Năm 2015 và năm 2016, các thí nghiệm

máng mô phỏng trượt đất có mưa nhân tạo đã

được thực hiện tại Viện Khoa học và Công

nghệ GTVT Hai thí nghiệm sử dụng mẫu cát

từ sông Hồng, Hà Nội Hai thí nghiệm khác sử dụng mẫu đất lấy từ hiện trường khu vực trượt

Ga Hải Vân, Đà Nẵng

Hình 2: Thiết bị máng mô phỏng trượt đất với kích thước cao, dài, rộng tương ứng là 9x1x1 (m)

được thiết kế và thí nghiệm tại Viện Khoa học và Công nghệ GTVT

2 THIẾT BỊ VÀ VẬT LIỆU

2.1 Cấu tạo máng mô phỏng trượt đất

Sơ đồ thiết kế của máng mô phỏng trượt đất

tại Viện Khoa học và Công nghệ GTVT cùng hệ

thống giàn mưa nhân tạo được thể hiện trong

Hình 3 Một mặt của máng được làm bằng kính

cường lực trong suốt để có thể quan sát được

dịch chuyển của toàn bộ khối đất, một mặt làm

bằng thép Máng có chiều dài 9 m được chia

làm ba đoạn với các độ dốc khác nhau mô

phỏng theo điều kiện tự nhiên Đoạn trên cùng

dài 1 m có độ dốc 00 mô phỏng như đỉnh mái

dốc Đoạn giữa dài 4 m có độ dốc 340, được

thiết kế căn cứ theo kết quả thí nghiệm cắt phẳng cho vật liệu đất đá granit phong hóa tại Hải Vân có góc ma sát trong là 340 Đoạn dưới dài 4 m có độ dốc 100, mô phỏng sự thoải dần của mái dốc, đồng thời phản ánh sự khác biệt trong cơ chế dịch chuyển của đoạn mái dốc 340

Để mô phỏng hiện tượng mưa, một hệ thống các đầu phun mưa được thiết kế trên nóc mái máng trượt Hệ thống các đầu phun mưa này được thiết kế sao cho lượng mưa được phun đều dọc theo chiều dài máng trượt Để điều chỉnh được lượng mưa, một hệ thống van điều áp được lắp đặt dọc theo ống dẫn nước lên đầu phun

Trang 4

Hình 3: Cấu tạo máng trượt và hệ thống phun mưa

2.2 Hệ thống quan trắc

Sơ đồ hệ thống quan trắc được thể hiện trong

Hình 4 Hệ thống này được thiết kế nhằm quan

trắc được sự thay đổi của áp lực nước lỗ rỗng,

sự dịch chuyển bề mặt, và sự dịch chuyển của toàn bộ khối trượt

Hình 4: Hệ thống quan trắc máng mô phỏng trượt đất

Trang 5

- Quan trắc sự thay đổi áp lực nước lỗ rỗng

tại một độ sâu nhất định để thấy được sự thay

đổi áp lực nước lỗ rỗng trong quá trình mưa

Khi áp lực nước lỗ rỗng tăng, mái dốc sẽ dần

đạt tới trạng thái giới hạn trượt Một loại đầu đo

áp lực nước lỗ rỗng hình trụ được đặt vào trong

đất cát trong máng trượt để đo áp lực nước lỗ

rỗng thay đổi

- Quan trắc sự dịch chuyển của bề mặt mái

dốc để thấy rõ các dịch chuyển bề mặt mái dốc,

bằng cách sử dụng thiết bị đo độ dãn dài Sự

dịch chuyển bề mặt và tốc độ dịch chuyển được

ghi lại trong biểu đồ Sử dụng phương pháp

phân tích nghịch đảo tốc độ dịch chuyển theo

Saito (1968) và Fukuzono (1985) có thể dự báo

được thời gian xảy ra trượt đất

- Quan trắc dịch chuyển của toàn bộ khối trượt trên mái dốc để phân tích, so sánh với sự thay đổi

áp lực nước lỗ rỗng trong khối trượt Các hình trụ đánh dấu hoặc các vật liệu cát màu có thể được sử dụng để đặt dọc theo khối trượt Dịch chuyển của các hình trụ đánh dấu được ghi lại bằng máy quay

và máy ảnh đặt dọc theo máng

- Thời gian của các dữ liệu quan trắc được đồng bộ bằng đồng hồ hiển thị số hoặc bằng thiết bị GPS

2.3 Lựa chọn địa điểm lấy mẫu vật liệu và lượng mưa thí nghiệm

Điểm trượt đất được lựa chọn thí nghiệm là khu vực trượt đất cầu vượt Bàn Cờ, đường vào Cảng Cái Lân, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (Hình 5)

Hình 5: Điểm trượt tại thành phố Hạ Long, Quảng Ninh được lựa chọn lấy mẫu

làm thí nghiệm máng mô phỏng trượt đất

Lượng mưa lớn nhất tại điểm trượt đất được

lấy theo số liệu thủy văn khu vực Phường Bãi

Cháy – thành phố Hạ Long - Quảng Ninh ngày

28/7/2015 (thời điểm trượt đất xảy ra) Lượng

mưa trung bình đo được trong ngày xảy ra trượt đất ở hai giờ mưa lớn nhất là 75mm/h (Hình 6) Đây là lượng mưa được sử dụng để thí nghiệm

mô hình máng trượt

Trang 6

Hình 6: Biểu đồ lượng mưa theo giờ ngày

26,27,28 tháng 7 năm 2015 khi trượt đất xảy ra

tại thành phố Hạ Long, Quảng Ninh (Theo số

liệu quan trắc tại trạm Bãi Cháy)

3 MỘT SỐ KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM

Thí nghiệm mô phỏng trượt đất nông bằng

thí nghiệm máng trượt với lượng mưa lớn nhất

tại điểm trượt đất (75mm/h) thực hiện tại Phòng

thí nghiệm mô hình thuộc Viện Khoa học và

Công nghệ GTVT ngày 17/3/2017 ghi nhận

được một số nội dụng chủ yếu sau:

- Với lượng mưa lớn nhất tại điểm trượt đất (75mm/h) mái dốc bắt đầu có hiện tượng dịch chuyển sau 18 phút mưa Biến dạng bắt đầu từ chân mái dốc có độ dốc 340, do mái dốc mất ổn định phần chân mái nên tạo ra các vùng sụt trên thân mái

- Đoạn mái dốc có độ dốc 100 độ ổn định, không biến dạng trong suốt quá trình thí nghiệm mưa

- Vùng sụt phát triển từ mặt mái sau đó xuống sâu 35cm-:- 45cm so với mặt mái tạo ra cung trượt Đỉnh điểm của biến dạng tại phút thứ 70 (sau 4200 s tính từ khi thí nghiệm mưa), vùng sụt trượt kéo theo cả đoạn mái dốc 340 sụt xuống tạo thành dòng bùn đổ xuống chân mái dốc

3.1 Phân tích các chỉ tiêu cơ lý của mẫu vật liệu sử dụng cho thí nghiệm

Trước khi tiến hành thí nghiệm mô phỏng, mẫu đất được tiến hành các thí nghiệm trong phòng để xác định các chỉ tiêu cơ lý Bảng 1 trình bày tính chất cơ lý của mẫu lấy tại thành phố Hạ Long

Bảng 1: Chỉ tiêu cơ lý của mẫu dùng để thí nghiệm trong mô phỏng máng trượt đất

Sạn sỏi

Cát

Bụi

1

9,86

Trang 7

STT Chỉ tiêu

Tự nhiên

13 Thí nghiệm cắt trực tiếp

Bão hòa

Mô tả

Đất cát lẫn sét cấp phối kém

Từ kết quả thí nghiệm thành phần hạt và hệ số

thấm của đất có thể thấy kích thước hạt và hàm

lượng hạt mịn ảnh hưởng rất lớn đến sự trượt lở

của địa hình đồi núi dốc, điển hình cho hiện tượng

trượt nông dọc các tuyến đường giao thông tại

Việt Nam Mẫu lấy trong thân trượt có hàm lượng

hạt mịn thấp cùng với hàm lượng các hạt bụi và

sỏi sạn nhiều hơn do đó tính liên kết giữa các lớp

đất giảm tạo nên mặt trượt giữa những lớp đất đá

với nhau Hệ số thấm của mẫu lại rất lớn, vì thế

khi nước thấm qua lớp đất nhanh chóng lấp đầy

các lỗ rỗng, làm đất bão hòa trong thời gian ngắn,

làm tăng áp lực nước lỗ rỗng và giảm cường độ

lực dính, giảm góc ma sát của lớp đất

Để so sánh sự thay đổi về khối lượng thể tích

của mẫu trước và sau thí nghiệm, chúng tôi tiến

hành lấy mẫu thí nghiệm được lấy tại ba vị trí và

tại ba độ sâu đối với mỗi vị trí lấy mẫu Vị trí

lấy mẫu lần lượt là 1m, 2m và 4m tính từ đỉnh

cao nhất của máng trượt Ba độ sâu tại mỗi vị trí

lần lượt là 20cm, 40cm và 60cm tính từ đáy

máng trượt lên Hình 7 thể hiện sự thay đổi thể

tích tại các vị trí khác nhau trên máng trượt Độ

ẩm của mẫu sau thí nghiệm lớn hơn trước thí

nghiệm Độ sâu của mẫu ở độ sâu 60 cm thay đổi càng ít nhất

Hình 7 So sánh khối lượng thể tích của đất

trước và sau khi thử nghiệm

3.2 Kết quả quan trắc áp lực nước lỗ rỗng

và độ dịch chuyển

Hai mươi đầu đo áp lực nước lỗ rỗng (BI1-BI20) được lắp đặt dọc theo máng trượt Các đầu

đo chẵn được lắp đặt ở độ sâu 60 cm, còn các đầu đo lẻ được lắp đặt ở độ sau 30 cm Do các đầu đo áp lực nước lỗ rỗng chẵn nằm ở vị trí sâu hơn nên có thể đánh giá chi tiết hơn sự gia tăng mực nước ngầm, nên trong bài báo này, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích với các đầu đo đó

Trang 8

Hình 8 Áp lực nước lỗ rỗng tại các đầu đo chôn sâu 60 cm

Hình 9 Độ dịch chuyển của EX1 theo thời gian

Dựa trên biểu đồ quan hệ giữa áp lực nước lỗ

rỗng và thời gian ở Hình 8, có thể chia thành

các giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1: Đất khô, ở giai đoạn này áp

lực nước lỗ rỗng âm do đất hút nước trongg đầu

đo và tạo ra áp lực chân không trong đầu đo

- Giai đoạn 2: Đất phía dưới đầu đo bão hòa,

giai đoạn này có đặc điểm là áp lực nước lỗ

rỗng tăng rất nhanh từ giá trị âm lên giá trị 0

- Giai đoạn 3: Áp lực nước lỗ rỗng tăng dần

từ 0 (mực nước ngầm dâng lên trên phía trên

đầu đo) đến một giá trị nhất định thì hiện tượng trượt xảy ra (đây là ngưỡng gây ra trượt lở)

- Giai đoạn 4: Áp lực nước lỗ rỗng tăng nhanh trong khoảng thời gian ngắn, áp lực nước

lỗ rỗng tăng trong giai đoạn này không phải là

do mưa gây ra mà là do trượt đất làm thay đổi cấu trúc, cách sắp xếp các hạt trong đất đặc biệt

là sự nghiền nhỏ các hạt ở mặt trượt gây ra hiện tượng hóa lỏng cục bộ tại mặt trượt

- Giai đoạn 5: Giai đoạn khối đất dừng lại, áp lực nước lỗ rỗng giảm

Trang 9

Đối với 3 thiết bị đo dịch chuyển mái dốc

trên mặt, độ dịch chuyển của thiết bị đo dãn dài

EX1 là lớn nhất và nằm trên đỉnh của khối trượt

nên chúng tôi sẽ sử dụng số liệu của thiết bị này

để tiến hành phân tích

Hình 10 Tốc độ dịch chuyển của EX1 theo thời gian

Hình 11 Tốc độ dịch chuyển của EX1 theo thời gian (giai đoạn trượt đất xảy ra)

Hình 9, 10 và 11 biểu thị độ dịch chuyển và

tốc độ dịch chuyển của EX1 theo thời gian

Trong giai đoạn đầu (từ 0 đến khoảng 1000s) độ

dịch chuyển gần như bằng 0, Từ 1000s đến

4100s, EX1 dịch chuyển chậm với tổng độ dịch chuyển khoảng 15cm Giai đoạn từ 4225 đến

4245 là giai đoạn trượt nhanh với tốc độ trượt trên 0,5cm/s, tốc độ lớn nhất đạt 3,6 cm/s

Trang 10

Hình 12 Mối quan hệ giữa tốc độ dịch chuyển của EX1 và áp lực nước lỗ rỗng

(giai đoạn trượt đất xảy ra)

Hình 12 thể hiện mối quan hệ giữa tốc độ

dịch chuyển và áp lực nước lỗ rỗng theo thời

gian Tại thời điểm trượt đất xảy ra nhanh nhất

(4235 s) thì áp lực nước lỗ rỗng cũng tăng đột

biến tại các đầu đo 12 và 16, sau đó áp lực nước

lỗ rỗng giảm dần theo thời gian

Phương pháp Fukuzono là một trong những

phương pháp phổ biến nhất để xác định thời điểm

trượt đất Phương pháp này được phát triển thông qua công tác khảo sát trượt đất có xem xét yếu tố mưa nhân tạo Trước khi trượt đất xảy ra, vận tốc dịch chuyển của khối đất tăng rất nhanh Đối với phương pháp này, giá trị nghịch đảo của vận tốc dịch chuyển được sử dụng Hình 13 cho thấy nghịch đảo vận tốc có xu hướng đi xuống và vị trí giao với trục hoành là thời điểm trượt đất xảy ra

Hình 13 Nghịch đảo vận tốc theo thời gian

Ngày đăng: 11/02/2020, 14:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w